tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21075158
12.04.2017
Tư liệu sưu tầm
Tư liệu liên quan đến USA và Thế chiến II



12/04/1945: Franklin Delano Roosevelt qua đời


Nguồn: Roosevelt dies, History.com


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Vào ngày này năm 1945, trong căn nhà của ông ở Warm Springs, Georgia, Franklin Delano Roosevelt đã qua đời vì một cơn xuất huyết não. Là người duy nhất làm Tổng thống Mỹ suốt bốn nhiệm kỳ, Roosevelt luôn được ghi nhớ –bởi bằng hữu cũng như kẻ thù – nhờ vào chính sách xã hội “Kinh tế mới” (New Deal) và vai trò lãnh đạo của ông trong thời chiến.


Roosevelt đắc cử nhiệm kỳ thứ ba vào năm 1940, với lời hứa duy trì sự trung lập của Mỹ trong các cuộc chiến ở nước ngoài: “Đừng để bất cứ người đàn ông hay phụ nữ nào phát biểu thiếu suy nghĩ hoặc nhầm lẫn rằng Mỹ đưa quân đội đến chiến trường châu Âu.” Nhưng khi cuộc chiến của Hitler lan rộng và sự tuyệt vọng của người Anh gia tăng, Tổng thống đã đấu tranh để Quốc Hội thông qua Chương trình Lend-Lease (Lend-Lease Act) vào tháng 03/1941, theo đó cam kết hỗ trợ tài chính cho Anh và các đồng minh khác.


Sang tháng 08, Roosevelt đến gặp Thủ tướng Anh Winston Churchill và ra tuyên bố Hiến chương Đại Tây Dương (Atlantic Charter) – nền tảng của Liên Hiệp Quốc. Họ cũng đã soạn thảo một bản tuyên bố rằng Mỹ “sẽ buộc phải có biện pháp đối phó” nếu Nhật Bản tiếp tục lấn chiếm ở tây nam Thái Bình Dương.


Dù vẫn còn đang đàm phán, người Nhật đã “tiếp tục lấn chiếm” khi đánh bom Trân Châu Cảng. Đó là “ngày ô nhục sẽ sống mãi.” Ngay hôm sau, Roosevelt đã yêu cầu và nhận được lời tuyên bố chiến tranh chống lại Nhật Bản từ Quốc Hội. Vào ngày 11/12, Đức và Ý tuyên chiến với Mỹ.


Một số quyết định trong thời chiến của Roosevelt vẫn còn gây tranh cãi. Chẳng hạn như yêu cầu các nước phe Trục đầu hàng vô điều kiện, điều mà một số người cho rằng đã kéo dài cuộc chiến. Ví dụ khác là việc đồng ý “nhường” cho Joseph Stalin một số khu vực ở Viễn Đông để đổi lấy sự ủng hộ của ông này trong cuộc chiến chống lại Nhật. Roosevelt thường bị cáo buộc là quá ngây thơ trước những mối bận tâm của Stalin, đặc biệt là trước ham muốn xây dựng một đế chế của “chú Joe” (Uncle Joe – chỉ Stalin.)


30/10/1941: Roosevelt phê duyệt viện trợ Lend-Lease cho Liên Xô


Nguồn: FDR approves Lend-Lease aid to the USSR, History.com


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Vào ngày này năm 1941, Tổng thống Roosevelt, người luôn cố gắng để nước Mỹ đứng ngoài Thế chiến II nhưng vẫn giúp đỡ những đồng minh bị sa lầy, đã phê duyệt khoản vay 1 tỷ USD cho Liên Xô theo Chương trình Lend-Lease. Cụm từ “Lend-Lease” ở đây mang nghĩa là cho vay không lấy lãi và việc trả nợ sẽ bắt đầu 5 năm sau khi chiến tranh kết thúc.


Chương trình Lend-Lease được Tổng thống Roosevelt đưa ra và được Quốc hội thông qua vào ngày 11/03/1941. Ban đầu, nó dùng để trợ giúp quân Anh chống lại Đức bằng cách cho Tổng thống quyền “bán, chuyển giao, trao đổi, cho thuê mượn, hoặc định đoạt” bất kỳ nguồn lực quân sự nào mà Tổng thống cho rằng ít cần thiết nhất đối với quốc phòng Mỹ. Lý do đằng sau đó là “Nếu láng giềng của một quốc gia bảo vệ thành công đất nước của mình, thì an ninh của quốc gia đó cũng được nâng cao.”


Dù trước đó Liên Xô đã nhận vũ khí quân sự từ Mỹ, và giờ còn được hứa hẹn 1 tỷ USD viện trợ tài chính, Quốc hội Mỹ vẫn chưa chính thức tuyên bố mở rộng chương trình Lend – Lease sang Liên Xô. Bởi tư tưởng chống cộng đồng nghĩa với nhiều cuộc tranh luận gay gắt. Nhưng cuối cùng Quốc hội cũng đã chấp thuận việc mở rộng vào ngày 07/11.


Tính đến khi Thế chiến II kết thúc, hơn 50 tỷ USD tiền mặt, vũ khí, máy bay, và tàu chiến đã được viện trợ cho 44 quốc gia. Sang thời hậu chiến, Chương trình Lend-Lease trở thành Kế hoạch Marshall, nhằm giúp các nước dân chủ “thân thiện” phục hồi, ngay cả khi họ đã từng là kẻ thù trong chiến tranh.


07/12/1941: Nhật tấn công Trân Châu Cảng


Nguồn: Pearl Harbor bombed, History.com


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Vào ngày này năm 1941, lúc 7 giờ 55 phút sáng, theo giờ Hawaii, một máy bay ném bom của Nhật Bản với biểu tượng Húc Nhật kỳ đã xuất hiện trên bầu trời đảo Oahu, theo sau là 360 máy bay chiến đấu cũng của Nhật. Tất cả tấn công dữ dội vào căn cứ hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng. Cuộc tấn công bất ngờ này giáng một đòn nghiêm trọng lên Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ và buộc Mỹ phải chính thức tham gia Thế chiến II.


Sau thất bại trong đàm phán ngoại giao với Nhật Bản, Tổng thống Franklin D. Roosevelt và các cố vấn của ông biết rằng sẽ có khả năng người Nhật tấn công, nhưng chẳng có biện pháp nào được thực hiện để tăng cường an ninh tại căn cứ hải quân quan trọng ở Trân Châu Cảng.


Khi đó là sáng Chủ nhật, và nhiều quân nhân đã được phép đi tham dự các nghi lễ tôn giáo. Lúc 7 giờ 02 phút, hai radar đã phát hiện nhiều đoàn máy bay lớn đang bay tới từ phía Bắc. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, căn cứ cũng đang dự kiến đón đoàn máy bay B-17 từ Mỹ sang nên họ đã không báo động. Do đó, cuộc tấn công của người Nhật trở thành một thảm họa bất ngờ đối với căn cứ hải quân.


Phần lớn Hạm đội Thái Bình Dương trở nên bị vô hiệu: 5 trong số 8 thiết giáp hạm, 3 tàu khu trục, và 7 tàu khác đã bị chìm hoặc bị hư hỏng, và hơn 200 máy bay đã bị phá hủy. Tổng cộng có 2.400 người Mỹ đã thiệt mạng và 1.200 người bị thương, rất nhiều trong số họ hy sinh khi dũng cảm cố gắng đẩy lùi cuộc tấn công.


Về phía Nhật Bản, tổn thất gồm 30 máy bay, 5 tàu ngầm nhỏ và chưa tới 100 người thiệt mạng. May mắn thay cho người Mỹ, cả ba tàu sân bay của Hạm đội Thái Bình Dương đã ra biển để huấn luyện. Chính những tàu sân bay khổng lồ này sẽ trả thù người Nhật chỉ sáu tháng sau đó, trong Trận Midway – một chiến thắng ngoạn mục, đảo ngược tình thế trước Hải quân Nhật vốn dĩ trước đó là bất khả chiến bại.


Một ngày sau khi Trân Châu Cảng bị đánh bom, Tổng thống Roosevelt đã xuất hiện trước một phiên họp chung của Quốc Hội và tuyên bố: “Hôm qua, 07/12/1941, là một ngày ô nhục – nước Mỹ đã phải hứng chịu đợt tấn công bất ngờ và cố ý của hải quân và không quân Đế quốc Nhật.” Sau một bài phát biểu ngắn gọn và mạnh mẽ, ông yêu cầu Quốc Hội thông qua Nghị quyết Tuyên bố Tình trạng Chiến tranh giữa Mỹ và Nhật.


