tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19744973
13.04.2017
Nhiều tác giả
Xung quanh Liên Xô, Ba Lan và Thế chiến II



13/04/1990: Liên Xô thừa nhận gây ra Thảm sát Katyn


Nguồn: Soviets admit to Katyn Massacre, History.com


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Vào ngày này năm 1990, Chính quyền Liên Xô đã chính thức thừa nhận gây ra Thảm sát Katyn trong Thế chiến II, khiến 5.000 quan chức quân đội Ba Lan bị giết chết và được chôn trong khu mộ tập thể ở rừng Katyn. Hành động thừa nhận này là một phần trong lời hứa của Mikhail Gorbachev nhằm trở nên thẳng thắn và công bình hơn đối với lịch sử của Liên Xô.


Năm 1939, Ba Lan bị xâm lược bởi phát xít Đức từ phía Tây và bởi quân đội Liên Xô từ phía Đông. Trong mùa xuân năm 1940, hàng ngàn quan chức quân đội Ba Lan đã bị lực lượng cảnh sát mật của Liên Xô bắt giữ, đưa tới rừng Katyn bên ngoài Smolensk. Họ bị thảm sát, và chôn trong một ngôi mộ tập thể. Năm 1941, Đức tấn công Liên Xô và chiếm vùng lãnh thổ Ba Lan mà người Liên Xô đang nắm giữ. Năm 1943, khi cuộc chiến chống Liên Xô trở nên tồi tệ, người Đức tuyên bố họ đã khai quật được hàng ngàn xác chết trong rừng Katyn.


Đại diện của chính phủ Ba Lan lưu vong (ở London) đã đến khu vực này và khẳng định rằng Liên Xô, chứ không phải Đức Quốc Xã, là người phải chịu trách nhiệm về vụ thảm sát. Tuy nhiên, nhóm đại diện này đã bị các quan chức Mỹ và Anh gây áp lực, buộc họ giữ bí mật báo cáo của mình, vì không muốn mạo hiểm làm gián đoạn quan hệ ngoại giao với Liên Xô. Khi Thế chiến II đi dần đến hồi kết, chiến dịch tuyên truyền của Đức đã bất ngờ chỉ trích Liên Xô, sử dụng Thảm sát Katyn như một ví dụ về hành động tàn bạo của nước này. Lãnh tụ Joseph Stalin thẳng thắn bác bỏ cáo buộc và tuyên bố rằng Đức Quốc Xã phải chịu trách nhiệm về vụ thảm sát. Vấn đề này đã không được lật lại suốt 40 năm.


Tuy nhiên, đến năm 1990, có hai nhân tố đã buộc Liên Xô phải thú nhận tội lỗi. Thứ nhất là việc Gorbachev công khai “cởi mở” trong chính trị Liên Xô, bao gồm việc đánh giá lịch sử Liên Xô một cách thẳng thắn hơn, đặc biệt là trong thời kỳ Stalin.


Thứ hai là tình trạng quan hệ Ba Lan – Liên Xô vào năm 1990. Liên Xô đã mất rất nhiều để có thể kiểm soát các nước vệ tinh ở Đông Âu, nhưng họ vẫn hy vọng giữ được ảnh hưởng càng nhiều càng tốt. Ở Ba Lan, Phong trào Đoàn kết của Lech Walesa liên tục làm xói mòn quyền lực của chế độ cộng sản. Thảm sát Katyn đã gây ra nhiều căng thẳng trong quan hệ với Ba Lan trong hơn bốn thập niên, và có thể các quan chức Liên Xô tin rằng việc thừa nhận và xin lỗi thẳng thắn sẽ giúp giảm căng thẳng ngoại giao vốn đang gia tăng. Chính phủ Liên Xô đã đưa ra tuyên bố sau đây: “Liên Xô bày tỏ sự hối tiếc sâu sắc với thảm kịch, và xem đây là một trong những cú sốc tồi tệ nhất của thời kỳ Stalin.”


Khó mà xác định được liệu sự thừa nhận của Liên Xô có bất kỳ tác động nào hay không. Chế độ cộng sản ở Ba Lan sụp đổ vào cuối năm 1990, và Lech Walesa được bầu làm Tổng thống vào tháng 12 cùng năm. Còn Gorbachev thì từ chức vào tháng 12/1991, chính thức đặt dấu chấm hết cho Liên Xô.


 http://nghiencuuquocte.org/2017/04/13/lien-xo-thua-nhan-gay-ra-tham-sat-katyn/#sthash.Keapr5We.dpuf


Quan điểm lịch sử của Putin về Thế chiến II


Nguồn: Alexander Etkind, “Putin’s History Lessons”, Project Syndicate, 15/09/2009


Biên dịch: Nguyễn Thùy Linh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp


Ý thức hệ của Liên Xô từng luôn hướng về tương lai. Ngược lại, hệ tư tưởng chính thống của nước Nga ngày nay dường như chỉ tập trung nhìn về quá khứ.


