tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20198949
18.05.2017
Vũ Bằng
Những cây cười tiền chiến (5)



VIII  (1) báo ngày 60 x 90 mà cũng không nhỏ như một tờ báo 60 x 90 gấp tư, nói tóm lại là một tờ báo “nhỡ nhỡ nhàng nhàng” ra 4 trang bán 5 xu, lúc ấy một tờ báo hằng ngày như Đông Pháp 6 trang, Trung Bắc Tân Văn 4 trang, chỉ bán có 2 xu, từ đầu chí cuối chỉ đăng toàn những bài trào phúng, lấy chuyện thực làm hư, lấy chuyện hư làm thực. Đó là tờ báo đầu tiên ở nước Việt Nam hoàn toàn trào phúng, bắt chước Canard Enchainé từ các mục mở ra cho đến cách trình bầy. Ở trên măng sét có vẽ hai cái đầu vịt, đục lỗ mỗi kỳ xếp một khẩu hiệu trào phúng, một nửa bên này, một nửa bên kia, nói về một việc quan trọng nhất xảy ra trong tuần. Đại khái lúc vua Bảo Đại què chân, bên này ghi “Thánh túc vi hòa”, bên kia “Vạn tuế thánh túc”, nghĩa là “Chân ngài bị thương… Muôn năm chân ngài!” theo câu của Pháp “Le roi est mort, vive le roi!”.


Tôi còn nhớ lúc đó nhóm Ngô Tất Tố, Phùng Bảo Thạch, Nguyễn Triệu Luật, Vũ Trọng Phụng và tôi động ra tờ báo nào thì chỉ được vài số là bị Tây đóng cửa. Phùng Bảo Thạch và tôi tính chuyện phá phách, mới rủ nhau ra một tờ trào phúng, chửi “văng xích chó”, rồi “muốn ra thế nào thì ra”. Nhưng nghĩ vậy cho nó sướng cái tâm hồn mà thôi, chớ dễ gì mà xin phép ra được một tờ báo như ý muốn. Tình cờ một hôm, tôi gặp Vũ Đình Hải (tức là em bà Đốc Sao, sau này hợp tác với Nhật rồi bị giết chết). Trong câu chuyện, Hải tình cờ cho biết là có một người bạn tên là Nguyễn Văn Thái mới xin được một tờ tuần báo tên là Vịt Đực, nếu muốn làm, anh nói giùm cho. Chúng tôi bèn xuống tìm Thái ở đường Bạch Mai thì Thái nhận cho chúng tôi khai thác tờ báo đó với một điều kiện dễ dàng: mỗi tháng lấy một trăm đồng xe pháo, còn muốn làm thế nào thì làm, Thái không cần biết tới.


Nhà tôi bán giấy, chúng tôi chỉ cần phải chạy tiền in độ vài trăm bạc. Báo Vịt Đực bắt đầu là một cái trò chơi, không ngờ lại là một cái trò chơi mắc quá, bởi vì Tây không đóng cửa, chúng tôi không thể tự nhiên đình bản, cứ phải chạy tiền để tiếp tục ra “lấy le” với đồng bào và các anh em đồng nghiệp.


Vũ Chung, chủ nhiệm, và Lưu Văn Phụng, quản lý phụ trách xoay tiền; nhưng rút lại không xoay được. Anh em bỏ hết, kết cục hai nhân viên tòa soạn là Phùng Bảo Thạch và tôi phải đi vay từng chục để trả nhà in và cứ trì như thế ít lâu thì báo lên dần dần, rồi chạy, rồi chạy quá sức, chạy không tưởng tượng được, nhưng rút cục cho đến lúc báo chết - tính ra được gần hai năm - không có một lúc nào két nhà báo có hơn trăm bạc. Ấy là vì báo chạy, tiền thu rất nhiều, nhưng một ngày thu được bao nhiêu thì ăn chơi, hát xướng cho kỳ hết. Tòa soạn đặt ở đường Puginier, sau chuyển đến Julien Blanc, nhưng đó là tòa soạn “ma” chớ thực ra anh em toàn viết bài ở xóm cô đầu, nhà hát Khâm Thiên, Vạn Thái, rồi đưa cho tùy phái đem về nhà in xếp chữ.


