tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21273035
Truyện ngắn
10.04.2017
Văn Biển
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm



1. CHUYỆN NHỎ Ở MỘT GA XÉP


Chiều.


Sân ga xếp ở một tỉnh miền Trung. Những cồn cát. Và gió Lào hun hút. Những rặng phi lao mỏi mòn trong gió cát. Các ngọn cây phi lao như vác cả một khối nặng trên chiếc lưng gầy còm.


Một chuyến tàu chợ vừa dừng lại ga. Kẻ xuống người lên thưa thớt. Trong số  hành khách xuống ga chúng ta để ý một người đàn ông ngoài 60, quần áo bộ đội cũ bạc phếch, dính nhiều bụi đất đỏ Trường Sơn. Vai mang cái xà cột đã sờn rách, còn hai tay ôm chiếc ba lô xám, miệng túi buộc chặt. Trong túi chắc đựng một vật gì quý có thể dễ vỡ hoặc mất, Bác ta không dám rời ra lấy một phút. Dáng mệt mỏi. Ra khỏi ga, người đàn ông tới cái quán nhỏ rồi chọn cái bàn vắng, đặt xà cột lên bàn, còn chiếc ba lô vẫn ôm khư khư trong lòng.


Bác ta gọi thức ăn và xị rượu.


Ở một góc khuất không xa quán, một tốp các cô bé, cậu bé bụi đời đang xậm xà xậm xịt. Đứa lớn nhất trong đám lên tiếng.


- Chúng mày có thấy cái lão nhà quê ngồi ở quán bà Huế đằng kia không?


- Rách thấy mồ. Một đứa nói.


- Ngụy trang đấy. Hãy chú ý cái túi. Gã đầu đàn nói. Chỉ có vàng hoặc cái gì quý hơn mới ôm khư khư như vậy.


Cả bọn cùng cười - Lão ta có mà vàng mắt, vàng da.


- Đồ đầu bã đậu cả lũ. Xem kìa. Cái xà cột lão vất lên bàn chẳng thèm mảy may


để ý tới. Ý muốn nói ai lấy cứ cho lấy. Còn cái túi không một lúc nào rời.


- Huynh nói đúng. Nhưng bộ quần áo của lão thì ...


- Tớ bảo lão ngụy trang mà lại. Trong túi đó nhất định không phải vật thường.


- Chẳng lẽ huynh bảo là vàng?


Gã đầu đàn nói:


- Cứ xem bộ quần áo đầy đất bụi đó chứng tỏ lão vừa chui đâu ra.


Một chú bé :


- Chẳng lẽ lão vừa ở chỗ đào vàng ra à?


Gã đầu đàn lắc đầu


- Cái thớ lão không phải loại đào vàng. Mà vàng đào được cũng chẳng đủ lận lưng quần. Đằng này cả một túi nặng. Vậy thì...


- Chờ một lúc không thấy ai nói gì gã nói tiếp. Theo tớ, chỉ có thể là ... đồ cổ. Mà đồ cổ các chú em biết đấy, nhiều thứ bây giờ còn quý gấp mấy vàng. Một con tem cổ giá trăm ngàn đô.


            Cả bọn khựng lại, vẻ bàng hoàng khâm phục. Một lát, một đứa trong bọn nói:


- Nhưng cái thớ lão không thể là người buôn bán cổ vật được.


- Ta không bảo lão buôn bán cổ vật mà là lão ăn cắp đồ cổ. Giọng gã đầu đàn chắc nịch.


- Trông mặt mũi bộ dạng thế kia làm sao là dân bẻ khóa trèo tường. Một đứa khác nói.


- Ta không bảo là lão vừa trong bảo tàng hoặc đình chùa hay ở nhà ai ra, mà lão vừa... dưới huyệt chui lên. (cả bọn nhìn gã trố mắt vừa kinh ngạc vừa thán phục, hồi hộp chờ đợi, chờ một lát cho cả bọn hết mức chịu đựng gã mới chậm rãi nói tiếp từng tiếng một). Đúng, tớ bảo lão vừa… ăn trộm đồ cổ dưới mộ. Một ngôi mộ của ông vua bà chúa nào đó chạy loạn vô miền Trung. Và lão ta vớ bở. Lão ăn trộm của người chết. Bây giờ đến lượt bọn mình lấy lại từ thằng sống. Cả bọn cười thích chí cho là câu nói hay. Luật công bằng mà Hắn nói tiếp rồi nhìn cả bọn. Nào, hôm nay tới lượt ai?   


Cô bé bán vé số: cái ấy để tớ. Chuyện vặt mà đại ca. Cô bé nói đầy vẻ tự tin


Gã đầu đàn: Được. Chỉ chú bé đánh giày. Chú em đi theo giúp một tay. Nên nhớ những tay chuyên đào huyệt không phải hạng vừa chớ coi thường. Trông bề ngoài thì thế chứ ma quỷ cũng phải n lão.


Trong quán.


Người đàn ông uống rượu với đĩa lạc rang. Mặt ông vô cảm. Có lúc nâng chén rượu lên quên cả uống. Ông bỗng giật mình khi thấy có người tới. Nhưng người tới là cô bé bán vé số mà chúng ta vừa gặp.


- Bác mua giúp con chiếc vé số biết đâu vận may tới. Cô bé vừa nói vừa liếc nhìn chiếc ba lô. Người đàn ông theo cảm tính ôm chặt chiếc túi.


- Ừ, cháu cho bác mấy vé.


Người đàn ông lấy mấy vé. Điều làm ta chú ý là ông dùng một tay móc ví lấy tiền, còn tay kia vẫn giữ chặt chiếc ba lô.


Bỗng bên ngoài có tiếng la hét - Bắt lấy nó. Bắt thằng ăn cắp. Nó dựt mất túi tiền của tôi rồi bà con ơi ! Người hai bên đường đổ ra chạy theo kẻ cắp. Những người trong quán tò mò ra cửa xem. Người đàn ông đứng dậy định bước ra cửa. Vừa lúc đó nhanh như cắt, cô bé giật cái ba lô rồi quẳng cho chú bé đánh giày lúc nào cũng ngấp nghé phía cửa hông. Chú bé chộp cái ba lô chạy biến lẩn vào đám đông đang nhốn nháo.


Người đàn ông kêu thét lên : Chúng nó giật mất cái túi của tôi rồi. Bà con ơi, giúp tôi với. Vừa la ông vừa chạy theo bóng hai đứa bé đang chuyền túi cho nhau để đánh lạc hướng. Nhưng còn xơi ông mới đuổi kịp. Hai đứa bé cùng chiếc túi mất hút trong bóng hoàng hôn


Trong quán. Các khách ăn trở lại bàn của mình. Riêng bàn ăn của người đàn ông trống trơn. Đĩa thức ăn còn dang dở trên bàn với cái xà cột.