Bài viết gần đây của Thủ tướng Nga Vladimir Putin đăng trên tờ Gazeta Wyborcza của Ba Lan nhằm tưởng niệm 60 năm ngày Phát xít Đức xâm chiếm Ba Lan đã thể hiện sự quyết tâm của ông nhằm khẳng định vai trò của Nga trong lịch sử châu Âu thế kỷ 20. Bài viết đã phản ánh những vấn đề sâu sắc vẫn còn tồn đọng trong kỷ nguyên của Putin: đó là việc thiếu khả năng phân định giữa quá khứ của Liên Xô với hiện tại của nước Nga; một sự kết hợp bừa bãi giữa chủ nghĩa bảo thủ chính trị và chủ nghĩa xét lại lịch sử; và thái độ thờ ơ, gần như không chịu tiếp thu, đối với các giá trị dân chủ cốt lõi.


Trong bài viết, Putin đã không thể hiện sự tiếc thương cho sự sụp đổ của Liên Xô mặc dù từng gọi đấy là “thảm họa lớn nhất của thế kỷ 20”. Thực tế, ông thậm chí còn ca ngợi các phong trào dân chủ đã đánh dấu sự tan rã của Liên Xô cũng như chấm dứt phạm vi ảnh hưởng của nó. Đồng thời, ông cũng không biểu lộ bất kì sự đồng cảm nào đối với các cuộc cách mạng đã diễn ra trong thế kỷ 20, mà theo lời ông là những “vết thương lớn” nhân loại đã tự gây ra cho chính mình.


Điều khiến Putin và các cố vấn lịch sử của ông thật sự quan ngại chính là các kí ức về Thế chiến II. Họ coi chiến thắng của Hồng quân trước Đức Quốc xã là thành tựu vẻ vang nhất của nhà nước và quốc gia mà nước Nga hiện tại kế thừa. Đồng thời chiến thắng này cũng cân bằng lại các kí ức về Liên Xô như một chế độ tàn bạo đầy những bạo lực bất công.


Điều đó không có nghĩa các ghi nhận lịch sử dưới thời Putin đều chối bỏ các kí ức này. Bằng chứng là ông đã công khai chỉ đạo Bộ trưởng Giáo dục đưa các trích đoạn trong tác phẩm The Gulag Archipelago [Quần đảo ngục tù] của nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn vào chương trình giáo dục phổ thông. Thay vào đó, điều khiến Putin quan tâm chính là sự cân bằng trong việc nói về các thành tựu trong Thế chiến II và thời kỳ chủ nghĩa Stalin trong lịch sử Liên Xô. Ông thừa nhận triều đại khủng bố của Stalin nhưng diễn giải nó như một hệ quả đáp lại nhu cầu cấp thiết phải đánh bại chủ nghĩa Phát xít, qua đó kêu gọi khi nhìn nhận lịch sử cần phải “dựa vào bối cảnh” và “xem xét nguyên nhân”.


Putin tóm lược lại nhận thức của ông về quy mô của cuộc chiến bằng việc nhắc lại việc mất mát “27 triệu sinh mạng đồng bào tôi”. Con số ấy tiếp tục tăng dần theo năm tháng, khi giới chức Liên Xô mở rộng khái niệm thương vong trong chiến tranh thành tổng “thiệt hại dân số” thay vì chỉ tính số thương vong của quân đội. Do đó số lượng người chết trong Thế chiến II đã tăng từ bảy triệu người (con số được công bố dưới thời Stalin) lên thành 20 triệu (dưới thời Khrushchev) và chốt lại ở con số 26,6 triệu (dưới thời Gorbachev). Theo lời Putin, ít nhất hai phần ba trong số đó là dân thường.


Tuy nhiên, Putin không giải thích ai được coi là “đồng bào” của ông. Nếu chỉ là những người cư trú trong phạm vi lãnh thổ nước Nga hiện tại, con số hẳn thấp hơn rất nhiều. Thay vì vậy, ước tính thiệt hại về nhân mạng của ông lại bao gồm toàn bộ cư dân của Liên Xô, gồm hàng triệu người Ukraine, Belarusia, và các nước cộng hòa khác. Và khi Liên Xô sáp nhập các quốc gia vùng Baltic, thành phố Königsberg, một phần lãnh thổ Ba Lan, Phần Lan, Cộng hòa Moldova và Nhật Bản, các công dân của họ cũng được tính thành “đồng bào” Liên Xô.


Hơn nữa, bởi lịch sử “dựa vào bối cảnh” theo ngụ ý của Putin lý giải những gì Liên Xô phải chịu đựng là để chiến đấu cho Cuộc chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, con số của Putin đã đánh đồng những người dân Liên Xô bị giết hại qua các cuộc tàn sát tập thể, lưu đày, và lao động cưỡng bức với số người tử vong do chiến đấu bảo vệ đất nước. Vậy thì với lô-gic này, ta cũng có thể tái phân loại những nạn nhân của khủng bố, chính sách tập thể hóa, và nạn đói diễn ra trong thập niên 1930 nhằm nâng cao con số thương vong mà Hitler gây ra trên đất Liên Xô.


Putin đã kết nối hai sự kiện được cho là đã châm ngòi cho Thế chiến II là việc kí Hiệp ước Munich năm 1938 và Hiệp ước Molotov – Ribbentrop (Hiệp ước bất tương xâm Xô – Đức) năm 1939 thành một hệ thống nhân quả. Putin thừa nhận cả hai hành động được coi là bắt tay với Đức Quốc xã trên là các sai lầm về mặt đạo đức, nhưng Hiệp ước sau đơn thuần là hệ quả của Hiệp ước trước. Đúng là Thủ tướng Anh Neville Chamberlain và Thủ tướng Pháp Edouard Daladier đã ký một hiệp ước đáng xấu hổ với Hitler và Mussolini tại Munich. Nhưng khi Hitler vi phạm hiệp ước, cả Chamberlain và Daladier đều mất đi sự ủng hộ của công chúng và cho đến khi Thế chiến II nổ ra, cả hai đều đã mất chức. Tuy nhiên, các nhà độc tài, bao gồm cả Molotov và Stalin, vẫn tại vị.


Hơn nữa, dù Hiệp ước Munich đã tạo điều kiện cho Hitler chia cắt lãnh thổ Tiệp Khắc, đó lại là một tài liệu công khai và nói rõ ý nghĩa của chúng. Phần thực sự quan trọng trong Hiệp ước Molotov-Ribbentrop chính là các Nghị định thư Bí mật đính kèm của nó vốn phân chia lãnh thổ châu Âu ra làm hai khu vực cai trị của Nga và Đức bất chấp việc các quốc gia liên quan không biết hoặc đồng ý với điều đó. Molotov, người vẫn nắm quyền xuyên suốt cuộc chiến cho đến tận năm 1956, đã chối bỏ sự tồn tại của các Nghị định thư bí mật này cho đến tận khi ông ta qua đời 30 năm sau đó. Các nền dân chủ phạm phải những sai lầm đáng hổ thẹn, nhưng cuối cùng họ vẫn tìm cách khắc phục, hay ít nhất xin lỗi về điều đó. Tiếp đó, những người chịu trách nhiệm gây ra rắc rối sẽ bị buộc phải từ bỏ chiếc ghế của mình.


Đánh đồng các thực hành dân chủ với độc tài là một việc làm sai trái, thậm chí vô đạo đức. Nhưng đấy chính là những gì nước Nga mới đang làm.


Alexander Etkind, từng là giảng viên khoa Văn học Nga và Lịch sử Văn hóa tại Đại học King’s College, Cambridge, hiện là giáo sư sử học tại Học viện Đại học châu Âu (EUI) tại Florence.


 http://nghiencuuquocte.org


Putin cáo buộc Lenin đặt “bom hẹn giờ” lên Nga


Nguồn: “Vladimir Putin accuses Lenin of placing a ‘time bomb’ under Russia”, The Guardian, 25/01/2016.


Biên dịch: Phạm Phan Hồng Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp


Tổng thống Nga phê phán chủ nghĩa liên bang của nhà cách mạng đã làm Liên Xô tan rã và tạo ra căng thẳng về mặt sắc tộc trong khu vực.


Vladimir Putin đã tố cáo Lenin và chính quyền Bolshevik tiến hành những cuộc đàn áp tàn bạo và buộc tội Lenin đã đặt một “quả bom hẹn giờ” lên quốc gia này.


Việc phê phán Lenin, một nhân vật vẫn nhận được sự tôn kính từ các nhà cộng sản và nhiều người dân Nga, là một hành động khá bất thường của vị tổng thống Nga, người trong quá khứ vẫn luôn cân nhắc cẩn trọng các nhận xét về lịch sử quốc gia nhằm tránh làm mất lòng một số cử tri. Cùng lúc đó, ông cũng ra hiệu rằng chính phủ không có ý định đưa di hài Lenin ra khỏi lăng của ông trên Quảng trường Đỏ, và cảnh báo chống lại “bất cứ hành động nào gây chia rẽ xã hội”.


Đánh giá của Putin về vai trò của Lenin trong lịch sử Nga trong cuộc gặp mặt hôm thứ Hai với các nhà hoạt động ủng hộ điện Kremlin tại thành phố phía nam Stavropol tiêu cực hơn hẳn so với quan điểm của ông trước đây. Ông lên án Lenin và chính quyền của ông ta đã hành quyết dã man vị Sa hoàng cuối cùng cùng với toàn bộ gia đình và người phục vụ, giết hại hàng ngàn linh mục và đặt một quả bom hẹn giờ lên nước Nga bằng cách vẽ ra các giới hạn hành chính dựa trên sắc tộc.


Lấy ví dụ về di sản mang tính phá hoại của Lenin, Putin chỉ ra Donbass, khu vực công nghiệp phía đông Ukraine, nơi một lực lượng nổi loạn li khai ủng hộ Nga đã trỗi dậy một vài tuần sau khi Nga sáp nhập Crimea hồi tháng 3 năm 2014. Hơn 9.000 người đã bị giết hại trong cuộc xung đột từ tháng 4 năm 2014, và các đụng độ vẫn tiếp tục bất chấp thỏa thuận hòa bình tháng 2 năm 2015.


Putin nói rằng chính phủ của Lenin đã ngây thơ vẽ ra ranh giới giữa các phần của Liên Xô, đặt Donbass dưới quyền tài phán của Ukraine nhằm tăng tỉ lệ giai cấp vô sản trong một bước đi mà Putin gọi là “điên rồ”.


Phê phán của Putin đối với Lenin có thể là một phần trong nỗ lực nhằm biện minh cho chính sách của Nga trong cuộc khủng hoảng Ukraine, nhưng nó cũng phản ánh mối quan ngại của Kremlin về các mong muốn ly khai có khả năng xuất hiện tại các tỉnh của Nga.


Putin đặc biệt phê phán khái niệm quốc gia liên bang của Lenin mà trong đó các thực thể có quyền được ly khai, nói rằng khái niệm này góp phần lớn vào sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991. Ông thêm vào rằng Lenin đã sai lầm trong cuộc tranh luận với Joseph Stalin, người ủng hộ mô hình nhà nước đơn nhất. Putin trong quá khứ đã từng tố cáo Stalin về các cuộc thanh trừng vốn đã giết chết hàng triệu người, nhưng ông cũng công nhận vai trò của Stalin trong việc đánh bại Phát xít trong Thế chiến II.


Trong bình luận hôm thứ hai, Putin cũng chỉ trích những người Bolshevik vì đã khiến Nga thua trận dưới tay Đức trong Thế chiến I và nhượng lại các phần lãnh thổ lớn vài tháng trước khi Đức thua trận. “Chúng ta mất đất vào tay bên thua cuộc, quả là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử”, Putin nói.


Putin nói rằng ông tin tưởng chân thành vào lý tưởng cộng sản khi còn phục vụ trong hàng ngũ KGB, nói thêm rằng dù các hứa hẹn của chủ nghĩa cộng sản về một xã hội công bằng và đúng đắn “rất giống như trong Kinh Thánh”, nhưng thực tế lại khác. “Đất nước chúng ta không giống như Thành phố Mặt trời” như những nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng mường tượng nên, ông nói.


nghiencuuquocte.org


02/10/1944: Khởi nghĩa Warsaw kết thúc


Nguồn: Warsaw Uprising ends, History.com


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Khởi nghĩa Warsaw đã kết thúc khi những người còn sống sót của phe nổi dậy Ba Lan đầu hàng trước quân Đức.


Hai tháng trước đó, việc Hồng quân Liên Xô áp sát chuẩn bị giải phóng Warsaw đã kích thích lực lượng kháng chiến Ba Lan tiến hành một cuộc nổi dậy chống lại sự chiếm đóng của Đức Quốc xã. Phe nổi dậy, gồm những người ủng hộ chính phủ dân chủ Ba Lan đang lưu vong ở London, hy vọng có thể giành quyền kiểm soát thành phố trước khi Liên Xô “giải phóng” nó. Người Ba Lan sợ rằng nếu họ thất bại trong việc chiếm thành phố thì những “kẻ xâm lược” Liên Xô sẽ thiết lập một chế độ cộng sản thân Liên Xô ở Ba Lan.


Thế nhưng, quân Ba Lan được trang bị yếu, trong khi phía Đức Quốc xã lại có thêm quân tiếp viện do Adolf Hitler gửi tới. Trong những cuộc giao tranh tàn bạo ngay trên đường phố, người Ba Lan dần dần thua cuộc trước những vũ khí vượt trội của quân Đức. Trong khi đó, Hồng quân – vốn đang chiếm đóng một khu vực ngoại ô của Warsaw, lại chẳng hề hỗ trợ lực lượng nổi dậy của Ba Lan. Liên Xô cũng từ chối yêu cầu của người Anh muốn được phép sử dụng một căn cứ không quân của Liên Xô để tiến hành không vận tiếp tế cho lực lượng Ba Lan đang bị bao vây.


 


Sau 63 ngày, người Ba Lan – không còn vũ khí, vật tư, thực phẩm, và nước – đã buộc phải đầu hàng. Phát xít Đức sau đó đã trục xuất nhiều người dân khỏi Warsaw và hủy diệt thành phố. Khi những người chống đối mình ở Warsaw đã không còn, Liên Xô không còn phải đối mặt với bất kỳ sự phản đối có tổ chức nào trong quá trình thành lập một chính phủ cộng sản ở Ba Lan sau khi chiến tranh kết thúc.


Tội ác chống lại lịch sử của Ba Lan


Nguồn: Shlomo Avineri, “Poland’s Crime Against History”, Project Syndicate, 07/09/2016


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Biên tập: Lê Hồng Hiệp


Cha mẹ và tôi đến Tel Aviv một vài tháng trước khi Thế chiến II bắt đầu. Những thành viên còn lại trong đại gia đình của chúng tôi – gồm ba người ông và bà của tôi, bảy anh chị em của mẹ tôi, và năm người anh em họ của tôi – thì vẫn ở Ba Lan. Sau đó, tất cả họ đều bị sát hại trong Thảm sát Holocaust.


Tôi về thăm lại Ba Lan nhiều lần, nhưng luôn cảm thấy nơi này thiếu vắng sự hiện diện của người Do Thái. Những cuốn sách và bài viết của tôi được dịch sang tiếng Ba Lan. Bản thân tôi từng giảng bài tại Đại học Warsaw và Đại học Jagiellonian ở Krakow. Gần đây tôi còn được bầu làm một thành viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Ba Lan. Mặc dù tiếng Ba Lan của tôi không được tốt, lịch sử và văn hóa của đất nước này vẫn chẳng hề xa lạ với tôi.


Vì những lý do này mà tôi hiểu được tại sao chính phủ Ba Lan gần đây lại đưa ra dự luật xem xét lại các vấn đề lịch sử. Nhưng tôi cũng rất tức giận [vì điều đó].


Có thể hiểu được tại sao người Ba Lan xem mình là nạn nhân chủ yếu của Đức Quốc xã. Bởi không có nước nào bị chiếm đóng ở châu Âu lại phải chịu hoàn cảnh tương tự. Ba Lan là quốc gia duy nhất, dưới sự chiếm đóng của Đức, đã phải giải tán chính phủ và quân đội, cũng như đóng cửa các trường học và đại học. Thậm chí đến cái tên “Ba Lan” cũng bị xóa khỏi bản đồ thế giới. Giống hệt như khi Ba Lan bị Nga và Phổ chia nhau hồi thế kỷ 18, Hiệp ước Molotov-Ribbentrop (1939) đã dẫn đến việc Liên Xô chiếm đóng miền đông Ba Lan sau sự xâm lược của quân Đức. Chẳng còn một dấu vết nào của chính quyền Ba Lan.


Chính phủ Ba Lan và toàn bộ các thể chế của nó đã bị phá hủy hoàn toàn, biến nước này trở thành địa điểm lý tưởng cho các trại diệt chủng của phát xít Đức, nơi sáu triệu công dân Ba Lan – ba triệu người Do Thái và ba triệu người Ba Lan – đã bị sát hại. Trong khi đó, ở những nước châu Âu khác mà Đức kiểm soát, Đức Quốc xã đã phải đối phó, đôi khi với những cách vô cùng phức tạp, với các chính quyền địa phương, một phần vì lý do chiến thuật.


Đây là lý do tại sao Ba Lan đã đúng khi nhấn mạnh rằng chúng ta không nên gọi các trại này là “trại diệt chủng Ba Lan” (ngay cả Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng đã từng nhầm lẫn như vậy.) Vì chúng là các trại diệt chủng của Đức, đặt tại Ba Lan.


Nhưng chính phủ Ba Lan đương nhiệm lại đang mắc phải một sai lầm nghiêm trọng khi cố gắng hình sự hóa việc nhắc tới khái niệm “trại diệt chủng Ba Lan.” Chỉ có các chế độ phi dân chủ mới sử dụng phương thức đó, thay vì dựa vào công luận, làm sáng tỏ lịch sử, qua các liên lạc ngoại giao, và giáo dục.


Dự luật của chính phủ thậm chí còn đi xa hơn: họ coi bất kỳ việc đề cập nào đến vai trò của người Ba Lan trong Thảm sát Holocaust đều là tội phạm hình sự. Dự luật này cũng đề cập đến những gì gọi là “sự thật lịch sử” liên quan đến vụ thảm sát người Do Thái trong chiến tranh tại thị trấn Jedwabne do những láng giềng người Ba Lan của họ gây ra.


Khi sử gia Jan Gross công bố nghiên cứu của ông, chứng minh rằng người Ba Lan chứ không phải người Đức, đã thiêu sống hàng trăm người Do Thái ở Jedwabne, đất nước Ba Lan tự nhiên bị một cuộc khủng hoảng lương tâm nghiêm trọng. Hai vị Tổng thống Ba Lan, Aleksander Kwasniewski và Bronisław Komorowski, đã công nhận những phát hiện này và công khai xin các nạn nhân tha thứ. Komorowski đã nói, “ngay cả trong đất nước của các nạn nhân, dường như vẫn có những kẻ giết người.” Thế nhưng, giờ đây nhà chức trách Ba Lan lại cho rằng vấn đề này phải được xem xét lại, thậm chí họ còn kêu gọi khai quật các ngôi mộ tập thể.


Quan điểm và tư tưởng của chính phủ là vấn đề nội bộ của Ba Lan. Nhưng nếu họ tìm cách che đậy hoặc phủ nhận khía cạnh “có vấn đề” của lịch sử Ba Lan, thì ngay cả những người đồng cảm với nỗi đau của Ba Lan cũng có thể nêu lên những câu hỏi mà do sự thừa nhận những đau khổ khủng khiếp của người Ba Lan nên đến giờ vẫn đang bị bỏ qua. Những câu hỏi này không phải là vặt vãnh hay chỉ hướng đến hành vi cá nhân. Chúng ám chỉ đến những quyết định của quốc gia.


Câu hỏi đầu tiên liên quan đến thời điểm xảy ra cuộc Khởi nghĩa Warsaw vào tháng 8/1944. Người Ba Lan đã chỉ ra một cách chính xác rằng Hồng Quân Liên Xô, vốn dĩ đã áp sát sông Vistula, đã không giúp đỡ quân Ba Lan và thực sự đã để cho người Đức đàn áp cuộc nổi dậy mà không gặp phải cản trở nào. Đây một trong những hành động đáng xấu hổ nhất của Stalin.


Nhưng tại sao quân đội ngầm của Ba Lan (Armia Krajowa – AK, hay Home Army), do chính phủ Ba Lan lưu vong tại London kiểm soát, lại nổi dậy vào thời điểm đó, khi quân Đức đã rút lui, miền đông Ba Lan đã được giải phóng, và Hồng Quân đang chuẩn bị tiến vào giải phóng Warsaw? Lời giải thích chính thức từ phía Ba Lan nói rằng đây là cuộc nổi dậy chống lại quân Đức, nhưng đồng thời cũng là một cuộc tấn công phủ đầu chống lại Liên Xô, nhằm đảm bảo rằng quân đội Ba Lan chứ không phải Liên Xô sẽ giải phóng Warsaw.


Điều đó có thể giải thích (mặc dù rõ ràng là không công bằng lắm) về việc Liên Xô từ chối giúp đỡ người Ba Lan. Thế nhưng, một câu hỏi khác lại nổi lên: Tại sao AK lại chờ đợi tới hơn bốn năm mới đứng lên chống lại sự chiếm đóng của Đức? Tại sao họ không ngăn cản thảm họa diệt chủng ba triệu người Do Thái và tất cả các công dân Ba Lan, hay là tham gia vào cuộc khởi nghĩa của người Do Thái ở Khu ổ chuột Warsaw (Warsaw Ghetto, nơi người Do Thái được đưa vào sống tập trung ở một số khu vực của thành phố) – vào tháng 4/1943?


Chúng ta đôi khi được nghe những tranh luận về việc AK đã gửi – hoặc không gửi – bao nhiêu súng ống cho quân nổi dậy ở khu ổ chuột này. Nhưng đó không phải là vấn đề. Quân Đức đã mất hàng tuần mới có thể dập tắt được Khởi nghĩa Khu ổ chuột Warsaw; trong khi đó, ở bên ngoài khu ổ chuột (“Aryan side”[1]), người Ba Lan đã biết hết mọi chuyện, nhưng họ không làm gì cả.


Chúng ta không thể biết kết quả sẽ như thế nào nếu AK tham gia khởi nghĩa cùng người Do Thái – không chỉ ở riêng Warsaw mà là trên toàn bộ đất nước Ba Lan đang bị chiếm đóng, nơi có hàng ngàn thành viên quân đội đã được chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc nổi dậy. Điều chắc chắn là quân phát xít sẽ gặp khó khăn hơn nhiều khi đàn áp các khu ổ chuột. Hơn nữa, việc tham gia vào cái được coi là “cuộc nổi dậy của người Do Thái” sẽ là bằng chứng mạnh mẽ cho tình đoàn kết với những người Ba Lan gốc Do Thái. Điểm mấu chốt ở đây là người ta có thể chất vấn một cách hợp pháp việc nhấn mạnh khía cạnh đạo đức của quyết định bắt đầu một cuộc nổi dậy nhằm ngăn chặn Liên Xô giải phóng Warsaw, trong khi làm ngơ không ngăn chặn việc thảm sát ba triệu người Ba Lan gốc Do Thái, cũng như không tham gia cuộc nổi dậy của các khu ổ chuột.


Điều này lại làm dấy lên một câu hỏi khác mà lâu nay vẫn bị quên lãng. Tính đến tháng 3/1939, chính phủ Anh và Pháp đã hiểu rằng việc nhân nhượng Hitler đã thất bại: sau khi tiêu diệt Tiệp Khắc, Đức Quốc xã đã chuyển sang nhắm vào Ba Lan. Trong mùa xuân đó, Anh và Pháp đã phải đưa ra một cam kết bảo vệ Ba Lan trước cuộc xâm lược của Đức.


Đồng thời, phía Liên Xô cũng đề nghị với người Anh và người Pháp lập ra một mặt trận thống nhất ngăn chặn Đức xâm lược Ba Lan – nỗ lực đầu tiên để phát triển một liên minh giữa Liên Xô và phương Tây nhằm chống phát xít. Vào tháng 8/1939, một phái đoàn quân sự Anh-Pháp đã đến Moskva, nơi người đứng đầu phái đoàn Liên Xô, Bộ trưởng Quốc phòng Kliment Voroshilov, đã hỏi họ một câu đơn giản: Liệu chính phủ Ba Lan có đồng ý cho quân đội Xô Viết tiến vào Ba Lan, vốn là điều cần thiết để đẩy lùi một cuộc xâm lược của Đức?


Sau nhiều tuần suy nghĩ, cuối cùng phía Ba Lan đã từ chối. Khi được hỏi, một bộ trưởng trong chính phủ Ba Lan đã trả lời: “Nếu quân đội Liên Xô vào Ba Lan, ai mà biết lúc nào họ mới chịu rời đi?” Cuộc đàm phán Anh-Pháp-Xô sụp đổ, và một vài ngày sau đó, Hiệp ước Molotov-Ribbentrop đã được ký.


Người ta có thể hiểu được tại sao Ba Lan lại hành động như vậy: sau khi giành được độc lập vào năm 1918, người Ba Lan đã rơi vào một cuộc chiến tranh tàn bạo với Hồng Quân, vốn đã sẵn sàng để chiếm Warsaw. Nhờ có sự hỗ trợ của quân đội Pháp mà họ mới có thể đẩy lùi người Nga và bảo vệ nền độc lập của mình. Thế nên vào năm 1939, có thể hiểu rằng Ba Lan sợ Liên Xô còn hơn sợ Đức Quốc xã.


Không một ai có thể biết liệu rằng Ba Lan có thể tránh được sự chiếm đóng của Đức nếu họ đồng ý cho Hồng Quân đổ bộ vào nước mình hay không, cũng như chẳng ai biết liệu rằng Thế chiến II hay Holocaust có thể được ngăn chặn nếu Ba Lan làm điều đó? Nhưng cũng hợp lý khi cho rằng chính phủ đã thực hiện một lựa chọn định mệnh và thảm khốc nhất trong lịch sử Ba Lan. Bằng cách này hay cách khác, lập trường của chính phủ Ba Lan đã khiến Hiệp ước Molotov-Ribbentrop được ký, và cuộc Khởi nghĩa Warsaw năm 1944 đã khiến thành phố gần như bị phá hủy hoàn toàn.


Lập luận này không nên bị xem là một nỗ lực đổ lỗi cho các nạn nhân. Tội lỗi cả về mặt đạo đức và lịch sử đều thuộc về Đức Quốc xã, và song song với đó là Liên Xô. Nhưng nếu chính phủ Ba Lan muốn xét lại lịch sử, thì những vấn đề rộng hơn cũng phải được giải quyết. Một quốc gia và các nhà lãnh đạo của nó phải chịu trách nhiệm cho hậu quả từ những quyết định của mình.


Mới đây, tôi đã đến thăm POLIN, một bảo tàng Do Thái ở Warsaw, nơi được khởi xướng xây dựng bởi Tổng thống đương thời Kwasniewski. Tôi đã ấn tượng sâu sắc không chỉ bởi sự phong phú và cách trình bày các tài liệu, mà còn bởi sự tinh tế và chân thực về lịch sử của toàn bộ dự án này. Cuộc triển lãm đã thể hiện một cách rõ ràng rằng: không có người Do Thái, Ba Lan sẽ không phải là Ba Lan.


Tuy nhiên, bảo tàng cũng cho thấy mặt đen tối hơn trong những đan xen lịch sử này, đặc biệt là sự xuất hiện của Đảng Dân chủ Quốc gia bài Do Thái và theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan do Roman Dmowski lãnh đạo vào những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Một người bạn không phải người Do Thái khi đến triển lãm này cùng tôi đã nói: “Giờ là lúc xây dựng một bảo tàng Ba Lan, với những tiêu chuẩn tương tự.”


Bạn tôi đã đúng. Nhưng chính phủ hiện tại của Ba Lan lại đang đi theo một con đường sai lầm và thiếu khôn ngoan. Như chính người Đức đã cho chúng ta thấy, cách tốt nhất để Ba Lan bảo vệ mình là đối mặt, dù khó khăn, với sự thật lịch sử.


Shlomo Avineri là Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Do Thái ở Jerusalem và là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nhân văn Israel. Ông từng là Tổng Vụ trưởng thuộc Bộ Ngoại giao Israel dưới thời Thủ tướng Yitzhak Rabin. Cuốn sách gần đây nhất của ông là “Theodor Herzl and the Foundation of the Jewish State.”


Copyright: Project Syndicate 2016 – Poland’s Crime Against History


___


[1] Aryan side: Những phần còn lại của thành phố, bên ngoài các khu ổ chuột, được gọi là Aryan. Tên gọi này bắt nguồn từ việc bất kỳ ai sống bên ngoài các khu ổ chuột đều phải có giấy tờ chứng minh họ không phải là người Do Thái, mà là người Aryan (tức người Đức).


nghiencuuquocte.org


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tỉnh Yên Bái - Tư liệu 28.06.2017
Những điều nên biết về Chiến tranh thế giới II - Nhiều tác giả 22.06.2017
Ngày 22/06/1944: F.D. Roosevelt ký Đạo luật G.I. - Tư liệu sưu tầm 22.06.2017
Stonehenge - Bãi đá cổ ở Anh Quốc - Tư liệu 20.06.2017
Tam cương, Ngũ thường - Tư liệu sưu tầm 20.06.2017
Ông Vũ Khoan viết về cố Thứ trưởng Trần Quang Cơ - Vũ Khoan 20.06.2017
Thời kỳ vàng son mới của Ba Lan - Gunter Verheugen 20.06.2017
Tập Cận Bình muốn gì? - Graham Allison 20.06.2017
Helmut Kohl viết về sự kiện sụp đổ Bức tường Berlin - Helmut Kohl 19.06.2017
Đặng Tiểu Bình giúp tạo nên một Trung Quốc tham nhũng như thế nào? - Tư liệu 18.06.2017
xem thêm »