Sở dĩ như thế là vì Vịt Đực gây nhiều thù oán quá, anh em viết bài không ngày nào không bị người ta đe dọa, có bà như Lê Cường, bà đốc Trịnh Thục Oanh đến trước cửa nhà báo chửi rủa và dọa đổ những chậu đồ dơ vào đầu chúng tôi. Thực ra họ cũng có lý của họ, là vì trong chừng hơn nửa năm đầu, chúng tôi hoàn toàn giữ gìn ngòi bút trào lộng, chế bác ai đùa giỡn ai cũng cố gắng làm sao cho nhẹ nhàng, êm ái không tàn ác. Nhưng các cụ nói thật đúng: đời có ba cái đại bất hạnh là lúc trẻ thành công sớm quá, lúc trưởng thành chôn vợ, lúc già chôn con. Chúng tôi trường hợp thứ nhất: báo chạy, coi thiên hạ không ra gì, viết lách xỏ xiên văng mạng. Thực ra tòa soạn chỉ có hai người, nhưng bè bạn rất nhiều, anh nào cũng “bơm” ý kiến, báo cứ chửi phứa lên, thành ra không còn tính cách trào phúng nữa, không trào lên nữa mà thành ra trào mạ.


Bên cạnh những bài giễu cợt “có vẻ tử tế, có giáo dục”, Vịt Đực đưa ra những truyện “Tiếu lâm Vịt Đực” những bài chửi đồng nghiệp tàn tạ, những bài có tính cách phỉ báng cá nhân… Chết một cái là càng như thế, số độc giả lại càng tăng nên chúng tôi càng đắc chí và cái đà ấy mà đi mãi để đến cái chỗ là đe dọa người khác, nói xỏ nói xiên không cần đời. Nhưng dù sao, cho đến khi chết, văn trào phúng của tờ Vịt Đực vẫn có tính cách riêng của nó: hóm hỉnh, không đểu cáng, và có một cái khôn là mỗi số đều nhằm vào một vài việc lớn hoặc về xã hội hoặc về chính trị để đả kích, chớ không chửi lem nhem, nói bậy nói bạ trên cả bốn trang tờ báo. Lối trào phúng của Vịt Đực lúc ấy là giễu cợt mà làm như đứng đắn cho nên báo đứng đắn có mục gì thì chúng tôi cũng làm mục ấy: phỏng vấn, điều tra, rao vặt, tìm con tìm vợ, và, bạn gái, xã luận, tư tưởng hay, tìm việc làm, cần người giúp việc…, nhưng bao nhiêu mục đặt ra đều “quấy” cả, có khi quấy từ câu đầu, có khi bắt đầu thì nghiêm trang như văn Phạm Quỳnh mà đến nửa chừng thì “phá thối” để ra những ý kiến không thể nào thương được: nghe vừa tức cười vừa muốn chửi, đánh cho cái tát…


Tôi rất tiếc là lúc viết bài này, đi hỏi các thư viện ở đây, không còn một tờ Vịt Đực để sao lại một hai tài liệu và trích một vài bài thơ, nhưng tôi còn nhớ người viết thư thường xuyên cho báo lúc ấy là Hy Sinh tức Bùi Huy Sinh (bây giờ cũng đã ra người thiên cổ vì anh hợp tác với phát xít Nhật trước khi Việt Minh nắm chánh quyền ở Bắc). Thơ trào phúng của Hy Sinh cũng đi đúng lối văn xuôi trào phúng của anh em: thường bắt đầu bằng một hai câu hát hoặc ca dao ai cũng biết, rồi mới lái sang câu chuyện mình muốn nói:


Trên trời có ông sao tua,


Ở dưới hạ giới có vua thụt hầm.


Chế ông Hường Tiệp già rồi lấy vợ nhỏ xíu (tức là Nghị Hách của Vũ Trọng Phụng), Hy Sinh bắt đầu bài thơ trào phúng như sau:


Chàng về hồ, thiếp cũng về hồ,


Chàng về hồ Bắc, thiếp về hồ Tây.


Chàng bao nhiêu tuổi năm nay,


Chàng rày sáu mốt, thiếp rày mười ba,


Mồ cha đứa chê chàng già.



Hay chế Tiêu Viên Nguyễn Đức Bính làm báo Partie Annamite cho Phạm Lê Bổng (Bảo Hoàng):


Quẻ này có động,


Nhà này có quái trong nhà,


Có Nguyễn Đức Bính sủa ra Bảo Hoàng.(1)


Một mục khác của Vịt Đực cũng đáng lưu ý là “mở cuộc thi”. Nguyên lúc ấy trong làng báo có tờ Tiểu Thuyết Thứ Năm của nhà Lê Cường do Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều phụ trách về tòa soạn. Anh em không thù hằn gì với Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều. Riêng tôi cũng viết cho Tiểu Thuyết Thứ Năm. Nhưng vì thù bà Lê Cường đến chửi bới chúng tôi ở tòa soạn, chúng tôi nuôi một căm thù, vạch lá tìm “con sâu đen”. Tờ Tiểu Thuyết Thứ Năm chỉ có một cái tội là viết tắt là TTTN. Vớ được cái đó, chúng tôi làm ầm ĩ mở cuộc thi treo giải thưởng “Đố biết TTTN là gì?”. Ai đoán trúng nghĩa là hay nhất, thì được biếu một cái “phiếu” muốn “đi hát ở Khâm Thiên, Vạn Thái, Ngã Tư Sở, Gia Quất, Gia Lâm đều được với điều kiện là muốn gì được nấy, bát dạ đế vương”. Cuối điều lệ cuộc thi, có ghi chú: “Chửi cha đứa nào bịp bợm, không phát giải cho người trúng cuộc”.


Ối chao, thư từ gửi về dự thi sao mà hăng thế! Có người bảo TTTN “Tí ti thôi nhé”, có người ghi “Tòm tem tí nào”, có người bảo “Thằng Tây tút nó”, có người trả lời “Tút thẳng thừng nhau”, vân vân và vân vân… Nhưng đại ý thì bạn dự thi nào cũng hướng vào chửi báo TTTN của Lê Cường, thành ra báo ấy bị mang cái tiếng là báo “ma cô”, báo “khiêu dâm”, báo của lũ “tài hoa son trẻ” chơi bời bậy bạ, thét rồi ai cũng sợ mang tiếng, không dám cầm tờ TTTN ra đường hay mua lén về nhà để đọc.


Nhưng câu chuyện đến đây chưa hết.


Quả thực Vịt Đực không bịp bợm, để sẵn một số tiền ra bao nhà hát cho người trúng giải thực. Lớ ngớ làm sao người trúng giải lại là một sinh viên trường Canh nông tên là Nguyễn Khắc Trừng, mới độ mười bảy, mười tám tuổi, ở phố Bông Lờ. Chúng tôi đăng số nhà, tên họ của anh ra và chua “sắp lấy vợ”. Đúng như sự tính toán của chúng tôi, Nguyễn Khắc Trừng đành “khóc thét lên” mà đến tòa báo xin “từ chối” không dám làm “bát dạ đế vương” vì anh ta còn ăn nhờ cha mẹ và “sắp cưới vợ thực”, nói dại đi hát mà nhà vợ bắt được thì “bỏ cha”. Rút cuộc, chúng tôi đành phải “chiều ý” người trúng giải để tự giành lấy cái thưởng đó cho mình và chúng tôi “làm vua ở xóm Vạn Thái” trong tám ngày liền.


Cứ như thế, báo Vịt Đực sống ngót ba năm, về sau chết là vì Bảo Đại kiện ba cái kiện liền mà không có tiền nộp phạt. Nhưng số cuối cùng, anh em vẫn còn chơi được “một mách ra gì” là chửi Đề đốc Terreaux, chỉ huy chiếc tàu ngầm Phoenix đến Đông Dương bị đắm ở gần đảo Hải Nam “trong đó có bồi bếp Việt Nam” - mà theo đúng phép thời đó thì không thể cho bất cứ một người ngoại quốc nào, ngoài người Pháp, xuống làm việc dưới một cái tàu ngầm như thế.


BÁO CON ONG CỦA NGHIÊM XUÂN HUYẾN


Báo Vịt Đực vừa “cử ai” thì báo Con Ong ra thay thế để trám vào chỗ trống tiếng cười trong làng báo Việt Nam. Con Ong, của Nghiêm Xuân Huyến, chủ tiệm chụp hình “Artistic photo”, cựu chủ nhiệm báo Rạng Đông, bố vợ tương lai của Văn Cao, sước hiệu là Huyến Béo, Voi Đen, là một tờ báo cũng hoàn toàn trào phúng như Vịt Đực, nhưng ra 12 trang khổ báo hàng ngày 60 x 90 gấp tư, còn bài vở thì cũng na ná như Vịt Đực nhưng cười một cái cười Việt Nam hơn chứ không tân tiến như lối Canard Enchainé của Pháp.


Thoạt đầu, trang nhất chỉ có cái măng sét vẽ con ong, còn toàn bài vở, nhưng sau thấy làm như thế có vẻ nhạt, báo này mỗi kỳ vẽ một tranh khôi hài ở ngoài bìa. Điển hình cho các bức hí họa này, tôi còn nhớ hai bức: Một vẽ Nam Phương Hoàng hậu ra thăm Hà Nội, đàng sau có Nguyễn Tiến Lãng nâng gấu váy, và một bức vẽ Toàn quyền Pierre Pasquier kéo xe tay. Tất cả những bức vẽ bìa và một số lớn hí họa ở bên trong là của Côn Sinh Đỗ Mộng Ngọc, còn bài vở thì do Tam Lang Vũ Đình Chí và các bạn như Thượng Sỹ Nguyễn Đức Long, Thiên Thê Nguyễn Đăng Đệ, Nguyễn Đình Lạp, Thiết Căn Nguyễn Văn Xuân, Việt Quyên Trần Văn Lượng, Ngô Công Ngô Tất Tố phụ trách.


Ngoài Nguyễn Đình Lạp, cái tòa soạn này gồm toàn những anh em đã từng hợp tác với Vịt Đực lúc đầu, nhưng vì “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” nên phân chia, cũng như các chánh đảng, các nhóm, các mặt trận ở đây chia rẽ vậy. Cố nhiên Phùng Bảo Thạch và tôi không dính líu đến tờ Con Ong vì câu chuyện bắt đầu như sau:


Côn Sinh và Nghiêm Xuân Huyến cùng là bạn của Vịt Đực đêm nào cũng đến nằm bàn đèn với chúng tôi tán chuyện. Gặp lúc Vịt Đực kém đồng tiền, Nghiêm Xuân Huyến xé lẻ với Côn Sinh và Tam Lang muốn lấy tờ Vịt Đực để chỉ huy. Phùng Bảo Thạch và tôi, tiếc cái công trình đi điều đình với Nguyễn Văn Thái để lấy tờ báo, bàn riêng với nhau không chịu, nhưng nói ra sợ mếch lòng anh em nên ngấm ngầm đi thuê một nhà in mới, xếp bài vở xong đâu đấy rồi mới tuyên bố là “không nhường Vịt Đực cho ai hết” và “anh em nào muốn ở lại với Vịt Đực thì ở, anh nào không muốn ở lại thì cứ việc đi”. Rút cuộc, anh em đi hết vì ghét mặt hai đứa chúng tôi. Phần chúng tôi thì phớt tỉnh, cởi trần ra làm tờ Vịt Đực với nhau, với một ý chí cương quyết là phải làm cho lên chớ không thì uất lắm vì “chúng nó định đem tiền ra bắt nạt nhau”.


Phúc làm sao tờ báo lại lên, gây một nỗi tức bực cho bọn anh em “phân ly”, cho nên Vịt Đực vừa chết thì Con Ong ra trò liền và một trong các trò là xỏ nhẹ tôi và Phùng Bảo Thạch. Chúng tôi không có báo trong tay, đành chỉ cười ruồi; nhưng nói rất thành thực, dù lúc ấy có báo ở trong tay đi nữa, chúng tôi cũng không đáp lại vì hai lẽ: một là chửi ai thì chửi, riêng anh em thì chừa ra, hai là mình chửi người chán ra rồi, đến khi bị người chửi lại thì phải nhận lãnh lời người ta chửi một cách triết lý và “phớ lếch”: đó là một lẽ công bằng, một luật của tạo hóa không thể làm khác được.


Ngoài ra, chúng tôi còn một lẽ thứ ba: chúng tôi còn trẻ, nuôi nhiều tự ái trong tim óc, tuy không nói hẳn ra miệng nhưng thâm tâm thì cho rằng cái lối chửi của Con Ong không nước gì, chẳng bõ cho mình phải để tâm suy nghĩ.


Bây giờ, ngồi suy nghĩ lại, tôi không biết cho đến lúc này tôi có còn thiên vị hay chủ quan không, nhưng cái lối trào phúng của Con Ong hồi đó không có gì mới lạ, một phần lớn chỉ nhằm vào “chơi chữ” vẩn vơ, chớ đứng về phương diện làm báo trào phúng thì không có ngón gì sắc sảo, một “mánh” gì sâu xa, một kế hoạch gì ghê gớm. Nói chung, báo Con Ong chỉ là một thứ “hậu thân” của báo Loa của Bùi Xuân Học, từng nổi tiếng một thời, nhưng không có gì hóm hỉnh, sở dĩ có hồi bán chạy không phải là vì trào phúng nhưng một phần lớn vì mỗi số có một phụ bản vẽ gái khỏa thân và một vài truyện tiếu lâm “mặn mà” như những truyện Ấp trứng voi, Cái vết thương năm mươi sáu năm không lành, Tao đã may tay rồi!… Côn Sinh, tổng thư ký tòa soạn của Loa, vẽ nhiều tranh ngộ nghĩnh, nhưng dù sao, phần hoạt kê chỉ là phần nhỏ, còn phần chính là tiểu thuyết thì cũng như các tiểu thuyết thường mà thôi. Đáng chú ý về phần này là những truyện như Ai lên phố cát của Lan Khai (lúc ấy mới ở Tuyên Quang về Hà Nội để theo đòi nghề văn bút) và mục “Đời lính” của binh nhì Đội Tứ…


Báo Con Ong dưới sự điều khiển ngầm của Côn Sinh Đỗ Mộng Ngọc, tiến hơn báo Loa một bực, đã khiêu dâm tục tĩu hơn Loa và viết trào phúng từ đầu cho đến dòng chót nhưng trong gần hai năm hoạt động không được nổi tiếng bằng Loa. Sự kiện này giúp tôi rút thêm một kinh nghiệm: hơn cả các loại báo khác, báo trào phúng đòi hỏi những người viết một bầu không khí luôn luôn thay đổi, luôn luôn vui nhộn và điều cần thiết là phải sống tập đoàn, hàng đêm phải “tán phó mát” nhiều, do đó mới có nhiều chuyện và tinh thần của mỗi số báo mới đồng đều, thuần nhất. Vì thế, có nhiều khi cùng là những người ấy, cùng với bộ óc và nghệ thuật ấy mà viết có lúc hay có lúc dở, có lúc làm thơ vui rất tài mà có lúc dở ẹt, gượng ép, nghe không vô chút nào. Vấn đề say mê, thích thú cũng như vấn đề sức khỏe, yêu đời của những người cầm viết giữ một vai trò quan hệ trong ngành báo trào phúng - có khi còn quan hệ hơn cả các ngành báo khác.


Báo Con Ong ra được chừng hơn một năm hay năm rưỡi gì đó thì tắt nghỉm. Lúc đó vào khoảng gần Tết. Bây giờ chính các anh Tam Lang Vũ Đình Chí, Thượng Sỹ Nguyễn Đức Long, những trụ cột của báo ấy hiện giờ còn sống ở đây cũng không còn nhớ báo Con Ong bị tịch thu, bị Tây đóng cửa hay tự ý đình bản vì vấn đề nội bộ. Dù sao Con Ong của Nghiêm Xuân Huyến và tập đoàn Tam Lang, Thượng Sỹ cũng đã đánh một dấu son trong làng báo trào phúng trước thời quân phiệt Nhật đến Đông Dương đem kiếm sắt ra chọc vào bụng người da vàng để thực thi chương trình “Đại Đông Á vĩ đại và nhân đạo”.


Kỳ tới, chúng ta thử xét xem cái cười dưới thời Nhật thuộc biến đổi ra sao, đến lúc Việt Minh lên thì tiến như thế nào và người mình kháng chiến chống Pháp có còn cười nữa hay chăng.


IX

VỪA CƯỜI, VỪA CHỐNG NHẬT, DIỆT PHÁP, ĐUỔI TÀU


Bây giờ ngồi nhớ lại lúc quân phiệt Nhật đến Đông Dương, những người bình tĩnh nhất cũng vẫn còn bắt rùng mình. Là vì trong khi họ cổ võ chương trình Đại Đông Á của người da vàng thì chính người da vàng chết trước vì chánh sách bạo tàn, độc ác vượt bực của họ. Bao nhiêu người chống lại chính sách ấy đều bị “xúc” đem đi hết. Mà không phải họ chỉ bắt giam hay đem bắn những người chống đối lúc bấy giờ, mà còn bắt luôn cả những người đã “lỡ dại” chống lại chủ trương của họ trước khi họ tới.


Hồ Khắc Tráng, Chương Đắc Long, Nguyễn Vỹ… và bao nhiêu anh em kháng chiến hoạt động trong thành lúc bấy giờ đều bị nhốt và tẩm quất đâu ra đấy. Về báo chí, một gã Hàn Quốc, vào làng Nhật cầm đầu: bất kể báo nào có một bài hay chỉ một câu có thể hiểu là “chống Nhật” đều bị khép vào tội “bất kính đối với Thiên Hoàng” và bị hốt trong đêm. Thậm chí có một báo hồi ấy đăng một tin vặt thuật rằng một con chó Nhật bị xe ô tô cán chết, lập tức viên chủ nhiệm, quản lý bị mời ra Hiến binh thẩm vấn rồi bị kết tội nặng nề chỉ vì lẽ tại sao dám bảo con chó chết ấy là con chó Nhật.


Trước chính sách độc tài, phát xít đó, những người biết suy nghĩ, cố nhiên, phải im hơi lặng tiếng để tìm một đường lối tranh đấu cứu quốc khác, nhất là các nhà văn nhà báo. Vì lẽ dễ hiểu đó, thơ ca, sách vở cũng như báo chí trong thời kỳ này tàn lụi. Lẽ tất nhiên, những văn, thơ trào phúng, hơn các thể thơ, văn nào khác ít ra chào đời; tuy nhiên, các “cây cười” không vì thế mà không trước tác, sản xuất để trào mạ quân phiệt Nhật và trào lộng những kẻ vô liêm sỉ lúc nào cũng sẵn sàng bò sát để liếm gót những ông “chủ mới”.


Nhưng muốn thành thực hoàn toàn, ta phải nói rằng trong những ngày đầu quân đội Thiên Hoàng đến Việt Nam, người dân tương đối không thù ghét Nhật tàn tệ lắm. Sở dĩ như thế là vì họ oán thù Pháp thực dân thâm căn cố đế, nay đột nhiên có một dân tộc cùng màu da đến chèn ép Pháp, phỗng tay trên của Pháp, làm cho Pháp thực dân ê chề đau đớn, đa số người Việt Nam đều hả.


