tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20773874
Những bài báo
08.04.2017
Trịnh Bích Ngân
Quyển sách trên mộ ba tôi



“…Không thể nào trở thành cô giáo tốt, thầy thuốc giỏi, kiện tướng ưu tú, nghệ sĩ tài năng, nếu không biết lẽ phải, không có tình thương…Phải dạy người chưa biết chữ và dạy cả người có trình độ học vấn cao mà kém lòng nhân ái…” ( trích trang sách trên mộ ba tôi)


Một nén hương dâng cha


Ngày 10 tháng 3 âm lịch năm nay ( 2013) là đúng một năm ngày ba tôi vĩnh viễn ra đi. Ông ra đi, để lại cho má tôi, cho chị em tôi, cho bà con ruột thịt, cho những người yêu quý ông một nỗi đau và một khoảng trống quá lớn. Khoảng trống không cách nào bù đắp được. Dẫu biết, đời người là hữu hạn, không ai tránh khỏi quy luật sinh - lão - bệnh - tử nhưng khoảng trống thiếu hụt ấy khiến tôi cứ chênh vênh, day dứt.


Tờ di chúc và những giọt nước mắt


Trước khi ba tôi trở bệnh nặng, lúc cảm thấy sức khỏe yếu hơn, ông đã viết tờ “di chúc” hai trang giấy bằng tuồng chữ đều tăm tắp, rất đẹp. Ông nhắc lại cho chúng tôi nghe về những vất vả mà má tôi đã vượt qua và nuôi dạy bốn chị em tôi để ông dành trọn cuộc đời mình cho hoạt động Cách mạng. Ông viết: “Tội nghiệp má, suốt đời cực khổ vì chồng, vì con, đến từng tuổi này cũng chưa được thảnh thơi, sung sướng”. Về chị em chúng tôi: “Ba vui vì thấy các con đứa nào cũng học hành, lao động, công tác tốt, có lối sống trong sáng”. Về tài sản: “Tài sản quý giá ba để lại cho các con là tình thương và những quyển sách của ba”. Và về “hậu sự”, ông dặn: “Để má, các con, bà con và cơ quan đoàn thể đỡ phải tốn kém, ba muốn thân xác mình được hỏa thiêu”.


Tôi nhớ, khi đọc đến đoạn: “Ba muốn thân xác ba được hỏa thiêu” tôi đã buông rơi tờ di chúc, bật khóc, rồi nói: “Không, ba sửa di chúc lại đi. Hỏa thiêu nóng lắm, tụi con không chịu nổi đâu! Ba phải có một nơi chốn…”, tôi lại khóc, không nói tiếp được.


Có lẽ nước mắt của đứa con gái đầu lòng đã làm ba thay đổi ý định hỏa thiêu thân xác. Còn “nơi chốn” của ba, dĩ nhiên là đã được “dành phần” trang trọng ở nghĩa trang của tỉnh Cà Mau. Nhưng nếu ba “đi trước” thì ông sẽ nằm ở đó một mình, còn má tôi, sẽ phải “nằm” chỗ khác, lẻ loi. Mà ba thì muốn lúc nào cũng được ở bên cạnh má, ngay cả khi “về nơi chín suối”. Ông dí dỏm nói: “Cả đời ba sống cùng tập thể, sống vì tập thể; đến lúc thành người thiên cổ, tụi con đừng để ba má phải sống xa nhau”.


Câu nói của ông đã khiến má và chị em tôi thống nhất tìm mua một vuông đất ở Nghĩa trang Thành phố Cà Mau, một nghĩa trang tư nhân mới thành lập. Vì nghĩa trang mới, nên gia đình chúng tôi đã mua được một vuông đất đẹp nằm cạnh khuôn viên trồng cây trồng hoa nhìn ra một mặt hồ lung linh mây trời.


Những cảm xúc được ghi lại


Đám tang ba tôi, theo nhận xét của nhà văn Nguyễn Thanh, một trong những người quản lý kỳ cựu của Hội Văn học Nghệ thuật Bạc Liêu, Cà Mau, người có bài bút ký xúc động viết về ba tôi (bài “Nguyễn Hải Tùng - Sống và viết viết” đăng trên Tạp chí Nhà Văn) là: “Nhất xứ!”. “Nhất xứ” theo cách nói của ông nhà văn thâm trầm này không phải ở bề nổi đông đúc rình rang thường thấy mà chính là chiều sâu của tình người. Dù ba tôi chính thức nghỉ hưu hơn chục năm (ông mất lúc 79 tuổi) nhưng đám tang ông thật nhiều hoa và nước mắt. Nhiều người còn ghi vào quyển sổ lưu niệm “Nguyễn Hải Tùng - Còn lại tình yêu thương” những cảm xúc của mình. Khi lần giở và đọc từng trang với nhiều cung bậc cảm xúc, tôi hiểu thêm ba tôi.