Ai đó - Tội nghiệp ông bác. Chúng nó chẳng tha một ai cả. Chắc cái túi phải đựng vật gì qúy.


Có tiếng cười: Các vị lầm rồi. Cái túi rỗng. Tôi cho là cùng một cánh. Chúng nó giải thoát cho lão ta, không trả tiền bữa nhậu.


- Đừng nói phải tội. Cái xà cột bác ấy còn trên bàn kìa. Này bà chủ, có mặt anh


em đây, bà cứ mở cái xà cột ra xem trong đó có thứ gì đáng giá không.


Chủ quán mở xà cột, bên trong có bộ quần áo cũ. Các vật dụng đi đường, khăn mặt, bàn chải đánh răng, vài tờ báo cũ. Hầu hết đều dính đất đỏ.


- Thấy chưa. Tôi nói có sai đâu. Lão ta sẽ không trở lại.


Tại một góc tối vắng trong thị trấn. Bọn trẻ lúc chiều xúm quanh cô bé với chiếc túi vải vừa giật được.


- Tớ chạy mệt đứt cả hơi. Cô bé vừa nói vừa thả chiếc túi xuống đất. Gã đầu đàn hét lên.


- Mày làm thế vỡ hết mẹ nó rồi. Tiền tỷ đấy cô ngốc ạ.


Chúng xúm lại loay hoay mãi mới mở được dây buộc, miệng túi banh ra. Bên trong lổn nhổn những gói dài ngắn khác nhau. Tất cả đều được bọc bằng giấy báo, giấy xi măng rất kỹ, có dây ràng buộc chung quanh, dây và giấy dính đầy đất đỏ.


Cả bọn nín thở hồi hộp.


- Tớ nói có sai đâu. A ha. Tụi mình đổi đời rồi. Phải toàn là lọ quý cả mới gói kỹ thế này.


Hắn lấy một gói, cẩn thận tháo dây buộc và mở các lớp giấy. Mọi cặp mắt đổ dồn vào bàn tay hắn. Gã bỗng hét lên.


- Mẹ kiếp ! Xương chúng mày à. Hắn dơ khúc xương cho cả bọn xem rồi ném


xuống đất.


- Hãy mở cái khác ra xem. Biết đâu đấy.


Rồi những gói khác cũng được mở ra. Nhưng cũng toàn là xương cả.


- Chẳng lẽ lão buôn xương à.


- Nhưng nếu là xương ...hổ thì sao. Ai đó rụt rè nói. Một bộ xương hổ phải mấy chục triệu.


- Nhưng lấy gì làm bằng cớ để biết đó là xương hổ.


- Cứ xem khắc biết. Hổ phải có đuôi không đuôi đếch ai tin. Con bé nói. Chúng


mở thêm các bọc khác và tất cả hoảng hét lên bỏ chạy. Cả bọn vừa trông thấy một cáí đầu lâu ... người hiện ra nhe răng như dọa chúng.


Sáng hôm sau. Trong quán bà Huế. Người đàn ông trở lại quán, mặt mũi bơ phờ, mắt đỏ hoe. Đêm qua bác không ngủ


Kìa bác, vậy là mất cái túi rồi.


Tôi xin lỗi hôm qua không kịp thanh toán tiền.


Ôi dào bác quá lo, chẳng đáng bao nhiêu.


Người đàn ông lắc đầu, bà cho tôi chút rượu. Một lát, quán bà có chỗ trọ đêm không ạ.


Có bác ạ. Nhưng không được tiện nghi lắm. Cho mấy chú lái xe đường dài nghỉ đêm mà.


Tôi quen ngủ rừng rồi.


Bác định trọ đêm nay ạ.


Chắc hơi lâu. Chừng nào tìm được cái túi ...


Bác trọ bao lâu cũng được. Tôi chỉ lấy công dịch vụ, giúp bác. Nhưng nói thiệt bác đừng buồn. Cái túi đã trong tay bọn trẻ bụi đời đó thì coi như tiêu rồi. Nhưng tôi hỏi có khi không phải. Trong túi có vật chi quý không ạ?


Khó nói quá bà ạ. Không phải vàng bạc châu báu hay đồ cổ nhưng không có nó thì không trở về quê được bà ạ.


Ngoài đường. Chị dọn vệ sinh đang gom rác, nhác thấy cái túi bèn ghé mắt xem, bĩu môi, cầm chiếc túi ném vô xe rác rồi đẩy đi.


Tại một địa điểm khác, một chiếc ô tô gom rác chở tới một bãi rác khá xa thị trấn. Trên chiếc xe người ta thấy có chiếc túi của bác già nọ.


Hầu như ngày nào người đàn ông cũng ra đường, ông đi vào các ngõ ngách. Thấy chỗ nào có bọn trẻ, ông cũng vội vàng chạy lại, nhưng hình như chúng nó bảo nhau, hễ thấy ông là ln tránh. Một điều ông không biết, trong khi ông xục xạo tìm cô bé thì ở một góc khuất cô bé không ngừng theo dõi ông. Cứ như trò ú tim.


Cho tới một buổi chiều, ông về muộn hơn mọi hôm, gọi rượu ngồi uống. Có lúc chén rượu đưa lên môi rồi cứ dừng lại. Cho tới lúc chén rượu nghiêng đổ mà ông vẫn không hay.


Ngoài cửa cô bé bán vé số ngấp nghé một lát rồi rụt rè bước tới bàn ông. Nó lễ phép nói:


- Bác tha lỗi cho cháu. Chính cháu là con bé lấy chiếc túi của bác hôm nọ.


Người đàn ông đứng phắt dậy, mắt ngời sáng.


- Vậy là ông trời thương bác còn cho cháu tới gặp bác. Cháu cho bác xin lại cái túi.


Con bé hơi hoảng trước thái độ mừng rỡ của người đàn ông.


- ... Nhưng trong túi bác có phái là xương ... hổ không ạ.


- Không ! xương ... người cháu ạ. Xương đồng đội của bác. Đi. Bác đi với cháu


tới chỗ cháu cất cái túi.


Con bé òa khóc vụt chạy đi. Người đàn ông cố đuổi theo, khoảng cách 2 người cứ xa dần cho tới lúc người đàn ông đứng một mình giữa cồn cát heo hút...


Bãi rác ngoại ô thị trấn X. Cũng như mọi bãi rác ở các nơi khác, lổn nha lổn nhổn mọi thứ người ta vứt đi. Một số người sống bám vào đó. Có cả chó hoang, mèo hoang. Con chuột thì khỏi nói. Một túp lều nhỏ bằng cọc tre lợp các miếng nilon, lá chuối và giấy báo.


Khuya. Mưa lác đác. Mảnh trăng hạ tuần rọi chút ánh sáng yếu ớt vào lều. Hai đứa bé, một trai, một gái đang nằm ngủ trên mảnh chiếu rách. Đó là hai đứa bé chúng ta đã gặp. Một đứa bỗng giật thốt.


Tiếng đứa bé gái :


- Mày làm cái gì thế.


- Chuột. Một con chuột thiệt to vừa chạy qua người tao.


- Có to bằng con heo cũng không phải s đến thế. Đồ con trai mà hèn.


- Ừ, mày không hèn, sao không dám ngủ một mình?


- ... Có thêm mày bớt sợ. Thôi ngủ đi đồ ông mảnh. Sáng mai còn tiếp tục kiếm.


- Mày định đóng ở đây bao lâu nữa.


- Bao giờ tìm thấy được cái túi.


- Nếu không tìm thấy thì sao?


- Thị trấn chỉ có mỗi bãi rác này. Tao đã hỏi cô gom rác, cô bảo có thấy một cái


túi toàn xương và xe rác đã đổ ở đây.


- Nếu có ở đây sao tìm mấy ngày rồi không thấy?


- Không thấy mới phải tìm ông mảnh ạ.


- Tối mai lại tiếp tục ngủ ở đây à?


-...Ừ. Mày Sợ à?


-… Không ... nhưng tao ngán ... chuột lắm.


- Vậy mày về nhà bú tí mẹ ... Mặc tao.


- Mày là con gái sao lỳ thế.


- Tao đã hứa sẽ trả lại cái túi cho bác ấy. Mày không biết chứ tao đã rình bác ấy


bắt gặp bác ấy vừa uống rượu vừa khóc. Mẹ tao bảo, nhìn đàn ông khóc đến đá cũng phải vụn ra.


- Mày bảo ... bác ấy khóc bộ xương à?


- Không phải bộ xương thường. Xương đồng đội bác ấy. Có một hôm bác ấy k


cho tao nghe ...


Trong quán. Người đàn ông và cô bé.


Cháu hứa với bác cháu sẽ tìm bằng được cái túi. Bác không giận không đánh


cháu chứ?


- Lỗi tại các bác, các chú. Đánh giặc xong, đất nước bình yên rồi mà còn để các


cháu nghèo khổ.


Cô bé lấy giấy ăn trên bàn lau nước mắt cho người đàn ông. Bác biết không, bố cháu cũng là liệt sĩ. Trong nhà mẹ cháu cũng có ảnh thờ bố cháu đấy. À, bác có thể nghĩ có chuyện này không? Biết chừng đâu bộ xương đồng đội là của bố cháu. Có một hôm một chú tới thăm gia đình cháu kể chuyện bố cháu đã ở lại chặn quân địch cho các bác rút lui và bố cháu đã hy sinh. Chú ấy bảo trận đánh xảy ra ở một ngôi làng ven đô. Tới nay xương cốt bố cháu vẫn chưa tìm thấy để đưa vô nghĩa trang hoặc về quê.


Người đàn ông nhìn cô bé với ánh mắt đầy thương cảm. Ông chợt nghĩ hay bộ xương ấy chính là... Nhưng ông không nói. Một lát, ông nói - Ừ ... Những chuyện như thế này trong chiến tranh hồi đó xảy ra không ít.


Ông lim lim mắt nhớ lạỉ chuyện cách đây mấy chục năm, ngày đó trong một cuộc hành quân của đơn vị, bất đồ lúc băng qua cánh rừng đơn vị gặp một toán phục kích của địch. Phía địch đông gấp bội và hỏa lực cũng mạnh hơn. Sau mười phút giao chiến, một chiến sĩ từ phía dưới trườn tới người đội trưởng :


“Báo cáo, nếu tiếp tục chiến đấu, đơn vị sẽ hy sinh hết. Tôi lo chiến dịch sẽ không hoàn thành’’


Đội trưởng :


- Tôi hiểu. Đồng chí có ý kiến gì hay?


- Tôi xin ở lại đánh chặn địch để bảo toàn đơn vị rút lui.


- Nhưng ... đồng chí ...


- Chiến dịch rất quan trọng. Cho tôi được góp phần của mình


Pháo địch bắt đầu áp đảo.


- Báo cáo, người chiến sĩ cố gắng thuyết phục thủ trưởng của mình. Nếu chậm, đơn vị chắc chắn sẽ nguy mất. Đề nghị thủ trưởng ra lệnh ngay.


Đội trưởng dẫn đơn vị vừa đánh vừa rút lui. Còn người chiến sĩ dựa vào gốc cổ thụ bắn giữ địch. Đạn pháo nổ ùng oàng cấp tập quanh gốc cây.


Chiều tối khi tiếng súng đã lặng im, đội trưởng tìm tới chỗ giao chiến lúc chiều thì quang cảnh đã khác trước. Đạn pháo địch cày xới nham nh mặt đất. Cây cối cháy rụi. Tìm mãi một lúc đội trưởng mới tìm ra được xác người chiến sĩ của mình. Anh chết trong tư thế tay vẫn ôm súng. Cả người đầy thương tích. Đội trưởng vuốt mắt anh rồi cùng vài người nữa hì hục đào một cái huyệt cạnh gốc cổ thụ, đặt xác người chiến sĩ xuống. Sau khi phủ kín đất, anh đánh dấu, rồi quỳ cạnh mộ.


Đội trưởng nói:


- Sau này yên ổn, nếu còn sống chúng tôi nguyện sẽ tới đưa đồng chí về quê yên nghỉ.


Họ trồng trước mộ người chiến sĩ một gốc mai vàng còn sót lại bên kia suối. Hơn 10 năm sau người đội trưởng - tức người đàn ông, nhân vật trong câu chuyện của chúng ta, một mình trở lại trận địa xưa. Quang cảnh bây giờ khó nhận ra. Mặt đất đá lổn nhổn như trên mặt trăng dạo nọ nay đã phủ kín cây rừng. Cây cổ thụ bị bom đánh bật gốc cắt ngang thân đã tua tủa những chồi non. Ông tìm ra ngôi mộ người đồng chí của mình nhờ cây mai già. Một mùa hoa nữa sắp tàn. Ông thắp nén hương cắm lên mộ rồi bắt đầu đào ngôi mộ ...


Thế mà giờ đây khi mọi việc đã xong, lời hứa năm xưa sắp thực hiện thì chiếc túi bị mất không tìm lại được. Những giọt nước mắt lăn chậm trên đôi gò má khô, hốc hác


Con bé hoảng hốt: Bác, có phải vừa rồi bác nghĩ tới người đồng đội năm xưa của bác không?


Ừ, bác nghĩ tới ba cháu và bao nhiêu đồng đội khác. Ông ôm cô bé vào lòng.


Ôi, chiến tranh thật là khủng khiếp, tàn nhẫn. Dẫu bên nào thắng người dân vẫn là kẻ thua. Hình như có nhà thơ nào đó đã viết như vậy.


Trở lại túp lều trong bãi rác. Con bé thắp nén hương cắm lên bình tro rồi lâm râm khấn.


- Mày cúng ai ở bãi rác này? Thằng bé hỏi.


- Tao khấn bác ấy về chỉ đường cho tụi mình tìm lại cái túi.


Chú bé quỳ xuống cạnh bạn.


Hai đứa bé ngoài bãi rác. Chúng lang thang đào bới từ đầu này tới đầu kia.


Mặt đầy vẻ vô vọng.


- Tao mệt quá rồi. Thằng bé nói.


- Gắng một tẹo nữa. Biết chừng đâu trời sẽ giúp mình.


- Mày tin có ma không? Thằng bé bất ngờ hỏi.


- Phải hỏi người lớn chớ, tụi mình sao biết được.


- Tao ... e là không có. Nếu có, bác ấy - ý tao muốn nói là bác có bộ xương đó - sẽ chỉ chỗ cho chúng mình từ lâu rồi.


- Nghĩ vớ vẩn. Nhanh tay nhanh chân lên ông mảnh ạ.


- Cả hai lại tiếp tục lúi húi đào bới. Từ xa đi tới bà ve chai đồng nát.


- Tụi bây tìm kiếm cái gì mà mấy ngày nay cứ lởn vởn ở đây. Hết ch để


chơi rồi à?


- Tụi cháu đi tìm cái túi. Bà có trông thấy một cái ba lô đã cũ màu xám không ạ?


- Có phải bên trong toàn xương là xương?


Hai đứa trẻ hét lên :


- Đúng rồi. Bà ơi ! Trời sai bà xuống cứu tụi con.


- Để tao xem thử còn không? Eo ôi. Khiếp. Đổ ra toàn là xương. Đếch biết


xương gì, Tao chỉ lấy cái túi thôi. Cái túi giặt sạch còn dùng tạm. Lát nữa về nhà tao trả lại cho. Quý báu gì cái túi đó mà phải vất vả tìm.


Bọn trẻ thất vọng.


- Không, cái mà tụi cháu tìm là ... xương bà ạ.


- Tụi bây định bán cho ai? Nếu là xương hổ chẳng phải tới tay bọn bay. Mèn ra


cũng phải xương khỉ xương hươu người ta mới mua các cháu à.


- ... Bà đổ xương ở đâu ạ?


Người đàn bà dẫn hai đứa bé đi vòng vèo một hồi rồi chỉ vào một hố rác.


- Tao nhớ là đổ ra đây. Đúng, chỗ này đây. Nhưng quái, nó biến đi đâu hết, chỉ


còn giấy gói xương thôi.


Hai đứa bé ngồi xuống trước đống giấy báo, giấy xi măng nhàu nát. Con bé lượm từng mẩu giấy gói lên ôm vô ngực, Qua làn nước mắt nó bỗng thấy một khúc xương nằm lẫn trong rác, một khúc xương còn bọc giấy gói.


Người đàn bà nói:


- Vậy là tụi chó hay mèo hoang đã tha đi. Các cháu cứ ngồi rình ở đây thế nào


chúng nó cũng trở lại. Chúng không ăn ngay đâu mà thường dấu ở một chỗ kín khác để dành. Còn cái túi cứ tới nhà bà cửa để trống.Cứ vô mà lấy.


Ngồi tránh nắng nóng dưới một bụi cây dại mọc trên bãi rác, hai đứa bé kiên nhẫn chờ từ sáng cho tới xế chiều, thỉnh thoảng có vài con chó hay mèo hoang đi qua. Nhưng không con nào lại gần đống giấy gói xương. Con bé coi chừng mệt quá, gục xuống vai thằng bé ngủ. Nó mơ thấy mẹ đang ngồi lắp những khúc xương lại với nhau thành hình người. Bộ xương biến thành người đàn ông mặc quân phục dẫn mẹ con nó đi chơi. Một người đàn ông khác to lớn bỗng tới gạt ba nó và nó ra, dẫn mẹ nó đi. Anh lính ngã xuống biến thành bộ xương, còn nó thì khóc thét lên.


- Mày làm cái gì thế? Con gì cắn à?


- Không, tao vừa mơ thấy bố mẹ và ông dượng tao.


- Ông ta đánh mày à?


- Đó là chuyện trước kia. Còn từ lúc tao bỏ nhà đi thì không gặp mẹ tao nữa.


- Vậy sao vừa rồi mày lại khóc thét lên.


- Tao vừa mơ ...


- Đúng là chuyện tầm phào. Nó bỗng lôi con bé đứng phắt dậy. Cả hai đứa nhìn


về phía có khúc xương và đống giấy vụn. Một con chó đang lại gần khúc xương. Con chó ngoạm khúc xương rồi lừ lừ đi tới một cái hốc khác trong bãi rác. Ở đó có bụi cây rậm rạp. Con chó tha khúc xương vô bụi một lúc rồi trở ra. Đợi con chó đi xa, hai đứa bé len lén chạy tới bụi cây. Trong hốc, trước mắt chúng nó lộ ra một đống xương. Con bé ngồi thụp xuống ôm đống xương. Nó mừng quá bật khóc.


Ở bến xe khách thị trấn. Người đàn ông quàng chiếc ba lô sau lưng, một tay xách cái tủi vải, còn tay kia nắm tay cô bé. Cô bé lúc này được tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc tinh tươm. Cậu bé đánh giày ôm chồng báo đứng một bên :


- Cậu đi với bác ấy thiệt à?


- Ừ, bác ấy đã tìm gặp mẹ tớ rồi. Mẹ tớ đồng ý cho bác ấy nhận tớ làm con nuôi.


- Đi xa có nhớ tụi này không?


- Nhớ chớ. Còn nhớ nhiều hơn là khác. Thôi đừng nói nữa, tao sắp khóc bây giờ, lại khổ bác ấy lo.


Xe sắp chuyển bánh. Hai bác cháu vội vàng bước lên xe. Xe chạy. Hai bác cháu thò tay ra cửa kính vẫy chào những đứa trẻ bụi đời của cô bé ra tiễn. Những cánh tay đen đủi gầy guộc vẫy vẫy, có đứa dụi mắt.


 


Xe chạy qua những cồn cát. Những rặng phi lao oằn mình như mãi mãi mang một gánh nặng trên lưng.


Cô bé đỡ lấy cái ba lô trên tay người đàn ông :


- Bác đưa cháu. Lần này thì bác không sợ mất nữa đâu. Nó nói vẻ ngượng ngùng.


            Người đàn ông lặng lẽ cười rồi vuốt nhẹ mái tóc cô bé. Rồi ông lẩm bẩm như nói với mình.


- Đời lạ lùng thật. Nếu không mất chiếc ba lô thì có lẽ cả đời bác không được gặp cháu.


Cô bé ngước lên nhìn không hiểu bác ấy nói gì. Nhưng có một điều nó biết chắc chắn mấy ngày nay chưa lúc nào nó thấy bác ấy vui như vậy. 


*Dựa theo ý Trần Biên.
2.
Huyền Thoại Về Cuộc Truy Tìm Những Câu Chuyện Cổ Bị Mất Tích


Đúng là có những  chuyện cổ bị mất tích. Sau đó khá lâu người ta tìm thấy lại được. Nhưng lại ở một nơi rất xa không ai có thể ngờ tới được. Có điều không hiểu có phải chính là những chuyện cổ bị lạc mất đó không? Vì thế mới xảy ra câu chuyện khá li kỳ này.


Cách đây trên hơn một thế kỷ ở nước Ba Tư cổ kính, quê hương của nghề dệt thảm nổi tiếng và của những câu chuyện cổ làm mê lòng người. ‘Nghìn lẻ một đêm’ được thế giới truyền tụng cũng từ xứ sở đó mà ra. Bấy giờ là một buổi sáng, bầu trời kinh đô u ám lạ thường. Cơn bão dứt đã mấy hôm rồi, mà lòng Đức vua vẫn chưa nguôi nỗi phiền muộn và lo lắng. Ngài đi đi lại lại trong căn phòng được thiết kế cực kì mỹ lệ. Bốn bức tường và sàn nhà đều được trang trí bằng những tấm thảm đẹp nhất Ba Tư. Nhưng ngài không nhìn thấy gì hết. Chốc chốc lại nhìn ra tấm cửa kính mờ đục, mặt buồn rười rượi. Mọi người đều biết cơn bão vừa qua đã ảnh hưởng tới tâm trí Hoàng thượng Ngài đang đau đáu suốt ngày đêm chờ đoàn thương thuyền trở về. Đoàn thuyền chở gấm vóc, hay là bạc vàng châu báu? Không, trong kho báu của ngài không thiếu thứ gì cả. Ba Tư, đất nước ngài đang trị vì ở vị trí thuận lợi cho việc mua bán, lúc này lại đang vào thời thịnh vượng. Vậy thì có chuyện gì làm cho Đức vua thấp thỏm lo âu? Nếu nói điều này ra chắc không mấy ai tin. Nhưng quả đúng như thế thật. Đức vua đang chờ những tập truyện cổ tích. Đoàn thuyền có nhiệm vụ chở về cho ngài những cuốn truyện cổ được sưu tầm khắp trên đất nước rộng lớn của ngài. Đó là những câu chuyện cổ hay nhất, được các  nhà bác học chọn lọc và ghi chép cẩn thận trong những cuốn sách dày cộp, bìa bọc da, chữ mạ vàng rất đẹp. Phải nói Đức vua là người hâm mộ chuyện cổ hơn ai hết. Ngài có thể chi phí cả nửa ngân sách nhà nước cho công việc này. Đoàn thuyền cuối cùng sắp sửa cập bến. Vậy mà, trời đất chẳng chiều người. Tin dữ tới tấp bay về triều. Một cơn bão dữ dội xưa nay chưa từng có ngoài biển đã lật úp cả đoàn thuyền. Mấy nghìn cuốn sách chứa hàng vạn câu chuyện cổ hay nhất đã chìm nghĩm dưới đáy đại dương. Đức vua khụy xuống không thốt nên lời. Mãi hồi lâu tỉnh dậy ngài mới phán được một lời duy nhất: ‘bằng mọi giá phải vớt cho được tất cả các câu chuyện cổ không sót một trang nào!’


Triều đình huy động toàn bộ tất cả những gì có thể làm được và tập trung thêm quân, gấp rút tuyển mộ những đội lặn chuyên nghiệp, rao khắp các ghe thuyền đánh cá, thuyền vận tải đường sông đường biển ai vớt được sách cổ đem nộp sẽ được nhà nước trọng thưởng. Người nào có lòng tham tàng trữ sách quý sẽ bị khép tội tử hình.


Lệnh Đức vua ban ra, chỉ trong một thời gian ngắn, với sự nỗ lực của các quan, binh sĩ và dân chúng, số sách bị đắm hầu như vớt được gần hết. Một số trang chữ bị nước biển làm mờ đi thì đã có các nhà bác học đoán ra mà viết lại. Đức vua vui mừng không kể xiết. Người có cảm giác như vừa đánh thắng một trận giặc lớn. Xong tới lúc kiểm kê lại toàn bộ thì người ta thấy mất đi cuốn cuối cùng, mà theo các chuyên gia thì đó lại là cuốn gồm những chuyện hay nhất. Đâu phải chuyện ‘ con cá mất bao giờ cũng là con cá lớn’. Đức vua tin ở trình độ các chuyên gia của mình. Ngài buồn rười rượi. Thà mất tất cả số sách còn lại kia để có được cuốn bị mất tích đó! Nhưng dẫu đó là ý muốn của Vua chúa cũng không thể có được. Không! Đức vua bật tỉnh dậy. Vương quốc ngài không thiếu một thứ gì. Châu báu vàng bạc đầy kho. Thuyền bè như lá tre ngoài biển. Dân chúng, triều thần một lòng một dạ, tại sao cả nước lại không thể  tìm kiếm cho Đức vua cuốn sách bị mất kia. Dẫu có phải sàng cát dưới đáy biển hay phải moi hết ruột cá lớn, cá bé cũng phải tìm kiếm cho bằng được.


Cả nước lại nô nức, đổ xô ra đại dương. Nhà nông bỏ ruộng vườn. Các thương gia bán cửa hàng lấy tiền mộ phu, đóng tàu thuyền. Thợ sơn tràng bỏ rừng xuống biển. Chẳng mấy chốc mà đại dương ùn ùn trên bờ dưới nước, người và thuyền bè như lá tre. Người ta mò cuốn sách bằng mọi cách. Kẻ biết lặn thì lặn bộ dưới nước. Có kẻ chài bằng lưới. Những con cá lớn đánh bắt được đều bị moi ruột vì bị nghi là nuốt cuốn sách quí của Đức vua. Cá chết oan vô kể. Nhưng rốt cục tất cả vẫn như chuyện mò kim đáy bể. Cuốn sách không thấy tăm hơi. Đức vua tăng giải thưởng lên gấp đôi, gấp ba. Nhưng hi vọng tìm ra cuốn sách thì ngày một nguội dần..