Thượng viện bỏ phiếu với tỉ lệ 82 – 0 ủng hộ cuộc chiến chống lại Nhật Bản, và Hạ viện thông qua Nghị quyết với số phiếu 388 – 1. Người bất đồng ý kiến duy nhất là Hạ nghị sĩ Jeannette Rankin của bang Montana, một người chủ trương hòa bình và cũng đã từng bỏ phiếu chống lại việc Mỹ tham gia Thế chiến I. Ba ngày sau, Đức và Ý tuyên chiến với Mỹ, và chính phủ Mỹ cũng có tuyên bố tương tự.


Mỹ đã đóng góp vào chiến thắng của phe Đồng minh trong suốt 4 năm tham chiến và 400.000 người Mỹ đã hi sinh mạng sống của mình.


Bài học từ trận Trân Châu Cảng cho nước Mỹ ngày nay


Nguồn: Catherine Putz, “The Lessons of Pearl Harbor: Fear Itself, Then and Now”, The Diplomat, 08/12/2015.


Biên dịch: Trần Quốc Nam | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp


Ngày 07 tháng 12 năm 1941, Đế quốc Nhật tung ra một cuộc tấn công bất ngờ vào lực lượng hải quân Hoa Kỳ đồn trú tại Hawaii. Khi thúc giục Quốc hội Mỹ tuyên chiến, Tổng thống Franklin Roosevelt đã gọi ngày 07 tháng 12 là “ngày ô nhục”.


Đúng vậy. Cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng đã gây sốc cho người Mỹ và đưa đất nước này tham gia vào Thế chiến II. Nó cũng dẫn đến các cuộc vây ráp người Mỹ gốc Nhật rồi giam giữ họ ở các trại khắp miền tây Hoa Kỳ. Trân Châu Cảng tạo nên sự thống nhất quốc gia, nhưng cũng gây ra những biểu hiện đáng lo ngại về tệ phân biệt chủng tộc bài Nhật và nỗi sợ hãi ở Mỹ. Cả hai di sản cần được ghi nhớ cùng nhau, đặc biệt nếu xét đến các xu hướng hiện tại trong diễn ngôn chính trị của Mỹ vốn “ác quỷ hóa” cả một khối người, song lần này dựa trên lý do tôn giáo hơn là sắc tộc.


Đáng chú ý là đã có bao nhiêu thay đổi trong 74 năm qua kể từ sự kiện Trân Châu Cảng, đặc biệt là giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Hai quốc gia, xưa là kẻ thù, nay lại tương thuộc về chính trị, quân sự và kinh tế. Ngay cả những người dân mỗi quốc gia cũng mang một cái nhìn tích cực về nhau. Cuộc khảo sát năm 2015 của tổ chức Pew cho thấy 68 phần trăm người Mỹ rất hoặc khá tin tưởng người Nhật và 75 phần trăm người Nhật tin tưởng Hoa Kỳ. Điều này bất chấp việc hơn 2.400 người bị giết trong cuộc tấn công Trân Châu Cảng và hàng ngàn người nữa ở cả hai phía bị giết trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương sau đó; bất chấp các vụ ném bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, một cuộc chiếm đóng và cưỡng bức thay đổi chính trị. Sau chiến tranh, quan hệ hai bên không được đảm bảo chắc chắn sẽ hữu nghị, và thực tế là suốt thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990 khi nền kinh tế Nhật Bản hồi phục và bứt phá lên, người Mỹ đã lo sợ và nhạo báng những chiếc xe hơi do Nhật Bản sản xuất tựa như cách họ nhạo báng hàng hóa “Made in China” ngày nay.


Nhờ đâu các quan điểm có thể xoay vần nhanh thế vậy?


Trường hợp của Theodor Geisel là một minh họa cho sự tiến hóa trong quan điểm của người Mỹ, đặc biệt là về Nhật Bản, từ phân biệt chủng tộc, giận dữ và sợ hãi sang lòng trắc ẩn và quan hệ đối tác. Geisel, được biết đến nhiều qua bút danh Dr. Seuss, là một họa sĩ biếm họa và tác giả nổi tiếng của Mỹ. Trong thập kỷ 1940, ông là một họa sĩ biếm họa chính cho PM Magazine, một tờ báo ở New York, nơi ông đã vẽ hơn 400 biếm họa chính trị. Được biết đến nhiều nhất qua tác phẩm truyện tranh Con mèo đội mũ (Cat in the Hat), ông đã vẽ nhiều biếm họa rõ ràng là nhằm kỳ thị người Đức và Nhật trong những năm đầu cuộc chiến.


Hai ngày trước ngày diễn ra sự kiện Trân Châu Cảng, PM Magazine đăng một biếm họa của Geisel miêu tả Hitler là người chơi đàn organ quay tay và Nhật Bản là một con khỉ nuôi. Hitler đang đứng ở một góc và con khỉ, bị giật dây, tay đang cầm một cái ly đi đến trước một con chim đội mũ sọc, đại diện cho hình ảnh Hoa Kỳ. Con khỉ đang quay lại hỏi Hitler: “Sư Phụ! Con phải làm gì nếu họ không bị dụ?”


Quan điểm của Geisel về người Nhật, và người Mỹ gốc Nhật, thể hiện sự cay độc và kinh tởm. Ông ủng hộ việc giam giữ người Mỹ gốc Nhật như trích dẫn sau cho thấy:


Chính bây giờ, khi lũ Nhật cắm rìu vào sọ chúng ta, thật khốn nạn nếu chúng ta cứ mỉm cười và thỏ thẻ: “Ôi, người anh em!” Nó có hơn gì một tiếng thét xung trận èo uột. Nếu chúng ta muốn giành chiến thắng, chúng ta phải giết lũ Nhật, dù điều đó có làm phiền lòng John Haynes Holmes [một người ủng hộ hòa bình nổi tiếng] hay không. Chúng ta sau này có thể thân tình với đám người còn lại.


Nhưng sau chiến tranh, Geisel đã thay đổi thái độ của mình. Năm 1953, ông đến thăm Nhật Bản sau thời kỳ chiếm đóng và cảm tác nên tác phẩm Chú voi Horton (Horton Hears a Who), một cuốn sách trẻ em về việc một chú voi tên Horton đã phát hiện ra một cộng đồng gọi là Whoville sống trên một hạt bụi. Lời răn của câu chuyện, được lặp lại nhiều lần, đó là “con người là con người, dù là lớn hay nhỏ”. Cuốn sách được xuất bản một năm sau chuyến thăm Nhật Bản của Geisel đã được đề tặng cho một người bạn Nhật, và được nhiều người xem là một ẩn dụ cho sự chiếm đóng hậu chiến của Hoa Kỳ mà thông qua đó nước Nhật đã được tái sinh. Một trong những người viết tiểu sử về Geisel, Thomas Fensch, cho rằng Geisel cũng đã nhắc tới (vụ ném bom nguyên tử xuống) Hiroshima qua lời của nhân vật Thị trưởng Whoville, khi vị này nói rằng: “Khi chú chim thả chúng ta rơi xuống, chúng ta chạm đất mạnh đến nỗi đồng hồ cũng phải đứng kim”.


Sau chiến tranh, Geisel không phải là người duy nhất thay đổi cách nhìn. Không rõ có khi nào ông nói về sự ủng hộ mạnh mẽ của ông đối với các trại giam người Nhật hay không, nhưng Hoa Kỳ cuối cùng đã làm vậy. Năm 1980, Tổng thống Jimmy Carter cho phép tiến hành một cuộc điều tra để xác định liệu lệnh giam giữ của Roosevelt – Sắc lệnh 9066 – có hợp pháp hay không. Ủy ban Tái định cư và Giam giữ Thường dân Thời chiến (CWRIC) thấy có rất ít bằng chứng là những người Mỹ gốc Nhật bị bắt giam không trung thành (với Hoa Kỳ), và trong báo cáo tổng kết đã khuyến nghị chính phủ Mỹ nên bồi thường thiệt hại cho họ.


Năm 1988, Tổng thống Ronald Reagan đã làm việc này. Đạo luật Quyền tự do Công dân thừa nhận sự bất công của chương trình giam giữ, xin lỗi và chỉ thị chính phủ cả trả tiền bồi thường lẫn đầu tư vào các chương trình truyền thông để “công bố về hành động giam giữ các cá nhân này cũng như để ngăn ngừa sự tái diễn bất kỳ sự kiện tương tự nào”. Hơn nữa, dự luật lưu ý rằng việc giam giữ “có động cơ chủ yếu từ thành kiến ​​chủng tộc, sự quá kích thời chiến, và là một thất bại của giới lãnh đạo chính trị.”


Thành kiến, sự quá khích thời chiến và thất bại của giới lãnh đạo chính trị một lần nữa đang đe dọa đẩy Hoa Kỳ xuống hố sâu.


Hồi tháng Mười, thị trưởng thành phố Roanoke, bang Virginia, đã ngớ ngẩn nhắc lại các trại giam của Roosevelt nhằm phản đối việc tái định cư người tị nạn Syria ở thành phố mình. “Tôi xin nhắc lại rằng Tổng thống Franklin D. Roosevelt cảm thấy buộc phải tạm giam những kiều dân Nhật sau vụ oanh tạc Trân Châu Cảng và nay dường như đã xuất hiện mối đe dọa đối với nước Mỹ [từ Nhà nước Hồi giáo] thật sự và nghiêm trọng như những mối đe doạ từ các kẻ thù của chúng ta thời đó”. David Bowers đã viết như vậy, phô bày một sự hoang tưởng vượt thời gian mà không hề có chút nhận thức nào về thực tế.


Vào đêm trước Lễ kỷ niệm trận Trân Châu Cảng, Tổng thống Barack Obama đã phát biểu trước dân chúng, trong đó ông dùng những lời nhằm an ủi người Mỹ sau cuộc tấn công ở San Bernardino, bang California, cuộc tấn công vốn dường như có động cơ bắt nguồn từ ý thức hệ ISIS. Trong bài phát biểu, Obama khẩn thiết kêu gọi người dân Mỹ đừng “chống lại nhau bằng cách để cuộc chiến này được coi như một cuộc chiến giữa Mỹ và Hồi giáo”. Các phóng viên và các ứng cử viên tổng thống (kể cả các ứng cử viên đã thất bại) đã nhanh chóng tung đòn chỉ trích. Mike Huckabee nói:


Quý vị có thể tưởng tượng được FD Roosevelt ra trước Quốc hội và nói rằng “Hôm qua chúng ta bị tấn công ở Trân Châu Cảng. Tôi thực sự không muốn nói tới việc ai đã làm điều đó, nhưng các bạn biết đấy, chúng tôi chỉ muốn nói rằng chúng là những kẻ đáng tởm và chúng là hạng sát nhân.” Vâng, ai vậy, thưa ngài tổng thống? Vâng, chúng tôi không vạch mặt, bởi vì tôi không muốn các ngài có bất kỳ ác cảm nào về người Nhật”.


Người ta có thể phê phán Obama vì từ chối quy lỗi cho đạo Hồi, vì quá thận trọng trong phát biểu, nhưng chính sự thiếu sót của Roosevelt đã dẫn đến việc thành lập các trại giam trên sa mạc để giam giữ các công dân trung thành với nước Mỹ. Chính nỗi sợ mà Roosevelt đã mạnh mẽ chống lại trong bài diễn văn nhậm chức đầu tiên của mình (“… điều duy nhất chúng ta phải sợ chính là nỗi sợ…”) đã đưa ông đến các kết cục đáng hổ thẹn trong nhiệm kỳ thứ tư và cũng là cuối cùng của mình.


Tôi tự hỏi, cái giá của sự thống nhất có bắt buộc phải là sự sợ hãi hay không?


16/11/1945: Các nhà khoa học Đức bị bắt đưa sang Mỹ


Nguồn: German scientists brought to United States to work on rocket technology, History.com


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Vào ngày này năm 1945, trong một động thái gây nhiều tranh cãi, các tàu Mỹ đã đưa 88 nhà khoa học Đức sang Mỹ để hỗ trợ nước này nghiên cứu về công nghệ tên lửa. Hầu hết trong số họ đều đã phục vụ dưới chế độ Đức Quốc xã. Điều đó khiến các nhà phê bình ở Mỹ đặt ra câu hỏi về mặt đạo đức khi đưa những người này về phục vụ nước Mỹ. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ lúc này đang tuyệt vọng mong muốn có được bí mật đằng sau bộ đôi tên lửa hủy diệt V-1 và V-2 của Đức trong Thế chiến II, và còn lo sợ Liên Xô cũng sẽ bắt các nhà khoa học Đức với lý do tương tự. Do vậy, họ đã rất hoan nghênh những nhà khoa học tên lửa Đức.


Nhưng họ cũng hiểu rằng việc dùng các nhà khoa học đã từng làm việc cho Đức Quốc xã mà người Mỹ căm ghét là điều rất dễ gây kích động. Thế nên quân đội Mỹ đã che giấu các hoạt động bí mật này. Trong thông báo về kế hoạch, người phát ngôn của quân đội đơn thuần chỉ nói rằng một số nhà khoa học Đức, những người có kinh nghiệm phát triển tên lửa đã “tình nguyện” đến làm việc tại Mỹ với một “mức lương khiêm tốn.”


Thế nhưng, bản chất của sự “tự nguyện” này thực ra là “bị tạm giữ”, như chính phía Mỹ đã thừa nhận. Khi các nhà khoa học Đức đến Mỹ, cánh nhà báo và nhiếp ảnh gia không được phép phỏng vấn hay chụp ảnh họ. Vài ngày sau đó, một nguồn tin từ Thụy Điển khẳng định rằng các nhà khoa học này là thành viên của nhóm phát xít tại Peenemeunde, nơi các tên lửa dòng V đã được sản xuất. Dù vậy, chính phủ Mỹ tiếp tục mập mờ rằng “một số các nhà khoa học và kỹ thuật viên tài năng người Đức” đã được mời về nhằm “tận dụng những thành tựu đáng kể và vô cùng quan trọng đối với an ninh quốc gia.”


Sự kiện này là một trong những trớ trêu có liên quan tới Chiến tranh Lạnh. Mỹ và Liên Xô đã từng là đồng minh chống lại Đức và chế độ Đức Quốc xã trong Thế chiến II, nhưng nay lại tham gia vào cuộc tranh giành khốc liệt để có được các nhà khoa học tài năng nhất, những người đã từng làm việc cho quân Đức. Mục đích của họ đều là nhằm xây dựng hệ thống vũ khí để đe dọa lẫn nhau.


Hình: Wernher von Braun (1912 –1977) nhà khoa học Đức, sau chuyển quốc tịch sang Mỹ. Ông được gọi là “người tên lửa” (Rocketman) vì đã chế tạo thành công tên lửa V-2 cho Đức Quốc xã và Saturn V cho Mỹ.


Chiến dịch Cái Kẹp Giấy là gì?


Nguồn: “What is Operation Paperclip?”, History.com (truy cập ngày 28/10/2015).


Biên dịch & Hiệu đính: Lê Hoàng Giang


Khi Thế Chiến II bước vào giai đoạn cuối, các tổ chức của Mỹ và Anh đã cùng nhau lùng sục khắp lãnh thổ nước Đức bị chiếm đóng để lấy tất cả những nghiên cứu phát triển công nghệ, khoa học và quân sự mà họ có thể tìm được. Theo sau các lực lượng chiến đấu của quân Đồng Minh, các tổ chức như Tiểu ban Mục tiêu Tình báo Hỗn hợp (CIOS) đã bắt đầu tịch thu các loại tài liệu và vật liệu có liên quan đến cuộc chiến, và thẩm vấn các nhà khoa học tại các cơ sở nghiên cứu của Đức mà quân Đồng Minh chiếm được. Một tài liệu quan trọng đã được tìm thấy trong một phòng vệ sinh tại ĐH Bonn, đó là Danh sách Osenberg: một bản danh sách ghi lại tên những nhà khoa học và kỹ sư đã phải làm việc cho Đế chế thứ Ba.


Trong một hoạt động bí mật ban đầu được gọi là Chiến dịch Sương Mù (Operation Overcast) nhưng sau được đổi thành Chiến dịch Cái Kẹp Giấy (Operation Paperclip), khoảng 1.600 nhà khoa học Đức trong danh sách đó (cùng gia đình của họ) đã được đưa sang Mỹ để làm việc cho nước này trong Chiến tranh Lạnh. Chương trình này được thực hiện bởi Cơ quan Mục tiêu Tình báo Chung (JIOA), một đơn vị mới thành lập có mục tiêu thu thập nguồn lực tri thức Đức để giúp phát triển kho vũ khí hóa học, sinh học và tên lửa cho Mỹ, và để đảm bảo những thông tin mật đó không rơi vào tay Liên Xô. Mặc dù đã chính thức phê chuẩn chiến dịch, song Tổng thống Harry S. Truman đã cấm cơ quan này tuyển những thành viên của đảng Quốc Xã hay những ai tích cực ủng hộ đảng Quốc Xã. Dù vậy, các quan chức JIOA và Văn phòng Dịch vụ Chiến lược (OSS – tiền thân của Cơ quan Tình báo Trung ương CIA) – đã lờ đi chỉ thị này và tiêu hủy hoặc thanh tẩy mọi bằng chứng về tội ác chiến tranh nếu có trong hồ sơ của các nhà khoa học này, vì cho rằng thông tin của họ có ý nghĩa sống còn với những công tác hậu chiến của Mỹ.