Đạo diễn Trần Chí Kông (Đài Truyền hình TPHCM), người cùng đoàn văn nghệ sĩ TPHCM có mặt ngay sau khi ba tôi được tẩm liệm, viết: “ Bọn cháu đang dự định làm một bộ phim tài liệu “Văn nghệ kháng chiến” về những nghệ sĩ, những tác phẩm ra đời tại vùng đất Cà Mau. Đó là những bài văn, thơ, kịch, tranh, ảnh gắn với nông thôn, gắn với đồng bào đồng chí ruột thịt của mình. Chắc chắn trong phim ấy không thể thiếu tác giả Nguyễn Hải Tùng. Kịch bản chưa xong thì chú qua đời. Một cái lỗi chậm trễ của thế hệ tiếp theo. Kính mong chú tha thứ”. Nhà báo Ngọc Diễm, người viết kịch bản và lời bình cho bộ phim tài liệu “Nguyễn Hải Tùng, sâu nặng một tình yêu” (Đài Truyền hình Cà Mau), viết trong nước mắt: “Bốn lạy này con kính tiễn đưa chú về cõi vĩnh hằng. Con không biết nói gì hơn chỉ nguyện xứng đáng là người con, người học trò của chú!”.


Nhà báo Trần Thanh Phương, nguyên Phó Tổng biên tập Báo Đại Đoàn Kết, từ TPHCM về viếng ba tôi ngay trong đêm đầu ông mất, thốt lời: “Anh Út ơi, anh đã sống một cuộc đời trọn vẹn, anh không phải ân hận điều gì. Những người tốt như anh ngày nay không còn nhiều nữa!”.


Nhà báo Huỳnh Thanh Ân, Giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Sóc Trăng, lại nhớ: “Những ngày chiến tranh ác liệt, chú Út luôn quan tâm chăm sóc ân cần như một người cha giúp lớp con cháu vượt qua khó khăn và làm tốt công tác văn hóa văn nghệ”.


Nhà báo Nguyễn Kiên Hùng, nguyên Tổng Biên tập Báo Đất Mũi viết: “Chú đã tạo cho con niềm sống yêu nghệ thuật. Chú còn là chỗ dựa tinh thần, chở che khi con gặp những cơn “bão lòng”.


Nhà báo Đỗ Kiến Quốc, Giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình Cà Mau, viết: “Chú đã làm nên những viên gạch đầu tiên xây dựng Đài. Anh chị em Đài xin ghi nhận tấm lòng của chú!”.


Nhà báo Nguyễn Bé, Tổng Biên tập Báo Cà Mau, nhắc nhở: “Cháu là thằng Bé, nhỏ cùng sống với chú từ rừng tràm rừng đước Cà Mau tới miền Đông gian lao anh dũng. Chú ra đi nhưng hình ảnh và tình cảm mãi sống trong cháu”.


Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Khánh, một người bạn từ thời kháng chiến với ba tôi, ghi: “Những lần triển lãm ảnh em vắng anh, em thấy trống vắng và cô đơn vì vắng người anh đã dìu dắt, góp phần chấp cánh cho em…”. Tác giả Lê Duy Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam thì “đúc kết”: “Trong cuộc sống và trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, anh Út thường tự nguyện lùi lại phía sau, nhường chỗ cho các thế hệ nghệ sĩ. Anh chăm lo, dìu dắt, đào tạo tài năng sân khấu của miền Tây Nam Bộ… Không thể nào quên được anh, anh Út Nghệ, anh Út của chúng tôi!”.


Ông Võ Văn Dũng, Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu, viết: “Cán bộ và nhân dân Bạc Liêu, Cà Mau hay Minh Hải trước đây, khi nhắc đến đồng chí Út Nghệ, ai ai cũng biết, cũng thương, cũng kính. Bạn bè các tỉnh, biết Minh Hải, biết Cà Mau, Bạc Liêu cũng ở phần thông qua biết nghệ sĩ Nguyễn Hải Tùng. Riêng tôi, chú Út là thần tượng, người lãnh đạo tốt, người chú đáng kính”.


