tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20235955
Những bài báo
07.05.2017
Nhiều tác giả
Những bài viết về nhà văn Từ Bích Hoàng

   Tiểu sử nhà văn Từ Bích Hoàng


TỪ BÍCH HOÀNG - NHƯ HOA NÚI VẪN TOẢ HƯƠNG


       Ông nghỉ công việc ở toà soạn Văn nghệ Quân đội đã hơn ba chục năm và do tuổi già, bệnh nặng ông cũng đã “gác bút” từ khá lâu. Vậy mà, mỗi khi nhắc đến đội ngũ các nhà văn quân đội, mỗi dịp nói về tờ Văn nghệ Quân đội và nhắc tới báo chí của các lực lượng vũ trang mấy mươi năm qua, giới văn bút quân đội không ai và không một lần quên nhắc nghĩ về ông, về một loài hoa rừng, dẫu nở nơi đầu non nhưng rất “hữu sạ”. Nhắc và nghĩ về ông như một người anh, một người bạn thân gần và mẫu mực – mẫu mực trong cả việc viết, lối ứng xử và cả phong cách chỉ huy lãnh đạo thiên về chữ tình, chữ tín. Chúng tôi, những người hậu sinh, đến với gia đình Văn nghệ Quân đội muộn, ít được sống và làm việc cùng ông mà vẫn vơi đầy những kỷ niệm về ông.


          Ông là nhà văn Từ Bích Hoàng, là anh sinh viên Hà Nội Trần Văn Hồng (sở dĩ ông lấy bút danh là Từ Bích Hoàng là do kết thân với gia đình Giáo sư Từ Giấy - anh cả của nhà thơ Việt Phương) những năm trước cách mạng Tháng Tám, một phóng viên mặt trận giàu nhiệt huyết của báo Vệ Quốc quân – tiền thân của báo Quân đội Nhân dân trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, một biên tập viên sáng lập có tay nghề và chu đáo của tờ Văn nghệ Quân đội những năm sau hoà bình (1957), và sau đó là một người phụ trách, chỉ huy tờ báo chúng tôi, một đại tá cầm bút.


          Thực ra không phải chỉ đến khi được điều về “ngôi nhà số 4” làm biên tập viên của Văn nghệ Quân đội tôi mới biết đến ông. Ba chữ Từ Bích Hoàng tôi đã rất quen từ hồi còn là sinh viên và càng quen hơn khi tôi vào bộ đội, làm lính tuyên huấn một sư đoàn bộ binh. Bấy giờ tôi hay được “tạt” về Hà Nội dài dài để lấy tài liệu viết bài tuyên truyền về truyền thống quân đội hoặc “nói” cho bộ đội nghe về văn học viết về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh yêu nước. Tôi vào các thư viện, nhiều hơn cả là Thư viện quân đội và “khui” được thật nhiều tài liệu về ông qua các “côlếchxiông” Vệ quốc quân, Quân du kích, Văn nghệ và Quân đội Nhân dân xuất bản trong những năm kháng chiến chống Pháp. Ở các trang báo cũ này, dường như cái bút danh Từ Bích Hoàng xuất hiện đều đều hơn cả bên cạnh các tên tuổi khác: Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Vũ Cao, Từ Giấy, Vũ Tú Nam, Nam  Cao, Quang Dũng, Trần Cư, Chính Hữu, Hồ Phương, Mai Văn Hiến, Nguyễn Bích… Tôi được biết rõ thêm về ông. Ông là phóng viên của tờ Vệ quốc quân, là tác giả của nhiều thiên phóng sự chiến tranh đặc sắc, của những truyện ngắn nữa. Một thời làm báo sôi nổi, trẻ trung và nghèo khổ của thế hệ các ông hiện ra trước mắt tôi. Những phóng sự (có khi là phóng sự tay ba, tay đôi!) của ông và bạn bè bấy giờ thật độc đáo. Tôi nghĩ ấy không chỉ là những trang mang đậm hơi thở của cuộc chiến đấu, sinh động và hiện thực mà còn mang dấu ấn và bút pháp của một thời.


          Cuộc đời làm báo của Từ Bích Hoàng những năm chiến tranh ấy có lẽ là đoạn đời đẹp nhất của ông. Ông ít nhắc tới về cái thời sôi nổi, trẻ trung và sáng đẹp ấy, nhưng bạn bè ông thì không thể quên. Nhà thơ Vũ Cao, trong một bài viết của mình đã nhận xét: “Có thể nói thời kỳ 1947 – 1949 trong anh em báo Vệ quốc quân, người viết được nhiều nhất chính là Trần Đăng và Từ Bích Hoàng” (VNQĐ 7/83). Nhà phê bình văn học Ngô Thảo khi còn công tác ở Văn nghệ Quân đội cũng đã rất tâm đắc với những năm tháng này của ông. Anh đã “bí mật” làm tập Hoa núi cho ông (NXB Quân đội Nhân dân – 1982). Đây là tập sách sáng tác duy nhất, dường như là vậy, trong đời làm văn làm báo của ông.


          Ông sống, viết đều nhẹ nhàng, tình cảm. Vũ Cao - một người bạn thân, một đồng niên, đồng nghiệp, đồng chí của ông kể: “Với Từ Bích Hoàng, ngay cả trong những trận đánh bóng chuyền ầm ĩ những tiếng la thét của những bạn bè sành thể thao như Trị, Goòng, Thanh Cóc… anh vẵn cứ chỉ vừa đánh vừa cười tủm tỉm”, còn ông Nguyễn Khải - một nhà văn nhỏ tuổi hơn, trong những câu chuyện của mình, ông cũng thường hay nhắc đến cái thời ông giữ chân biên tập cho Văn nghệ Quân đội do “xếp” của ông là Từ Bích Hoàng điều hành. Nguyễn Khải bảo đó là một thời “nhất” trong cuộc đời cầm bút của ông. Ông kể hồi mới về “nhà số 4”, mấy lần được cử đi cơ sở viết bài đều hỏng, Từ Bích Hoàng chỉ sợ ông buồn mà bỏ nghề văn nên hết lời an ủi, và có lần ông đang làm việc, hết thuốc định tìm buồng Mai Ngữ kiếm một điếu chẳng dè lại gõ nhầm phòng Từ Bích Hoàng… Từ không nghiện thuốc nhưng ông đã xuống nhà, kiếm bằng được mấy điếu Tam Đảo mang đến tận phòng cho Nguyễn Khải. Thiếu tướng Dũng Hà, nguyên Tổng biên tập Văn nghệ Quân đội bồi hồi kể, năm 1958 khi còn là một cán bộ quân chính ở sư đoàn 316 đóng quân tại Điện Biên ông “ti toe” viết một truyện ngắn gửi về Văn nghệ Quân đội. Chỉ ít ngày sau, ông nhận được thư của Từ Bích Hoàng. Thư viết toà soạn hoan nghênh một cán bộ quân chính mà cũng tham gia viết văn…và cho đến giờ Dũng Hà còn nhớ vẻ băn khoăn của Từ Bích Hoàng trong lần gặp đầu tiên khi nói truyện ngắn không sử dụng được. Còn nhà văn Lê Lựu thì nhớ mãi bức thư “dài hơn ba trang giấy với những lời lẽ như ân cần như cha dặn dò con, thầy giáo dạy học trò, anh chị bảo ban em, hai đồng chí tâm tình với nhau”, măc dù truyện ngắn có tên Tôi định trốn…chưa dùng được! Sau này khi đã về đầu quân cho Văn nghệ Quân đội Lê Lựu có dịp thưa với “đồng chí Bí thư chi bộ suốt đời” họ Từ về những bức tâm thư năm nào, trong đó có chuyện “6 yếu tố của một bản tin”, Từ chỉ cười “Thế á, thế thì tôi có lỗi quá!” Viết về những năm còn ở “nhà số 4”, Văn Thảo Nguyên bảo đó là thời đi “học đạo” các ông Vũ Cao, Từ Bích Hoàng. Thu Bồn thì ví Vũ Cao như một Đạt la Lạt ma chịu chơi, còn Từ Bích Hoàng như sư ở chùa Cổ Lễ “nhỏ nhẹ mà tinh tế thường chăm sóc đời sống tình cảm của chúng tôi, anh em thường gọi anh là ông Từ Bi Hồng”…


Từ Bích Hoàng ông là thế, từ thời thanh niên sôi nổi đến nay đã là người thiên cổ (ông về cõi tiên ngày 23/ 01/2010 tai Hà Nội) nhưng tình cảm của anh em, bạn bè, đồng nghiệp và cả những chị văn thư, chú lính công vụ vẫn vẹn nguyên. Bạn cùng lứa tuổi ông kể vậy, tôi cũng thấy rõ là vậy, trong những lần, thi thoảng thôi, đến thăm ông ở khu tập thể 3B - Ông Ích Khiêm thấy ông tuổi đã xấp xỉ 90 rồi lại bệnh tật nên có phần chậm chạp, nhưng sự chu đáo thì vẫn như xưa. Ông cười thật hiền và nói chuyện cũng thật hiền. ông hỏi thằng con trai tôi giờ học trường nào, học có được không, rồi lại hỏi “Tạp chí mình” tira còn mấy vạn? Khuất Quang Thuỵ đang “thực tế” ở vùng nào, Nguyễn Khắc Trường được giải thưởng Hội Nhà văn rồi sống có dễ chịu hơn trước không? Những ai mới được phân nhà? Có nhớ “nói” với anh Thanh Tịnh và thắp giùm nén nhang mỗi khi vào Huế không?... Lại hỏi chuyện cháu Giáng Vân con anh Nguyễn Trọng Oánh làm thơ. Ông khen thơ Vân và hỏi sang chuyện nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên. Ông bảo Nguyên là cộng tác viên của Văn nghệ Quân đội, viết nhiều và có ý, có văn. Ông muốn biết Nguyên đã có vợ con gì chưa… Anh Nguyễn Trí Huân khuyên ông đến bệnh viện 108 hoặc cơ sở y tế nào đó để dưỡng sức và hứa sẽ “điều” xe đến đón. Ông kể chuyện ông có anh bạn xích – lô quen, nếu cần anh ta sẽ chở ông đi…


Một con người như thế, mảnh mai và rất đỗi nhẹ nhàng như vậy có ai ngờ lại là một chỗ dựa rất vững của nhiều cây bút trẻ, nhiều cuộc đời không ít bão giông. Thời ông còn là phụ trách tờ Văn nghệ Quân đội, các anh chị Đỗ Chu, Bùi Bình Thi, Nguyễn Thị Như Trang, Nguyễn Trí Huân, Chu Văn Mười, Lê Lựu, Hữu Thỉnh, Chu Lai, Tô Hoàng… còn đang ở các đơn vị các địa phương xa, nhưng mỗi khi gửi bài vở đến đều được ông và nhà thơ Vũ Cao cổ vũ, góp ý chu đáo. Nhà văn Hồ Phương, nhà văn Nguyễn Khải kể hồi các ông còn là biên tập viên văn xuôi của tạp chí, mỗi khi truyện ngắn gay cấn gửi về toà soạn, hai ông đều k/c (kính chuyển) anh Hoàng. Và khi đã nhận được dòng chữ “tôi thấy truyện ngắn này in được” của “xếp” là yên tâm lớn. Bởi vậy nên không mấy khi xảy ra trường hợp để “sót” để “xổng” những tác phẩm hay. Nhiều nhà văn bây giờ đã có tên tuổi còn giữ được những kỷ niệm và ấn tượng đẹp về ông. Lại có những cây bút có khi chỉ là một cộng tác viên quen biết vì lý do này hay lý do khác gặp trắc trở trong việc viết, việc gia đình và việc công tác đã đến ông, được ông chỉ vẽ cho đường đi nước bước, có lý có tình nên chẳng bao lâu sóng gió đã qua đi…


Tết này, ông đã đi về một nơi xa lắm, nhưng tôi vẫn tin rằng trong ông, ông không bao giờ quên ai - những người mà sinh thời ông đã từng gặp, từng chung sống dưới một mái ấm gia đình và mái ấm cơ quan. Còn chúng tôi mỗi lần nghĩ về ông là thấy đâu đây vẫn như còn thoảng hương của loài HOA NÚI - một loài hoa hiếm quý, vô thường mà cũng là tên cuốn sách duy nhất mà ông để lại trên cõi đời này.


Thập Tam trại, 26 tháng 01 năm  2010


Ngô Vĩnh Bình


vannghequandoi.com.vn


Nhà văn Từ Bích Hoàng gắn bó cuộc đời với báo chí và văn học cách mạng Việt Nam


Ðại tá nhà văn Từ Bích Hoàng, tên thật là Trần Văn Hồng, sinh năm 1922, đã tạ thế ngày 23-1-2010 tại Hà Nội. Trong cuộc đời cầm súng và cầm bút của mình, ông là một phóng viên mặt trận giàu nhiệt huyết của báo Vệ quốc quân - tiền thân của báo Quân đội Nhân dân ngày nay, đồng thời là một biên tập viên sáng lập, một cán bộ phụ trách có uy tín của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Trong sự trưởng thành của nhiều nhà văn - chiến sĩ ở Việt Nam, Từ Bích Hoàng vừa là người đỡ đầu nghề nghiệp, vừa là tấm gương về lòng nhân ái và tình người. Chúng tôi xin giới thiệu hồi ức của nhà văn Trung Trung Ðỉnh như là nén tâm hương tưởng nhớ một nhà văn đã gắn bó cuộc đời với báo chí và văn học nước nhà từ những ngày đầu của cách mạng.


Tôi được nhà văn Nguyễn Trí Huân dẫn dến thăm nhà bác Từ Bích Hoàng vào lúc bác chưa về nghỉ hưu và tôi thì cũng chưa có dấu hiệu gì để "lọt vào mắt" các nhà văn lãnh đạo ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, trong đó có bác. Bác Hoàng lúc ấy không nổi tiếng về văn chương mà nổi tiếng là người hiền lành, người lãnh đạo văn nghệ tài tình và theo như nhà văn Nguyễn Trí Huân truyền đạt lại cho tôi, thì bác Hoàng là người tốt cả từ trong ý nghĩ tốt ra đến hành động. Cái thời người tốt việc tốt thì nhiều mà đời sống khó khăn cũng lắm, nhiều anh em nhà văn quân đội hễ cứ nói đến bác Hoàng thì đều gọi bác một cách thân yêu là "cụ Từ", hàm ý là người trông coi "đền", cái "ngôi đền văn chương" ở số 4 phố Lý Nam Ðế - Hà Nội, một thời là trung tâm, là điểm hẹn của các nhà văn trong và ngoài quân đội từ Nam ra Bắc, mà bác Từ Bích Hoàng và nhà thơ Vũ Cao là hai nhà lãnh đạo gạo cội. Nhà thơ Vũ Cao là một người phóng khoáng tài hoa nổi tiếng với bài thơ Núi đôi, còn bác Hoàng là người lặng lẽ cần mẫn, tỉ mỉ và chu đáo, chu đáo đến mức mọi người đều coi đó là một tấm gương mẫu mực về tình cảm và đạo đức, một "Người Hiền".


 


Hồi ấy mỗi lần đến nhà bác Từ Bích Hoàng hay đến Tạp chí Văn nghệ Quân đội chơi, bao giờ tôi cũng thấy có nhà thơ Vũ Cao với tiếng cười sảng khoái và giọng nói nhỏ nhẹ, nụ cười ấm áp hiền lành của bác Hoàng. Tôi có cảm giác hai con người này sinh ra là để sống và làm việc ở bên nhau và dường như cả ngôi nhà số 4 Lý Nam Ðế với những nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi), Thanh Tịnh, Nhị Ca, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Hải Hồ, Hồ Phương, Thu Bồn, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Chí Trung, Thanh Quế, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Xuân Sách, Triệu Bôn, Ngô Thảo, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Thị Như Trang, Anh Ngọc, Nam Hà, Lê Lựu, Vương Trọng, Vương Trí Nhàn, lớp sau này, sau khóa I Trường viết văn Nguyễn Du là Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Nguyễn Ðức Mậu, Khuất Quang Thụy... cũng vậy. Có thể nói, đó là một đội hình toàn những nhân vật lừng danh, họ làm việc và đi đi về về khắp các nẻo đường Tổ quốc, nhưng tôi vẫn thấy hình như họ không thể thiếu được bóng dáng và giọng nói, nụ cười của hai "nhà lãnh đạo" (kể cả khi họ đã về hưu). Mà hai "nhà lãnh đạo" này lại lãnh đạo với một phương châm cũng nổi tiếng thật như đùa, đùa như thật, ấy là "không lãnh đạo gì cả". Nhà thơ Vũ Cao và nhà văn Từ Bích Hoàng đến các cán bộ đáng kính trọng như anh Doãn Trung và chị Ðịnh, anh Hồ lái xe, là những cán bộ hành chính mẫn cán nhất đời mà tôi được biết. Họ tạo nên một ê-kíp tuyệt vời. Họ sống và làm việc tất cả vì các nhà văn và có thể nói, bác Hoàng là người quán xuyến và là người đứng mũi chịu sào "giải quyết" không biết bao nhiêu là chuyện "phức tạp" mà giới văn nghệ không lúc nào không có. Chuyện "phức tạp" đến đâu bác Hoàng cũng "giải quyết" một cách giản dị, trong ấm ngoài êm, trên hài lòng, dưới thỏa mãn, đẹp đẽ tình người không chê vào đâu được. Như Ðại tá nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình đã từng viết: "Thiếu tướng Dũng Hà, nguyên Tổng Biên tập Văn nghệ Quân đội bồi hồi kể, năm 1958 khi còn là một cán bộ quân chính ở Sư đoàn 316 đóng quân tại Ðiện Biên ông "ti toe" viết một truyện ngắn gửi về Văn nghệ Quân đội. Chỉ ít ngày sau, ông nhận được thư của Từ Bích Hoàng. Thư viết tòa soạn hoan nghênh một cán bộ quân chính mà cũng tham gia viết văn... và cho đến giờ Dũng Hà còn nhớ vẻ băn khoăn của Từ Bích Hoàng trong lần gặp đầu tiên khi nói truyện ngắn không sử dụng được. Còn nhà văn Lê Lựu thì nhớ mãi bức thư "dài hơn ba trang giấy với những lời lẽ ân cần như cha dặn dò con, thầy giáo dạy học trò, anh chị bảo ban em, hai đồng chí tâm tình với nhau", mặc dù truyện ngắn có tên Tôi định trốn... chưa dùng được! Sau này khi đã về đầu quân cho Văn nghệ Quân đội, Lê Lựu có dịp thưa với "đồng chí Bí thư chi bộ suốt đời" họ Từ về những bức tâm thư năm nào, trong đó có chuyện "6 yếu tố của một bản tin", Từ chỉ cười "Thế á, thế thì tôi có lỗi quá!". Viết về những năm còn ở "nhà số 4", Văn Thảo Nguyên bảo đó là thời đi "học đạo" các ông Vũ Cao, Từ Bích Hoàng. Thu Bồn thì ví Vũ Cao như một Ðạt-la Lạt-ma chịu chơi, còn Từ Bích Hoàng như sư ở chùa Cổ Lễ "nhỏ nhẹ mà tinh tế thường chăm sóc đời sống tình cảm của chúng tôi, anh em thường gọi anh là ông Từ Bi Hồng"...


Ở ngôi nhà số 4 Lý Nam Ðế qua nhiều thế hệ nhà văn, mỗi lần nhắc đến nhà văn Từ Bích Hoàng thì thảy đều trầm trồ với một tình cảm trân trọng và thân thương, ấm áp và gần gũi. Bây giờ bác Hoàng đã đi xa. Bác đi theo đúng quy luật "sinh, lão, bệnh, tử" mà giời đất đã ban tặng. Nói thì nói thế mà sao tôi vẫn không hề thấy vắng bóng bác, bác đang rót nước cho tôi, đang hỏi han tôi và bác đang chia sẻ với tôi những chuyện thường ngày ở trên cõi nhân gian này...


Trung Trung Đỉnh


nhandan.com.vn


Nhà văn Từ Bích Hoàng: "cái đèn chao" lặng lẽ


Nhiều người nói rằng, trong những năm chiến tranh, con người ta sống với nhau đơn giản hơn nhiều, trong sáng hơn nhiều. Tôi nghĩ không hẳn như vậy. Cũng có người nói, cái còn lại trong cuộc đời mỗi con người là chuyện ân nghĩa. Ân nghĩa như dòng sông tưới tắm cho đôi bờ tươi tốt của một đời người, một kiếp người. Tôi nghĩ nếu cuộc đời sau chót chỉ còn đọng lại sự thù hận thì sự sống hẳn đã không tồn tại. Trong bài viết ngắn này, tôi xin được nhắc tới chuyện ân nghĩa. Đó là một vài kỷ niệm của tôi với nhà văn Từ Bích Hoàng.


Anh Hoàng hơn tôi ba mươi tuổi. Nhưng suốt đời, tôi luôn coi anh như một người thầy, một người anh lớn. Lần đầu tiên tôi gặp anh là vào mùa thu năm 1967, nhà văn Đỗ Chu dẫn tôi đến nhà anh, một căn hộ nhỏ hẹp ở khu tập thể quân đội. Anh sống thanh bạch, nghèo. Cho đến bây giờ, sau nhiều thập niên trôi qua anh vẫn sống như vậy. Hôm ấy, tôi ngồi khép nép ở chiếc ghế tựa nghe anh nói về truyện ngắn đầu tiên của tôi. Anh nói nhỉ, tránh không làm tôi bị tổn thương khi nhận xét về cái ấu trĩ, non nớt của truyện ngắn ấy. Sau lần gặp gỡ đó, tôi thường xuyên đến nhà anh, đến phòng làm việc của anh ở tòa soạn Văn nghệ Quân đội. Căn phòng của anh trang bị sơ sài hơn nhiều so với phòng làm việc của các biên tập viên mặc dù lúc đó anh đã là Phó Tổng biên tập. Tôi có cảm tưởng nếu như xếp anh vào một căn phòng sang trọng, đầy đủ tiện nghi nào đó, chắc chắn anh sẽ không biết xoay xở ra sao. Thời gian đã hình thành giữa anh và tôi một tình cảm thật đặc biệt. Anh lặng lẽ theo dõi từng bước đi của tôi. Còn tôi luôn ngưỡng mộ anh, ngưỡng mộ một cách sống, cách ứng xử không phải của một người làm nghề văn mà là cách ứng xử của một con người đối với mọi con người.