Bỗng nhiên xảy ra một sự trùng hợp đến lạ lùng, bắt buộc người có thiện chí mấy cũng phải nghi ngờ. Lúc bấy giờ, nhằm vào lúc mọi người đang sục sạo tìm kiếm cuốn sách bị mất thì ở một vùng gần sát Bắc cực bỗng lan truyền những câu chuyện cổ hay lạ lùng. Có những câu chuyện được kể thấu tai Đức vua Ba Tư. Bản thân ngài cũng lấy làm lạ sao trên đời ngoài xứ sở của Đức vua ra lại có thể có những chuyện cổ hay đến thế, chưa bao giờ Đức vua được nghe Lẽ đương nhiên một câu hỏi được đặt ra: Những câu chuyện cổ này có phải từ trong cuốn sách bị mất tích mà cả nước Ba Tư đang tìm kiếm một cách hoài công kia không?


Một hội đồng gồm các vị đại thần và các vị hàn lâm được cử ra để xem xét trường hợp có sự ngẫu nhiên này. Sau một thời gian làm việc, người ta đi đến kết luận.


- Căn cứ vào các câu chuyện được nghe kể lại đó, vì nội dung và mức độ hay của nó có thể nghi ngờ nó có nguồn gốc từ trong cuốn sách bị mất tích kia. Dưới thế gian này không thể nào có hai cuốn sách hay đến như vậy.


Vậy phải có một kẻ nào đó lấy cắp cuốn sách quí của Đức vua. ‘Cái gì của Đức vua sẽ trả về cho Đức vua!’ ( trong bản báo cáo để trình lên Đức vua người ta viết nguyên văn câu này) Họ mượn câu nói nổi tiếng ‘ Cái gì của Xêza sẽ trở lại cho XêZa’


Song cũng có người nhiêu khê đặt ngược câu hỏi: Làm sao mà cả nước Ba Tư (từ quan tới dân) bỏ ra bao nhiêu công của tưởng chừng có thể tát cạn cả một vùng biển lớn không tìm được cuốn sách bị mất kia mà một người dân thường ở một xứ sở xa xôi tận Bắc Cực lại tìm thấy? Tất nhiên Hội đồng có đủ lí lẽ để trả lời: Có thể có một con cá nào đó đã nuốt tươi cuốn sách, và từ biển Ba Tư con cá di cư tới vùng cận Bắc Cực (còn con cá di cư như thế nào thì các nhà bác học không giải thích. Đời lắm chuyện lạ lùng, không ai lường được) Chẳng hạn có một cơn lốc, hoặc giả có một người đánh cá nào đó vớt được bán cho người khác với một cái giá cao hơn nhiều lần số tiền thưởng của Đức vua… Còn có thể kể thêm ra một số khả năng nữa. Nhưng dẫu bằng cách nào thì cuối cùng cuốn sách bị mất tích đã hai năm rõ mười hiện đang ở một xó xỉnh nào đó ở một nước gần Bắc Cực.


Vấn đề bây giờ là lần theo dấu vết tìm đến tận nơi, hoặc đòi hay xin chuộc lại bất cứ giá nào. Biện pháp này được Đức vua chuẩn y ngay. Một đoàn người ngựa lên đường, bất kể ngày đêm… Tất nhiên có người nghĩ đây chỉ là việc mò kim… trên cạn. Nó cũng khá hư vô. Nhưng dẫu sao so với cuộc tìm kiếm vừa rồi dưới đáy bể ít tốn kém hơn…


Một phái đoàn gồm ba người, một quan đại thần, một vị hàn lâm và một viên thư kí, ngoài ra không kể số tùy tùng đi theo khoảng chục người.Con đường trực chỉ của họ là nhằm phương Bắc đi tới. Họ có thể sử dụng mọi phương tiện mà thời bấy giờ có thể. Ngựa, xe ngựa, thuyền bè và xe lửa (chỉ mới có lẻ tẻ ở một vài nơi) với mục đích là phải tới nơi tình nghi đang tàng trữ cuốn sách một cách nhanh nhất. Đoàn người đi hối hả. Ta khó có thể kể lại những gì đã xảy ra trên các chặng đường phái đoàn của Đức vua trải qua. Tốt nhất là hãy đọc lại các tờ trình của viên Đại thần hàng tuần gửi về triều đình và những trang ghi chép của vị Hàn lâm để lúc cần Đức vua có thể xem tới. Từ đó các bạn sẽ hình dung ra cuộc truy tìm rắc rối này. Tất nhiên mấy chục tờ trình và cuốn ghi chép nói trên chúng tôi chỉ trích các đoạn thấy cần thiết, liên quan trực tiếp tới cuộc truy tìm.


Về Những Tờ Trình Của Quan Đại Thần Và


Những Trang Ghi Chép Của Vị Hàn Lâm


Lẽ ra sẽ có đôi lời về những đặc điểm tính cách của hai vị dứng đầu phái đoàn nhưng e sẽ làm phiền lòng độc giả đang nóng lòng chờ xem kết quả cuộc truy tìm sẽ ra sao. Kẻ nào đã lấy cắp cuốn sách quý của Đức vua Ba Tư. Còn tính cách của viên quan Đại thần và vị Hàn lâm thì bạn đọc sẽ tìm thấy trong cuốn nhật ký đường dài của viên thư ký có bổn phận ghi chép trung thực những chuyện xảy ra dọc đường, để sau này về nước Đức vua có lúc cần tới.


Chúng tôi cũng không thể kể lể dông dài về cuộc hành trình vạn dặm đầy gian khổ của họ từ vùng sa mạc cát nóng Châu Phi cho tới vùng cận Bắc cực quanh năm băng giá .


Sau đây là nội dung các tờ trình.


Tờ Trình Số 25


Kính thưa Đức vua tôn kính.


Những tờ trình trước chúng thần đã kể cho Đức vua con đường chúng thần đã trải qua sau bao nhiêu tháng trời, ngày quên ăn đêm quên ngủ để tiếp cận tới kho báu của Đức vua. Và cho tới hôm nay, đã sang ngày thứ 60 của cuộc hành trình. Chúng thần có thể xin vui mừng báo tin là chúng thần đã sắp sờ được gáy kẻ gian phi rồi. Đấy là nhờ có Đức thánh Ala phù hộ và nhờ ân điển của Bệ hạ. Trước lúc tiếp cận được người đang tàng trữ báu vật của Đức vua đó cho phép chúng thần được nói qua nơi ăn chốn ở của người đó hay nói rộng hơn, quê hương nơi đã sinh ra nỗi phiền muộn cho Đức vua. Hắn ở Odenxe, đó là một thung lũng giữa đồi núi. Một vùng quê hẻo lánh, cách xa Thủ đô Copenhage hàng vạn dặm! Chắc điều chúng thần sắp nói sau đây sẽ làm Đức vua kinh ngạc là gia cảnh hắn ta nghèo quá.Với cơ ngơi này bố mẹ và hắn ta chỉ đủ tiền ngày 2 bữa bánh mì chứ đừng nói tới chuyện hắn dám bỏ một số tiền lớn ra mua bộ sách quý đó.


Năm 1816 cha qua đời, hắn tự mình kiếm sống. Ban đầu học dệt vải, làm thợ may. Thấy chẳng ăn thua ít lâu sau đó hắn vào làm nhà máy thuốc lá. Năm Mười bốn tuổi chuyển lên Côpenhage làm diễn viên trong các nhà hát, không may sau đó bị vỡ giọng, kết thúc sự nghiệp sân khấu hắn chuyển sang làm thơ viết văn. Chúng thần cũng chưa có thì giờ tìm đọc thơ văn của hắn vì nghĩ với một kẻ làm đủ mọi nghề hạ tiện không thể tạo nên những áng thơ văn đáng đọc. Để khỏi mất nhiều thì giờ của Đức vua chúng thần đi ngay vào cuộc truy hỏi những câu chuyện cổ tích hắn đang lưu giữ. Bằng cách nào hắn có được. Cần phải nói ngay một điều khá lạ kỳ. Số lượng những câu chuyện cổ mà mọi người xa gần quanh đây nghe được do chính miệng hắn kể hoặc đọc từ những trang sách hắn in ra thì nhiều phải đến mấy chục lần cuốn sách của Đức vua bị mất. Thần cho rằng cuốn sách của Đức vua trên đường lưu lạc tới đây thì chúng bỗng dưng phình ra, nở ra như… bụng người đàn bà chửa. Cầu xin Đức vua tha tội, chúng thần không biết dùng hình ảnh nào đúng hơn để ví von. Song có một điều may mắn Bệ hạ chắc không phải tốn nhiều tiền của để chuộc hoặc mua lại. Chúng thần tin rằng chẳng còn bao lâu nữa chúng thần sẽ có mặt trước bệ rồng với tập sách quý và sẽ nhận được nụ cười mãn nguyện của Đức vua mà chúng thần coi đó là phần thưởng vô cùng lớn lao đối với cuộc hành trình đầy gian khổ…’


… Tờ trình còn dài nhưng chúng tôi chỉ trích bấy nhiêu để các bạn còn thì giờ đọc những trang ghi chép của vị hàn lâm:


‘… Đúng là đồ bị thịt. Tại sao hắn lại dám đem cái bụng chửa xấu xí của người đàn bà bày trước mắt Đức vua tôn kính. Tại sao hắn không nghe ta nên viết là những câu chuyện hắn  kể càng về sau cứ như dòng sông càng dài và rộng ra thêm trước lúc đổ ra biển. Như thế có phải là lịch sự, văn chương hơn không? Ôi chao, cái đồ bị thịt.


Lại còn câu này nữa: Nụ cười mãn nguyện của Đức vua Thần coi là phần thưởng vô cùng quý giá trong lúc đó thì mắt hắn đau đáu nhìn đống tiền vàng của Đức vua ban thưởng .


Còn nhật ký của viên thư ký ta đọc thấy những dòng này:


‘ Tội nghiệp cho vị Hàn lâm: Ông ta không biết Đức vua của mình bằng quan Đại thần, lạy đức thánh Ala, hoàng thượng chắc chắn thích lối ví von của quan Đại thần hơn. Có thể ví dòng sông của vị Hàn lâm vào những dịp khác…


Đi với họ tuy mệt nhưng rất vui, nhiều lúc nghe họ cãi nhau tức cười muốn vỡ cả bụng…


Tờ trình số 34 (trích)


Cho tới giờ phút này chúng thần đã cặp sát nách hắn. Xin miễn cho chúng thần khỏi phải tả hình dung diện mạo của hắn vì như vậy chỉ làm bẩn mắt Thánh thượng. Chỉ xin nói ngắn gọn một câu: hắn xấu trai kinh khủng. Hắn cao lêu nghêu còn cái mũi của hắn thì thuộc loại…chọc trời nhưng lại hợp với khuôn mặt và khổ người của hắn. Về điều này thì chúng ta phải tạ ơn Đức thánh Ala đã tạo cho mảnh đất Ba tư của chúng ta những người đàn ông tuyệt vời.


Trước khi đi vào chi tiết công việc ‘hỏi cung’ hắn, cho phép chúng thần có thêm đôi lời về gia cảnh hắn. Cũng như mọi người, hắn có bố. Nhưng tội nghiệp bố hắn làm nghề khâu giày. Nhưng lại không được cái may mắn của người thợ khâu giày của Hoàng hậu Xeneret trong câu chuyện trứ danh ‘Nghìn lẻ một đêm’ có người con trai là Alađanh với cây đèn thần nổi tiếng.


… Để cho cuộc tiếp xúc có kết quả, chúng thần đã cùng nhau bàn bạc và đề ra các câu hỏi như sau:


              1: Anh kiếm ở đâu ra những câu chuyện cổ này?


              2: Cái giá của những câu chuyện cổ anh có được.


Trên đây là nội dung chính của những cuộc tiếp xúc sắp tới. Mỗi câu hỏi lớn sẽ có những câu hỏi phụ, cuối cùng chúng ta sẽ tìm ra được gốc gác các câu chuyện cổ bằng cách nào mà lạc vào xứ sở này, qua miệng và sách hắn in ra đi khắp vùng Bắc Âu… và cả thế giới.


Chúng thần sẽ xin gửi các tờ trình tiếp theo kết quả các buổi tiếp xúc. Xin chúc Thánh thượng an khang và chờ đón tin vui.


Sau đây là những đoạn trích nhật ký của viên thư ký trong các buổi làm việc giữa các vị đại diện của Đức vua Ba tư với người bị nghi tàng trữ các câu chuyện cổ Ba tư bị mất tích.


Cuộc tiếp xúc đầu tiên và …


Ban đầu chúng tôi dự định sẽ có hàng chục câu hỏi chính và hàng trăm các câu hỏi phụ. Đại loại về gia cảnh, dòng họ, tổ tiên, sở thích của ông ta. Nhưng một số các câu hỏi phụ đã được giải đáp qua các cuộc tìm hiểu của chúng tôi trước khi trực tiếp gặp đối tượng, nên số buổi tiếp xúc chắc chỉ mười lần là đủ. Chúng tôi tính mọi việc phải xong trước lúc mùa đông khủng khiếp Bắc cực ập tới.


Đối diện với ba chúng tôi là Andersen (tên gọi dầy đủ là Hans Christian Andersen) Sau đây là các câu hỏi của quan Đại thần và vị Hàn lâm và câu trả lời của đối tượng  bị nghi vấn.


Quan đại thần: Thưa ngài chúng tôi từ xa xôi vạn dặm lặn lội tới đây với mục đích duy nhất là tìm hiểu những câu chuyện cổ tích hiện có trong tay và trong nhà ngài. Nghe nói ngài có một kho tàng những câu chuyện cổ hay có một không hai.


Andersen (cười nhẹ) thưa các ngài, những câu chuyện cổ thì có thật nhưng sự thật không như các ngài nói cả một kho tàng và hay có một không hai. Không có một nhà văn nào dám tự xưng như thế. (Ở đây xin mở một ngoặc đơn, ông ta bề ngoài xấu trai nhưng nụ cười có duyên làm đắm lòng người). Sau khi nghe trả lời câu hỏi đầu tiên cả ba chúng tôi đều mừng thầm. Vâng, ít nhất là tìm được đúng kẻ cần tìm rồi. Còn chuyện nhiều hay ít, hay dở không đáng lo, vì có ai nói thật bao giờ trước người lạ mặt.


Sau đây là những câu hỏi tiếp theo.


Vị hàn lâm: Xin lỗi chúng tôi có tò mò một chút, làm sao ngài có trong tay một số lớn câu chuyện cổ hay đến thế, tuy không phải độc nhất vô nhị như ngài khiêm tốn nói.


Nhà văn có vẻ ngơ ngác.


- Tôi không hiểu… Ngài hỏi vậy là có ý thế nào ạ.


Quan đại thần:


- Thưa ngài, ý ông bạn tôi muốn biết ngài bằng cách nào mà có được trong tay một kho tàng, cứ cho tôi được nói như vậy những câu chuyện cổ hay đến vậy, ngài mua, hay ‘đào’ được.


Nhà văn hơi nhíu mày


- Thưa tôi không hiểu tại sao lại phải mua và phải đào. Mà làm sao lại có chuyện đào bới ở đây.


Vị Hàn lâm bèn giải thích.


- À… à chúng tôi dùng từ đào. Chẳng qua là chợt nhớ tới ở xứ tôi vừa rồi các thuyền chở các sách gồm những câu chuyện cổ sưu tầm được trong dân gian trên đường về gần tới kinh đô thì bị bão đánh đắm tất cả. Chúng tôi gần như phải tát cạn cả một vùng biển lớn để vớt lên những câu chuyện cổ, giống như một mỏ quặng một vĩa vàng phải đào bới mới có được.


Nhà văn cố nín cười rồi tươi tỉnh:


À ra thế. Nhưng tôi nói thật là chúng tôi chẳng phải bỏ tiền ra mua mà cũng không phải tát cạn Đại tây dương để có được những câu chuyện cổ như các ngài biết.


Mọi người hồi hộp vì cảm thấy đã đạt tới cái đích gần đến.


- Thế bằng cách nào ngài có được?


Nhà văn cười tế nhị, sau một chút suy nghĩ rồi nói.


- Thưa quý vị, tôi không phải mua, cũng không phải trao đổi hàng hóa như kiểu ngày xưa, cũng không phải đào bới như người ta đào mỏ mà cũng không phải tát cạn ao hồ hay đại dương. Nhà văn chỉ vô chiếc lọ nhỏ bằng nắm tay trên chiếc bàn gỗ sơ sài. Tôi lấy các câu chuyện cổ từ trong đấy ra ạ.


Cả ba chúng tôi ngạc nhiên:


- Ngài nói vậy là sao ạ. Chẳng lẽ cả kho chuyện cổ ngài vớt từ trong chiếc lọ bé xíu này ra à.


Nhà văn cười.


- Thì đúng là như vậy ạ. Chẳng biết xứ sở các ngài có những chiếc lọ như vậy không. Nước Đan Mạch chúng tôi gọi đó là lọ mực. Ngừng một lát cho các vị khách qua khỏi cơn bàng hoàng. Nhà văn vui vẻ nói tiếp: Có lúc đi du lịch, dừng lại ở một khách sạn, tôi lấy giấy bút ra viết, nửa chừng lọ hết mực, nửa đêm không đào đâu ra được mực để viết, thành thử có những câu chuyện cổ một phần hoặc nửa câu chuyện còn nằm ngủ dưới đáy lọ mực.


Cả ba chúng tôi nhìn nhau chưng hửng. Hóa ra câu chuyện đơn giản đến lạ lùng. Trong lúc Đức vua của ta gần như phải tát cạn biển đông để vớt những câu chuyện cổ. Còn ông ta, cái ông nhà văn gầy gò xấu xí ở xứ Đan Mạch xa xôi lạnh lẽo lấy những câu chuyện cổ từ trong lọ mực bé xíu trên chiếc bàn gỗ đơn sơ… đến khó hiểu.


- Cho tôi hỏi câu cuối cùng.Vị Hàn lâm nói. Ngài có thể cho biết để có một kho những chuyện cổ làm say đắm cả trẻ em người lớn đó ngài có phải đánh đổi điều gì không.


Quả câu hỏi có vẻ khó trả lời. Mãi một lát trầm ngâm nhà văn mới thốt lên được, giọng tâm sự. 


Thưa… nói là lấy các câu chuyện cổ từ trong lọ mực chỉ là một cách nói văn hoa, chứ để có được một câu chuyện hay là kết quả của những chuyến đi, của sự trải nghiệm cuộc sống, một cuộc vật lộn với chữ nghĩa…(*)


Cảm thấy không còn điều gì để hỏi nữa, đoàn cảm ơn chủ nhà rồi cáo từ ra về. kết thúc cuộc truy tìm những câu chuyện cổ bị mất tích. Cuộc tiếp xúc buổi đầu tiên hôm đó cũng là buổi cuối cùng.


An Viên - Nha Trang cuối tháng 5/ 2015


VB.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lan man chuyện bả (chó) - Đỗ Trường Leipzig 05.12.2017
Sau tiếng chuông chùa - Đỗ Trường Leipzig 05.12.2017
A lê! Gâu! Gâu! - Nguyễn Thị Anh Thư 24.11.2017
Tường Đôngkisốt - Nguyễn Thị Anh Thư 24.11.2017
Học phí làm người - Nguyễn Thị Anh Thư 24.11.2017
Có một đêm như thế - Phạm Thị Minh Thư 24.11.2017
Nước mắt “Hoa hậu làng” - Đỗ Xuân Thu 20.11.2017
Người đàn bà nghe nhạc đêm - Lưu Thị Mười 19.11.2017
Như vạt rêu ngoài suối - Kiều Duy Khánh 05.11.2017
Nhà số “100Big” - Y Mùi 17.10.2017
xem thêm »