Ông Nguyễn Hoe, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh Minh Hải, một người em, người bạn gần gũi với ba tôi, trong thời gian ba tôi nằm một chỗ, cũng không nói được, ông là người đến thăm, động viên má tôi thường xuyên, đã viết bốn câu thơ: “Biết nói gì đây, anh Út ơi!. / “Ngày ấy đã lùi xa” lâu lắm rồi/ Nay chỉ còn là Tình ở lại/ Cuộc đời chỉ có thế mà thôi!” v.v… Còn nhiều, thật nhiều những cảm xúc thân thương, yêu quý, tiếc nuối được ghi lại mà trong khuôn khổ bài viết này tôi không thể ghi lại hết đựơc.


Quyển sách trên mộ ba tôi


Sau khi ba tôi được an táng, má tôi và chị em chúng tôi bắt tay vào việc xây dựng ngôi mộ cho ông. Em út tôi, Trịnh Hồng Khởi, đứa con được sinh ra đúng vào năm Mậu Thân, năm ba tôi bị thương nặng trong cuộc Tổng tấn công tại cửa ngõ Cà Mau, giờ là một sĩ quan hải quân, giành lấy phần việc tìm kiếm, chụp hình lại những ngôi mộ trang nhã, giản dị ở nghĩa trang TPHCM và cả trên mạng internet để cả nhà tham khảo, bàn bạc, lựa chọn, rồi tìm người thiết kế, chọn vật liệu, tìm người thi công… Và ý tưởng quán xuyến để chúng tôi cho thiết kế “ngôi nhà” của cha chúng tôi là, trọn đời ông dành hết tình yêu thương cho đời, cho người và cuộc đời ông chính là những trang sách. Và trên trang sách đó lưu lại tác phẩm của ông, di bút của ông.


Trong các tác phẩm của ông, chị em tôi chọn và trích một đoạn trong bài viết “Sống vì lẽ phải và tình thương!”, một bài viết mà cách nay gần 32 năm, ông đọc trong một hội nghị về văn hóa của tỉnh Minh Hải (tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu ngày nay); “Lẽ phải và tình thương”, cũng là tên một quyển sách được xuất bản nhiều lần của ba tôi. Bài viết đã tạo nên sức lan tỏa rộng lớn và có lẽ mãi còn nguyên giá trị:


“…Không thể nào trở thành cô giáo tốt, thầy thuốc giỏi, kiện tướng ưu tú, nghệ sĩ tài năng, nếu không biết lẽ phải, không có tình thương… Phải dạy người chưa biết chữ và dạy cả người có trình độ học vấn cao mà kém lòng nhân ái…” và trích bốn câu thơ trong bài thơ “Từ trái tim em” ông viết vào năm 1972 về nữ biệt động Hồ Thị Kỷ (bài thơ trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ độc giả, bài thơ đã đi vào nhạc, vào phim, vào điệu múa và được đưa vào chương trình dạy của một số trường phổ thông trung học của tỉnh Cà Mau): “…Từ trái tim em bừng tiếng nổ/ Cuối trời Tổ quốc lửa dâng cao/ Từ trái tim em nung thép đỏ/ Chảy vào mạch sống vạn đời sau!”.


Tôi nhớ, sau chuyến đi Trường Sa cùng anh chị em văn nghệ sĩ TPHCM, tôi trở về Cà Mau cúng 49 ngày của ba tôi. Khi ra đến nghĩa trang, nhìn thấy ngôi mộ ba tôi, bước chân tôi khựng lại, lòng nghèn nghẹn, miệng muốn thốt thành lời: “Đây đúng là ngôi nhà của ba, ba ơi!”.


“Ngôi nhà ba tôi”, ngôi nhà đầu tiên, cũng là ngôi nhà duy nhất và là ngôi nhà cuối cùng của riêng ông, hiện lên giữa trời, đất, gió, mây, thật trang nhã, thật giản dị. Toàn màu đen của đá, chỉ có quyển sách đang mở là màu trắng của trang giấy với những dòng chữ được ông viết bằng cả trái tim và di bút của ông. Chân dung ông được khắc, được cẩn vào đá cũng là những đường nét chìm khuất, như chính nhân cách khiêm nhường của ông, một người luôn “tự nguyện lùi về phía sau”; một nhân cách, một cuộc đời mà tôi, các em tôi, con cháu tôi, có lẽ đều thầm nhủ, phải nỗ lực thật nhiều, phải sống sao cho tử tế để hương linh người thanh thản nơi chín suối.


BN.


Lao động cuối tuần, 02/05/2013


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Họ Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 12.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »