tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20798513
04.04.2017
Thái Thành Đức Phổ
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và…



Một vài kỷ niệm nhân lần đầu tiên gặp tác giả của  Hà Nội Xưa và nay, cụ Bạch Diện Nguyễn Văn Cư.


- Sao cậu lại đi nhận cái đề tài này?


- Sao thế ạ? Cháu nghĩ đề tài luận văn nào nhà trường đưa ra yêu cầu sinh viên thực hiện cũng đều như nhau và cùng có chung mục đích là thử xem sinh viên đó khi ra trường có đủ khả năng nghiên cứu độc lập hay không thôi.


- Đã đành là thế. Nhưng đề tài của luận văn này thuộc loại văn học dân gian, chỉ dành cho những ai thực sự chịu khó mới có thể hoàn thành được. Thế mà tôi trông cậu thì…


Nói đến đấy, thấy cụ tắc lưỡi không nói nữa, tôi vội hỏi:


- Cháu thì làm sao ạ?


- Tôi nói cậu đừng tự ái. Tôi trông cậu có vẻ tài tử quá, không thuộc tạng người làm các đề tài về văn học dân gian. Tôi hỏi khí không phải, lúc cậu chọn chắc không còn đề tài nào phải không?


- Sao cụ biết được ạ?


- Là tôi đoán thế.


Đúng như cụ Bạch Diện nói, lúc tôi quay trở lại Khoa văn để nhận đề tài luận văn thì chỉ còn mỗi cái đề tài vè Vợ ba Cai Vàng cho nên dù không muốn làm cũng không còn đề tài nào để lựa chọn. Mà tôi nào có biết vợ ba Cai Vàng là ai, nói gì đến bài vè viết về bà. Thực ra hồi còn học phổ thông, tôi có biết về cuộc khởi nghĩa của Cai Vàng, còn ông ta có mấy vợ thì không thấy sử sách nào nhắc đến. Trong các tài liệu chuyên nghiên cứu về văn học dân gian, tôi có nghe nói đến bài vè Vợ ba Đề Thám, nhưng các tài liệu viết về bài vè này không giúp gì cho tôi được cả. Phải chi đề tài luận văn của tôi là Vè vợ ba Đề Thám thì chí ít tôi cũng hy vọng kiếm được nguồn tư liệu để viết. Đằng này tôi như người lạc giữa rừng rậm, không biết làm cách nào để tìm đường ra được cửa rừng.


Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng tìm được lối ra. Thấy mấy sinh viên cùng học nhận đề tài xong thường rủ nhau vào Thư viện Quốc gia để tìm tư liệu, tôi cũng xin giấy giới thiệu của trường vào trong đó ngồi để chứng tỏ là mình cũng rất tích cực tìm kiếm chứ không phải vì đề tài bí quá mà buông xuôi. Tục ngữ có câu: “Có công mài sắt có ngày nên kim”, lại cũng có câu: “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ” nên tôi rất yên chí ngồi trong thư viện suốt mấy ngày mà lục lọi trong các ngăn hộc thư mục hết vần này sang vần khác để tìm kiếm với niềm tin vững chắc thế nào mình cũng được… thánh nhân đãi. Gì chứ khù khờ thì tôi có thừa.


Đúng là trời không bao giờ bạc đãi người… hay chán nản như tôi. Ngày cuối cùng ngồi trong thư viện, nhận thấy mình cứ cắm đầu vào mấy cái ô chứa thư mục về văn học dân gian cũng chẳng tìm kiếm được gì, tôi nhảy sang lục tìm trong các ngăn hộc chứa thư mục về… tiểu thuyết và mắt tôi sáng lên khi nhìn thấy trên một tấm phích có ghi quyển tiểu thuyết Vợ ba Cai Vàng của nhà văn Bạch Diện. Tôi vội vàng ghi vào phiếu mượn sách và đưa cho cô thủ thư.


Suốt buổi sáng hôm ấy tôi ngồi đọc quyển tiểu thuyết và rất lấy làm hoang mang vì không biết bước tiếp theo mình phải làm gì. Vợ ba Cai Vàng coi như đã tìm thấy thông qua quyển tiểu thuyết của tác giả Bạch Diện, nhưng còn bài vè thì thế nào. Liệu có ai biết được bài vè này và nếu có người biết, liệu người ta có còn nhớ nó hay không, thật không sao hình dung nổi. Nghĩ tới nghĩ lui, tôi quyết định phải tìm gặp tác giả để hỏi cho thật tường tận, vì ngay trang đầu quyển tiểu thuyết, ông viết: “Tại một phiên chợ ở Nhã Nam…”. Nhã Nam là một huyện thuộc tỉnh Bắc Giang, có nghĩa là ở vùng đất ấy may ra có người biết đến bài vè này. Nhưng tác giả quyển tiểu thuyết hiện sống ở đâu thì tôi mù tịt. Bốn năm học đại học tôi đều ở trên khu sơ tán Đại Từ - Thái Nguyên, mãi đến khi làm luận văn tốt nghiệp mới được về trọ ở làng Bưởi, nào có quen biết được ai. Hồi ấy giá có người hỏi tôi chè mạn ở đâu ngon chắc là tôi rành lắm, còn như các nhà văn nhà thơ thì…


Nhưng quả là trời không bao giờ tuyệt đường con người đang gặp khốn khó là tôi. Bằng chứng là không biết từ đâu và do ai mách bảo, tôi tìm đến Hội Văn nghệ Hà Nội và được một vị ở đây cho biết tác giả quyển tiểu thuyết Vợ ba Cai Vàng hiện sống ở 46 Hàng Tre – Hà Nội.


Và tôi đã gặp nhà văn Bạch Diện như phần trên tôi đã thuật hầu quý vị.


Sau khi trao đổi với cụ Bạch Diện về cuộc khởi nghĩa của Cai Vàng và xác định trận đánh quân Pháp của nghĩa quân mà cụ miêu tả trong tiểu thuyết chắc chắn là xảy ra ở Nhã Nam, tôi quyết định lên Bắc Giang tìm Vợ ba Cai Vàng, xin lỗi, là tìm bài vè Vợ ba Cai Vàng. Sở dĩ tôi phải nói lại như thế là vì để tránh hiểu nhầm: người ta đã là vợ ba của người ta rồi, còn tìm làm gì. Tôi cũng xin nói thêm là trước khi lên đường, tôi có nói với cụ Bạch Diện là nếu sau này có gặp khó khăn gì tôi sẽ quay lại nhờ vả cụ. Cụ rất lấy làm vui lòng.


Không cần phải kể lại những gian truân trên bước đường đi tìm bài vè Vợ ba Cai Vàng của tôi, chỉ biết là suốt hai tháng trời không một xó xỉnh nào, không một chùa chiền nào của hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang mà tôi không ở vài ba ngày, miễn là những nơi ấy nghe có người thuộc vài vè này. Cuối cùng, sau những ngày tháng nỗ lực tìm kiếm, tôi cũng có được bài vè Vợ ba Cai Vàng một cách hoàn chỉnh nhờ vào trí nhớ của nhiều người: người dăm ba câu, người mươi câu, người một đoạn…Từ đó tôi mới có đầy đủ những tư liệu cần thiết để hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp, kết thúc bốn năm học trên khu sơ tán.


Lẽ ra tôi nên kết thúc câu chuyện dông dài về cách làm luận văn tốt nghiệp theo kiểu…dân gian của mình, song còn một chuyện cũng dính dáng đến cụ Bạch Diện nên tôi đành thuật tiếp, rất mong được quý vị thể tất cho. Số là trong khi đi tìm tư liệu, tôi nảy sinh ý nghĩ: người phụ nữ tài ba đã trở thành huyền thoại trong nhân gian như bà vợ ba Cai Vàng chắc hẳn trong dân gian thế nào cũng có lập đền thờ. Và quả thật là ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang có rất nhiều nơi dân chúng lập đền thờ cúng, mỗi nơi đều có khắc văn bia kể về công lao và đức hạnh của bà. Ấy là tôi nghe người dân nói lại chứ còn những chữ khắc trên bia đá thì tôi làm sao mà biết được.


Nhưng cũng chính vì sự dốt nát của mình mà tôi sáng chế được chiếc máy photocopy bằng phương pháp thủ công, tuy vận hành có vất vả chút ít nhưng bản photo đọc cũng không đến nỗi nào. Máy photocopy của tôi được cái không tốn điện, chỉ tốn sức, không tốn mực in mà chỉ tốn…bút chì. Đến đây tôi phải nói ngay cách làm của mình để quý vị đỡ sốt ruột: tôi mua một số tờ giấy trắng và một nắm bút chì 2B nhãn hiệu Hồng Hà. Đến mỗi tấm bia, tôi đặt giấy lên trên và dùng bút chì chà qua xát lại, kỳ cho đến lúc chữ hiện ra mới thôi. Hẳn quý vị cũng biết, bia đá thực hiện bằng cách khắc chữ. Khi chúng ta dùng bút chì hoặc hòn than chà qua mặt bia thì chữ không ăn bút chì sẽ hiện lên thành màu trắng. Bằng phương pháp thủ công này tôi đã photo được mười hai tấm bia mà người dân cho là nói về Vợ ba Cai Vàng. Tôi gom hết công trình khảo cổ của mình đem về 46 Hàng Tre đưa cho cụ Bạch Diện nhờ dịch hộ. Cụ lẩm nhẩm đọc qua ánh mắt đầy hy vọng của tôi rồi lắc đầu:


- Mấy bản văn này không phải nói về Vợ ba Cai Vàng.


Thế là mất công toi.


Về sau này, khi bảo vệ luận văn, giáo sư Đinh Gia Khánh – người phản biện luận văn của tôi – mới cho tôi biết bà ngoại của ông là lính của vợ ba Cai Vàng. Vợ ba Cai Vàng quê ở Thường Tín, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Hiện ở Thường Tín vẫn còn đền thờ bà.


Tôi có trở lại 46 Hàng Tre một lần nữa trước khi về Nhà xuất bản Giải phóng để làm việc. Nghe tôi bảo bản luận văn Vè Vợ ba Cai Vàng được Hội đồng đánh giá rất cao, cụ Bạch Diện cả cười:


- Trông cậu thế mà cũng chịu khó gớm nhỉ!


Ý cụ nói bản luận văn được đánh giá cao là nhờ cái công tôi đã lặn lội khắp hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ghi ghi chép chép, lắp ghép, chỉnh sửa để có được bài vè Vợ ba Cai Vàng một cách hoàn chỉnh chứ còn văn chương thì…ai thèm để ý vì đây là…luận văn tốt nghiệp của một sinh viên mà mục tiêu phấn đấu của anh ta chỉ là kiếm được điểm trung bình để ra trường.


Nghe cụ nói thế, tôi cũng chỉ cười theo chứ còn biết làm thế nào. Nhưng tôi lại nghĩ: dù sao mình cũng làm được một việc mà thoạt đầu chính cụ bảo là mình không làm được.


Nhân đây tôi cũng xin nói thêm: trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có lưu trữ một bài vè gọi là Vè Vợ ba Đề Thám. Bài vè này ra đời sau bài vè Vợ ba Cai Vàng nên nhiều người còn nhớ. Trong phần khảo dị, tôi có đem bài vè Vợ ba Đề Thám ra so sánh với bài vè Vợ ba Cai Vàng do tôi sưu tầm thấy có nhiều câu rất giống nhau. Theo giáo sư Đinh Gia Khánh, sở dĩ có sự trùng hợp như vậy là vì bài vè Vợ ba Đề Thám ra đời sau nên nhiều khả năng là dựa theo bài vè Vợ ba Cai Vàng để hình thành.


Tôi cứ tưởng mối liên hệ giữa tôi và cụ Bạch Diện sẽ bị gián đoạn từ tháng 4 năm 1975 khi tôi có chuyến đi thực tế miền Nam và ở luôn Sài Gòn làm việc tại Nhà xuất bản Văn học Giải Phóng khi đất nước thống nhất, nào ngờ mối liên hệ ấy vẫn còn tiếp tục đến tận bây giờ. Số là khi tôi về biên tập mướn cho báo Công an Nhân dân, tôi có quen một người mà sau này mới biết là cháu ngoại của cụ Bạch Diện. Đấy là nhà báo Việt Dũng. Thật ra tôi và Việt Dũng quen biết nhau từ hồi anh còn thuộc biên chế của báo Công an thành phố Hồ Chí Minh, song không có dịp nào nhắc đến cụ Bạch Diện nên cả hai đều không biết là ngoài mối quan hệ giữa biên tập viên và phóng viên còn có mối quan hệ khác: mối quan hệ có tính chất gia đình.


Cho đến bây giờ tôi cũng không nhớ là chúng tôi nhắc đến cụ Bạch Diện trong trường hợp nào và nhắc đến tác phẩm Hà Nội xưa và nay trước hay là quyển tiểu thuyết Vợ ba Cai Vàng trước. Nhưng có lẽ là Việt Dũng nhắc đến Hà Nội xưa và nay trước. Đâu như hôm ấy trời đã vào tiết thu nên khi chúng tôi ngồi uống cà phê, không ai bảo ai, người nào cũng cố nhắc lại một vài kỷ niệm về mùa thu Hà Nội. Nhân đó hình như Việt Dũng bảo tôi:


- Ông ngoại em có tập bản thảo Hà Nội xưa và nay, tập hợp các bài được in trên các báo.


- Thế tập bản thảo ấy bây giờ ở đâu?


- Em đang để ở nhà.


Nghe có tập bản thảo viết về Hà Nội, mà lại có phần viết về Hà Nội xưa, tôi rất háo hức:


- Nếu được, cậu cho tôi mượn đọc thử xem có xuất bản được hay không.


Hồi ấy, khi về làm thêm cho báo Công an Nhân dân, tôi vẫn còn là biên tập viên của Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ chí Minh.


- Thế ông ngoại cậu là…


- Ông ngoại em là nhà văn Bạch Diện.


- Thế có phải nhà ở 46 Hàng Tre không?


- Đúng rồi! Mà sao anh biết?


Đến đây thì hẳn quý vị đã rõ mối liện hệ giữa tôi và nhà báo Việt Dũng là từ đâu.


Tập bản thảo Hà Nội xưa và nay đã cung cấp rất nhiều tư liệu quý báu và qua nó, tôi có thể biết được những phong tục tập quán cũng như nếp sinh hoạt của người Hà Nội dưới thời phong kiến, giúp tôi nhận ra nhiều điều mà trước đó mình đã hiểu sai, chẳng hạn như câu: “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Trước nay tôi cứ tưởng câu này là để chỉ cấp độ của sự tinh nghịch, nhưng đọc tập bản thảo của cụ Bạch Diện, tôi mới biết hóa ra câu nói này là để chỉ thứ tự của sự đón tiếp. Cụ viết:


“Theo lệnh quan trường, anh lính cầm loa đứng lên ghế vừa nói vừa quay loa vung lên:


- Báo oán giả tiên nhập! Báo ân giả thứ nhập! Sĩ tử thứ thứ nhập!


Nghĩa là hồn quỷ chết oan muốn báo oán thì vào trước! Hồn ma muốn báo ân thì vào sau! Học trò lần lượt vào sau cùng. Ngày xưa người ta chia ma với quỷ khác nhau: quỷ là những hồn ma bị chết oan uổng thường hay quấy phá người làm hại mình; còn ma thì lành hơn và hay đền ơn trả nghĩa người có ơn với mình. Do đó mới có câu: “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”.


Ấy là thứ tự những thành phần được mời vào lều thi. Có thể điều này nhiều người từng biết, nhưng với sở học ít ỏi của tôi thì nhờ cụ Bạch Diện lúc ấy tôi mới ngộ ra.


Hoặc như có một dạo, các công sở ở Hà Nội cũng đề ra chế độ làm thông tầm khiến tôi rất lấy làm tâm đắc vì buổi trưa không phải ghé về nhà dùng cơm mà có quyền ngồi ở quán đến tận lúc tan sở vào buổi chiều. Tôi nhớ có lần ngồi… thông tầm với ông Nguyễn Tuân ở điểm bán bia Cổ Tân, tôi nghe ông Tuân bảo:


- Này, cái thằng cha nào nghĩ ra kiểu làm thông tầm này đúng là tài thật. Bây giờ bọn mình không phải đáo qua nhà nữa mà vợ con cũng đỡ phải ngóng chờ mình về nhà dùng cơm.


Nghe ông Tuân nói thế, tôi cũng cho ai nghĩ ra cách làm thông tầm là hay, nhưng thực sự không biết tại sao lại gọi là làm thông tầm và đi làm gọi là đi tầm cho đến khi đọc Hà Nội xưa và nay. Hãy nghe tác giả Bạch Diện viết:


“Tiền bạc trong chỗ đánh bạc, dụng cụ trong chỗ đánh bạc rồi cả giường chiếu, sập gụ, tủ chè, bàn ghế, đèn điếu bày quanh chỗ đánh bạc đều bị tịch thu đem bán đấu giá tại nhà tầm tầm ở phố Hàng Trống. Sở dĩ gọi là nhà tầm tầm là vì mỗi tuần lễ chúng bán hàng vào ngày chủ nhật thì ngày thứ sáu và thứ bảy chúng thuê một người đàn bà đeo cái trống cái to tướng trước ngực đi khắp các phố đánh một hồi trống rồi rao các món hàng sẽ bán. Chiếc trống cái tiếng Pháp là “tam tam” nên ta gọi luôn là tầm tầm. Các sở làm của Pháp ngày xưa đều đặt trống báo hiệu giờ làm và giờ tan sở, nên ta gọi là đi làm tầm. Ngày nay có danh từ làm thông tầm nghĩa là làm một mạch từ sáng đến chiều, không về nhà nghỉ trưa”.


Ngày nay, mỗi khi nghe tiếng còi hụ ở các nhà máy người ta vẫn bảo là còi tầm hoặc còi tan tầm chứ không ai nghĩ “tầm” lại bắt nguồn từ tiếng trống.


Đấy là hai trong vô số điều thú vị mà tôi có thể tìm thấy trong tập bản thảo Hà Nội xưa và nay của cụ Bạch Diện.


Như thế, nếu tập bản thảo này được in ra, nó sẽ giúp ích được cho rất nhiều người - nhất là những người có cùng trình độ như tôi - muốn tìm hiểu về Hà Nội.


Cũng xin nói thật là, lẽ ra tập bản thảo này đã được in thành sách nhân dịp cả nước kỷ niệm 1000 năm Thăng Long nhưng rồi lỡ hẹn vì nhiều lý do, trong đó lý do chính là vì gia đình chưa có đủ nguồn tài chính để lo cho việc xuất bản.


Nhân đây, tôi cũng xin mạn phép giới thiệu thêm một vài dòng về nhà văn Bạch Diện: ông là tác giả của nhiều truyện dã sử đăng trên nhật báo Liên hiệp do Soubrier Văn Tuyên làm chủ nhiệm, Giang sơn (chủ nhiệm là Hoàng Cơ Bình, xuất bản ở Hà Nội từ 1950). Ông còn viết sách biên khảo nói về Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Xứ Nhu… bị xử tử hình ở Yên Bái vào năm 1932. Ngoài ra, ông còn viết truyện dã sử đăng feuilleton trên các báo rất ăn khách. Có thể kể các tác phẩm chính của ông:


- Kiều tân thời (Truyện thơ, 1935).


- Phương trời mới (Khoa học tiểu thuyết, 1945).


- Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng (Nhà xuất bản Ngày mai, 1950).


- Vợ ba Cai Vàng (NXB Ngày mai, Hanoi, 1951, 220 page).


- Tiếu lâm tân thời (Truyện cười, 1954)…


Ông còn là người dịch các bài thơ từ chữ Pháp, chữ Hán ra Việt ngữ và chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ. Sau ngày quân dân ta tiếp quản Thủ đô, ông cho xuất bản tập Cô công an Hà Nội, phản ảnh nếp sinh hoạt của người Hà Nội những ngày đầu sống dưới chế độ mới.


Trong lời nói đầu của quyển Hà nội xưa và nay, nhà văn Bạch Diện viết: “Những sự kiện này chúng tôi đã được các vị lão thành và bè bạn kể cho nghe, nay đem cống hiến bạn đọc để góp vào những điều mà sử sách nói về Hà Nội nhưng không đề cập đến”. Cụ lại nói: “Viết cuốn sách này, chúng tôi cũng noi gương Phạm Đình Hồ và Trần Danh Án là tác giả các cuốn Tang thương ngẫu lụcVũ trung tùy bút, hy vọng góp một phần tài liệu hầu phục vụ cho công việc khảo cứu sau này”.


Nhìn vào số lượng tác phẩm ở trên cũng như đọc lời nói đầu cuốn Nội xưa và nay, tôi ngộ ra một điều: ấy là ngoài văn tài ra, cụ Bạch Diện còn là một người chịu khó vậy.


           


Sài Gòn, mùa Thu 2014                   


Thái Thành Đức Phổ


Nguồn: Lời bạt, in trong Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
xem thêm »