tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20198752
Những bài báo
17.05.2017
Nguyễn Văn Dững
Phan Quang – Một tầm vóc văn hóa


Có thể nói thật khó viết về nhà báo Phan Quang, khi tôi có ý định chia sẻ với các bạn bè, đồng nghiệp từ một góc nhìn về Ông, nhất là muốn gửi gắm điều gì đó đối với các đồng nghiệp trẻ, với sinh viên báo chí-truyền thông đang nguyện đi theo “cái nghiệp cầm bút” vì cuộc sống của nhân dân và vì sự phát triển bền vững của đất nước mình.

Khó khăn không phải ở chỗ hàng chục nhà báo, nhà văn, nhà thơ... bậc đàn anh cũng như bao đồng nghiệp dồi dào bút lực đã viết về Phan Quang với các góc nhìn khác nhau, như viết về một hiện tượng nhà báo tài ba, lãng mạn và phóng khoáng; một nhà văn trí tuệ uyên thâm với tầm bang giao “xuyên lục địa”, hay một Phan Quang “văn - báo bất phân”; cái khó cũng không phải ở chỗ Ông là một trong những nhà báo lão thành cách mạng tài ba, thuộc bậc “chiếu trên” như cách nói của cố nhà báo lão thành Hoàng Tùng rằng “đã làm nghề thì phải có chiếu nghề”;... cái khó cũng không nằm ở chỗ, Phan Quang cũng như nhiều đồng nghiệp của Ông ở báo Nhân Dân đã tạo nên một đẳng cấp “chiếu trên của nghề báo chí Việt Nam đương đại”, một thời làm nên lịch sử báo Nhân Dân oanh liệt, xứng đáng ngọn cờ tư tưởng của Đảng và một trong những cái nôi ươm mầm, bảo vệ hệ giá trị văn hóa Việt của chúng ta. Đó là một thời công chúng luôn ngưỡng mộ các cây bút chính luận của báo Đảng như Hoàng Tùng, Xuân Thủy, Nguyễn Thành Lê, Quang Đạm, Trần Kiên, Nguyễn Hữu Chỉnh...; một thời công chúng mến mộ tìm đọc các cây bút phóng sự, ký, bút ký tài ba với các phong cách nổi trội như Thép Mới, Phan Quang, Trần Minh Tân, Lê Điền; rồi cây bút trào phúng chuyên tiểu phẩm như Thợ Rèn... Vâng, có một thời hào quang như thế của báo Đảng đã sinh ra, nuôi dưỡng một đội ngũ “đẳng cấp” của nghề báo Việt Nam; và cũng chính họ là rường cột làm nên một thời hào quang ấy của tờ báo Đảng.


Cái khó có lẽ ở chỗ, Phan Quang là một hiện tượng hiếm gặp trong nền báo chí và văn đàn Việt Nam đương đại. Ông không chỉ là nhà báo tài ba, tâm huyết và lãng mạn với tầm bao quát rộng và sâu trong hàng chục cuốn sách chuyên về ký, bút ký và phóng sự mà nếu liệt kê ra đây cũng đầy kín cả vài trang viết, mà Ông còn là nhà văn, nhà văn hóa, nhà ngoại giao – một chính khách lịch lãm, tầm vóc và ấn tượng.


Chia sẻ với đồng nghiệp, người viết khó có thể thống kê hết các tác phẩm của ông và điều đó bạn đọc sẽ tự tìm hiểu trong hơn 50 đầu sách với hàng chục ngàn trang viết đã được in và tái bản chủ yếu ở các nhà xuất bản nổi tiếng; bài viết này cũng không thể bao quát hay khơi gợi được nhiều những giá trị được nhìn nhận trên nhiều góc độ về hoạt động của Ông trong gần 70 năm qua, bởi đó là vấn đề cần được các nhà nghiên cứu thống nhất nỗ lực với các cuộc hội thảo nghiêm túc... Bài viết chỉ nhằm khơi gợi một cách tiếp cận nhà báo, nhà văn Phan Quang dưới một góc độ văn hóa, như một nhà văn hóa. Thiết nghĩ, đó là vấn đề không chỉ có ý nghĩa riêng đối với giới báo chí - truyền thông hiện nay.


Bởi trước khi cầm bút và với ý thức để góp phần để lại những giá trị cho đời, người ta luôn “tự nhiên” tạo cho mình nền tảng văn hóa; trước khi làm việc gì liên quan đến cộng đồng, người ta cần chú trọng nền tảng văn hóa; và trước khi có ý định trở thành nhà chính trị, càng cần tích lũy “đủ độ” cho nền tảng văn hóa để mọi hoạt động của mình đều có ý nghĩa nhân văn và để lại cho đời những giá trị được lưu giữ với những gì trân quý nhất. Bởi trong bất cứ hoạt động gì liên quan đến báo chí - truyền thông, chính trị hay khoa học, nếu thiếu đi nền tảng văn hóa cần và đủ, sẽ khó có thể có được thái độ nhân văn trong xem xét các sựu kiện và vấn đề của đời sống.


Phan Quang trong suốt từ năm 1945 đến nay, từ khi tham gia hoạt động cách mạng, dù làm gì, được giao nhiệm vụ hay trọng trách gì, bất cứ trên rừng hay dưới biển, ở khu vực nông thôn hay chốn đô thành, Ông đều chú tâm tích trữ vốn liếng văn hóa cho bản thân, theo lời dạy của Cụ Hồ là học để làm việc, làm người, làm cách mạng; học mãi để tiến bộ mãi...


Thời miền Nam đất nước còn bừng bừng khói lửa chiến tranh, ông không chỉ lặn lội ở các chiến trường ác liệt, mà còn bao quát tầm bút đến “Đất nước hoa hồng” bên bờ Hắc Hải, nghiên cứu cách thức, kinh nghiệm bạn đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn, rồi sang Đức học kinh nghiệm phát triển chăn nuôi theo quy trình công nghiệp. Miền Nam vừa giải phóng, Ông một thời lăn lộn với Đồng bằng sông Cửu Long và cả miền Nam Trung Bộ, để lại cho đời mấy tập ký: Đất nước một dải, Hạt lúa bông hoa, Lâm Đồng - Đà Lạt, Đồng bằng sông Cửu Long… với cái nhìn bao quát, mênh mang các vùng lúa đồi khoai và cận cảnh cấp một cái nhìn đến nền nông nghiệp từ miền núi đến trung du, rồi mênh mong đồng bằng miền song nước, cuộc sống nông thôn và nông dân như một cuộc thưởng thức, chiêm nghiệm và khảo cứu, làm sâu lắng lại đáy lòng người đọc...


Hàng chục tập ký, bút ký, phóng sự của Phan Quang không chỉ là tái hiện những vùng đất, những mảnh đời về những góc phố làng quê đang trăn trở đi lên hay đang khoe mình giữa thiên nhiên kỳ thú, không chỉ là những bức tranh hiện thực được tái hiện bởi những điều mắt thấy tai nghe, trực tiếp đối thoại trong hình thức miêu tả, cùng với những ấn tượng và cảm xúc ban đầu, mà còn cho công chúng một bức tranh hiện hữu được đo đạc, được chiêm nghiệm, được phân tích, khảo cứu có khi như cận cảnh đến từng mét vuông của các vùng sông nước…Chỉ riêng với các tập sách này, như cách phân loại của các học giả châu Âu, Phan Quang thuộc vào loại các nhà văn của dòng văn học tư liệu, văn học chính luận; tức là những nhà văn chuyên khảo cứu và ghi chép hiện thực bởi những sự kiện, vấn đề hôm nay và với những con số chân xác cùng với những ấn tượng của những giây phút lịch sử - những nhà văn chép sử. Và theo GS. TSKH Prokhorov[1], không phải nhà văn nào cũng được “xếp” vào dòng văn học tư liệu, văn học chính luận như vậy; đó trước hết phải là những nhà văn - nhà báo - nhà chính luận chuyên “bám mặt” với cuộc sống hiện thời và thường chứng kiến những sự kiện và vấn đề thời cuộc nóng hổi, những dấu tích hay khoảnh khắc lịch sử; đó phải là nhà chính trị, nhà văn hóa có đủ tầm vóc và nghệ thuật văn chương để nhìn nhận và cắt nghĩa các sự kiện và vấn đề lịch sử ở những bước ngoặt mà nhân loại sẽ không bao giờ quên,…Ở Nga, những nhà văn như thế có thể kể đến như Lev Tolstoi, Dostoievsky, Maxim Gorki, Bielinski... Điều đặc biệt là, thưởng thức tác phẩm nào của Phan Quang, bạn đọc cũng dễ “bắt mạch” được hương vị và khí chất quê hương Quảng Trị - sự chân xác, thái độ trung thực, cái tôi đằm thắm và mạnh mẽ...


Bạn văn của Ông đã từng thốt lên rằng, chỉ riêng với tác phẩm văn dịch Nghìn lẻ một đêm với hơn 35 lần tái bản, Nghìn lẻ một ngày với hơn 10 lần tái bản tại năm nhà xuất bản tên tuổi nhất nước, đã đủ đưa Phan Quang lên đỉnh cao văn đàn Việt Nam đương đại. Và khó có thể kể hết những vấn đề thời cuộc qua các bình luận, tiểu phẩm, tản văn kịp thời, cùng những giá trị để lại cho đời sau trong các tác phẩm văn chương. Ông khảo cứu nền văn hóa Ả-rập tại cuốn Nghìn lẻ một đêm và Văn minh Ả Rập ra mắt bạn đọc ở tuổi 87 sau gần 40 năm tích cóp tư liệu (và đó cũng là cách ông Phan Quang tự học không ngưng nghỉ); trước đó là Bên mộ vua Tần, Thơ thẩn Paris, Chia tay trên sông… Ông dịch và luận bình theo phong cách riêng của mình, từa tựa cảm nhận như nhà thơ cảm nhận cái đẹp bí huyền độc đáo qua mấy chục Sử thi huyền thoại Đông Tây, chắt lọc từ châu Đại Dương đến Bắc châu Mỹ... Tầm bao quát ấy, không phải ai cũng có diễm phúc được trải nghiệm; và kể cả những người được đi nhiều hơn thế, cũng không dễ có người để lại cho đời những áng văn chương - khảo cứu và cảm nhận đầy tràn chi tiết, sự kiện, nghiên cứu và cảm xúc.


Tôi tự ngẫm, vậy tại sao từ một thanh niên yêu nước, theo Đảng vào rừng, ra trận, lăn lộn khắp mọi chiến trường và mọi vùng đất gian khó, không có cơ hội được học hành tập trung tại trường lớp bài bản, lại có được một Phan Quang lừng lững giữa đời văn, đời báo với những tác phẩm từ văn viết đến văn dịch tái bản hàng chục lần[2], những tác phẩm báo chí[3] đầy cảm xúc ấn tượng với đầy chất nghiên cứu và cả những công trình khảo cứu từ Trung Hoa đến tận Ả-rập, Trung Đông[4]. Và với Phan Quang, ông còn là nhà ngoại giao – một chính khách thực thụ, dù Ông không nhận mình là chính khách, nhà quản lý báo chí, truyền thông,...


Thú thật, tìm hiểu hiện tượng Phan Quang, không ít lúc tôi chạnh lòng trách mấy đồng nghiệp, những người được Đảng và Nhà nước gửi “đi Tây” đào tạo bài bản hằng nửa thập niên, khi quay về nước làm việc trong môi trường hết sức thuận lợi cho việc nghiên cứu viết lách, mà hầu như không có lấy một trang viết để trả ơn đời..., không hiểu chính họ đã bội bạc với đời hay “chữ” vào “người khó” như gió vào “nhà trống”.


Câu hỏi đeo đẳng suốt trong tôi là điều gì đã làm nên một Phan Quang tài ba, lãng mạn, đậm đà khí chất, bản lĩnh và trí tuệ trên cả văn đàn và báo giới, trong cả hoạt động đối ngoại và văn hóa nơi chính trường? Tất nhiên là câu hỏi này khó có thể trả lời trong một bài viết. Những hiện tượng như thế, cần một nghiên cứu nghiêm túc, công phu của một tập thể tâm huyết và trách nhiệm trước nghề báo và nghiệp văn, trước công chúng và lịch sử.


Khi làm việc với các đồng nghiệp Cộng hòa Áo, tìm hiểu một hiện tượng lạ ở trung tâm châu Âu là tại sao báo Viener Zeitung[5] đã hơn 300 năm tuổi mà đến nay vẫn đang là một tập đoàn báo chí - truyền thông phát triển hàng đầu ở châu lục này, đang từng bước vươn ra chiếm lĩnh công chúng - thị trường không chỉ ở lục địa già, tôi nêu một câu hỏi làm cho Giám đốc marketing của tập đoàn này ngạc nhiên. Rằng, lý do cốt yếu để Viener Zeitung phát triển có phải là nguyên nhân từ vấn đề văn hóa? Thế rồi như “chạm” vào “bí mật đời tư”, vị giám đốc này tròn xoe mắt nhìn tôi và chuyển câu chuyện sang hướng khác. Tôn trọng bí mật kinh doanh của đồng nghiệp, tôi cũng không đeo bám câu hỏi của mình.


Cũng theo mạch nguồn từ văn hóa, bước đầu tìm hiểu hiện tượng Phan Quang. Rõ ràng là, không chỉ về sự trưởng thành của một nhà báo, sức lớn mạnh lâu bền của một tờ báo hay cộng đồng xã hội, ngày nay người ta lý giải nguyên nhân của phát triển bền vững và ổn định của hầu tất các hiện tượng xã hội là từ nguồn cơn của vấn đề văn hóa và thể chế xã hội[6]. Văn hóa không chỉ làm nên diện mạo và nhân cách một con người, tầm vóc một quốc gia, dân tộc, mà quan trọng hơn, nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững và ổn định. Và do vậy, nền tảng văn hóa có lẽ là sợi dây kết nối, là tín hiệu dẫn dắt tôi tìm hiểu hiện tượng Phan Quang.


 


Nền tảng văn hóa gia đình – ngọn lửa nghề bừng lên theo năm tháng


Sinh ra ở mảnh đất “những đồi sim không đủ quả nuôi người”, “con chim bỏ trời quê ta đi xứ khác” và là “nơi đụng đầu lịch sử”, Hải Thượng (làng Thượng Xá) của Phan Quang Diêu (tên thật của Phan Quang) không chỉ nổi danh bởi là cơ sở dân cư được tuyên dương Anh hùng đầu tiên tại Khu Trị Thiên thời chống Mỹ xâm lược, mà còn nổi tiếng bởi từ thời xưa làng đã có lắm tướng lĩnh tài danh và người đỗ đạt - từ thế kỷ XVI đã có nhiều danh tướng nổi tiếng khắp vùng. Ông nội của Phan Quang học giỏi, đỗ cử nhân và được bổ làm quan đến chức Ngự sử dưới triều vua Tự Đức. Nhưng cũng vì trực tính, ba lần can vua và ba lần bị hạ chức; sau đến thời Thành Thái, ông được phục chức, nhưng chức thấp hơn. Sau khi nghiên cứu kỹ lịch sử và theo lời chính thân sinh ông kể lại, chính Phan Quang cho rằng, ba lần cách chức chủ yếu là do cụ thuộc phái chủ chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nên bị phái chủ hòa trong triều đình thời ấy áp đảo. Bởi thế, thân sinh của ông Phan Quang, con út, đến ngày cụ nội được phục chức mới được nhận hàm Ấm sinh. Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim có chép: “Ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu 1885, khi quân Pháp chiếm thành Huế, triều Nguyễn “thất thủ kinh đô”, Vua Hàm Nghi cùng ba bà Thái hậu được tướng Tôn Thất Thuyết phò tá ra Quảng Trị, đêm hôm ấy đã nghỉ tại nhà “một người Bá hộ” (ấy chính là ông nội của Phan Quang, sau khi bị cách chức, tước hết phẩm hàm, người dân kính trọng gọi là ông Bá hộ). Lớn lên một ít, Phan Quang có lần hỏi cha, sao trước nhà mình giàu, nay nghèo thế, đến nỗi không có khả năng nuôi các con ăn học dễ dàng như nhiều gia đình khác cùng xóm cùng làng, cha trả lời, tại nhà một ông quan mà vua đến rồi vua đi không bao giờ trở lại thì kiểu gì rồi cũng khánh kiệt thôi.


Được học hành sớm, trong một gia đình truyền thống đỗ đạt thành danh, nhưng Phan Quang lại sớm lên đường theo cách mạng từ năm 17 tuổi, trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công (ông sinh năm Mậu Thìn, 1928). Sang mùa thu năm 1948, sau hơn hai năm công tác vùng sau lưng địch, ông được tổ chức cử đi học nước ngoài, thì lại “bị” ông Hồng Chương giới thiệu “ép” sang làm báo Cứu quốc Liên khu 4 hồi ấy đáng thiếu người. Thế là Phan Quang bước vào nghề báo “như một đứa trẻ tự dưng bị ném xuống ao, phải cố mà ngụp lặn nếu không muốn chết chìm”[7]. Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Phan Quang được gọi ra Bắc, tăng cường cán bộ cho báo Nhân Dân chuẩn bị xuất bản hằng ngày tại thủ đô.


Từ khi bỏ dở việc học ở nhà trường, quá trình học tập, tích lũy của Phan Quang không những không hề bị ngắt quãng, mà thường xuyên tiếp tục không quản ngày đêm, dù ở rừng rú, nông thôn hay đô thị, bên ngọn đèn dầu hay dưới ánh điện quang. Ông học bởi đơn giản là khát khao học để làm việc, học để tiến bộ mãi như Bác Hồ từng dạy. Và cái sự khát khao này nơi ông như một dòng máu giàu dưỡng chất văn hóa được tụ truyền từ gia đình. Bởi thế, tôi càng hiểu thêm rằng, hệ giá trị văn hóa chỉ có thể được tồn tại và phát triển trong quá trình qúa lưu truyền - truyền tải từ người này sang người khác, từ nhóm người này sang nhóm người khác và từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ đời này sang đời khác. Nếu không có dòng chảy lưu truyền các hệ giá trị văn hóa được truyền tải ấy trong mỗi con người từ mỗi gia đình, dòng họ và mỗi miền đất quê hương... thì có lẽ mọi giá trị văn hóa sẽ dần bị lãng quên, thui chột với thời gian...


Vậy nên những vốn tiếng Pháp, tiếng Anh và chút ít chữ Nho nơi ông không những không bị lụi quên trong môi trường chẳng mấy ai giao tiếp bằng tiếng nước ngoại và vốn cổ tạm thời bị coi nhẹ, mà tại môi trường nào ông cũng chú tâm trui rèn, cũng làm cho nó tiếp tục sinh sôi nảy nở. Rồi ông tự rèn luyện và cập nhật tiếng Pháp, học thêm tiếng Anh; rồi dịch sách văn học ra tiếng Việt để người Việt được thưởng những tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng. Hóa ra, để tích hợp, nhặt nhạnh và trui rèn kiến thức, rất cần ý chí và “bản lĩnh học”. Nghìn lẻ một đêmNghìn lẻ một ngày liên tục ra mắt bạn đọc và tái bản tới hơn mấy chục lần là do thế. Không chỉ dịch văn chương, ông còn nghiên cứu văn hóa qua văn chương, qua hình tượng và các tình tiết văn học; rồi mỗi khi có dịp đến Trung Đông và qua sách báo nước ngoài, ông lại tranh thủ mọi cơ hội để nghiên cứu, khảo cứu về nền văn minh Ả Rập để kết nối cái nền văn minh ấy từ trong tác phẩm, từ nhân vật văn chương ra đời thường của một nền văn hóa vĩ đại[8]. Đó là những điều được thể hiện trong cuốn sách Nghìn lẻ một đêm và văn minh Ả Rập có tính khảo cứu được ông cho ra mắt ban đọc khi đã đến tuổi 87. Còn Bên mộ Vua Tần là cuốn tập hợp 17 bài ký về đất nước và con người Trung Hoa qua nhiều địa danh lịch sử, gắn với những dấu tích văn hóa lịch sử từ Bắc Kinh, Thiên Tân, Thẩm Dương, Thiểm Tây, Giang Tô, Nam Kinh thủ đô của mười triều đại vua Trung Hoa.... Riêng một bài ký ngắn Bên mộ Vua Tần, được dùng làm đề chung cho cả tập sách, là dịp để Phan Quang ngẫm ngợi và luận bàn kín đáo về những cuộc tranh giành quyền lực liên miên tại xứ sở Vạn lý trường thành, từ đời Tần Thủy Hoàng cho đến tận gần đây, gây cho những người dân thường biết bao cơ cực, khổ ải.  Có thể nói nhiều người trong chúng ta từng đến thành phố Thượng Hải, từng ngạc nhiên sững sờ trước bao công trình hoành tráng như cầu Hoàng Phố 4 tầng cao, xoáy đẹp như công viên, như Tháp truyền hình lừng lững giữa trời khu phố Đông...., nhưng chắc chắn không mấy ai hiểu biết về một thành phố Thượng Hải thời chưa xa, khi các vườn hoa ở vùng đất bị bán cho Anh, cho Pháp ven bờ sông Hoàng Phố (gọi theo cách văn hoa là nhượng địa) từng treo tấm biển nhục mạ dân tộc Trung Hoa: “Cấm chó và người Hoa không được vào”.


Cuốn Đồng bằng sông Cửu Long của Phan Quang in lần đầu năm 1981, tái bản lần thứ 5 (NXB Lao Động, Hà Nội - 2014) không hẳn là một tập khảo luận chuyên đề về địa lý - kinh tế - xã hội học. Đó là một tập bút ký được ghi chép, tái hiện theo quan niệm của Maxim Gorki là kết hợp miêu tả với khảo cứu, cùng với những cảm xúc, ấn tượng và nhận xét thể hiện cảm xúc và suy ngẫm của người viết trước con người và thiên nhiên Nam Bộ. "Như vậy đó, hiện đại và hoang sơ, bí ẩn và cởi mở, giàu có và khó nghèo chen lẫn, đồng bằng sông Cửu Long hiện lên trước mắt ta ngồn ngộn sức sống" - Phan Quang đã thốt lên như vậy. Quả thực, với tầm vóc văn hóa và cái nhìn sắc nhạy của nghề báo, cảm nhận của Phan Quang cho đến nay vẫn là dòng cảm hứng chủ đạo cho vùng đầt đẹp thơ mộng, rộng mênh mang và giàu tiềm năng, nhưng cư dân vùng này vẫn cực nhọc, lam lũ, vẫn khó khăn chồng chất.


Không tính cả mấy chục (hơn 50) đầu sách văn học và báo chí, riêng ngần ấy việc thôi qua một vài tác phẩm, quy trình và cung cách ghi chép, cung cách khảo cứu ấy[9], Phan Quang đã xứng tầm vóc một nhà văn hóa; và chính cái nền tảng phẩm chất văn hóa ấy, nguồn năng lượng văn hóa ấy làm tỏa sáng ngọn lửa nghề báo nghiệp văn nơi ông suốt “hơn 60 năm không rời cây bút”, như lời GS.VS. Hoàng Trinh viết trên báo Nhân Dân năm 2008, nhân mừng Phan Quang thọ tám mươi, hơn bảy năm về trước.


Theo cách nhìn của ông Ngô Thảo, Phan Quang là một người khiêm cung, hồn hậu, ông là người có rất nhiều bạn bè trong giới chính khách và văn hoá. Hai tập Thương nhớ vẫn còn với ký ức về gần 60 nhân vật đương thời ông đã gặp, với những chi tiết về ngôn từ, những nét tính cách, tiểu sử và tác phẩm cho bạn đọc thấy được tầm vóc từ lãnh tụ Hồ Chí Minh, các đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh… các nhà khoa học, nhà văn hóa Trần Văn Giầu, Lương Đình Của, Nguyễn Lân, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Tùng…, các văn nghệ sĩ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Văn Bỗng, Bùi Hiển, Trần Hoàn, Nguyễn Văn Thương, Điềm Phùng Thị, Nguyễn Tuân… Đọc những trang viết khiêm nhường mà thân thiết, hiểu một số những người bạn của ông qua các trang viết, bạn đọc có thể biết vị thế và tầm vóc văn hóa và con người nhân văn của tác giả.


Nhà báo Trương Minh Tứ cảm nhận khi đọc Thương nhớ vẫn còn:  Tôi dừng lại, đọc chậm ở bài viết “Tiếng lòng Viên Tĩnh”, là cõi đi về của nhà thơ Chế Lan Viên, nơi nhà báo Phan Quang nhiều lần về thăm trước và sau ngày nhà thơ qua đời. Đối với Phan Quang, Chế Lan Viên là người anh về tuổi đời và nghề báo, nghiệp văn, do đó trong hồi ức của ông luôn thể hiện một sự thành kính, chân thành và nồng hậu. Thắp nén hương cho nhà thơ nơi Viên Tĩnh Viên ở Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh, nhà báo Phan Quang có những quan sát thật xúc động: “Cảnh quan bên ngoài nay khác trước nhiều lắm, nhưng cái làm tôi xúc động mỗi lần có dịp trở lại sau ngày anh qua đời là nhiều thứ trong nhà hầu như nguyên vẹn. Dường như anh Hoan vẫn đâu đây, anh vừa chạy ra ngoài có việc gì đấy để rồi đột ngột xộc vào ôm choàng lấy bạn. Phòng khách và cũng là nơi làm việc của anh chị gần như ngày trước…”. Cũng qua trang viết của nhà báo Phan Quang, người đọc có thể cảm nhận được nhờ có mảnh vườn bé bỏng này, nơi Chế Lan Viên từng tự bạch: “Mảnh vườn bé bỏng vốn không tên/ Xanh um chỉ có màu xanh cỏ/ Tôi đặt cho lòng Viên Tĩnh Viên” mà nhà thơ tìm được không gian yên tĩnh để miệt mài làm việc, lưu lại cho đời một phần quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của mình. Qua lời kể của nhà báo Phan Quang, trước mắt chúng ta hiện lên một Chế Lan Viên mặc dù bệnh tình bủa vây vẫn không ngừng thao thức, trăn trở, trách nhiệm với bạn văn, với thơ, với đời, vẫn chạy đua với quỹ thời gian hạn hẹp còn lại để viết. Thư Chế Lan Viên viết cho nhà báo Phan Quang: “...Năm nay tôi đề bốn cái tựa sách, trong đó có tập thơ anh Lành (Tố Hữu), tập thơ Hàn Mặc Tử...”.


Có thể nói bất kỳ ai từng đọc, cũng thật sự rung cảm và ấn tượng với bài viết của Phan Quang, khi Phan Quang viết về người bạn đồng nghiệp - nghệ sĩ nhân dân Bạch Diệp, người thuộc lớp cán bộ được điều về Báo Nhân Dân đợt tiếp quản thủ đô Hà Nội và chuẩn bị xuất bản báo hàng ngày, Ông dành những trang viết thấm đẫm tình đồng nghiệp và đậm chất đời, chân thành và nồng hậu, qua đó người đọc biết thêm về đời tư “đoạn trường” của người nghệ sĩ tài hoa này (bút ký Lá trắng Vu Lan). Nhiều người đã từng xem phim do Bạch Diệp đạo diễn với những bộ phim làm lay động lòng người như “Ngày lễ thánh”, “Điện Biên Phủ”, “Ai giận ai thương”, “Huyền thoại mẹ”, “Hoa ban đỏ”…, nhưng ít ai biết rằng trong đời sống tình cảm, người đàn bà ấy có những uẩn khúc riêng. Bởi trước đó Bạch Diệp từng là người yêu của nhạc sĩ tài hoa Tử Phác; sau đó được một nhà lãnh đạo địa phương trí thức, đẹp trai yêu nhưng chị từ chối và quyết dứt áo trở về Hà Nội sum vầy với gia đình, thế nhưng “như là định mệnh níu kéo người nghệ sĩ, bảo chờ làm bà hoàng ngắn ngủi của ông vua thơ tình? “Tôi cầm đóa dạ lan hương/Trong tay. Đi đến người thương cách trùng…”. Nhà báo Phan Quang kể chuyện người bạn đồng nghiệp một cách chân tình: “…Lễ thành hôn nàng Bạch Diệp với nhà thơ Xuân Diệu, mà người mai mối đầy nhiệt tình là Tổng biên tập Hoàng Tùng, tổ chức rôm rả tối hôm ấy tại ngôi biệt thự nhìn ra Hồ Gươm, cạnh cây đa cổ thụ báo Nhân Dân. Chẳng được bao lâu, anh em rỉ tai nhau: Đêm nào nó cũng ra ngồi khóc một mình ở vườn hoa”…Đọc “Lá trắng Vu Lan”, mới biết thời ấy, sau ngày hòa bình lập lại, ở Báo Nhân Dân có cô phóng viên Hà thành Bạch Diệp đi làm hàng ngày vẫn diện áo dài tha thướt, thường dẫn bạn đồng nghiệp về thưởng trăng trên sân thượng ngôi biệt thự của gia đình ở cuối phố Bà Triệu. Thật đẹp và lãng mạn. Thế rồi cô phóng viên ấy đã thay chiếc áo dài bằng cái sơ mi trắng cổ lá sen, được tổ chức phân công về tỉnh nghèo, làm tờ nội san đoàn cải cách ruộng đất. Vậy mà Bạch Diệp vẫn chưa thôi mơ màng. Thư chị gửi cho nhà báo Phan Quang viết: “Diệp xa Hà Nội vừa đúng tám tháng rồi đấy. Nếu ở Hà Nội lúc này chắc Diệp đã lấy xe đạp đi vòng lên đường Cổ Ngư chơi một mình rồi…Đêm hôm nay sao lặng lẽ thế này. Hình như là đêm chủ nhật. Lâu lắm rồi, đêm nay Diệp mới thấy nhớ Hà Nội, nhớ đến gần như muốn khóc…”. Ít lâu sau đợt thâm nhập ba cùng, Bạch Diệp chuyển sang lĩnh vực điện ảnh…


Có lẽ, với tầm nhìn văn hóa và thái độ nhân văn ở tầm vóc nào, Phan Quang mới có được những trang viết đầy ắp tình đời, tình người làm lay động lòng người về các đồng nghiệp, chia sẻ với các số phận sâu lắng đến như vậy.


Đầu tháng 4 năm 1975, trên đường thần tốc vào Sài Gòn, nhà báo Phan Quang ở Đà Nẵng được vài hôm. Thời gian ngắn ấy, ông tham dự một cuộc tọa đàm của các ký giả Sài gòn đang có mặt tại thành phố này. Trong số đó có Trúc Ly, Chủ tịch Ban Chấp hành Phân bộ ký giả miền Trung; Lương Sĩ Trung, ký giả báo Đông Phương, Mặc Lan, phóng viên báo Tiền tuyến của quân đội Sài Gòn… và nhà văn Nguyễn Văn Xuân với danh nghĩa cố vấn của Phân bộ ký giả nói trên… Cuộc gặp này, ông đã có lần kể lại trong một bài báo. Nhưng là người khiêm tốn, ông không nói rõ chính ông là người đề nghị Thành ủy Đà Nẵng tổ chức cuộc gặp mặt đó. Thú thực, nếu chỉ lăm lăm cầm bút mà thiếu tầm nhìn văn hóa, thì làm sao nhà báo Phan Quang có được ý tưởng gợi ý để thành phố Đà nẵng tổ chức được cuộc gặp mặt ý nghĩa này. Với nhà báo Phan Quang, mỗi sự kiện đều thể hiện một tầm nhìn văn hóa và thái độ nhân văn đối với cuộc đời là thế; bởi nếu không, các sự kiện cứ trôi đi theo năm tháng. Có lẽ, mỗi sự kiện lịch sử đều có tầm vóc của nó, và đều có tiềm năng thông tin hay truyền tải thông điệp lịch sử; nhưng tiềm năng ấy có được khơi thức hay không lại tùy thuộc vào tầm nhìn, năng lực và khả năng khơi thức của nhà báo.


Được dịp tìm hiểu Phan Quang và đọc một số đầu sách của ông, tôi mới nghiệm ra rằng, khi nhà báo, nhà văn có được tầm vóc và nền tảng văn hóa đủ rộng, đủ sâu thì có lẽ đương nhiên ở con người ấy có được nhân cách sáng, có được tầm nhìn văn hóa và thái độ nhân văn với cuộc đời, với sự nghiệp của đất nước, của nhân dân cũng như có được sự nồng hậu trong cách kết nối, cách nhìn trong các quan hệ... Được như thế, nhà báo sẽ luôn hướng tầm mắt của mình theo chiều phát triển của dân tộc và vì sự phát triển ấy, mở ra theo chân trời góc biển, chứ không hướng vào những góc khuất hay xó bếp cuộc đời để giật gân câu khách và làm tổn hại đến bao số phận. Và như vậy, làm gì cũng cần có nền tẳng văn hóa để hoàn thiện nhân cách, và hoạt động chính trị, báo chí, văn học, càng cần nhiều hơn thế để tránh khỏi bị những xô đẩy của cuộc sống đời thường có thể làm méo mó giá trị và nhân cách. Tầm vóc văn hóa không chỉ làm nên diện mạo và nhân cách được kính trọng, mà còn tạo thế vững tồn với thời gian.


Năng khiếu, khí chất và chịu trui rèn trong thực tiễn


Thật ra tôi biết đến và thật sự yêu thích Phan Quang từ khi đọc loạt bài về Đồng bằng sông Cửu Long Nơi đụng đầu lịch sử của ông đăng trên báo Nhân Dân, thường là chân trang 3 theo dạng feuilleton khi đang học năm thứ nhất đại học báo chí. Một kỷ niệm khó quên là bài thi Ngôn ngữ báo chí của tôi đạt điểm cao nhất trong toàn khóa học (cùng bài thi Kinh tế chính trị - phần xã hội chủ nghĩa được điểm 10 hiếm hoi của cơ sở đào tạo). Số là, khi làm rõ đặc trưng chính yếu của ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện theo đề bài thi, tôi nhập tâm phân tích đoạn ghi chép trong Nơi đụng đầu lịch sử của Phan Quang khi ông chứng kiến và thuật lại buổi giao ca trực của “anh công an áo xanh” (tức công an biên phòng thời đó) nói với “anh công an áo vàng” (tức cảnh sát giữ gìn trật tự, an toàn xã hội) rằng, nhiệm vụ của chúng tôi đến đây là hết; từ nay các đồng chí có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh trong nội địa. Đoạn thuật sự kiện này nói lên một điều mà tác giả không cần gọi tên, là hòa bình đã lập lại, đất nước trên thực tế đã thống nhất rồi... Vì hồi ấy, quan điểm sau giải phóng miền Nam, thống nhất ngay cả nước cùng thực hiện một nhiệm vụ chiến lược đang có những ý kiến khác nhau. Và quan điểm của tác giả, cũng là quan điểm của báo Nhân Dân được thể hiện trong một trích đoạn bài báo chỉ vẻn vẹn có mối đoạn bàn giao ca trực. Đó chính là nghệ thuật sử dụng sự kiện và ngôn ngữ sự kiện của Phan Quang.


Ca sĩ giao tiếp với công chúng bằng nhạc phẩm; nhà văn “nói chuyện” với công chúng thông qua hình tượng nghệ thuật; nhà báo “nói chuyện” với công chúng bằng sự kiện và vấn đề thời sự hôm nay. Một trong những cái tài giỏi của nhà báo là nói bằng sự kiện - ngôn ngữ sự kiện và từ đó để sự kiện tự nói lên chủ đề, ý đồ, ý định của người viết, của tác phẩm báo chí; chứ nhà báo không nhảy vào cuộc mà hô hào, hò hét... như người hô khẩu hiệu hay như anh hùng xa lộ. Không biết cái năng khiếu ấy từ đâu ra, nhưng trong các tác phẩm báo chí của Phan Quang thì nó cứ hiện lên ngồn ngộn sự kiện được ghi chép trung thực và được kết nối từ những chi tiết sống động, những con số đang cựa quậy cùng với những cảm xúc và ấn tượng ấm áp tình đời. Bởi thế cuốn Đồng bằng sông Cửu Long của ông đến nay được tái bản tới 5 lần, người đọc sau khi gấp lại những trang sách, thấy cuộc sống ở đấy như vẫn đang tiếp tục cựa quậy sinh sôi với bao nhọc nhằn gian khó của bà con vùng sông nước Miền Tây...Rõ ràng, với nghệ thuật thông tin truyền cảm của nhà báo, đằng sau các chi tiết và sự kiện, sau những con số và vấn đề, bạn đọc cảm nhận được một cách rõ ràng cuộc đời đang cựa quậy đi lên, hay đang tàn lụi đi xuống.


Ông tâm sự rằng trong hơn nửa thế kỷ cầm bút, hầu như ông chưa bị “tai nạn nghề nghiệp” nào; nguyên do là lúc nào ông “cũng cố gắng làm tốt mọi việc được giao ở mức tốt nhất có thể, cẩn trọng và ghi chép, cái gì chưa biết thì thật thà hỏi và kiểm tra cẩn thận, không bao giờ giấu dốt...”. Bất cứ ai tiếp xúc với Phan Quang cũng đều có thể nghiệm ra điều đó, bởi ở ông toát lên một phong thái ung dung, tự tại, điềm đạm và cần trọng từ con số đến ngôn từ, giọng điệu, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, cởi mở mà sâu lắng. Hình như tôi có cảm nhận ở ông điều này có sự khác biệt với một vài đồng nghiệp của Ông ở báo Nhân Dân. Chất lãng mạn của Thép Mới bộc lộ ra bên ngoài làm người ta có cảm nhận dễ dàng về phóng cách hơi lãng tử; còn với Phan Quang lại điềm đạm và sâu lắng... Ngồi nghe ông kể chuyện nghề, tôi thật sự bị hút vào cái “năng khiếu bẩm sinh nơi ông”; và phải chăng vì vậy ông “thuận tay” với ký, phóng sự, phân tích và nghiên cứu.... Bởi nhiệm vụ của phóng sự hay ký là tái hiện bức tranh hiện thực bằng những con người và sự kiện tiêu biểu, bởi những điều mắt thấy tai nghe, trực tiếp đối thoại trong hình thức miêu tả, cùng với những cảm xúc và ấn tượng ban đầu. Bởi thế, dù không dám so sánh, và bất cứ so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng thú thực bản thân tôi “khoái” đọc Đồng bằng sông Cửu Long hơn là Sông Đà, cũng có lẽ là như vậy.


Câu chuyện nghề với nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa lão thành Phan Quang đang đến cận kề bữa cơm trưa, nhưng ông ngày càng tỏ ra đau đáu khi nói về “khí chất Quảng Trị” của mình. Nhân bàn về tính cách từ tốn, thận trọng, tôn trọng cấp dưới của đồng chí Trường Chinh, ông kể: Có lần Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh gọi ông lên trao đổi công việc, và có ý kiến về một vấn đề thời sự qua mấy bài báo của Phan Quang ông vừa đọc. Cấp trên nói xong, Phan Quang không ngần ngại: “Thưa anh, về điểm này, ý tôi có hơi khác anh một chút...”. Nhà lãnh đạo lắng nghe rồi từ tốn: “Công việc báo chí, anh thành thạo hơn tôi. Hôm nay tôi mời anh lên trao đổi ý kiến là để anh tham khảo, tuy nhiên anh cứ làm theo cách của anh, chẳng cần phải câu nệ cho lắm”.


Rồi ông cười, “tính khí người Quảng Trị trong tôi trước sau vẫn vậy; không nịnh cấp trên, không thay đổi ý kiến mình chỉ để làm vừa lòng cấp trên...”. Ông chỉ nói có vậy, nhưng tôi ngẫm, nếu không có được cái bản lĩnh ấy thì làm sao có thể trở thành một trí thức, một nhà văn hóa có tầm vóc. Phẩm chất cần có của một trí thức chân chính đã được bàn thảo nhiều qua các cuộc hội thảo nghiêm túc. Nhưng theo tôi có ba phẩm chất cơ bản và quan trọng. Một, là người có kiến thức nền tảng đủ rộng và đủ sâu như mảng kiến thức bách khoa, cùng với nó là kiến thức chuyên ngành, chuyên môn mà cái để thẩm định nó, thể hiện nó là sản phẩm sáng tạo cá nhân được công chúng, cộng đồng thừa nhận, chứ không phải núp bóng, dựa nhờ vào người khác để đứng tên và lấy danh. Bởi nhà văn nói chuyện với công chúng bằng và thông qua tác phẩm, qua hình tượng văn học của mình; nhà báo nói chuyện với công chúng bằng và thông qua tác phẩm, thông qua sự kiện, vấn đề thời sự và cách “thẩm” những sự kiện, vấn đề ấy. Hai là, có bản lĩnh bảo vệ chân lý, lẽ phải, chứ không phải là người chuyên “ăn theo nói leo” hoặc nịnh nọt cấp trên để mưu lợi cá nhân. Người có học vấn cao mà chỉ nhằm chiều theo ý cấp trên, bất chấp sự thật, lẽ phải để mưu cầu lợi ích cá nhân, thậm chí để “mua quan, bán chức” thì thật ra cũng là biểu hiện của sự thiếu giáo dục, thiếu nhân cách. Người như thế, không phải là trí thức chân chính.  Ba, là người nhiệt thành truyền đạt, chia sẻ thông tin, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cho cộng đồng, cho đồng nghiệp, chứ không bo bo vào lợi thế riêng để độc quyền nhằm thâu tóm thông tin. Và tôi trộm nghĩ, chính những phẩm chất này nơi ông Phan Quang đã làm nên tầm vóc văn hóa một con người, với khí chất người Quảng Trị, những phẩm chất này càng toát lên mạnh mẽ, đậm đà khó trộn lẫn.


Cuối năm 1972, khi đang làm ở Ban Nông nghiệp báo Nhân Dân, báo Đảng chuẩn bị làm báo dưới bom đạn B52, ông được điều sang làm đồng Trưởng ban thư ký tòa soạn, trong quy trình chỉ để lại Hà Nội một số cán bộ thật cần thiết cho việc xuất bản báo đều đặn hằng ngày, còn hầu hết cán bộ được phân về các địa phương làm phóng viên thường trú hoặc việc khác (cũng là một cách bảo toàn cán bộ về lâu dài). Ông đã cùng anh em đồng nghiệp, dưới sự điều hành trực tiếp của tổng biên tập Hoàng Tùng, chuẩn bị chu đáo mọi việc, ngày đêm có mặt tại tòa báo, để bảo đảm báo ra đúng ngày giờ ngay dưới làn bom đạn B52 của đế quốc Mỹ. Có lẽ với những phẩm chất và linh cảm đã được rèn luyện trong khói lửa cuộc chiến tranh trong vùng “nơi đụng đầu lịch sử”, nhất là với nền tảng văn hóa và kỹ năng nghề nghiệp, đức tính cẩn trọng, khả năng bao quát, đã giúp ông xử lý mọi việc trơn tru và hiệu quả, bảo đảm xuất bản tờ báo Đảng trong những ngày dưới bom B52.


Có lẽ với “bộ ba” hiện hữu là nền tảng văn hóa, năng khiếu và bản lĩnh luôn được trui rèn đủ để làm nên một Phan Quang đẳng cấp “chiếu nghề” của “văn báo bất phân” và một nhà văn hóa tầm vóc, một chính khách được nhiều người yêu mến, kính trọng. Và bởi thế, với tầm vóc văn hóa ấy, lúc nào cũng bắt gặp nơi ông sự lịch lãm, nhẹ nhàng trong giao tiếp và với độ sâu, độ hút của những câu chuyện ông kể, độ chân thành, thẳng thắn của nghệ thuật giao tiếp cũng như hàm lượng văn hóa và tính nhân văn trong các tác phẩm của ông.


Niềm vui, nỗi buồn của một trí thức


Với ông Phan Quang, niềm vui của nghề báo là đầy ắp những chuyến đi, những chứng kiến dấu tích lịch sử của đất nước và góp phần ghi lại những dấu tích ấy với sự phân tích và cảm xúc đầy tràn.


Đầu năm 1973, Quảng Trị giải phóng. Trước khi Hiệp định Paris về chiến tranh Việt Nam được ký kết, lãnh đạo tỉnh ra báo cáo Trung ương, cuộc họp đó có tổng biên tập Hoàng Tùng tham dự. Các đồng chí Quảng Trị nhờ ông Hoàng Tùng nhắn Phan Quang hãy thu xếp về quê, đón cha và chị gái từ Hải Thượng hiện đã sơ tán ra bờ bắc sông Hiếu. Nhưng Hoàng Tùng khuyên Phan Quang chớ vội đi, hẵng chờ đến ngày Hiệp định chính thức ký kết và có hiệu lực. Năm ấy, sau mấy chục năm, Ông được cử về quê Quảng Trị “đón Tết”, chuyến công tác ấy có trợ lý là nhà báo Đỗ Quảng cùng đi. Tám giờ sáng ngày 28 tháng giêng 1973, thời điểm (về lý thuyết là vậy nhưng thực tế thì bờ nam Cửa Việt vẫn còn nóng ran tiếng súng vì quân đội Việt Nam cộng hòa muốn tái chiếm nơi đây) hai bên phải ngưng tiếng súng, chiếc xe con của ông tiếp ngay theo sau xe Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Hồ Sĩ Thoảng vượt cầu phao vừa bắc qua Hiền Lương vào thị xã Đông Hà... mà trong lòng lâng lâng khó tả.


Hai năm sau, mùa xuân 1975, Phan Quang đang ở Mộc Châu, Tây Bắc. Ông đã trở lại nghề cũ, lại đi viết loạt bài về trồng và chế biến chè, nuôi bò sữa tại nông trường Mộc Châu thì có điện khẩn của tòa soạn gọi về Hà Nội, khẩn trương chuẩn bị để mau chóng vào Nam. Lúc đó báo Nhân Dân lập hai đoàn. Một đoàn do Thép Mới dẫn đầu theo Đường Hồ Chí Minh dọc Trường sơn tiến thẳng vào Xuân Lộc. Đoàn của ông gồm năm nhà báo, do Trần Kiên làm trưởng, bám theo đường số một đi dần vào Huế, Đà Nẵng rồi tiến vào Sài Gòn, ngay sau khi được tin Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Và Phan Quang là một trong số ít người may mắn kịp có mặt tại Dinh Độc lập, để chứng kiến lễ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn trả tự do cho tướng Dương Văn Minh tổng thống cùng thủ tướng và nhiều quan chức khác của chế độ Sài Gòn vừa sụp đổ đang bị giữ trong Dinh được ra ngoài, trở lại cuộc sống bình thường.


Ông phấn chấn nhớ chuyện về Hà Nội năm 1954, khi ông được cấp trên điều từ Liên khu IV ra tăng cường cho báo Nhân Dân, nhờ thế lần đầu trong đời “tôi chợt gặp trời thu Hà Nội”, cũng như hào hứng kể về cuộc thần tốc vô Sài Gòn mùa xuân năm 1975. Rồi những chuyến đi Châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, Trung Đông... với vai trò nhà báo hay tư cách Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội. Nghe ông kể mà... thèm, bởi chuyến đi nào, đi đến đâu, dù lạ dù quen ông đều có những niềm hứng khởi, và thời gian sau thế nào cũng có bài viết về người về đất, về cái hôm nay và cái ngày xưa những nơi ông có dịp ghé chân. Và tôi hiểu, tại sao ở tuổi cận kề chín mươi, ông vẫn tự hào về cuộc hành trình của nghề báo đã cho ông những trải nghiệm ngồn ngộn những chất liệu đời, giúp nghiệp văn của Ông tiếp tục khai nở mùa quả ngọt, khi đã đọng đầy kỷ niệm vui buồn.


Về những trải nghiệm nghề nghiệp, có lẽ ông tự hào và phấn khích nhất là khi nhớ về những lần được làm phóng viên phục vụ Bác Hồ đi cơ sở và được Bác Hồ trực tiếp dạy bảo, hay những lần được tiếp xúc cộng việc, thân tình một số đồng chí lãnh đạo hàng đầu của Đảng và Nhà nước như Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng.., được các vị trực tiếp trao đổi công việc, chỉ đạo, bàn bạc chuyện nghề chuyện đời.


Kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời làm báo của Phan Quang, theo ông, rốt cuộc vẫn là những lần được đi theo, phục vụ các chuyến công tác của Bác Hồ. Nhớ một lần, tại một bài viết, Phan Quang nhắc đi nhắc lại chi tiết Bác Hồ đi bộ rất xa giữa cánh đồng khô hạn dưới cái nắng chang chang để thăm và động viên các đội nông dân làm thủy lợi, sáng hôm sau, Bác cho gọi lên. Bác nói: “Bác đã đọc bài tường thuật của chú trên báo Nhân Dân. Chú viết thế là được”. Sau câu động viên, Bác hơi cao giọng, nói gần như gắt: “Nhưng Bác hỏi chú: Chuyện bác Hồ đi bộ giữa cánh đồng thì có gì mà nói lắm thế! Vậy xưa nay Bác Hồ chỉ ngồi xe thôi, Bác không đi bộ bao giờ sao?”.


Một chuyện khác. Khi ông viết bài trên báo Nhân Dân (tháng 5 năm 1957) phê bình một số bất cập của Tỉnh ủy Thanh Hóa trong công tác chỉ đạo sản xuất theo phương hướng “từ chiến tranh chuyển sang hòa bình”, tỉnh không phản ứng nhưng không công khai tiếp thụ và tự phê bình theo như quy định. Mấy hôm sau, Bác Hồ đã viết bài báo ngắn, dầu đề: “Có phê bình phải có tự phê bình”[10]. Khoảng một tuần sau, dĩ nhiên tòa soạn báo nhận được và công bố lên báo bài tự phê bình của Tỉnh ủy Thanh Hóa. Và ông Phan Quang chốt lại một câu: “Với đời người làm báo, còn có gì hạnh phúc hơn là khi mình viết bài, được Bác Hồ đọc và cho ý kiến dạy bảo, nhất là trường hợp một phóng viên mặt còn non choẹt lại dám bài phê bình một tỉnh lớn và đông dân nhất nước, thế mà bài báo mọn không chỉ được Bác Hồ đọc, đồng tình, Bác còn tự tay viết bài nhắc nhở tỉnh ủy phải tiếp thu, “Có phê bình phải có tự phê bình”. Trong đời, còn có niềm vui nghề nghiệp nào lớn hơn thế?”


Trước Tết Bính Thân 2016, báo Nhân Dân có lên tiếng[11] phê phán hiện tượng nhìn nhận, đánh giá sai lệch về các nhân vật lịch sử. Như việc xuất bản cuốn hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer (1857 - 1932),  Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897 - 1902, đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Trên một số tờ báo, nội dung cuốn sách được giới thiệu chi tiết: “Đó là quá trình xây dựng những cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, cầu Thành Thái (Tràng Tiền) tại sông Hương hay cầu Bình Lợi trên sông Sài Gòn. Đó là sự quyết tâm của Doumer trong việc xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt. Đó là việc Hà Nội, dưới thời cai trị của Paul, trở thành thành phố châu Á đầu tiên có điện”…Tức là nhiều tờ báo vào cuộc ca ngợi “công trạng” của toàn quyền Đông Dương Paul Doumer một thời, mà quên đi tính “ba mặt một con người” như Phan Quang đã từng mổ xẻ trong một bài viết cách đây đã gần chục năm.Có một sự thật không ai có thể phủ nhận là Paul Doumer đến Việt Nam với vai trò một viên quan thực dân và đương nhiên, ông phải tìm mọi cách để phục vụ lợi ích của nước Pháp. Trên thực tế, trong thời gian ở Việt Nam ông đã rất mẫn cán “bình định” bằng bất cứ giá nào, rồi xây dựng bộ máy cai trị thực dân thay thế chế độ cai trị của nhà Nguyễn, khai thác tài nguyên, bóc lột đến cùng kiệt sức lao động của người bản xứ.” “Công tích” của P.Doumer trong mấy năm ở Đông Dương rất cụ thể: “Dưới triều đại Paul Doumer, ba sắc thuế được đẩy mạnh hết mức là thuốc phiện, muối và rượu. Của cải bòn rút từ người dân qua ba sắc thuế ấy đóng vào ngân sách thuộc địa tăng từ 20 triệu đồng Đông Dương (Đ) năm 1899 lên 33 triệu Đ năm 1902, rồi vọt lên 42 triệu Đ năm 1911. Lợi nhuận của Ngân hàng Đông Dương cũng tăng theo chiều thuận với tăng thuế. Theo nhà sử học Pháp Jean Chesneaux, “công tích chính của Doumer tại Đông Dương” là tăng thuế. Ở Trung Kỳ, thuế thân và thuế ruộng đất trước ngày ông tới Việt Nam nhậm chức mới 83.000 Đ, sau đó vọt lên 2 triệu Đ năm 1899 - năm thứ 2 nhiệm kỳ toàn quyền. Ở Bắc Kỳ, 2 sắc thuế ấy cũng tăng nhanh, đạt gần 5 triệu Đ năm 1907. Trong khi đó, mọi loại thuế má người Pháp làm việc tại Đông Dương phải đóng góp vào ngân sách vỏn vẹn có 9.000 Đ/năm! Ở Nam Bộ, công cuộc khai thác và tập trung hóa ruộng đất đẩy nhanh hết cỡ: Từ 522.000 ha ruộng lúa năm 1880 tăng vọt lên 1.175.000 ha 10 năm sau. Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long trở thành nguồn xuất khẩu lớn nhất châu Á. Trên thực tế, Paul Doumer đã tạo dựng cơ sở để khi chiến tranh thế giới nổ ra, nước Việt Nam nghèo đói phải oằn mình cho “rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc”, phục vụ chiến thắng của mẫu quốc”[12].


Vấn đề là tại sao một số tác giả và tờ báo lại rốt ráo vào cuộc khen ngợi, ca tụng “công trạng” Toàn quyền Đông Dương đến như vậy, nhân một cuốn sách xuất bản, mà vô tình hay cố ý lờ đi những tội ác mà con người này đã gây ra ở Việt Nam? Có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ người viết thiếu nền tảng văn hóa cần thiết của việc đánh giá các hiện tượng lịch sử là điều dễ nhận biết; bới thế, hay có hiện tượng a dua, “khen chê theo kiểu hội đồng”, theo trào lưu.


Nhiều đồng nghiệp vẫn còn nhắc lại với sự chiêm nghiệm sâu sắc ý kiến của ông Phan Quang phát biểu tại Hội thảo nhân kỷ niệm 90 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. Khi nêu ý kiến về sự phát triển báo chí hiện nay, về hiện tượng ngược với báo chí thế giới, ra đời một loạt cơ quan báo chí mới trong khi hầu tất các nước đều suy giảm, nhất là thành lập mới các kênh truyền hình trong bối cảnh hiện nay, ông nói đại ý rằng, báo chí ta như cậu ấm được chiều chuộng, đang mắc chứng béo phì và bệnh tiểu đường. Cách ví von hình ảnh của Ông nêu ra thật sinh động, thấm thía và sâu sắc.


Tư thái một nhà hoạt động đối ngoại


Phan Quang không đồng tình với cách đồng nghiệp gọi ông là “chính khách”, nhưng tôi nghĩ ông thực sự có đủ phẩm chất một nhà hoạt động chính trị đối ngoại, một nhà ngoại giao chính hiệu. Ông kể: Tại một hội nghị quốc tế họp tại Bangkok cuối năm 1987, Đoàn Việt Nam được ban tổ chức xếp ngồi cạnh Đoàn Hàn quốc. Trong bữa cơm, mọi người trao đổi danh thiếp với nhau. Lúc này ông đang làm Thứ trưởng Bộ Thông tin. Mấy tháng sau, nhận được giấy mời sang thăm Hàn Quốc. Thời gian này, hai nước chưa chính thức đặt quan hệ ngoại giao, cho nên bạn phải dùng danh nghĩa Tập đoàn Phát thanh Truyền hình Hàn Quốc KBS (Korea Broadcasting System) đứng ra mời. Các cơ quan cấp trên hơi ngần ngại, khuyên ông nên trực tiếp xin ý kiến Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Ngoại trưởng đồng ý, còn khuyên ông nên nhận lời mời. Tuy nhiên, ông dặn thêm, trong hoàn cảnh nhạy cảm như lúc này, cần phải xin ý kiến quyết định của Thủ tướng. Sau khi nghe Phan Quang trình bày, Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đầu cũng hơi ngần ngại, vì có nước láng giềng không muốn ta đi thăm Hàn Quốc cấp thứ trưởng. – “Hay là anh cử ông phó của anh đi thay?”, Thủ tướng nói. Phan Quang đáp: - “Thưa anh, không phải tôi thích đi, nhưng sang Hàn quốc lúc này là cần cho công việc các anh giao cho Đài TNVN, hơn nữa lúc này người ta đang cần mình, chứ sau này có thể khác; thứ hai là, họ mời đích danh mà mình cử cấp phó thì chắc gì họ đã nhiệt tình và sẽ hết lòng bàn việc hợp tác song phương....” Vậy là Thủ tướng đồng ý cho Phan Quang đi Hàn Quốc (1989). Và Hội Nhà báo là tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp dầu tiên ở nước ta đặt quan hệ với đồng cấp Hàn, khá lâu trước khi hai nước chính thức kiến lập quan hệ ngoại giao, mở đường cho một sự hợp tác song phương đầy hiệu quả. Như vậy, không thể không nhận thấy “nhân tố Phan Quang” của mối quan hệ này giữa hai Hội Nhà báo và hai nước, cũng như “phẩm chất chính khách” nơi Ông.


Một câu chuyện khác. Năm 2000, ông Phan Quang được Tổng thống Pháp tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh hạng hai. Nhân một chuyến thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Quốc hội ta, Chủ tịch Thượng viện Pháp Christian Poncelet trực tiếp trao Huân chương cho Phan Quang tại buổi lễ long trọng tổ chức tại Đại sứ quán Pháp. Có mặt tại buổi lễ tối hôm ấy, có đoàn Thượng nghị sĩ Pháp, Thị trưởng thành phố Toulouse cùng đoàn của mình (ông thị trưởng Toulouse là Đại biểu Quốc hội Pháp, và Toulouse là thành phố kết nghĩa với thủ đô Hà Nội) và nhiều người khác nữa, Về phía ta, có Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Thứ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, đại diện một số cơ quan báo chí, truyền thông Việt Nam và Pháp, cùng nhiều khách mời, phần đông là công dân Pháp đang làm việc tại Việt Nam.


Theo lệ thường, sau khi được trao huân chương, đương sự có lời cảm ơn. Phan Quang cố tình phá lệ, phát biểu khá dài. Ông bày tỏ “lòng biết ơn ngôn ngữ Pháp đã giúp tôi mở một cửa sổ nhìn ra thế giới, cho tôi thêm một phương tiện nữa để làm giàu kiến thức của mình, giúp tôi khám phá tâm hồn con người ở những chân trời khác, của những thời đại khác”. Tiếp ngay sau, ông xin phép kể một kỷ niệm. Chuyện là, năm 1950 ông cùng nhà văn Bùi Hiển từ vùng địch hậu Thừa Thiên rủ nhau lên chiến khu Dương Hòa nghỉ ngơi mấy hôm lấy sức. Trong cái lán núp dưới bóng rừng sâu, hai nhà văn hào hứng đọc sách báo Pháp từ Paris vừa mới gửi sang qua đường thành phố Huế đang bị tạm chiếm. Bỗng dưng hai máy bay Spitfire của không quân Pháp phát hiện được căn cứ ta, nhào đến oanh tạc dữ dội trong nửa tiếng đồng hồ. Hai người may mắn thoát chết nhờ chạy kịp vào rừng, nhưng tất cả hành trang, bao gồm các số tay ghi chép, đều bị đạn bắn nát. Làm sao tránh được hờn căm trong hoàn cảnh ấy? Phan Quang nói tiếp: “Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp tôi lấy lại sự thanh thản. Tôi lấy lại được niềm tin. Đấy (tức chiến tranh) rốt cuộc là một sự hiểu lầm, một sự hiểu lầm to lớn và thô bạo của lịch sử thật đấy, song mọi hiểu lầm đều có thể xua tan khi con người còn giữ được lý trí” (và nhờ vậy mới có buổi tối hôm nay)[13].


Cử tọa vỗ tay nhiệt liệt, nhất là phía những bạn Pháp, duy có ông Đại sứ Pháp là có phần hơi băn khoăn. Trong bữa ăn, ông nói riêng với Phan Quang: “Lời phát biểu của ông hôm nay vượt ra ngoài thông lệ”. Kể đến đây Ông Phan Quang cười: “Tôi hiểu chứ. Ai lại dài dòng ba hoa vào lúc mọi người, kể cả ông Chủ tịch Thượng viện và nhiều thượng nghị sĩ tuổi ngoại 70 đều nghiêm túc đứng nghe, khi mà bữa tiệc thịnh soạn đã bày ra phòng bên cạnh, rượu quý tỏa mùi hương thơm ngát. Nhưng tôi tự bảo, không nhân dịp này nói thẳng suy nghĩ của mình thì chẳng bao giờ còn có cơ hội”.


- Thâm ý của ông là gì ?


- Tôi muốn nói thẳng với họ: Không phải tôi được các ông trao Huân chương vì tôi ủng hộ chế độ chính trị của các ông đâu. Không. Tôi biết ơn ngôn ngữ Pháp, khâm phục văn hóa Pháp, kính trọng nhân dân Pháp, nhưng tôi từng suýt chết vì bom đạn thực dân của các ông. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng tôi : « Nước Việt Nam ta nhân hậu, người Việt Nam ta không hận thù, chỉ cần hai bên đều giữ được lý trí và cùng chân thành hợp tác với nhau, mọi sự khắc tốt đẹp ».


Ông đại sứ Pháp thoạt đầu có hơi lo, nhưng sau khi Đoàn Thượng nghị sĩ Pháp trở về nước, ông Phan Quang nhận được thư riêng của ngài Chủ tịch Thượng viện cảm ơn nồng nhiệt, và một thời gian sau, nhân một chuyến ông sang Pháp về việc khác, Chủ tịch Thượng viện Pháp hay tin, đã mời ông cùng cả đoàn ta vào Lâu đài Luxembourg dự chiêu đãi trọng thể, để cho ông Chủ tich có dịp « một lần nữa bày tỏ cảm tình và những kỷ niệm tốt đẹp của chúng tôi sau chuyến thăm Việt Nam »[14].


Đúng là một Phan Quang ung dung tự tại, phóng khoáng mà sâu sắc với tầm nhìn văn hóa-chính trị kết nối vì đất nước, vì sự nghiệp chung. Thiếu một tầm vóc văn hóa, khó có thể có được phong thái lịch lãm tự tin, ấn tượng với cách ứng xử ở một nhà ngoại giao như thế.


Mãi còn đau đáu nỗi nhớ thương


Ông Phan Quang không bao giờ quên được nỗi đau mỗi lần nhớ lại những trận càn do Đội quân lê dương người nước ngoài do Pháp tuyển mộ và chỉ huy từng bao lần gây nên tại tỉnh Quảng Trị quê hương ông, và cải ba tỉnh “Bình Trị Thiên đau thương và anh dũng” nức tiếng một thời trong cả nước ta; đặc biệt về làng dân chài Mỹ Thủy anh hùng, tại một vùng biển nghèo cuối huyện Hải Lăng, gần nơi ông ra đời - cái làng nghèo ấy mọi người dân cùng một lòng kháng chiến và đã có lần phục kích diệt một số tên xâm lược. Quân đội thực dân Pháp trả thù, chỉ trong mấy ngày càn quét đã tàn sát hơn 500 dân thường, trong đó có rất nhiều phụ nữ và trẻ em. Cái làng Mỹ Thủy mà ông từng có nhiều dịp tới lui và được đồng bào đùm bọc những ngày ông công tác vùng địch hậu, nơi đó ngày nay Nhà nước cùng bà con địa phương đã xây lăng mộ tập thể đẹp và khá khang trang, có bức tường tưởng niệm bao quanh, mặt tường khắc đầy đủ tên họ tất cả các nạn nhân.


Giọng ông Phan Quang trầm hẳn xuống, mặt ông buồn.


Tôi hỏi tiếp. Ngày nay, đến tuổi thọ cận kề 90 này, ông còn có những nỗi buồn nào khác bên cạnh các niềm vui? Ông đáp: Những chuyện buồn do nhân tình thế thái là chuyện thường tình ở đời mọi lúc mọi nơi. Thiếu gì chuyện, nhớ mà làm chi! Chẳng hạn, có khi ta hết lòng vì bạn bè, đồng nghiệp, ta vô tư giúp đỡ, tạo điều kiện để bạn bè thăng tiến, nhưng rồi có người nào đó ứng xử không như ta chờ đợi, dù ta chẳng mong muốn gì khác ở họ ngoài chút tình người... Nhưng thôi, các bạn ơi, băn khoăn về những chuyện ấy làm chi! Cuộc đời luôn có vui buồn. Con người không ai là thiên thần. Thời buổi nào chẳng có người tốt và người không tốt....


Có lẽ đến tuổi nào đó, khi có điều kiện ngồi lại với những chuyện vui buồn, người ta mới chiêm nghiệm ra nhiều thứ giá trị được chắt lọc qua thời gian, và nhìn lại những lối đi của con người; nhưng cuộc đời luôn cuốn đi như dòng chảy; và cuộc đời cũng có những khúc tự biến mình thành đất màu mỡ cho những mặt trái có cơ nảy nở, sinh sôi[15].


Phải chăng từ cách suy tư ấy mà Phan Quang mỗi lần viết bút ký kỷ niệm về những người ông kính trọng, ngưỡng mộ hoặc viết về bạn bè cùng trang lứa, những đồng nghiệp đã ra đi, ông toàn nhắc những chuyện đáng trân trọng, những kỷ niệm đáng để nằm lòng, đúng như mấy dòng ông ghi đầu bộ sách “Thương nhớ vẫn còn” (đã tái bản mấy lần):


                 Con người không ai là thiên thần


                 Nhớ về những người đã xa


                 Tôi chỉ nhớ


                 Những điều đáng nhớ.


Phải chăng đấy là một phong cách chiêm nghiệm, một thái độ ứng xử với đời, với người, với bản thân mình của một nhân cách văn hóa, một tầm nhìn văn hóa và thái độ nhân văn với đời, với người ?


Khi đứng dậy chia tay nhà báo Phan Quang sau một hồi được say sưa trò chuyện với ông, hình ảnh một ông già râu tóc bạc phơ với ánh mắt sáng tinh đời, làn da trắng hồng với đôi chỗ bắt đầu « xuống nước », nụ cười rất tươi và rất hiền hòa nồng hậu, dù thính giác bắt đầu nặng, nhưng bàn tay ông lướt trên màn hình ipad vẫn rất tinh nhanh với vẻ mặt điềm tĩnh, có lẽ hình ảnh ấy in chiếm mãi trong tâm trí tôi giữa một ngày đông chí ở thủ đô – ngày rét nhất ở các tỉnh phía bắc trong mấy chục năm nay. Nhớ mãi một nhà văn, nhà báo Phan Quang, một nhà ngoại giao, một chính khách với một tầm vóc văn hóa, một người con Quảng Trị quê hương.


Hà Nội, 25- 01-2016


NVD.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] GS.TSKH, Khoa Báo chí Đại học tổng hợp Mascơva mang tên Lomonosov (MGU).




[2] “Nghìn lẻ một đêm” đến nay đã tái bản 37 lần, “Nghìn lẻ một ngày” 13 lần, “Những ngôi sao ban ngày” 5 lần, “Một mình giữa đại dương” 5 lần, “Sử thi huyền thoại Đông Tây” 2 lần…




[3] Hàng chục đầu sách tác phẩm báo chí và khảo cứu trong “Đồng bằng sông Cửu Long”, tái bản 5 lần.




[4] “Bên mộ vua Tần”, “Thơ thẩn Paris”, “Nghìn lẻ một đêm và văn minh Ả Rập”.




[5] Báo Viener Zeitung ra đời năm 1703, nay trở thành tập đoàn báo chí-truyền thông lớn bậc nhất Châu Âu.




[6] Xem “Tại sao các quốc gia thất bại”, Nxb Trẻ, 2014.




[7] Trích tư liệu ông trả lời phỏng vấn.




[8] Xem Nghìn lẻ một đêm và văn minh Ả Rập.




[9] Xem Bên mộ vua Tần.




[10] Có in lại trong Toàn tập Hồ CHí Minh, tập 8.




[11] Xem http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/28695402-nham-lan-ve-lich-su-dan-toi-ngo-nhan.html




[12] Xem  Phan Quang: Paul Doumer: Ba mặt một con người - báo Người lao động, số ra ngày 11.10.2009).


 




[13] Bài nói của Phan Quang đã đăng toàn văn trên báo Nhà báo và Công luận số ra ngày 21-4-2000, in lại trong tập Về diện mạo báo chí Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 92-95.




[14] Lâu đài Luxembourg là nơi đặt trụ sở Thượng viện Pháp.




[15] Xem thêm: “Tại sao các quốc gia thất bại; nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói” của các tác giả Daron Acemuglu và James A. Robinson, Nxb Trẻ, 2014.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngày này 9 năm trước nhà văn Sơn Nam đi xa... - Phạm Sỹ Sáu 13.08.2017
Tượng đài chiến thắng gãy đổ do trẻ 12 tuổi đùa nghịch! - Vũ Viết Tuân 11.08.2017
Đặc khu sẽ không hội đồng nhân dân và có đặc quyền casino - Như Bình 11.08.2017
Chuyện vụn về Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội... - Trần Thanh Cảnh 10.08.2017
Phú Quốc lúng túng với cô gái nước ngoài ngồi thiền xin tiền - Nhiều tác giả 10.08.2017
Hang Tám Cô - Huyền thoại và sự thật: Không thể tồn tại sự mù mờ - Nhiều tác giả 09.08.2017
Đất quốc phòng sân bay Tân Sơn Nhất: Chấm dứt liên doanh, sẵn sàng bàn giao - Nhiều tác giả 09.08.2017
Trở lại với câu hỏi: Con người rời khỏi châu Phi khi nào? - Hà Văn Thùy 06.08.2017
Truy giấy phép biểu diễn với cậu bé kéo đàn ở bờ hồ Hoàn Kiếm là không ổn - Nhiều tác giả 30.07.2017
Biển Đông: Một năm sau phán quyết của Toà PCA - Nhiều tác giả 29.07.2017
xem thêm »