Một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất được tuyển chọn là Werner von Braun, giám đốc kỹ thuật tại Trung tâm Nghiên cứu Quân sự Peenemünde tại Đức, và là người có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển loại tên lửa nguy hiểm V-2 vốn đã tàn phá nước Anh trong thời chiến. Von Braun và các nhà khoa học tên lửa khác đã được đưa đến Fort Bliss, Texas và Bãi thử Tên lửa White Sands, New Mexico với tư cách “chuyên viên Bộ Chiến tranh” để giúp Quân đội Mỹ thử nghiệm tên lửa. Von Braun sau đó đã trở thành Giám đốc Trung tâm Phi hành Vũ trụ Marshall thuộc NASA và là người thiết kế chính của tên lửa đẩy Saturn V, loại tên lửa sau này đã giúp đưa hơn 20 phi hành gia Mỹ lên Mặt Trăng.


Mặc dù có nhiều người ủng hộ cho hoạt động mờ ám này và cho rằng cán cân quyền lực đã có thể dễ dàng nghiêng về phía Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh nếu Mỹ không đưa những nhà khoa học Đức Quốc Xã này sang Mỹ, song cũng có nhiều người phản đối chiến dịch này vì cái giá đạo đức phải trả khi không trừng phạt hay bắt những nhà khoa học này chịu trách nhiệm vì những tội ác chiến tranh ghê tởm của họ.


Tên gọi “Thế Chiến I” và “Thế Chiến II” có từ bao giờ?


Nguồn: “Were they always called World War I and World War II?”, History.com (truy cập ngày 3/11/2015).


Biên dịch & Hiệu đính: Lê Hoàng Giang


Không phải ngay từ đầu hai cuộc chiến tranh thế giới đã được gọi là “Thế Chiến I” (World War I) và “Thế Chiến II” (World War II), hay “Chiến tranh Thế giới thứ Nhất” và “Chiến tranh Thế giới thứ Hai”, song rất khó xác định chính xác thời điểm mà những tên gọi này xuất hiện. Rõ ràng là trong Thế Chiến I, không ai biết rằng sẽ có một cuộc xung đột toàn cầu thứ hai diễn ra sau cuộc chiến thứ nhất, vì vậy không cần thiết phải xác định thứ tự cho cuộc chiến. Ban đầu các tờ báo ở Mỹ gọi đây là “Chiến tranh Châu Âu” (European War), nhưng sau đó đã đổi thành “Chiến tranh Thế giới” (World War) khi Mỹ chính thức tham chiến năm 1917. Trong khi đó ở bên kia Đại Tây Dương, người Anh sử dụng tên gọi “cuộc Đại Chiến” (the Great War) cho đến những năm 1940 – ngoại trừ một trường hợp đáng chú ý là khi Winston Churchill sử dụng tên gọi “Chiến tranh Thế giới” trong cuốn hồi ký “Cuộc Khủng hoảng Thế giới” của ông xuất bản năm 1927.


Thế Chiến II diễn ra sau Thế Chiến I 21 năm, song nhiều nhà sử học tin rằng cả hai cuộc chiến chỉ là hai giai đoạn cách nhau của một cuộc xung đột toàn cầu lớn duy nhất. Nguồn: History.com.


Mặt khác, tên gọi “Thế Chiến II” đã xuất hiện lần đầu trên văn bản từ tháng 2 năm 1919, khi một bài báo trên tờ Manchester Guardian sử dụng thuật ngữ này theo cách gần giống như ngày nay người ta thường tiên đoán giả định về một cuộc “Thế Chiến III”. Nhưng chính Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt mới là người công khai sử dụng tên gọi “Chiến tranh Thế giới thứ Hai” vào năm 1941, và người Mỹ sau đó đã nhanh chóng làm theo. (Người Anh vẫn chỉ sử dụng cái tên đơn giản “cuộc Chiến” [the War] cho đến cuối những năm 1940).


Dù Roosevelt là người đã giúp phổ biến cái tên này, nhưng ông dường như không hoàn toàn hài lòng với nó. Năm 1942 ông đã thỉnh cầu dư luận đề xuất tên gọi thay thế, và trong những tuần sau đó Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ đã nhận được 15.000 đề xuất, với những tên gọi như “Chiến tranh vì Nền Văn minh” (“the War for Civilization”) hay “Chiến tranh Chống Ách Nô dịch” (“the War Against Enslavement”). Những cái tên này, và cả chính tên gọi mà Roosevelt sau đó đề xuất là “Chiến tranh vì sự Sinh tồn” (“the Survival War”) đều không được sử dụng lâu dài. Như vậy tên gọi “Thế Chiến II” và “Chiến tranh Thế giới thứ Hai” đã tiếp tục được sử dụng và trở nên phổ biến cho đến ngày nay – và tương tự là tên gọi “Thế Chiến I” hay “Chiến tranh Thế giới thứ Nhất” của cuộc xung đột trước đó.


Vì sao binh lính Mỹ có biệt danh là “G.I.”?


Nguồn: “Why are American soldiers called G.I.s?”, History.com (truy cập ngày 11/11/2015).


Biên dịch & Hiệu đính: Lê Hoàng Giang


Nguồn gốc của biệt danh nổi tiếng này có phần bí ẩn. Một giả thuyết phổ biến cho rằng biệt danh này có nguồn gốc từ thế kỷ 20, khi đó “G.I.” là chữ được dán lên những thùng và xô rác của quân đội. Hai chữ cái này là tên viết tắt của nguyên liệu chế tạo ra những vật dụng đó: sắt mạ kẽm (Galvanized Iron). Về sau,  theo như cuốn “Origins of the Specious: Myths and Misconceptions of the English Language” (tạm dịch: Nguồn gốc của những Sai lầm: Những hiểu lầm và ngộ nhận trong Tiếng Anh”) của các tác giả Patricia T. O’Conner và Stewart Kellerman, nghĩa của từ G.I. được mở rộng và đến Thế Chiến I nó đã được dùng để gọi tất cả những thứ liên quan đến quân đội Mỹ. Khi đó, G.I. được diễn giải lại thành “vấn đề chính phủ” (Government Issue) hoặc “vấn đề chung” (General Issue).


Sự phổ biến của thuật ngữ này đã khiến các binh sĩ trong Thế Chiến II dần dần tự gọi mình là các G.I.. Một số binh sĩ nhập ngũ dùng thuật ngữ này một cách mỉa mai để biểu hiện niềm tin của họ rằng họ chỉ như là những sản phẩm sản xuất hàng loạt của chính phủ. Trong Thế Chiến II, G.I. Joe cũng trở thành một thuật ngữ để chỉ binh lính Mỹ. Họa sĩ biếm họa Dave Breger, nhập ngũ vào năm 1941, được cho là tác giả của tên gọi này sau khi ông bắt đầu đăng những mẩu truyện tranh có tiêu đề “G.I. Joe” trên tuần san quân sự Yank từ năm 1942. Năm 1964, công ty đồ chơi Mỹ Hashbro sau khi nhận thấy thành công lớn của công ty đối thủ Mattel với dòng đồ chơi búp bê Barbie (phát hành năm 1959) đã cho ra mắt “G.I. Joe”, dòng đồ chơi mô hình anh hùng quân đội cho các bé trai.


Trong khi đó, vào tháng 6 năm 1944, Tổng thống Franklin Roosevelt đã ký Đạo luật Tái Hội nhập Quân nhân, sau này thường được gọi là Luật G.I. Đạo luật nổi tiếng này mang lại nhiều lợi ích cho các cựu quân nhân Mỹ sau Thế Chiến II, trong đó bao gồm các khoản tài trợ học phí đại học, hỗ trợ cho vay tiền để mua nhà và trợ cấp thất nghiệp.


Nguồn: nghiencuuquocte.org/


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một Năm: Ngoại giao của Trump - Jonathan Freedland 20.11.2017
Cách tự sát của một siêu cường - RICHARD Javad Heydarian 20.11.2017
Thế kỷ đẫm máu - Stephen Kotkin 07.11.2017
Nhà Lê sơ - Lê sơ triều - Tư liệu sưu tầm 06.11.2017
Đông Kinh Nghĩa Thục: Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở VN - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
Mao, Tập và “Cơn bão tháng Giêng” - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Vai trò của Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
02/10/1966: Báo Liên Xô đưa tin sĩ quan Nga bị tấn công - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Đặng Tiểu Bình và quyết định của TQ tiến hành chiến tranh với VN - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
xem thêm »