Năm 1970, trước ngày tôi vào chiến trường, anh bảo tôi đưa anh về quê thăm mẹ tôi. Hồi đó anh tôi mới có giấy báo tử. Việc ra đi tiếp theo của tôi là một cú sốc nặng nề với mẹ tôi. Hôm ấy, anh đã cố gắng tìm cách an ủi mẹ tôi, nhưng cả anh và tôi đều hiểu, những lời an ủi ấy không thể làm mẹ tôi an lòng. Khi chỉ còn lại tôi và anh, anh thở dài: “Chú cứ vào trước đi, thế nào tôi cũng sẽ vào với chú”. Tôi tin điều anh nói. Hồi đó, đi B là một giá trị, là ước nguyện của tất cả mọi người.


Hôm tôi lên đường, anh đạp xe đến tòa soạn từ rất sơm. Anh giúp tôi thu xếp đồ đạc rồi đèo tôi đến vị trí tập trung ở đầu phố. Lúc chia tay, anh nhắc lại lời hẹn hôm trước ở nhà tôi. Giọng anh nhỏ và buồn. Tôi nhìn theo dáng đạp xe của anh trong ánh đèn đường vàng nhòe, gió thổi xao xác trong đám lá sấu rụng tấp đầy trên hè phố. Hôm trước anh Đỗ Chu bảo tôi: “Nếu cậu hy sinh như anh trai cậu, người thứ hai sau mẹ cậu thương cậu là anh Hoàng. Hình như anh ấy luôn cảm thấy có lỗi vì đã không an ủi được bà cụ”.


Khi tôi đi, mẹ tôi vẫn đang ốm nặng bởi cái chết đột ngột của anh trai tôi.


Nhưng tôi đã sống và trở về. Vừa xuống khỏi máy bay, tôi nhảy xe buýt về ngay tòa soạn Văn nghệ Quân đội. Gặp tôi, anh sững sờ rồi kéo tuột tôi vào phòng anh. Vẫn căn phòng cũ, đồ đạc cũ. Nét mặt anh ngời lên một niềm vui: “Chú phải về cho bà cụ mừng – Anh bảo – Nhưng trưa nay hãy về nhà tôi đã”. Vừa nói, anh vừa xếp ba lô của tôi vào tủ. Tôi luýnh quýnh đi theo anh. Vẫn chiếc xe đạp Thống Nhất nam của năm sáu năm trước, anh đèo tôi về nhà. Gia đình anh hôm đó đã đón tôi như đón một người con đi xa trở về…


Với anh Hoàng, tôi có không ít kỷ niệm để nhớ, để kể. Những kỷ niệm cứ đầy lên theo năm tháng. Ở tòa soạn Văn nghệ Quân đội, những câu chuyện đã thành giai thoại về anh có rất nhiều. Các nhà văn ở tạp chí thường lấy thái độ ứng xử đối với anh để đo đếm tư cách của từng người. Riêng câu chuyện này thì tôi được chứng kiến. Năm 1976, anh vào Sài Gòn. Trước lúc đi, chị Hiền , vợ anh đưa cho anh một số tiền dành dụm từ lâu để anh mua một chiếc ti vi về cho gia đình. Đó là một nhu cầu bình thường, một ước muốn bình thường của người dân Hà Nội lúc đó. Nhưng anh rất khổ sở. Nể chị, anh cầm số tiền ấy và coi nó như một món nợ. Vào đến Vĩnh Linh, anh bị cảm nặng. Anh Vũ Cao đã tính đến việc đành để anh ở lại nhà anh Ngô Thảo. Nhưng sáng hôm sau, anh khỏe lại và có thể đi tiếp cùng với đoàn. Lúc ngồi trên xe anh nói nhỏ với tôi: “Tôi tưởng đã thoát được cái gói này rồi!”. Anh vỗ nhẹ những ngón tay gầy guộc vào túi áo ngực nơi cất giữ số tiền để mua tyi vi, nụ cười của anh thoáng một chút hài hức.


Nhưng rốt cuộc anh vẫn không thực hiện được sứ mạng mà chị Hiền và các con anh đã nhắn gửi. Số tiền không nhỏ ấy anh đã chia đôi, một nửa trợ cấp cho người em ruột đang gặp khốn khó ở Sài Gòn, nửa còn lại đưa cho người thân trong gia đình chị cũng đang gặp khó khăn, để khi về, anh vui vẻ và hả hê mang ti vi, máy khâu cho một chị là nhân viên hành chính của tòa soạn.


Tuy là một nhà văn nhưng anh Hoàng có rất ít thời gian dành cho sáng tác. Công việc ở cơ quan cuốn hút anh. Có một lần tôi thấy anh với một vẻ mặt phấn khích thu xếp công việc để trở lại vùng căn cứ cũ nơi anh có rất nhiều kỷ niệm trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng mấy hôm sau, lại thấy anh bảo: “Mình không đi thực tế nữa. Mình trực để anh Vũ Cao đi. Anh ấy đi tốt hơn mình”.


Suốt đời anh luôn nhường nhịn, vui vẻ nhận phần thiệt, phần ít về mình. Khi có thời gian để sáng tác thì anh không còn đủ sức khỏe nữa.


Mùa xuân năm 1979 tôi viết thư cho anh báo tin tôi chuẩn bị đi chiến trường Campuchia. Sau này, tôi nghe chị Hiền kể lại, vào buổi chiều 30 tết năm đó, anh đột ngột đi khỏi nhà mà không nói gì với chị, khiến chị hết sức lo lắng. Anh đã lặng lẽ mang túi quà được tòa soạn phân phối chen chúc trên xe buýt về Nhổn thăm mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi đã về quê từ mấy hôm trước. Anh lo cho tôi, lo cho mẹ tôi, nỗi lo của mười năm trước khi tôi vào chiến trường đối mặt với cái sống và cái chết trong gang tấc. Hồi đó chiến sự đang diễn ra khốc liệt ở hai đầu đất nước.


*


Bây giờ anh Hoàng đã nghỉ hưu. Anh vẫn sống trong một căn nhà cấp 4 ở khu tập thể cũ. Một cuộc sống vẫn nghèo, thanh bạch và có phần thiệt thòi. Anh ít đi ra ngoài, lặng lẽ và khiêm nhường như chiếc chao đèn thu ánh sáng trên bàn viết. Vào những ngày áp Tết hàng năm, tôi thường đem đến biếu anh một cây quất hoặc một cành đào. Tôi không nghĩ rằng đó là một nghĩa cử đền đấp. Không ai đền ơn nghĩa chỉ với một cây quất, một cành đào, đấy chỉ là một lời tự nhắc nhở của tôi về cái ân, cái nghĩa, cái cho và cái nhận ở đời.


Mỗi lần hỏi thăm về anh, mẹ tôi thường dạy: “Bác ấy sống tốt với con là để con sống tốt với những người khác”. Tôi hiểu điều mẹ tôi nói, nhưng sống tốt được với mọi người, nghĩ tốt về mọi người như anh Hoàng không phải là chuyện dễ học và dễ làm.


Nguyễn Trí Huân


vannghequandoi.com.vn


Trần Đăng – Hoàng Lộc - Vũ Cao – Từ Bích Hoàng


Tô Hoài, Bùi Hiển, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh.. nếu có thể coi các nhà văn sinh khoảng 1920 đó là lớp nhà văn trẻ nhất đã hình thành sự nghiệp trước Cách mạng tháng Tám, thì tiếp sau họ, không phải là khoảng trống. Trong số những học sinh trường Bưởi, trường Thăng Long… nổi tiếng của Hà Nội trước 1945 đã có nhiều thanh niên khác, đầy tài năng và tâm huyết, mới thử sức trên sổ tay với những bản thảo dang dở và đang tính chuyện sẽ tìm một chỗ thích hợp để đặt tên mình trong lâu đài văn học. Đội ngũ ngày sinh khoảng 1920 về sau, tức là khi cách mạng thành công, họ ở vào lứa tuổi đầy sức sống 20 -25. Bắt được không khí đời sống mới, họ bắt đầu viết. Và với việc đứng trong hàng ngũ Vệ quốc quân làm văn làm báo, cách viết của họ, quan niệm của họ về nghề văn cũng có những đổi mới, rõ rệt.


Một trong những trường hợp đó là Trần Đăng mà chúng ta đã biết. Trước khi đến với cách mạng đó là một thanh niên Hà Nội tài hoa, lịch sự, ham mê thể thao, và rất ham học.


Cụ thân sinh ra anh vốn là thủ thư ở trường đại học, bởi vậy, cụ chỉ mong cho con học hành nên người. Và Trần Đăng đã nhờ vào kho sách do ông cụ quản lý để đọc rất nhiều cả sách tiếng Pháp lẫn tiếng Việt.


Mặc dù những ngày đầu cách mạng, Trần Đăng viết còn ít, nhưng anh đã được coi như một nhân vật của đời sống văn hoá thủ đô.


Trong một tuyên bố của giới văn hoá tiến bộ ở ta công bố 1946, có tất cả 87 nhân vật văn hoá ký tên, người ta thấy có tên Đặng Trần Thi tức Trần Đăng bên cạnh Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng v.v…


Bài viết tiêu biểu của Trần Đăng hồi đầu cách mạng mang tên Một lần tới Thủ đô. Cảm hứng chính của thiên bút ký pha chính luận này là ý hướng muốn từ biệt Hà Nội, xa lánh nó, không dây dưa gì với nó. Cái mà Trần Đăng muốn xa lánh bấy giờ là Hà Nội cũ, Hà Nội trong nhung lụa, một thứ kinh thành hoa lệ đẹp đẽ, sáng sủa nhưng ích kỷ, truỵ lạc.


Có điều, một sự phủ nhận kiên quyết như vậy chỉ có thể nảy sinh ở một con người đã hiểu kỹ Hà Nội và thấm nhuần truyền thống dám phủ nhận mình, làm lại mình của Hà Nội từ xưa đến nay. Đó là cái phần lành mạnh, khoẻ khoắn của Thủ đô mà những sinh viên tiến bộ như Trần Đăng đã tiếp nhận được.


Bên cạnh Trần Đăng, một thanh niên tiêu biểu khác của Hà Nội những năm đầu kháng chiến là Hoàng Lộc. Tuy không viết ra những tuyên ngôn như Một lần tới Thủ đô, và để lại nhiều trang nhật ký quằn quại muốn thay đổi như Trần Đăng, song chúng ta hiểu Hoàng Lộc cũng trải qua những đoạn trường tương tự. Làm sao khác được, đối với một người ở trong một hoàn cảnh thay đổi ghê gớm, khi vài ba năm trước, còn viết những bài thơ uỷ mị làm xiêu lòng những cô gái Hàng Ngang, Hàng Đào, khiến các cô ấy phải góp tiền để in thơ của mình, vài năm sau đã lăn lộn giữa các chiến sĩ Vệ quốc, hút thuốc lá dùi phìn Cao Lạng, đắp chăn chung ba người với anh em đội viên, nghe họ kể chuyện tâm tình và trở về toà soạn giữa rừng Việt Bắc, ngồi viết Chặt gọng kìm đường số 4 dưới ánh “nến” nhựa trám tuôn khói khét lẹt?


Cả Trần Đăng và Hoàng Lộc đều đã thay đổi nhiều.


Nhưng trong sự thay đổi ấy, lòng yêu Hà Nội trong họ vẫn “canh cánh bên lòng”. Trong tuỳ bút Cháy bản thảo in trong tập Tình chiến dịch, nhà văn Nguyễn Tuân kể: Trước khi lên Đồng Đăng cùng với bộ đội chiến đấu và hy sinh tại bản N. L., Trần Đăng còn cùng với Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi mở lớp huấn luyện văn nghệ cho bộ đội. Và lúc chia tay, họ chào nhau bằng cái gật đầu “Chiến thắng Thủ đô!”


Qua cả Trần Đăng và Hoàng Lộc, chúng ta thấy một sự thực, sức sống của truyền thống văn học là rất mạnh mẽ, nó có khả năng giúp cho những thanh niên vốn đã nặng căn với sách vở tri thức cũ có thể “từ bỏ” chính mình để chan hoà vào sinh hoạt của anh em đội viên hiền lành (như hồi ấy người ta vẫn gọi), chan hoà vào quần chúng công nông, viết về họ, diễn tả được mọi sắc thái tình cảm ở họ.


Cả Trần Đăng, Hoàng Lộc đều mất từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng giá còn sống, quay về với Hà Nội, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chắc họ sẽ nghĩ được nhiều điều mới về Thủ đô và tìm thấy nơi đây một nguồn động viên mạnh mẽ cùng những vốn liếng quý báu cần thiết cho một người viết.


Đấy là điều những nhà văn trưởng thành cùng thời ấy, như Vũ Cao, Từ Bích Hoàng cảm thấy rất rõ.


Vốn quê ở Nam Định, nhưng từ những năm bốn mươi trở đi nhà văn Vũ Cao đã ra học Thành chung ở trường tư thục Thăng Long, và cùng với người em trai là Vũ Tú Nam trọ học ở một căn gác phố Hà Trung. Đến nay Vũ Cao còn nhớ rất rõ tâm trạng của lớp học sinh như anh hồi ấy, các anh không cắm cúi học, “học gạo” , học cốt kiếm lấy mảnh bằng như một số bạn bè, song cũng không nhiều tiền để lấy ăn chơi làm lẽ sống, như một số thanh niên khác, do đó các anh thường sống trong chán nản, ngơ ngác, không hiểu đời mình sẽ đi đến đâu. Chỉ còn một lối thoát đối với những người như Vũ Cao lúc ấy là đọc sách, và các anh đã đọc, mải miết, cắm cúi. Cả một thế giới phong phú trong sách vở mở ra, ít nhiều mang lại cho người thanh niên này niềm vui cùng những ý tưởng lành mạnh.


Chẳng hạn có lần, một người bạn đưa cho Vũ Cao cuốn Tội ác và trừng phạt của Đô-xtôi-ép-xki, anh đọc ngày đọc đêm và lờ mờ cảm hấy Hà Nội của mình rất giống với thành phố Pê-téc-bua được tả trong truyện, còn bản thân mình cũng rất gần với anh sinh viên, và gần với cả cô gái trong đó nữa.


Thành thử, có thể nói rằng do sống hết một phía nào đó của Hà Nội trước cách mạng – cái nghèo nàn, buồn tẻ vô vọng của thành phố, – mà Vũ Cao sau nay có thể thoải mái bước vào hoạt động cách mạng, sẵn sàng đi tới các đơn vị viết bài, đưa tin, điểm ca dao bích báo, v.v… và làm mọi việc khác miễn là việc có ích cho kháng chiến.


Đứng về góc độ một người sáng tác mà xét, phải nhận Vũ Cao viết hơi ít, hai tập thơ mỏng và vài cuốn văn xuôi. Chính anh cũng thấy những tác phẩm này chẳng có gì quan trọng cho lắm. Tuy nhiên, hơn ở đâu hết, trong văn học, chuyện chất lượng có vai trò chi phối thật nghiệt ngã. Có những người nghe nhắc đến tên, ai cũng biết là nhà văn, nhà thơ, bởi luôn luôn thấy tên trên mặt báo, song khi cần gọi ra một bài tiêu biểu thôi, thì không ai biết lấy bài gì, bởi các bài đều sàn sàn như nhau, không có bài nào trội hẳn. Lại có những người viết không nhiều, song có cái may là có một hai bài được lưu truyền rộng và để lại ấn tượng đậm đà trong quần chúng cũng như trong anh em cùng nghề đến mức nhắc đến tác giả ấy là phải nói tới bài thơ ấy. Vũ Cao là một ví dụ về trường hợp thứ hai mà chúng ta đang nói. Bài Núi Đôi của anh được phổ biến rộng rãi, thậm chí nhiều người cứ chép Núi Đôi, đọc Núi Đôi, Bảy năm về trước em mười bảy – Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng, mà không biết tác giả nó là ai. Với Núi Đôi, ta hiểu tại sao người ta hay gọi Vũ Cao là nhà thơ hơn là nhà văn, dù anh cũng có mấy tập văn xuôi.


Đấy là xét riêng về phần sáng tác. Nhưng theo nhận xét của nhiều anh em cả trẻ lẫn già, thì đóng góp chủ yếu của Vũ Cao mấy chục năm gần đây, là làm công việc quản lý các cơ quan báo chí xuất bản, như tạp chí Văn nghệ Quân đội, như nhà xuất bản Hà Nội. Chắc chắn những lịch duyệt của một thanh niên Thủ đô cộng với sự từng trải của một người làm báo từ hồi có từ Vệ quốc quân ở Việt Bắc, sau nữa là vốn kiến thức Vũ Cao thường xuyên bồi đắp cho mình hôm nay, đã có phần đóng góp không nhỏ cho công việc của anh.


Khi Vũ Cao phụ trách tạp chí Văn nghệ Quân đội thì người cộng sự gần gũi nhất của anh là Từ Bích Hoàng. Nhìn bề ngoài, nhiều người chỉ thấy đây là một biên tập viên cần cù, thận trọng, chừng mực và đối xử với anh em trong toà soạn cũng như ở ngoài vừa chí tình, vừa có nguyên tắc.


Nhưng một lần khi mới về tạp chí này vài năm, tôi hỏi anh Thanh Tịnh, người cao tuổi nhất trong cơ quan, cũng là người quen thuộc nhất với giới văn học từ trước cách mạng:


– Theo anh, ở cái nhà 4 Lý Nam Đế này, ai rõ nhất Hà Nội nhất?


– Từ Bích Hoàng. – Thanh Tịnh trả lời không ngần ngại và cũng không phải suy tính nhiều.


Chỉ dần dà ở lâu, tôi mới thấy nhận xét của Thanh Tịnh là đúng. Nếu hiểu Hà Nội là hoạt, nhan nhản, hơi láu vặt một chút người ta có thể nghĩ tới anh A, anh B. Chất Hà Nội của Từ Bích Hoàng hiện ra ở chỗ khác, lịch sự, nhã nhặn, và đó là tinh thần quán xuyến cả trong công việc lẫn trong sinh hoạt hàng ngày.


Ví như, khi ra chỗ đông người. Một cán bộ trong cơ quan, anh Hà Trì phân tích. “Có vào hàng cà-phê với Từ Bích Hoàng mới biết ông Hoàng Hà Nội ô-ri-gin thế nào. Nghĩa là tài hoa, khéo, từng trải… đủ thứ phẩm chất mà người ta chỉ có thể vị nể”.


Nhiều người khác, như Mai Ngữ, Nguyễn Minh Châu cũng nói vậy. Nhằm cắt nghĩa mọi chuyện cho hợp lý, những người ở lâu trong cơ quan còn kể mấy nét quá khứ của Từ Bích Hoàng : Trước cách mạng, anh đã là sinh viên đại học. Hồi ấy có thời anh rất “chơi”, rất “điệu”. Chỉ qua kháng chiến, Từ Bích Hoàng mới thay đổi để thành người như hiện nay.


Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nguyễn Tuân từng kể với chúng ta về quyết tâm “tự cải tạo” ở Trần Đăng. Từ Bích Hoàng cũng có những ấn tượng về Trần Đăng tương tự.


Đến toà soạn Vệ quốc quân lần đầu, Trần Đăng tuyên bố với những anh em cũ ở đấy, trong đó có Từ Bích Hoàng:


– Cả cuộc đời cũ của mình chỉ còn sót cái này (cái quần tây vải đoóc-mơi cũ V.T.N.). Mình sẽ cho nó đi nốt, khi có cái thay. Mình cho hết, vứt hết dọc đường lên đây rồi, cả cái ở trong này (anh chỉ vào trái tim) – Đúng thế, phải làm lại cuộc đời.


Khi thuật lại đến chỗ này, Từ Bích Hoàng nói thêm: “Chúng tôi reo lên. Dạo ấy, mấy anh em chúng tôi từ Hà Nội đi kháng chiến, còn chập chững trên con đường theo cách mạng, thường hay lúc hét to lên, lúc lại thầm thì cái câu khá kêu ấy, để tự động viên mình, một cách hết sức thành thật”.


Từ một đoạn đường tự bạch ngắn ngủi này suy ra có thể đoán những bước đường tư tưởng của Trần Đăng, mà chúng ta vẫn nghe nói, cũng là tâm tình có thật ở Từ Bích Hoàng.


Các anh là những bóng dáng tiêu biểu cho thanh niên Hà Nội một thời. đứng về phía những người hoạt động văn học mà xét, các anh được ghi nhận như tiếng nói phủ nhận Hà Nội cũ, và tìm cho mình một lý tưởng mới. Nhiều mong mỏi của các anh sẽ được bè bạn và những đồng nghiệp trẻ hơn thực hiện.


Vương Trí Nhàn


 


vuongtrihai.wordpress.com

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngày này 9 năm trước nhà văn Sơn Nam đi xa... - Phạm Sỹ Sáu 13.08.2017
Tượng đài chiến thắng gãy đổ do trẻ 12 tuổi đùa nghịch! - Vũ Viết Tuân 11.08.2017
Đặc khu sẽ không hội đồng nhân dân và có đặc quyền casino - Như Bình 11.08.2017
Chuyện vụn về Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội... - Trần Thanh Cảnh 10.08.2017
Phú Quốc lúng túng với cô gái nước ngoài ngồi thiền xin tiền - Nhiều tác giả 10.08.2017
Hang Tám Cô - Huyền thoại và sự thật: Không thể tồn tại sự mù mờ - Nhiều tác giả 09.08.2017
Đất quốc phòng sân bay Tân Sơn Nhất: Chấm dứt liên doanh, sẵn sàng bàn giao - Nhiều tác giả 09.08.2017
Trở lại với câu hỏi: Con người rời khỏi châu Phi khi nào? - Hà Văn Thùy 06.08.2017
Truy giấy phép biểu diễn với cậu bé kéo đàn ở bờ hồ Hoàn Kiếm là không ổn - Nhiều tác giả 30.07.2017
Biển Đông: Một năm sau phán quyết của Toà PCA - Nhiều tác giả 29.07.2017
xem thêm »