Đến hồi cái đói 1945 diễn ra trên toàn quốc, làm cho hai triệu người chết oan chết uổng, họ lại càng thù hận Pháp hơn, và đều hướng về quân đội Nhật, những mong Nhật giải cứu cho cái dân tộc đau khổ này. Do đó, văn chương trào phúng, đến hồi này, vẫn chỉ nhắm nhiều vào Pháp thực dân, chớ không nhắm vào quân đội Nhật.


Phải chờ đến lúc Pháp bị quỵ, quân đội Nhật bỏ rơi mặt nạ, bắt bớ tù đày các chiến sĩ, văn gia, ký giả, về các làng xóm thôn quê thu thóc, vét gạo và bắt trồng đay, mối căm thù đối với Nhật mới thực sự phát ra và cũng từ lúc này người ta mới thấy “rỉ tai” trong dân chúng những bài thơ trào phúng chống Nhật, mà bài hát Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi có thể coi là một bài hát tiền phong:


Đồng bào tuốt gươm vùng lên,


Diệt phát xít, diệt bè lũ tham tàn của chúng…


Mặc dù Pháp thực dân và Nhật phát xít đánh đập, hành hạ, tù đày người Việt Nam yêu nước, tinh thần trào phúng vẫn không vì thế mà cùn nhụt đi, dù khổ bao nhiêu đi nữa, họ vẫn cười cợt, phúng thế.


Đây là tâm trạng một nhà thơ ở trong lao nằm mơ thấy mẹ hiện lên mắng mỏ:


MẸ MẮNG


Vì chưng bẻm mép mới vào đây,


Câm họng đâu ra đến nỗi này.


Dân chúng sướng, đồ: dân chúng khổ,


Nước nhà yên, bảo: nước nhà nguy.


Dở hay mặc kệ thằng cha nó,


Còn mất can chi lão nội mầy!


Nếm thử mùi tù cho đáng kiếp,


Từ rày chừa bỏ tật thày lay!


Những bài thơ trào phúng sáng tác ở trong tù rất nhiều, xin đơn cử vài bài điển hình nhất:


Gặp gỡ nhau đây mới biết nhau,


Nó càng chua xót, nghĩ càng đau.


Văn minh Âu Mỹ: ba thằng cướp,


Con cháu Rồng Tiên: một lũ tù!


Tài giỏi gì hơn tay sẵn súng,


Ngu hèn cũng bởi túi không xu.


Trời đang quay tít, người đang ngủ,


Giận muốn vò tan quả địa cầu!


BIẾT MẦN RĂNG?


Suốt ngày ăn ngủ, ngủ rồi ăn,


Chưa thấy chuyện gì chuyện khó khăn.


Nằm khểnh sờ môi: râu tua tủa,


Ngồi tù gãi háng: dái tăn tăn.


Làm sang phe phẩy tay còn quạt,


Đi tắm trần truồng mổng thiếu chăn.


Ăn, ngủ, ỉa xong: đầy đủ cả,


Muốn chi chi nữa, biết mần răng?


Thu thập tài liệu đến đây, tôi không thể không nhắc đến một bài thơ trào phúng cũng làm ở trong tù, nhưng làm vào thời kỳ trước đó, khoảng 1920-1930, lúc ta còn sống hoàn toàn dưới chế độ Pháp thực dân. Nhượng Tống, Phạm Hoàng Trân, hoạt động cho VNQDĐ(1) bị bắt cầm tù, nhân một hồi ngồi tắm đã tạo ra một bài tứ tuyệt:


Vùng vẫy mình trong bể nước đầy,


Hết kì lại cọ chẳng rời tay.


Ông Tây cứ bảo mình yêu nước,


Ừ, chẳng yêu sao lại thế này!


Những bài thơ trào phúng cảm khái về thế sự nhân tình lúc thay ngôi, đổi chủ, cực tả cái tinh thần hèn hạ của những người đi theo giặc lại còn nhiều hơn thế nữa.


GIỚI HÈN


Tạo hóa sinh chi cái giới hèn,


Thay lòng, đổi dạ biết bao phen.


Tây sang: hí hửng lom khom vái,


Nhật đến: vội vàng khúm núm khen,


Việt cộng: hoan hô như sấm dậy,


Bảo Hoàng: vạn tuế cũng rùm beng.


Cộng hòa Nhân vị xun xoe tán,


Tạo hóa sinh chi cái giới hèn!


CHÓ


Lũ mày chẳng phải giống nhà đâu,


Mẹ Nhật, cha Tây, hoặc bố Tàu.


Nịnh kẻ giàu sang, đuôi vắt vắt,


Dọa người khốn khó, miệng gâu gâu.


Bơ thừa sữa cặn mày xơi thích,


Anh ruột em nhà có nể đâu.


Liệu xác: ngày mai người thắng vật,


Rượu, riềng, mi sẽ hưởng công đầu.


Ngoài ra, văn học sử còn không biết bao nhiêu ca dao nói lên nỗi khổ cực của người dân Việt Nam dưới thời Nhật thuộc(1).


Lấy chồng mà cậy mà nhờ,


Hôm qua thằng Nhật bắt bừa đi phu.


Bên mình nheo nhóc con thơ,


Dỗ được chúng nín, trời trưa mất rồi!


Cảnh tình thảm lắm, ai ơi,


Chàng đi khổ chín, thiếp tôi khổ mười.


Ngẫm ra thật đúng như lời,


Nước mà đã mất, nhà thời cũng tan.


Đất này đất tổ đất tiên,


Đất này chồng vợ bỏ tiền ra mua,


Bây giờ Nhật, Pháp kéo hùa,


Chiếm trồng đay lạc, ức chưa, hỡi trời!


Chém cha lũ Nhật côn đồ,


Bắt người cướp của tha hồ thẳng tay.


Dân ta trăm đắng ngàn cay,


Thóc ăn chẳng có, trồng đay cho người!


 


Những mong ngô trổ ra bông,


Ai ngờ ngô bị nhổ tung đầy đồng.


Nhìn ngô nước mắt tuôn ròng,


Ôm ngô mà héo cả lòng, ngô ơi!


 


Việt Nam độc lập thế nào,


Phải chăng thằng Nhật thay vào thằng Tây?


Việt Nam độc lập thế này,


Có quân lùn ở, có ngày diệt vong.


VĂN NGHỆ SĨ VIỆT NAM VỪA CƯỜI
VỪA CHỐNG NHẬT, DIỆT PHÁP, ĐUỔI TÀU


Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo,


Việt Nam độc lập chết co đầy đường.


Câu ca dao này nói về thời cuộc Việt Nam vào khoảng tháng Ba năm 1945, lúc mà ở Bắc Việt, có trên hai triệu người chết oan vì những đòn chánh trị giữa Pháp thực dân và Nhật phát xít. Về cái đói năm ấy, Trần Huyền Trân có những câu thảm khốc:


Đàn ông còn lại vài tên


Chôn người để đợi người đem chôn mình.


Hoàng Ly cũng có những vần trào phúng như sau:


Giá gạo đã lên cao,


Tới tám trăm một tạ,


Trời ơi, biết thế nào


Người vẫn chết như rạ.


 


Những thiếu nữ xinh tươi


Lủng lẳng đeo hoa tai,


Đổi một đêm hành lạc


Lấy một bát cơm thôi.


 


Có những chàng công tử,


Kính trắng, píp, giày dôn


Tình trong thì đói lả,


Ngoài mặt vẫn hùng hồn.


 


Giá gạo đã lên cao,


Tới tám trăm một tạ,


Trời ơi, biết thế nào


Người vẫn chết như rạ.


 


Đây, những con ma đói


Chẳng biết nghĩ làm sao…


Những đêm mờ mờ tối,


Bắt con nít đem xào!



Chúng ta nên biết rằng cũng về vấn đề này, Hoàng Ly đã viết một bài thơ sau này chính anh đem phổ nhạc với tên Con đò đưa xác.


Gió thổi thì thầm,


Mưa bay lấm tấm


Ai chở con đò


Bên bờ sông vắng


Ai khóc tỉ tê


Bên bờ sông vắng


Ai khóc tỉ tê


Trên dòng trường giang


Đò sang ngang


Dưới ánh trăng vàng


Gió đêm hiu hắt


Nấc lên từng cơn


Nặng nề một chiếc thuyền con,


Âm thầm chở mấy vong hồn sang sông.


Trăng tan,


Mây tan,


Sao trăng đẹp thế này,


Mà trên sông vắng


Con đò cay đắng


Đưa xác người về đâu?


Ô hô,


Con ơi, mười mấy tuổi đầu,


Vì chưng đói rét ngàn sầu thác oan.


Mang mang trong mây tan,


Trăng lạnh thế này!


Mà trên sông vắng


Con đò cay đắng


Đưa xác người lầm than.


Trong trăng tan


Phiêu phiêu


Có một bóng ông già,


Tay chèo tay lái


Lòng buồn tê tái


Đem chôn đàn con


Chôn đi đâu đám oan hồn


Trôi về đâu con đò nát,


Lấp vào đâu nỗi hờn oan?!


