tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20235940
26.04.2017
Nhiều tác giả
Chuyện ít biết về cơn bão từng làm chết 3.000 người ở Sài Gòn



*Đọc bài của nhà văn Bình Nguyên lộc: Bão lụt năm con Rồng 1904-1952


Trận bão năm Giáp Thìn (1904) được xem là trận cuồng phong mạnh nhất từng đổ bộ vào Sài Gòn khiến 3.000 người chết, thiệt hại tài sản tương đương 1.000 tỷ đồng ngày nay.


Nam Bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng vẫn được xem là vùng đất có khí hậu ôn hòa, quanh năm nắng ấm. Mưa to bão lớn ít xuất hiện nên người dân Nam Bộ thường không có kinh nghiệm chống bão so với miền Trung và miền Bắc. Lịch sử từng ghi nhận một cơn bão mạnh chưa từng có đã đổ bộ vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản.


Cơn bão năm 1904 lớn đến độ đã đi vào những câu thơ ca dân gian truyền miệng của người dân Nam Bộ. "Bến Thành nóc chợ cũng bay/ Đèn khí nó ngã nằm ngay cùng đường…".


Hay: "Gặp em đây mới biết em còn/ Hồi năm Thìn bão lụt anh khóc mòn con ngươi"...


Những ghi chép cũ cho thấy, địa bàn chịu ảnh hưởng của cơn bão năm Giáp Thìn hầu như khắp Nam Bộ, sang tận Campuchia. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nề nhất Gò Công, Mỹ Tho (Tiền Giang); Tân An (Long An); Chợ Lớn, Gia Định (TP HCM) và dọc theo vùng duyên hải. Nhiều làng ở gần bờ biển đã bị một hải lưu cao đến 3,5 mét lôi cuốn đi mất.


40 năm sau trận thiên tai, Nam Kỳ tuần báo (do Hồ Văn Trung - tức nhà văn Hồ Biểu Chánh làm chủ nhiệm) số 85, ra ngày 8/6/1944, có bài Trận bão năm Thìn của Mỹ Xuân mô tả khá chi tiết về cơn bão diễn ra vào ngày chủ nhật 1/5/1904 trên đất Sài Gòn xưa.


Theo bài báo, hôm ấy cũng đúng vào ngày bầu cử hội đồng thành phố. Chiều hôm trước là ngày khánh thành tuyến xe lửa Sài Gòn - Gò Vấp. Trong bài diễn văn của mình, một quan chức Sài Gòn dõng dạc tuyên bố: "Nam Kỳ vốn là Phật địa, không bao giờ có bão lụt tàn phá như các xứ thuộc địa khác. Ấy là sự bảo đảm thịnh vượng chung cho xứ sở, cho mọi người, mà cũng là một hạnh phúc riêng cho các công ty xe lửa...".


Sáng 1/5/1904, suốt từ sáng đến trưa trời Sài Gòn mưa lâm râm. Đến đầu giờ chiều gió bắt đầu thổi mạnh và đến 15h gió càng dữ dội hơn. Người dân Sài Gòn cứ ngỡ là trời dông lớn chứ không ai nghĩ đến bão lụt. Xe ngựa, xe kéo, khách bộ hành kiếm chỗ trú ẩn hoặc chạy về nhà, đường sá vắng tanh. Mới 16h chiều, trời đã tối sầm, điện bị cúp. Ở các nhà hàng, quán cơm, người ta phải đốt đèn cầy hoặc đèn dầu nhưng gió mạnh khiến đèn liên tục bị tắt.


Cuộc bầu cử hôm ấy vắng mặt tới trên 400 cử tri do thời tiết xấu, kết quả kiểm phiếu bị huỷ bỏ và phải dời lại chủ nhật tuần sau. Bài báo mô tả: "Đến 17h chiều, trận dông mưa mới thật kịch liệt cực điểm. Dông gió tung rớt mái nhà, đốn ngã cây cối, đứt mất dây điện và dây thép, nhận chìm tàu ghe, cột đèn hay cột dây thép xiêu ngã liệt địa. Đường sá vắng teo không người lai vãng, tiếng dông mưa thổi ào ào như trời than đất thở".


Mưa to gió lớn đến nỗi nhiều con ngựa đang kéo xe hoảng sợ bứt dây cương, quăng xe chạy tháo thân. Có xe bị lật nhào "kéo theo cả con ngựa nằm té sải cẳng". Hầu hết các xe đều gãy gọng, bay mui, phu xe bỏ chạy tán loạn.


Dọc theo sông Sài Gòn, tàu, sà lan, ghe tam bản, ghe chài, ghe lồng đứt dây, trôi ra giữa sông bị sóng gió đánh ập, va đập nhau mà chìm. Đến 19h, các tàu lớn Canebière, Adour và Hop Sang bị sóng đẩy lên bờ nằm ngả nghiêng. Chiếc Patroclus đang đậu ở Thủ Thiêm đứt dây neo, chạy ra giữa sông đụng chìm 4 chiếc ghe chở đá, đâm thủng một chiếc ghe chài chở lúa, nhận chìm khoảng một chục chiếc tam bản trước khi chìm xuống bến Nhà Rồng.


Chỉ riêng các ghe chở lúa, chở dầu, chở hàng hóa có đến 43 chiếc bị chìm trong đêm đó. Từ 22h, trời đã bớt dông nhưng mưa vẫn ào ào như trút suốt cả đêm. Đến sáng hôm sau, người ta thống kê có hơn 900 cây lớn tróc gốc nằm ngổn ngang trên các con đường Sài Gòn, lá cây rụng lấp cả đường đi. Nhà lá bay tứ tung khắp nơi, phủ dầy mặt đường, có chỗ lên đến 2 mét. Trong chợ, các thớt thịt ngã đổ chất đống lên nhau.


Sau đó, báo L’Opinion và Le Courrier de Saigon tường trình về trận bão này: "Dọc theo đường xe lửa chạy dựa theo mé sông từ Sài Gòn vô Chợ Lớn (tuyến xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho), có một cái vòi rồng trên trời thò xuống làm đổ ngã một toa xe, giật đứt mái nhà ở đềpô xe lửa và đè nhẹp cả một cái nhà lá khác. Cách đó mươi thước, cái vòi rồng ấy hốt một người nam đem tuốt lên không trung rồi khiêng đại xuống mặt đất. Khi thiên hạ chạy đến toan cứu kẻ vô phước thì người ta thấy thân hình anh ta đã dẹp đép...".


Nhà chức trách thời đó thống kê, riêng tại Sài Gòn cơn bão năm Giáp Thìn đã làm chết hơn 3.000 người, còn về tài sản thiệt hại lên đến 40 triệu đồng, tương đương 1.000 tỷ đồng ngày nay.


Trận bão năm Giáp Thìn không chỉ gây thiệt hại cho Sài Gòn mà hầu hết các tỉnh ở Nam Bộ đều bị ảnh hưởng. Trong đó, thiệt hại nặng nề nhất là Gò Công và vùng phụ cận với trên 60% nhà bị sập đổ, 5.000 người chết trôi ở các làng ven biển, 80% gia súc bị chết... Còn theo dân gian, truyền miệng qua thơ, vè thì số người chết khoảng "một muôn hai" (tức khoảng 12.000 người).


Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan (Giảng viên ĐH Khoa học Tự nhiên) - người từng công tác lâu năm ở Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ - cho biết với sự tàn phá khủng khiếp đó, có thể nói trận bão năm Giáp Thìn 1904 là cơn bão gây thiệt hại nặng nề nhất cho Sài Gòn từng được ghi nhận.


"Tuy nhiên, để khẳng định nó là cơn b ão mạnh nhất từng đánh vào Sài Gòn cần phải phân tích hoàn lưu, tốc độ gió... của cơn bão một cách chính xác mới có thể đánh giá được. Tuy nhiên, do phương tiện dự báo thời đó còn lạc hậu, không được như bây giờ nên sức tàn phá của cơn bão mới khủng khiếp đến như vậy", bà Lan nói.


Trung Sơn/ vnexpress.net





Trận bão lụt lịch sử năm Nhâm Thìn (1952) đã gây hậu quả khôn lường cho Chiến khu Đ


Đây là trận báo lụt được nhiều người nhắc tới trong mấy chục năm qua vì nó tàn phá hết sức dữ dội và rộng lớn, trong lúc cuộc kháng chiến của ta đang gặp muôn vàn khó khăn.


Cơn bão xảy ra đầu tháng 10-1952 tràn ngập các tỉnh miền Đông. Lương thực, hoa màu sắp đến kỳ thu hoạch bị hư hại nặng. Các đơn vị, cơ quan và nhân dân trong chiến khu chưa kịp khắc phục hậu quả thì đêm 18-10, một cơn bão khác lại bất ngờ ập đến với mức độ tàn phá chưa từng thấy. Cây rừng đổ ngổn ngang. Nước sông Đồng Nai dâng lên đột ngột, chảy ào ạt cuốn phăng cây cối, nhà cửa hai bên bờ và cả những thú rừng lớn như voi, cọp… Vùng căn cứ dọc sông thành biển nước mênh mông, kéo dài trên nửa tháng mới rút dần, gây úng lụt nghiêm trọng.


Vùng Chiến khu Đ bị tổn thất nặng nề. Một số ít người và tài sản bị cuốn trôi. Nhà cửa doanh trại bị đổ sập, tốc mái. Toàn bộ cây lương thực, thực phẩm, thuốc men, quân trang, sách báo… bị ẩm mốc, mục rữa. Vũ khí đạn dược bị sét rỉ, hư hỏng.


Lợi dụng lúc ta bị khó khăn nghiêm trọng do thiên tai, giặc Pháp âm mưu triệt phá căn cứ. Chúng liên tục hành quân càn quét, bao vây, ngăn chặn các đường vận chuyển lương thực, tuyên truyền chiêu dụ cán bộ, chiến sĩ ta ra đầu hàng.


Cuộc sống ở Chiến khu Đ gặp vô vàn gian khó. Mọi hoạt động sản xuất, huấn luyện bị gián đoạn. Hàng vạn cán bộ, bộ đội và nhân dân thiếu ăn hàng ngày. Đến nỗi không còn đủ gạo để nấu cháo cho thương bệnh binh ăn. Những ai khỏe mạnh phải đi đào củ mì đã thối do ngập nước lâu ngày, hoặc đào củ mài, củ chụp, tìm các loại rau rừng, măng tre để ăn trừ bữa. Nạn thiếu muối xảy ra thường xuyên. Bị đói, thiếu quần áo, thuốc men, phải liên tục dời cứ và chống càn nên số người đau bệnh tăng vọt, có đơn vị chiếm tới 60% quân số. Khá đông nông dân dù gắn bó với kháng chiến cũng phải tạm lánh về dùng địch. Nhiều gia đình phải gửi cha mẹ già và con nhỏ về thành phố để “bớt miệng ăn”. Một số phần tử không chịu đựng được gian khổ đã bỏ cách mạng ra đầu hàng giặc và trở thành những tên phản bội dẫn đường cho chúng trở lại ruồng bố căn cứ.


Thiên tai địch họa đã làm cho phong trào cách mạng Chiến khu Đ đứng trước những thử thách to lớn, tưởng chừng khó có thể vượt qua. Danh từ Chiến khu Đ bị gọi đùa là “chiến khu đói”, “chiến khu đâu” có lẽ xuất phát từ giai đoạn này.


Trước tình hình đó, Trung ương Cục miền Nam họp ra chỉ thị khắc phục khó khăn, phát động phong trào sản xuất cứu đói và kêu gọi đồng bào khắp nơi ủng hộ nhân dân vùng bão lụt.


Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Cục, nhân dân và bộ đội các miền không bị bão lụt đã tổ chức “tuần lễ ủng hộ miền Đông” vận động quyên góp hàng triệu đồng tiền Đông Dương, hàng chục vạn tấn gạo và thực phẩm gửi cứu trợ miền Đông và Chiến khu Đ. Các gia đình vùng địch tạm chiếm cũng tìm cách gửi vào chiến khu nhiều tiền, gạo, thuốc men, vải vóc…


Sự giúp đỡ đầy tình tương thân tương ái đã giải quyết được 50% nhu cầu về lương thực của quân và dân chiến khu trong 3 tháng sau bão lụt; biểu hiện sâu sắc, lòng tin yêu hướng về cách mạng của các tầng lớp nhân dân.


Sau trận “đại hồng thuỷ” khủng khiếp, Chiến khu Đ nhanh chóng khắc phục hậu quả: xây dựng lại lán trại, đẩy mạnh sản xuất tự túc. Nước rút đến đâu, cây lương thực, hoa màu được trồng đến đó. Đến cuối năm, khắp chiến khu, nhất là dọc sông Đồng Nai, sông Bé, Mã Đà, bà Hào… các loại cây lương thực ngắn ngày đã lên xanh tốt. Đơn vị nào cũng có gà, vịt, heo để cải thiện bữa ăn. Cuộc sống khá dần lên.


dongnai.vncgarden.com/


Trận bão năm Thìn trong ký ức người dân Nam-Bộ


Từ lâu, trong suy nghĩ của người dân Nam bộ, năm Thìn thường đi đôi với chuyện lụt bão. Nhớ cơn bão năm Nhâm Thìn (1952) đã gây ra biết bao tai họa cho cuộc sống sản xuất và chiến đấu của quân dân Nam bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp. Nhạc sĩ Hoàng Việt ghi lại sự biến thiên nhiên ấy trong ca khúc Lên ngàn:


“Nước ngập đồng xanh lúa chết


Gió mưa sụp đổ mái nhà


Bao nhiêu gia đình tan hoang


Đau thương lệ rơi chứa chan!’.


Thế nhưng, qua thực tế điền dã cũng như tra cứu tư liệu lưu trữ, chúng tôi không thấy bài vè, bài thơ dân gian nào ghi lại về cơn bão này. Trong khi đó, cơn bão năm Giáp Thìn – 1904 vẫn để lại vết hằn sâu đậm trong ký ức người dân Nam bộ. Mãi đến nay, dù đã tròn thế kỷ, nhiều thế hệ cư dân sinh sau đẻ muộn chưa hề biết đến tác hại của cơn bão ấy nhưng vẫn truyền nhau câu nói cửa miệng: “Nước tràn đồng như bão lụt năm Thìn!” hoặc giả: “Hồi năm Thìn bão lụt!”. Hoặc trong câu ca dao:


“Gặp em đây mới biết em còn


Hồi năm Thìn bão lụt anh khóc mòn con ngươi”.


Sâu đậm hơn, đã có hàng chục bài vè khác nhau lưu truyền trong quần chúng, mô tả khá chi tiết thời gian, địa điểm, phạm vi ảnh hưởng, mức độ thiệt hại cả về vật chất lẫn tính mạng con người… mà cơn bão lụt tai ác này gây ra trên đồng đất Nam bộ vốn hiền hòa. Đồng thời, qua đó, còn giúp chúng ta hiểu được tâm lý, tình cảm của người dân trước, trong và sau bão cũng như sự đùm bọc yêu thương, tương trợ nhau trước sự biến hãn hữu này. May mắn thay, sau nhiều năm dài sưu tầm, chúng tôi có được trong tay bốn trong số hàng chục bài vè ấy. Trong đó, ba bài theo thể lục bát, một bài theo thể thất ngôn trường thiên. Bài dài nhất gồm 148 câu, bài ngắn nhất có 49 câu.


Trong phạm vi bài viết này, chúng ta cùng hình dung lại toàn bộ cơn bão lụt này qua sự mô tả của cả bốn bài vè nêu trên.


Tiết cuối xuân năm Giáp Thìn – 1904, người dân Nam bộ đang nô nức chuẩn bị vào hội Kỳ yên. Bỗng nhiên, ngày 13.3 âm lịch đất trời tối tăm:


“Tháng Ba, Mười ba còn ghi


Nhựt thực giờ ngọ, vậy thì tối tăm”


Đối với người dân quê với kiến thức khoa học còn rất hạn chế lúc đó, nhựt thực là điềm trời báo trước những tai ương làm cho họ rất lo lắng. Nhưng đồng đất Nam bộ vốn hiền hòa, sự âu lo của họ tập trung theo những hướng khác nhau, không ai nghĩ đến vấn đề bão lụt:


“Không ai mà rõ thiên cơ


Bước qua Mười sáu giông chơi một hồi


Tưởng là một lát mà thôi


Ai dè đến tối nổi trôi cửa nhà”


Mười sáu âm lịch là ngày chánh con nước Rằm. Tuy nhiên tháng Ba lại là mùa nước kém nên chuyện nước dâng là hoàn toàn bất ngờ:


“Cửa Đại, Cầu Muống thân trên


Dòm coi ngó thấy nước lên có vòi


Ban đầu thiên hạ còn coi


Nước lên có vòi hết thảy nhà trôi”


Sau đó, khi người nông dân chưa kịp hoàn hồn, chưa thể khắc phục hậu quả, thì:


“Hăm ba còn tái gió giông


Rồng kia lấy nước hai ông rõ ràng”


Về địa điểm ảnh hưởng bão lụt, hầu hết các bài vè đều tập trung nói đến hai tỉnh Mỹ Tho và Tân An nhưng nặng nề nhất là vùng Gò Công:


“Gò Công nghe bão gần kề


Bình Duân, Long Kiểng gần kề hải duyên”


Hoặc:


“Tân An lại với Gò Công


Ngẫm trong bão lụt không còn người ta”


Nhưng bão cũng ảnh hưởng nặng nề đến tận đô thành Sài Gòn:


“Bến Thành nóc chợ cũng bay


Đèn khí nó ngã nằm ngay cùng đường”


(Đèn khí tức cột đèn điện nội thành).


Không những thế, nó còn lan ra khắp các tỉnh miền Đông, xuống miền Trung Nam bộ:


“Mỹ Tho Cửa Tiểu ba đào


Bến Tre, Cần Giuộc, Vũng Tàu, Đồng Tranh


Cần Giờ, Bà Rịa chung quanh


Thảy đều hư hại rành rành chẳng sai


Vĩnh Long, Sa Đéc một vài


Cần Thơ cây ngã lầu đài vô can”


Từ biển Đông đổ bộ vào vùng đất miền Đông, miền Trung Nam bộ, cơn bão hoành hành qua tận Kampuchia ngày nay:


“Họa rơi như tới Nam Vang


Ba Nam người vật mắc nàn biết bao”


Do quen sống trong vùng đất mà khí hậu quanh năm hiền hòa, đất trời chưa khi nào trở chứng nên người dân Nam bộ đâm ra chủ quan. Vả lại, họ cũng chẳng có mấy kinh nghiệm đối phó với bão lũ. Vì vậy, thiệt hại của cơn bão năm Giáp Thìn là hết sức nghiêm trọng. Nhà cửa nát tan, bờ ao ruộng lúa, gà vịt chẳng còn


Trong hương doanh ngập hết cửa nhà


Ngoài viên địa gãy tan xoài mít


Ở góc độ toàn xã hội, thiệt hại về cơ sở vật chất cũng rất to lớn:


“Xe lửa chạy tới Tân An


Tốp máy chẳng kịp, ngã ngang té nhào”


Giao thông liên lạc bị đình trệ:


“An Nam lại với người Tây


Chạy đánh giây thép, gió bay tróc rồi”


Giao thông đường thủy, nghề đánh bắt thủy hải sản, ghe thuyền trong dân cũng bị thiệt hại nặng nề:


“Tại kinh Nước Mặn chết nhiều


Ghe bầu, tàu khói tấp xiêu lên bờ


Đứt neo, gãy bánh nằm trơ


Tàu khói lên bờ huống luận là ghe”


(Tàu khói tức tàu ống khói, tàu có động cơ. Gãy bánh tức gãy bánh lái tàu).


Cả bốn bài vè đều có những dòng đau xót diễn tả cảnh tan đàn lạc nghé, vợ chồng ly tán… ở khắp các địa phương. Nhưng bi thảm nhất vẫn là khu vực từ Sài Gòn đến Mỹ Tho:


“Ghe bầu trôi tấp lên bờ


Thây ma trôi tới Cần Giờ quá đông”


Chỉ nội khu vực Gò Công, Tân An:


“Chôn rồi lại lấy lời khai


Tính trong sổ bộ một muôn hai rõ ràng


Tân An lại với Gò Công


Gẫm trong bão lụt không còn người ta”


Tất nhiên, do tính văn nghệ hóa của một bài vè, các chi tiết, nhất là những chi tiết mang tính thống kê chỉ là tương đối nên không thể khẳng định chỉ riêng Gò Công và Tân An đã chết đến 12.000 người. Nhưng qua đó, chúng ta có thể hình dung mức thiệt hại hết sức nghiêm trọng mà cơn bão đã hoành hành trên vùng đất Nam bộ.


Người dân Nam bộ vốn trọng nghĩa khí, vốn có truyền thống chung vai sát cánh tạo ra sức mạnh khai phá thiên nhiên, chống chọi với mọi kẻ thù, khắc phục tai ương. Cơn bão năm Giáp Thìn là một sự biến tai ác mà mỗi con người đều cảm thấy sức lực tự thân của mình quá nhỏ bé trước thiên nhiên. Vậy nên, họ càng ra sức chung vai đấu cật, đoàn kết tương trợ để cùngh nhau vượt qua hoạn nạn tử sinh:


“Sáng ra tìm kiếm thăm nhau


Vậy mới biết kẻ còn người mất”


Nỗi đau của người khác cũng chính là nỗi đau của mình:


“Sống vất vả đọa đày thế đó


Ai hảo tâm xin ngó đến cùng


Giúp cho tiền bạc áo cơm


Trước là làm nghĩa, sau thơm danh mình”


Qua đó, hy vọng rằng:


“Chòi với trại nắng mưa che đỡ


Cuộc đói no chồng vợ bằng lòng”


Tìm hiểu nhiều góc cạnh của cơn bão năm Giáp Thìn – 1904, chúng ta, lớp hậu sinh trên mảnh đất Nam bộ chắc khó ai tránh khỏi phút chạnh lòng. Càng hiểu hơn tại sao, trong suy nghĩ của mình, cha ông ta luôn cảnh giác về thiên tai, lụt lội trong năm con Rồng. Trong những năm gần đây, thời tiết thường xuyên có sự biến động bất thường do nhiều nguyên nhân nhau như  sự phá rừng cục bộ, như sự biến đổi khí hậu toàn cầu… thì mọi sự cảnh giác cần trở nên thường trực hơn.


Chúng ta chưa thể quên cơn bão số 5 năm 1997 mà phạm vi ảnh hưởng và mức độ tàn phá của nó hoàn toàn có thể sánh được với cơn bão đầu thế kỷ; rồi tiếp theo một năm nắng hạn đến kỳ lạ 1998; lại tiếp tục một mùa mưa bão kỷ lục 1999… và gần đây nhất là một mủa nước nổi không về trên vùng tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười 2003.


Trần Dũng/ vanchuongviet


Năm Thìn bão lụt


“Năm Thìn bão lụt” là nhóm từ cửa miệng của những cư dân trộng tuổi ở Đồng bằng sông Cửu Long mỗi khi nhắc đến bão lụt kinh hoàng của thế kỷ 20.


Sao dầu trong khuôn viên Hải Phước An Tự được trồng lại sau trận bão lụt năm Giáp Thìn (1904) nay đã thành cổ thụ sau 108 năm trồng.


Buổi sáng sớm hôm đó trời âm u một cách lạ kỳ. Chẳng mấy chốc mưa to gió lớn ào ạt đổ tới. Gió dữ tợn như muốn bứng người đi đường lên không trung. Dòng sông chảy qua chợ thị trấn Cầu Kè (Cầu Kè, Trà Vinh) nước đang ròng, bỗng dâng cao một cách khó hiểu. Sóng lớn từng đợt vồ ập khiến mấy chiếc ghe chài neo đậu chao đảo ngả nghiêng. Trận bão kéo dài chừng một tiếng đồng hồ thì chấm dứt với hàng me cổ thụ dọc bờ sông ngã rạp. Hôm sau, nhiều người nói sông Hậu, miệt Tam Ngãi (Cầu Kè), nước lụt ngập đường sá, ruộng vườn trên nửa thước.


Đó là trận bão lụt năm Nhâm Thìn (1952), khi tôi mới sáu tuổi. Còn trận bão lụt năm Giáp Thìn (1904), mới thật sự khủng khiếp, được nhiều người nhắc đến, xảy ra vào ngày chủ nhật 1-5-1904 (16-3 âm lịch).


Đại đức Thích Minh Thông ở Hải Phước An Tự (xã Lạc Hòa, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng) chỉ cho chúng tôi xem hàng trăm cây sao dầu quanh khuôn viên chùa, nói chúng được trồng sau trận “bão lụt năm Thìn”, vì trận bão nầy đã làm ngã rạp hàng trăm cây sao dầu cổ thụ của chùa. Trong hồi ký “Hơn nửa đời hư”, Vương Hồng Sển nhớ lại, tại Xoài Cả Nả (xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng) quê hương ông, “đầu hôm mưa gió rất lớn, rồi gió thổi một ngày một mạnh, càng về khuya gió càng to và chuyển hướng thổi qua lại, đến nỗi gốc me to trồng nơi lề đường trước nhà trốc gốc và ngã luôn vừa tàng vừa nhánh lá, nằm gọn trên nóc, mưa càng lớn hột, gió thổi vù vù, nhà kêu răng rắc. Ba tôi và mẹ tôi thức, mẹ tôi ôm tôi vào lòng, đèn đuốc tối thui, bà nội tôi ôm một cái mền trùm hết mình mẩy mà còn rên lạnh, cả nhà không dám nới đi đâu, ngồi một chỗ mà chịu trận, vì ngoài đường mưa gió càng ghê rợn hơn nữa. Mấy cánh cửa thông như muốn tốc ra khỏi ngạch; cái chốt cây đập qua đập lại, gió chen kẽ khe vách cửa thổi lòn vào nhà, tiếng kêu kèn kẹt như ai rên rỉ và nghiến răng. May sao khi trời gần sáng, gió dịu bớt rồi im luôn. Gần trưa mở cửa ra thì nhà không sao cả, nhưng ngoài đường cây cối nằm la liệt, nóc thiếc, mái hiên hai dãy phố bay tứ tung”.


Nhưng, Sóc Trăng chỉ là “ngọn” của trận bão lụt năm Thìn. Còn cái “gốc” của nó là các tỉnh Gò Công, Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay), Tân An (Long An ngày nay), Chợ Lớn, Gia Định (TP.HCM ngày nay).


Trong quyển “Gò Công xưa và nay” của Huỳnh Minh và “Gò Công cảnh cũ người xưa” của Việt Cúc đã viết về trận bão lụt năm Thìn này, như sau: Từ 10 giờ cho đến 3 giờ chiều ngày 16-3 âm lịch, mưa không ngớt hạt. Từ 4 giờ chiều cho đến về đêm, gió càng ngày càng thổi mạnh, trốc gốc cây, trốc nóc nhà, tường xiêu vách đổ. Sóng chụp cao 3,5m, cuốn mất nhà cửa và người ra biển. Rắn rít bò khắp nơi, cắn chết nhiều người. Qua ngày 17-3 âm lịch, nước dần rút, người người đi tìm xác thân nhân. Hôm sau mới thấy mặt đất, quang cảnh thật là hãi hùng. Mãi đến ngày 19-3 âm lịch chính quyền mới tổ chức chôn cất những người chết, hễ gặp đâu thì chôn đó. Bọn trộm cướp thừa cơ đi gỡ bông tai, vòng vàng trên các xác chết. Kết quả thống kê: Mỹ Tho thiệt hại 35%, các vùng phụ cận tỉnh Mỹ Tho từ Thừa Đức lên tới An Hồ 30% nhà cửa sập đổ, vườn dừa bị gãy; Gò Công trên 60%, 5.000 người chết trôi ở các làng ven biển vùng cửa Khâu, làng Kiểng Phước, Tân Bình Điền, Tân Thành, Tăng Hòa..., 60% nhà cửa bị sập, 80% gia súc chết.


Theo Nguyễn Duy Oanh trong “Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam”, trận bão năm Giáp Thìn (1904) đã ảnh hưởng rất lớn đến sông ngòi ở địa phương nầy. Những bãi cát trước đó bao quanh vàm rạch Băng Cung (cù lao Minh) sau trận bão đã làm bít gần như trọn vẹn vàm sông này; nước mặn từ phía biển xâm nhập lên làm cho các làng Giao Thạnh, An Nhơn, An Qui, An Thạnh mất mùa. Phía Bình Đại bị thiệt hại nặng về nhà cửa, mùa màng; đất đai bị nhiễm mặn nhiều và ảnh hưởng tới những năm sau; cơn bão làm cho diện mạo địa hình thay đổi nhiều.


Trận bão lụt này còn lan tới Thừa Thiên - Huế, gây tổn thất nặng nề về người và tài sản.


Trận bão đã gây ra thảm cảnh, ca dao đã ghi lại:


“Mới hay chết hết mẹ cha,


Kẻ đi tìm vợ người thời tìm con.


Chẳng biết ai mất ai còn


Phen này thịt nát xương mòn trời ôi!”


Theo các nhà khoa học, trận bão lụt năm Giáp Thìn (1904) là trận sóng thần, địa bàn ảnh hưởng của nó hầu như khắp Việt Nam và sang tận Campuchia. Trong đó:


“Mỹ Tho, Cửa Tiểu ba đào,


Bến Tre, Cần Giuộc, Vũng Tàu, Đồng Tranh.


Cần Giờ, Bà Rịa chung quanh,


Thảy đều hư hại đành rành chẳng sai.


Vĩnh Long, Sa Đéc một vài,


Cần Thơ cây ngã, lầu đài vô can”


108 năm đã qua, nhân năm Thìn, nhắc lại chuyện bão lụt năm Giáp Thìn (1904) để chúng ta cảnh giác với khí hậu đang ngày càng biến đổi một cách khác thường.


Cát Lộc


baocantho.com.vn



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ sỹ lừng danh Muhammad Ali: Tôi chẳng thù ghét gì Việt cộng cả! - Bob Orkand 22.08.2017
2 bài về Ấn Độ, Trung Quốc - Nhiều tác giả 21.08.2017
19/08/1934: Adolf Hitler trở thành Tổng thống Đức - Tư liệu 19.08.2017
Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ - Vũ Minh Giang 13.08.2017
Người Khmer Krom đòi Nam Bộ là ‘vô lý’ - Nguyễn Văn Huy 13.08.2017
Tìm hiểu vấn đề biển đảo giữa Việt Nam và Campuchia - Trần Công Trục 13.08.2017
Koh Tral/ Phú Quốc: Giấc mơ tuyệt vọng của Campuchia - Jeff Mudrick 13.08.2017
Vì sao thành Hà Nội bị phá? - Tư liệu 07.08.2017
Lá thư tâm huyết của Tướng Trần Độ - Tư liệu sưu tầm 04.08.2017
Người đẹp: Số đo 3 vòng chuẩn - Tư liệu sưu tầm 03.08.2017
xem thêm »