Nhật thua, Tàu thắng đến tiếp thu Việt Nam cũng là một đầu đề đẻ ra không biết bao nhiêu văn thơ trào phúng mà điển hình là mấy câu nhái:


Đoàn quân Tàu ô đi, chung lòng mất nước,


Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than…


Đồng thời những “tờ báo miệng” tả những bê bối của quân Tàu phù ngồi “bĩnh” lên lavabô, ăn no quá rồi nằm quay ra chết… mỗi ngày mỗi sản xuất không cách gì thâu thập nổi, nhưng văn thơ trào phúng thịnh nhất và phổ cập nhất trong dân gian, theo tôi, là hồi toàn dân ta chống Pháp.


- Bao giờ hết cỏ Tháp Mười


Thì dân ta mới hết người đánh Tây.


 


- Xác Tây, Tây chở về đồn,


Xác quân bảo vệ Tây chôn dọc đàng.


 


- Cắc bụp cắc bụp xòa,


Ba thằng Tây đói bắt gà bắt heo.


Cắc bụp cắc bụp xòe,


Ba thằng Tây đói bắt heo bắt gà.


 


- Sao cho an cửa an nhà,


An mồ, an mả, mới là an ninh.


An ninh, an nỉnh, an nình,


An quan xó bếp, an quành cối xay.


Xuống ân, xuống phúc cho mày,


Có ba trăm bạc, việc này mới an.


 


- Chị em du kích Thái Bình


Ca lô đội lệch, vừa xinh vừa giòn.


Người ta nhắc chuyện chồng con,


Lắc đầu nguây nguẩy: “Em còn giết Tây”.


 


- Thằng Tây phá đập, phá kè


Căm thù giặc nước ta thề quyết tâm.


Thắng trời, thắng giặc, mọi phần


Mỗi lần tát nước mỗi lần vui thêm.


 


- Trên trời có đám mây vàng,


Em đi tiếp vận cho chàng giết Tây.


Thằng Tây tiếp tế máy bay,


Không bằng tiếp vận chân tay chúng mình.(1)


Văn thơ trào phúng, trong thời kỳ này, nở hoa dưới trăm ngàn hình thức khác nhau. Bên cạnh những vè, ca dao chế giễu thực dân Pháp xâm lăng, ở làng, xóm, thôn, xã nào cũng có những anh em làm kịch khôi hài, trào phúng để trào mạ Pháp, nâng cao tinh thần chiến đấu của đồng bào hoặc làm cho những kẻ “theo Pháp” thành ra những “con vật lố lỉnh và bẩn thỉu” ai cũng phải khinh bỉ, xa lánh và phỉ nhổ. Những hài kịch này phóng đại những tính xấu của địch lên, kiểu Molière phóng đại tính biển lận của Hạc Bá Công, thói khoe chữ lỏi của những bà “mang bí tất xanh”…, nhiều khi đến vô lý nhưng hợp với tinh thần của dân gian nên được vô cùng tán thưởng, dù rằng các sân khấu diễn kịch chỉ là một cái sân, một cái chùa đổ nát hay là một cái đồn bị phá.


Các hài kịch này viết đủ các lối: độc tấu, balê, mêlô… đương nói thì hát, hát xong thì múa, múa đủ các kiểu rồi lại hát: hát huê tình, quan họ, ngâm thơ, hát chèo, hát tuồng, bát nháo chi khươn, nhưng “hợp giọng” dân chúng “không chịu được”. Bên cạnh những cái kịch đò, khu nào cũng còn cho ra những tài liệu quay rônêô, viết giọng trào phúng, bình dân, theo chương trình địch vận, dân tộc kháng chiến hay vận động đời sống mới. Bài độc tấu Bà kia tháng tháng đôi tuần… mà tôi ghi ở phần trên đây là một thí dụ về tài liệu vận động “đời sống mới” viết ra trong thời kháng Pháp 1946-1954 vậy.


Khỏi cần phải nhắc, bạn đọc hết thảy đều còn nhớ những bài hát, bài vè, cổ động học chữ quốc ngữ và chế giễu những người không biết đọc, biết viết, thiết tưởng không cần ghi lại. Mà có muốn ghi lại cũng không thể đầy đủ vì loại văn đó như rừng, cũng như các văn thơ trào phúng chế giễu kháng chiến lúc đầu lấy gậy tầm vông để đánh lại bom và súng nhiều không tả nổi.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Bản in cũ in sai một đoạn, nay không thể khắc phục. Xin bạn đọc biết bổ khuyết cho. Xin cảm ơn. (Triệu Xuân).




(1) Câu ca dao trào lộng nguyên thủy là:


Quẻ này có động,


Nhà này có quái trong nhà,


Có con chó mực cắn ra đàng mồm…




(1) Việt Nam Quốc dân Đảng (NBT).




(1) Hoàng Trọng Thược: “Thi ca châm biếm, trào lộng Việt Nam”.




(1) Hoàng Trọng Thược sưu tập. Sách đã dẫn.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »