tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20550443
Tiểu thuyết
28.03.2017
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay



Phần II: HÀ NỘI NAY


HÀ NỘI NHỮNG ĐÊM TRƯỚC CỦA CUỘC TỔNG KHỞI NGHĨA 19-8-1945


Trong thời gian Nhật chiếm đóng, các chiến sĩ trong mặt trận Việt Minh vẫn tuyên truyền chống Pháp và chống Nhật. Sau ngày Nhật lật đổ Pháp, các cuộc tuyên truyền chống Nhật ngày càng lan rộng và nổ ra liên tục tại Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lỵ. Những cuộc đánh tỉa quân đội Nhật tại các nơi và phá kho thóc Nhật phát cho dân đói luôn luôn nổ ra tại các vùng nông thôn bị nạn đói hoành hành. Do đó, dần dần dân đói bớt kéo vào Hà Nội.


Buổi sáng ngày 17 tháng 8 năm 1945, tại Hà Nội bỗng có tin đồn: “Nhật đầu hàng đại biểu các nước Đồng minh kéo vào Hà Nội, nhân dân ta phải họp mít tinh tại trước cửa Nhà hát Lớn để đòi quyền dân tộc tự quyết”. Thế là trưa hôm ấy, cuộc mít tinh được tổ chức ngay trước cửa Nhà hát Lớn. Công nhân, học sinh, tiểu thương các chợ, anh chị em bán hàng rong, anh em lao động, công chức các công sở, nhân viên các sở tư, các nhà buôn trong thành phố kéo nhau đi họp rất đông. Một nhân viên trong đoàn tổ chức đứng trên thềm cao Nhà hát Lớn tuyên bố: “Chúng ta phải cương quyết đòi quyền độc lập, không để cho thực dân Pháp trở lại được nữa…”. Lời tuyên bố chưa dứt thì một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn từ trên gác cao tung bay trước gió. Tiếng hô: “Ủng hộ Việt Minh!” vang dậy khắp quảng trường. Cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành: hàng đoàn người xếp hàng năm rất trật tự đi qua các phố, luôn luôn hô: “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất!”. Hôm ấy giời mưa lâm râm, các đoàn biểu tình tuần hành có đến vạn người trong thành phố đi dưới trời mưa. Các đoàn biểu tình đi đến đâu lại thêm người các phố ra nhập. Cuộc biểu tình tuần hành kéo dài đến tối, khi lên đèn mới giải tán.


Tối hôm ấy, đoàn tuyên truyền xung phong trong Mặt trận Việt Minh đến tòa báo Tin mới đưa một số bài tường thuật cuộc biểu tình tuần hành và bài tuyên bố về dân tộc tự quyết, đòi quyền độc lập thống nhất toàn quốc Việt Nam. Sáng hôm sau, ngày 18-8-1945, trẻ em đến nhận báo đem đi bán, chúng vừa chạy vừa rao: “Tin mới Việt Minh!”. Dân hàng phố đón mua tới tấp, giá báo có 5 xu một tờ, trẻ em thấy đông người mua chúng tự tiện tăng giá lên một hào. Đến sáng, các đoàn biểu tình tuần hành lại tự động tổ chức đi qua các phố. Các đoàn biểu tình hôm nay có tổ chức hơn, dẫn đầu là lá cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ đòi Việt Nam độc lập thống nhất, những người biểu tình đều đeo băng đỏ trên cánh tay; các nữ học sinh đều mặc áo dài trắng quần trắng; nông dân ngoại thành cũng xếp hàng trật tự tuần hành các phố. Đoàn biểu tình đi qua các phố Huế, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Gai, Hàng Bông được nhân dân đốt pháo đón mừng. Bài hát Tiến quân ca và cả bài Thanh niên hành khúc được hát vang khắp Hà Nội. Ngoài những tiếng hô “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất!”, các đoàn biểu tình còn hô “Quân Nhật hạ khí giới!”.


Ngày 19 tháng Tám 1945, mới sáu giờ sáng, các đoàn biểu tình đã tụ họp khắp các nơi và kéo đến Phủ Khâm sai. Đến 9 giờ, Phan Kế Toại tuyên bố từ chức khâm sai đại thần; Trần Văn Lai cũng xin từ chức thị trưởng Hà Nội. Một chính quyền nhân dân lâm thời được thành lập. Các sinh viên được sung vào đội tự vệ đi canh gác Phủ Khâm sai, nhà Bưu điện, Tòa Thị chính, sở Kho bạc, nhà Ngân hàng v.v… Các nhà máy nước, máy điện và các xí nghiệp do anh em công nhân canh gác.­­­­


Năm 1945, nước sông Kỳ Mạt Phục lên to, Hà Nội nước lên đến mức báo động số 3. Chiều ngày 19-8, có tin đê Đông Lao ở Hà Đông bị đe dọa, lập tức thanh niên công nhân và học sinh lao vào Hà Đông hộ đê. Anh em lái xe điện không chở khách, dùng tàu chở người vào Hà Đông hộ đê, hết chuyến này đến chuyến khác. Tàu kéo ba toa chạy rầm rập suốt đêm… Tại quãng đê xung yếu đông nghịt người, đuốc đốt sáng rực cả một vùng. Qua nửa đêm, một chỗ đê bị sạt, lập tức anh em thanh niên xúc đất vào thuyền thúng, đẩy thuyền đổ ập vào, chỉ một lúc hàn khẩu ngay được. Tại Hà Nội, đêm hôm ấy, mọi người ra sông canh đê suốt đêm, đốt đuốc sáng như sao sa suốt từ Yên Phụ đến Phà Đen. Phụ nữ hàng phố, người nấu nước, người nấu cháo hoa đem ra đê mời anh em canh đê ăn uống. Năm ấy tuy nước lên to, nhưng nhân dân khắp nơi đều săn sóc đê điều nên không xảy ra nạn lụt lội, thêm nữa nước sông Kỳ Mạt Phục chỉ lên rộ một vài ngày rồi rút ngay (theo kinh nghiệm của các cụ ta ngày xưa).


Sau ngày Tổng khởi nghĩa, ngày 22-8-1945 Chính phủ lâm thời thành lập do cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cụ Nguyễn Văn Tố giữ Bộ Cứu tế, ông Trần Huy Liệu giữ Bộ Tuyên truyền, ông Võ Nguyên Giáp giữ Bộ Quốc phòng, ông Phạm Văn Đồng giữ Bộ Tài chính, ông Lê Văn Hiến giữ Bộ Lao động, về sau thêm cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ Bộ Nội vụ.


Cùng ngày Chính phủ ta thành lập thì Pháp phái Dargenlieu làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương, Sainteni do viên tướng Mỹ là Passon đưa vào Hà Nội bằng máy bay. Cả bọn Mỹ - Pháp đều ở trong Phủ Toàn quyền cũ của Pháp (nay là Phủ Chủ tịch). Từ lâu Pháp đã biết Hồ Chủ tịch là một nhà chính trị thiên tài, lãnh đạo mặt trận Việt Minh để giải phóng Việt Nam. Ngày 22-12-1944, Quân đội giải phóng Việt Nam đã thành lập tại chiến khu Việt Bắc và đã chiến đấu với quân Nhật, giải phóng sáu tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang và Thái Nguyên. Trong năm 1944, Sainteni đã có lần tiếp xúc với Hồ Chủ tịch tại lãnh thổ Trung Quốc, bàn về vấn đề Việt Nam sau đại chiến thứ hai. Hồi bấy giờ phe trục đã bị gãy, Nhật thế nào cũng phải đầu hàng.


Ngày 24-8-1945, Bảo Đại tuyên bố thoái vị, xin làm một công dân Việt Nam, sau đó Chính phủ lâm thời phái ông Trần Huy Liệu vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại, đưa Bảo Đại ra Hà Nội cho làm tối cao cố vấn với cái tên cố hữu là Vĩnh Thụy. Tại Sài Gòn, khâm sai đại thần Nguyễn Văn Sâm tuyên bố từ chức. Sau ngày tổng khởi nghĩa, một chính quyền nhân dân được thành lập, mấy ngày sau thì tên uỷ viên Pháp Sédine theo tên tướng Anh, nhảy dù xuống Sài Gòn. Nhân dân Việt Nam nghe tin bọn thực dân Pháp theo gót Anh - Mỹ lén lút vào Việt Nam, ai cũng căm giận. Bọn Pháp kiều tại Hà Nội từ sau ngày 9-3-1945 sợ Nhật khủng bố; sau ngày 19-8-1945, sợ nhân dân Việt Nam báo thù đều tự giam mình trong nhà không dám thò ra đường. Khi đại biểu của Pháp đến Phủ Toàn quyền cũ, có ba cô gái, mỗi cô mặc một bộ váy áo ba màu khác nhau: cô mặc áo xanh, cô mặc áo trắng, cô mặc áo đỏ tức là màu cờ Pháp[1], lượn đi lượn lại trước cửa sổ phủ toàn quyền cho đại biểu của họ trông thấy.


HỒ CHỦ TỊCH KHAI SINH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tổ chức tại quảng trường Ba Đình. Hồ Chủ tịch đứng trên lễ đài cao hơn 2 mét đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước 50 vạn dân Hà Nội, ngoại thành và các tỉnh lân cận. Bản Tuyên ngôn do Hồ Chủ tịch khởi thảo tại số nhà 49 phố Hàng Ngang. Lời Tuyên ngôn độc lập của Người theo làn sóng điện vang dội khắp nơi trong nước và suốt năm châu bốn biển. Hơn 50 vạn người đứng nghiêm trang kính cẩn trước lễ đài dưới trời nắng chói mùa thu, dưới lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới. Tất cả mọi người đều vui mừng phấn khởi. Chiều hôm ấy, các xí nghiệp, các công sở, các nhà tư đều tổ chức ăn mừng độc lập. Mấy ngày sau, tuần lễ vàng được tổ chức tại Hà Nội để quyên tiền mua khí giới trang bị thêm cho quân Giải phóng của ta. Bấy giờ ta chưa có hàng hóa hay lâm thổ sản gì để xuất biên đổi lấy khí giới. Nhân dân Hà Nội rất vui lòng phấn khởi đem vàng ra giúp nước.


Hạ tuần tháng Chín quân đội quốc gia Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch do tướng Lư Hán chỉ huy, theo lệnh quan thầy Mỹ kéo vào Hà Nội để lột khí giới quân đội Nhật. Đội quân này xuất phát từ Vân Nam vượt biên giới vào Lào Cai, qua Yên Bái, Vĩnh Phú xuống xuôi toàn đi bộ cả. Đây là một đội quân ô hợp chẳng có kỷ luật gì cả, quần áo thì xốc xếch, có thằng rách rưới như ăn mày, nhiều thằng đeo lủng lẳng cả nồi niêu xoong chảo, có thằng dắt cả vợ con đi theo rất nheo nhóc bệ rạc. Chúng là đội quân ốm đói, đi đến đâu cướp của người ta mà ăn. Chúng kéo vào Hà Nội được Chính phủ ta cho vào ở tạm tại các trường học. Chúng ở đâu bày bẩn ra đấy, chúng phóng uế bừa bãi ra đường ra phố. Vì ăn ở quá bẩn, nhiều thằng lăn quay ra chết: có những thằng chết vì bệnh thổ tả, có những thằng chết vì bội thực, có những thằng­­­ chết vì bệnh cấp tính. Bọn quan trên của chúng cấp tiền cho những thằng còn khỏe mạnh đi mua áo quan đem chôn. Chúng chôn xác chết ở bãi cỏ cạnh Văn Miếu hoặc đem ra sông vùi xuống bãi cát, hoặc chôn ở chân đê. Hà Nội hồi bấy giờ rất bẩn, nhân viên vệ sinh quét dọn không kịp. Ngoài cái bẩn ấy ra lại còn sự ồn ào, mất trật tự do bọn gian thương Hoa kiều gây ra. Bọn này tưởng rằng quân đội Tưởng Giới Thạch kéo vào Việt Bắc thì từ vĩ tuyến 16 trở ra, khu vực này sẽ là thuộc địa của chúng. Chúng định giở trò buôn gian bán lận để bóc lột người Việt Nam. Khi quân của Tưởng Giới Thạch mới kéo vào Hà Nội, bọn gian thương Hoa kiều tại Hà Nội tổ chức cuộc đón tiếp rầm rộ: chúng dán khẩu hiệu khắp nơi trong thành phố: “Hoan nghênh quốc quân nhập Việt”; “Quốc quân lao khổ công cao”. Suốt phố Hàng Buồm cờ thanh thiên bạch nhật mãn dị hồng (cờ của bọn Tưởng Giới Thạch) treo rợp trời, pháo đốt khói um như sa mù, tối đến đèn thắp sáng rực cả phố. Chúng tổ chức đám rước đèn đi khắp các phố, nghênh ngang phô tượng con sư tử đặt một chân trước lên quả cầu, viết chữ “tỉnh sư” (sư tử thức). Đầu phố Hàng Buồm trông sang phố Phúc Kiến (nay là phố Lãn Ông), chúng dựng cái cổng chào, hai cột cổng có đôi câu đối chữ Nho, vì đông người quá che lấp hết các chữ phía dưới, chúng tôi chỉ đọc được mỗi vế bốn chữ trên cao, một vế có bốn chữ “kim âu vị khuyết”; một vế có bốn chữ “đồng trụ do tồn”, có nghĩa là âu vàng chưa bị mẻ; cột đồng vẫn còn. Âu vàng trỏ Trung Quốc; cột đồng([2]) trỏ Việt Nam. Từ xưa người Việt Nam vẫn bất bình khi thấy có kẻ nhắc đến chuyện cột đồng Mã Viện. Đôi câu đối ấy treo một ngày, sợ mất lòng người Việt Nam, nên hôm sau bọn gian thương bỏ đi không treo nữa. Khi đám quốc quân của Tưởng Giới Thạch kéo vào Hà Nội xuất hiện nguyên hình là những tên lưu manh chết đói dở, bọn gian thương mới hết hoan nghênh, anh nào cũng tiu nghỉu ra, có anh còn chửi: “Chúng nó làm xấu mặt người Hoa kiều”. Bọn quốc quân của Tưởng Giới Thạch tồi tệ thế mà còn có một số người Việt Nam bám gót chúng gây những sự khó khăn cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới thành lập. Đó là bọn Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội đứng đầu là Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và một số người nữa. Bọn Việt Nam Quốc dân Đảng tái lập, trong đó có Nguyễn Tường Tam, Trần Trung Dung, Nhượng Tống, Hoàng Phạm Trân, Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Triệu Luật và một số người nữa. Họ chiếm ngôi nhà số 23 phố Quán Thánh, trước cổng cho một cô gái khoảng hai mươi tuổi khá xinh đeo khẩu súng trường đứng gác. Trên tầng gác họ để cái loa chỗ cửa sổ chõ ra đường, hàng ngày họ phát thanh tuyên truyền và nói xấu Chính phủ lâm thời, làm cho nhân dân Hà Nội có một số người hoang mang, nhưng có nhiều người căm tức, vì họ gây chia rẽ trong lúc toàn dân đương cần đoàn kết để đối phó với tình thế nguy nan trong nước. Họ còn in ra tờ báo lấy tên Việt Nam, nhưng ít người đọc, báo ra được mấy tháng thì đình bản. Họ còn có một cơ sở ở phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều) làm chỗ bắt cóc người tống tiền, lấy được tiền rồi họ thủ tiêu nạn nhân để khỏi lộ việc, đem xác chôn trong vườn. Cách ít lâu Chính phủ ta khám phá ra được, đào vườn lên thấy có nhiều xác đàn ông và đàn bà đã thối rữa. Nhân dân ta rất căm ghét bọn phản động này, nhiều người muốn đánh phá họ, nhưng Hồ Chủ tịch khuyên dân phải đoàn kết để tránh sự nhiễu nhương trong nước.


Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp dựa vào quân đội Anh, gây hấn tại Sài Gòn, nam nữ thanh niên Hà Nội tự nguyện đầu quân vào Nam giết giặc rất đông, các gia đình ở Hà Nội vui lòng để con cháu mình sung vào đội quân Nam tiến. Hồi này nhân dân ta đã tự động đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh.


Ngày 6 tháng Giêng năm 1946, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tổ chức, nhân dân ta tấp nập đi bỏ phiếu. Bọn Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội cũng được ứng cử vào Quốc hội, nhưng nhân dân không ai bầu cho họ. Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh cho hai Đảng này được cử 70 người vào Quốc hội không phải qua cuộc phổ thông đầu phiếu. Sau cuộc tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên này, một số người trong hai đảng Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (thường gọi tắt là Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân Đảng tái lập được dự vào Chính phủ chính thức gồm Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Chu Bá Phượng, Nguyễn Tường Tam, Trương Đình Tri.


Tại miền Nam, Pháp dựa vào quân đội Anh, kiểm soát được Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), quân đội và tự vệ ta rút ra ngoại ô và các tỉnh lập các khu kháng chiến. Thực dân Pháp chiếm đóng Sài Gòn, đưa tên Việt gian Nguyễn Văn Thinh ra làm chủ tịch “xứ Nam kỳ tự trị”. Sau đó chúng phái Saintenie ra Hà Nội thăm dò ý kiến Hồ Chủ tịch, tỏ tình muốn nối lại cuộc bang giao Việt - Pháp để đưa quân Pháp ra Bắc Việt tiếp quản thay quân đội Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch. Hồ Chủ tịch thừa biết là thực dân Pháp đương có âm mưu quay ngược lại bánh xe lịch sử Việt Nam. Tình thế nước ta hồi bấy giờ rất khó khăn phức tạp không khác một mớ chỉ rối, một con thuyền qua bể đương gặp bão. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới tuyên bố độc lập, nhưng chưa được nước nào trên thế giới công nhận, chưa có cuộc bang giao với nước nào cả. Trong Nam thì quân đội Pháp dựa vào quân Anh đương hoành hành, ngoài Bắc thì đám quân vô kỷ luật của Tưởng Giới Thạch đương nằm “ăn vạ”, chưa kể bọn phản động Việt Nam ôm gót đám quân ấy đương quấy rối chia rẽ nhân dân. Hồ Chủ tịch là một nhà chính trị lão luyện và rất sáng suốt. Người vẫn bình tĩnh gỡ mối chỉ rối và lèo lái con thuyền Việt Nam qua cơn sóng gió. Bề ngoài, Người vẫn ôn tồn hòa nhã trong việc giao thiệp với Saintenie, bên trong Người củng cố nội bộ, tăng cường thêm quân Giải phóng đã được thành lập từ ngày 22 tháng 12 năm 1944 tại chiến khu Việt Bắc đóng tại ngoại thành và các tỉnh, chỉ có một số đóng trong thành phố. Đội tự vệ thành cũng được thành lập ngay sau ngày 2 tháng 9-1945, đóng trong thành phố để giữ trật tự.


Sau các cuộc điều đình với Saintenie, đến ngày 6-3-1946 một bản hiệp đinh sơ bộ được đính kết có chữ ký của Hồ Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh và J.Sainteny. Bản hiệp định này có mấy khoản quan trọng là: Pháp công nhận Việt Nam là nước tự do, độc lập trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp; nước Việt Nam có quân đội riêng, có tài chính riêng[3], nước Việt Nam được đặt lãnh sự tại một số nước và được tiếp nhận lãnh sự của một số nước; quân đội Pháp đóng tại Việt Nam trong hạn năm năm, mỗi năm rút về một phần năm. Như vậy là sau năm năm, quân đội Pháp phải rút về hết.


Trước khi hiệp định này được thi hành, trong thành phố Hà Nội xảy ra một vụ lộn xộn: bọn lưu manh Hoa kiều gây sự đánh Pháp kiều trong thành phố. Chúng dán tại các phố có Pháp kiều ở những khẩu hiệu chữ Hoa và chữ Pháp: “Dĩ nha hoàn nha, dĩ trảo hoàn trảo” (dent contre dent, poing contre poing, có nghĩa: răng đấu với răng, nắm tay đấu với nắm tay). Nhân dân ta không can dự, người thì phỏng đoán: bọn phản động lưu manh Hoa kiều căm tức vì theo hiệp định sơ bộ 6-3-1946 thì quân đội của Tưởng Giới Thạch phải rút về nước, chúng mất chỗ dựa để quấy nhiễu nhân dân ta; người thì đoán rằng có một bọn lưu manh Pháp xúi giục và thuê tiền bọn lưu manh Hoa kiều để chúng gây sự đánh Pháp kiều, rồi tụi Pháp vin cớ bảo vệ kiều dân tự tiện kéo quân vào Việt Bắc không đếm xỉa đến Hiệp định 6-3-1946. Nhưng vụ lộn xộn ấy xảy ra vài ngày thì Chính phủ ta dẹp yên ngay. Quân đội Tưởng Giới Thạch phải về nước hết, bọn Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng cũng theo chúng chuồn cả sang Trung Quốc. Cuối tháng 3-1946, quân đội Pháp kéo vào miền Bắc đóng tại Hải Phòng và Hà Nội theo sự chỉ định của Chính phủ ta. Để giữ gìn an ninh trật tự, chính phủ ta lập ra ban Liên kiểm gồm một nửa Pháp, một nửa Việt Nam. Ban này có nhiệm vụ ngăn cản lính Pháp đi quấy rối nhân dân trong thành phố và dẹp các cuộc xung đột binh lính Pháp với tự vệ thành của ta.


Trong Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, còn có khoản nói: tại Nam bộ quân đội Pháp phải đình chỉ mọi sự khiêu khích nhân dân Việt Nam; quân đội ấy hiện bấy giờ đóng ở đâu phải ở nguyên vị trí không được lấn chiếm ra các nơi khác; sau khi ký kết hiệp định hai bên Việt - Pháp tổ chức một Ủy ban hỗn hợp nửa nhân viên Việt, nửa nhân viên Pháp vào Nam bộ kiểm tra việc đóng quân của Pháp tại Nam bộ. Nam bộ phải do cuộc đầu phiếu của nhân dân để thống nhất toàn quốc. Nhưng sau khi ký kết rồi, quân Pháp kéo vào Hải Phòng và Hà Nội; rồi Pháp vẫn lần chần không chịu tổ chức Ủy ban hỗn hợp. Tên Sédine ở Sài Gòn còn nói: “Hiệp định sơ bộ chỉ có hiệu lực ở Bắc Việt thôi!”. Chính phủ ta đấu tranh quyết liệt về việc Pháp không chịu thi hành đúng Hiệp định sơ bộ. Ngày 19-4-1946, Phái đoàn Việt và Pháp họp hội nghị ở Đà Lạt để đàm phán về các điều khoản trong Hiệp định sơ bộ, nhưng cuộc hội nghị này không đem lại kết quả gì, đến ngày 11 tháng 5, hội nghị tan vỡ. Đầu tháng 7-1946, phái đoàn Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang Pháp họp lại hội nghị với phái đoàn Pháp tại Fontainebleau. Nhân dịp này Tổng thống Pháp Vincent Auriol mời Hồ Chủ tịch sang thăm hữu nghị nước Pháp. Hồ Chủ tịch đi cùng phái đoàn sang Pháp được Pháp đón tiếp long trọng. Cuộc hội nghị này cũng không đạt được kết quả gì. Ngày 14-9-1946, Hồ Chủ tịch ký với bộ trưởng thuộc địa Pháp Marius Moutet bản tạm ước rồi Hồ Chủ tịch và phái đoàn về nước. Hồ Chủ tịch thừa biết rằng thực dân Pháp bấy giờ rất ngoan cố, nói chuyện suông với chúng không chuyển nên ký bản tạm ước nhường cho chúng nhiều quyền lợi làm kế hoãn binh để phái đoàn về nước lãnh đạo cuộc kháng chiến. Bấy giờ quân đội Pháp đóng ở Hải Phòng và Hà Nội luôn luôn giở trò khiêu khích nhân dân ta, tự vệ ta can thiệp nên thường xảy ra những cuộc xung đột, ban Liên kiểm phải làm việc rất vất vả. Bọn binh lính Pháp theo lệnh chủ tướng chúng đi khiêu khích, nhưng vẫn gờm sợ tự vệ Việt Nam. Chúng bảo nhau: “Không sợ thằng sao tròn, chỉ sợ thằng sao vuông”. Sao tròn là bộ đội chính quy của ta chỉ khi xảy ra giao chiến ta mới ra tay, còn các cuộc xung đột lẻ tẻ đã có tự vệ thành (đội mũ có huy hiệu vuông giữa có ngôi sao vàng) chiến đấu rất anh dũng.


Hồ Chủ tịch và phái đoàn ta do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu đi hai tàu thủy về đến Hải Phòng, nhân dân Hải Phòng ra bến Sáu Kho đón tiếp rất đông. Khi Hồ Chủ tịch và phái đoàn đi xe lửa về đến ga Hàng Cỏ, nhân dân Hà Nội kéo nhau ra ga đón tiếp rất đông. Hồ Chủ tịch đứng trên ban công ga Hàng Cỏ khuyên nhân dân nên trấn tĩnh. Vì bấy giờ, tất cả mọi người đều căm tức giặc Pháp luôn luôn giở trò khiêu khích. Sau đó, các nhà báo tổ chức cuộc đón tiếp Hồ Chủ tịch tại nhà Thủy tạ Bờ Hồ. Đây là cuộc họp báo để nghe lời huấn thị của Người.


    CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC BÙNG NỔ


Hội nghị Fontaineblau bị tan vỡ, tình hình Hà Nội và Hải Phòng rất căng do binh lính Pháp tăng thêm sự khiêu khích, tự vệ ta chống trả kịch liệt. Anh chị em công nhân nhà máy bia, nhà máy nước, nhà máy điện, sở lục lộ đều tham gia phá các hầm trú ẩn do thực dân Pháp xây trong hồi chiến tranh Nhật - Mỹ. Những hầm này xây nổi trên mặt đất và chạy theo hình chữ chi, thực chất đây là những cái ụ chiến đấu và giao thông hào. Các ông bà già và trẻ em đều được tản cư dần về các vùng nông thôn.


Ngày 23-11-1946, quân đội Pháp đóng ở Hải Phòng cản trở không cho cán bộ ta thu thuế quan. Công an của ta can thiệp, chúng bắn chết một công an đứng gác trên cầu Ca-rông, thế là tự vệ Hải Phòng cũng nổ súng bắn chúng. Cuộc xung đột xảy ra quyết liệt. Bọn nhà binh Pháp huy động xe tăng và đại bác đánh các nơi và chiếm Hải Phòng rồi dò theo con đường số 13 tiến chiếm Lạng Sơn. Chúng đã chuẩn bị các kế hoạch để tái chiếm nước ta. Hồ Chủ tịch đánh điện cho Chính phủ và Quốc hội Pháp biết về việc bọn Pháp ở Đông Dương vi phạm các hiệp ước rất nghiêm trọng; một mặt Người mở cuộc họp báo để tuyên bố tội ác của binh lính Pháp. Tại Hà Nội, các nhà đều đục tường từ nhà này thông sang nhà nọ để khi chiến đấu không ai phải đi ngoài đường. Anh em tự vệ đào nhiều hầm hố để chiến đấu.


Ngày 17-12-1946, binh lính Pháp ngồi trên ô-tô qua phố Yên Ninh và Hàng Bún và xả súng bắn vào trụ sở của tự vệ thành. Tại đây, anh em tự vệ bắn trả kịch liệt. Bọn Pháp bắn phá mấy ngôi nhà làm thiệt mạng và bị thương một số thường dân của ta, tự vệ ta cũng bắn chết một số binh lính Pháp. Cuộc xung đột kéo dài ngót tiếng đồng hồ, súng nổ râm ran. Ngày 18-12-1946, Hồ Chủ tịch đánh điện cho Pháp phản đối kịch liệt việc Pháp gây hấn. Bọn Pháp đóng tại Hà Nội đòi giải tán tự vệ, đòi chiếm sở mật thám, Chính phủ ta kháng cự yêu cầu của chúng. Nhân dân Hà Nội hôm ấy chỉ còn những người khỏe mạnh ở lại để chiến đấu. Những nhà giàu có, nhà buôn to, người nào quen với Pháp kiều đều ở nhờ các phố Tràng Tiền và phố Quán Thánh, những người quen với Hoa kiều thì đến ở nhờ phố Hàng Ngang, Hàng Buồm, họ không chịu tản cư. Còn những người ở lại để tham gia chiến đấu đều chuẩn bị sẵn các bàn ghế, giường phản, sập gụ, tủ chè để quăng ra đường làm chướng ngại vật; các gốc cây đều được đục lỗ sẵn để cài mìn.


Ngày 19-12-1946, việc giao thiệp với Pháp rất găng, ông Hoàng Minh Giám (con cụ Hoàng Tăng Bí, nguyên giáo sư Trường Bưởi) được cử đến Phủ Phó toàn quyền cũ (nay là Tòa soạn báo Nhân dân ở phố Hàng Trống) để gặp J.Sainteny, nhưng tên này cự tuyệt không tiếp. Thế là hồi 8 giờ tối ngày 19-12-1946, cuộc tác chiến ở Thủ đô xảy ra. Pháo đài Láng bắn phát súng đầu tiên vào trại lính Pháp ở Hà Nội, giết chết một số binh lính Pháp, chúng điên cuồng bắn đạn bừa bãi vào các phố dân ta ở. Công nhân nhà máy điện cắt điện, phá hỏng máy. Cả Hà Nội chìm trong bóng tối, súng lớn súng nhỏ nổ râm ran suốt đêm. Một ngôi nhà ở phố Hàng Đào trở thành nơi tiếp tế lương thực cho tự vệ và chiến sĩ; các bà các cô ở các phố lân cận bị mắc kẹt không ra khỏi thành phố được đều đến nhà này tham gia các việc như thổi cơm, nấu nước, nướng cá mắm, nắm cơm đem tiếp tế cho các chiến sĩ. Lương thực, thực phẩm suốt mấy tháng rất thừa thãi. Những anh em thanh niên không có khí giới để chiến đấu tham gia việc tiếp tế lương thực. Họ khuân về hàng tấn gạo, nước mắm, tôm he, mực khô, cá khô ở phố Hàng Mắm đem về cho phụ nữ chế biến. Trong thành phố bây giờ có nhiều cơ sở tiếp tế lương thực cho các chiến sĩ.


Ngày 20-12-1946, Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn thể nhân dân ta không phân biệt giai cấp, tôn giáo, tất cả già trẻ lớn bé, gái cũng như trai đoàn kết chống Pháp, cứu nước. Ai có súng dùng súng, ai có dao dùng dao, không có dao thì dùng cuốc xẻng, gậy gộc, nông dân rút răng bừa ra làm khí giới chiến đấu chống quân giặc cướp nước. Lời kêu gọi của Người được viết tay thành nhiều bản dán khắp nội, ngoại thành Hà Nội và các vùng nông thôn. Nhân dân ta nô nức hưởng ứng lời kêu gọi của Người, xin gia nhập tự vệ chiến đấu và lập thành Trung đoàn Thủ đô. Cùng ngày 20-11 chiến sĩ Thủ đô và công nhân bưu điện đóng trong nhà Bưu điện Bờ Hồ đánh lui nhiều cuộc tấn công của giặc Pháp từ mạn phố Tràng Tiền. Chúng định tiến lên Hàng Đào. Chúng không dám đi qua đường Lê Thái Tổ (bấy giờ còn có tên là đường Bô-săng) vì ở đây cây cối rậm rạp như rừng suốt từ ven hồ lên đến bờ hè đường nhựa. Bấy giờ chỉ có một con đường đi (chưa có đường đôi), bọn giặc Pháp sợ chiến sĩ ta phục kích trong rừng cây ấy bắn ra, nên chúng cố mở con đường Đinh Tiên Hoàng (bấy giờ còn mang tên cũ là đường Francis Garnier). Từng có khá nhiều tên bị mất mạng tại đây. Về sau chúng nống ra được, lên đến đền Ngọc Sơn chúng bắn tan trấn Ba Đình làm đổ cầu Thê Húc và bắn nhiều phát đạn vào trong đền. Tại nhà Sô-va, trụ sở của một hãng tàu thủy đường sông của Pháp (nay là Trường Nguyễn Huệ), chiến sĩ Thủ đô chặn đánh bọn binh lính Pháp từ cầu Long Biên tiến xuống Nhà hát Lớn. Cuộc giao tranh rất kịch liệt, do đó nhiều nhà dân ở hai phố Hàng Tre bị phá rụi. Riêng phố Hàng Tre dưới, thường gọi là phố tòa án Hàng Tre chỉ có một bên dãy phố chẵn có 17 nhà thì 7 nhà bị phá trụi trơ nền đất, 4 nhà bị cháy sàn gác và cửa gỗ, 6 nhà còn nguyên vẹn. Những người bị mắc kẹt trong thành phố được biết rõ: bọn me tây và bọn lưu manh biết trước những nhà nào sẽ bị lính Pháp phá, chúng vào cướp bóc hết đồ đạc, sau đó binh lính Pháp phun xăng và phóng hỏa. Những nhà không bị đốt phá, đồ đạc không mất gì. Theo lời người ở lại thành phố cho biết thì những nhà không bị binh lính Pháp đốt phá đều có người ở lại, nhà thì treo cờ trắng, nhà thì treo cờ Pháp, nhà thì treo cờ Mỹ, tụi Pháp chẳng những không đốt phá mà còn bảo vệ giúp nên đồ đạc còn nguyên vẹn. Những nhà lá ven sông thuộc các xóm Phúc Tân, Phúc Xá, Nghĩa Dũng, Cầu Đất đều bị đốt cháy hết. Suốt nửa tháng trời, đêm nào Hà Nội cũng sáng rực lửa do Pháp đốt nhà dân Việt để lấy ánh sáng canh phòng các nơi. Sau này người ta điều tra trong thành phố ngót hai vạn ngôi nhà gạch bị đốt phá (không kể những nhà lá ở dưới các bãi ven sông).


Ngày 14-1-1947, các chiến sĩ quyết tử họp tại rạp hát Tố Như phố Hàng Bạc (tức là rạp cải lương Hý Viện chuyên hát chèo, sau đổi tên là rạp Văn Lang, rồi lại đổi tên là Tố Như, nay là rạp Chuông vàng Thủ đô) làm lễ tuyên thệ lập thành Đội quân Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Đội quân này chiến đấu rất anh dũng làm cho giặc Pháp bị thiệt hại nặng, mặc dù chúng có ô-tô, mô-tô, xe tăng máy bay đi yểm trợ. Các xe pháo của chúng đi trong thành phố nhiều chỗ bị mắc kẹt vì chướng ngại vật: bàn ghế, giường, tủ... nhân dân các phố đã quăng ra đường; những hầm hố và ụ đất do tự vệ và nhân dân đào đắp khắp nơi trong thành phố, ngăn cản bước tiến của giặc Pháp. Xe tăng của chúng luôn bị chiến sĩ ta lao bom ba càng phá hủy; máy bay của chúng định đến ném bom pháo đài Láng bị trúng đạn của pháo đài bắn rơi. Những tên lưu manh, trước kia chính là của bọn Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng, một số chạy theo quân Tưởng Giới Thạch sang Trung Quốc, còn một số ở lại làm tay sai cho thực dân Pháp. Chúng được cấp khí giới đi giết hại đồng bào và cướp bóc những đồ đạc của các nhà vắng chủ; nhân dân ta gọi chúng là "phỉ". Binh lính Pháp bị Trung đoàn Thủ đô giết hại rất nhiều trong các cuộc giao tranh. Ngày 14-2-1946 trong trận giao tranh tại chợ Đồng Xuân, một trăm tên lính Pháp bị giết, 4 xe tăng bị phá hủy, chúng điên cuồng đốt phá cả dãy nhà trước cửa chợ (riêng hiệu thuốc tây của Thẩm Hoàng Tín không bị phá). Thường dân Việt Nam còn mắc kẹt trong thành phố bị giết hại nhiều, lãnh sự các nước yêu cầu hai bên tạm đình chiến vài ngày cho thường dân được ra khỏi thành phố. Sau đó cuộc giao chiến lại tiếp tục khắp các nơi. Còn một số lần chần không ra kịp đều được tự vệ đưa ra khỏi thành phố ban đêm. Họ phải chui ra gầm cầu Long Biên ở ven sông Hồng, lúc qua gầm cầu phải bò, phải giữ kín không để phát ra một tiếng động nào, vì lính Pháp đứng trên cầu nghe có tiếng động là bắn vãi đạn xuống. Nhiều người ra thoát, nhiều người bị chết. Sau hơn hai tháng chiến đấu trong thành phố và sau khi đã giúp cho nhân dân bị mắc kẹt trong thành phố ra hậu phương, tự vệ và Trung đoàn Thủ đô cũng rút dần ra hậu phương để bảo toàn lực lượng còn chiến đấu lâu dài. Một số tự vệ ở lại trong thành phó đánh du kích. Trong thành phố Hà Nội, súng nổ lẻ tẻ từng nơi từng lúc. Binh lính Pháp bắt người Việt mắc kẹt trong thành phố thu nhặt thi hài người Việt đem chôn tại cạnh tòa án, nay là mồ liệt sĩ.


Thực dân Pháp tạm thời chiếm đóng trong thành phố Hà Nội, nhưng cuộc sống của chúng không yên ổn, luôn luôn bị phục kích, quân lính Pháp bị dao động, nhiều thằng ngồi trên ô tô tải đột nhiên nhảy xuống đường chạy trốn, bọn thượng cấp phải dùng xích cột chúng vào xe.


Tháng Ba 1947, Pháp đánh chiếm thị xã Hà Đông. Cuộc giao tranh tại đây cũng khá kịch liệt, nhiều nhà ở phố Dinh bị phá. Thực dân Pháp bị thiệt hại nhiều về người và của, có ý muốn điều đình. Tháng 4-1947, Bollaert được cử sang làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay D’Argenlieu, có ý muốn mở cuộc thương lượng với Chính phủ ta. Tháng 5, hắn phái tên Cút - xô lên Thái Nguyên xin gặp Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám để đưa ra ý kiến điều đình, nhưng chúng muốn giữ phần hơn là đòi ta phải giao khí giới cho chúng, đòi quân đội Pháp được tự do đi lại khắp nơi. Những điều khoản vô lý ấy bị ta cự tuyệt, Cút-xô cút về Hà Nội. Thực dân Pháp bấy giờ rất lúng túng, vì mới gây hấn có mấy tháng mà quân lính của chúng chết hại rất nhiều, lại tiêu phí nhiều tiền, nhân dân Pháp nổi lên phản đối dữ dội, đòi Chính phủ Pháp phải đình chỉ chiến tranh để kiến thiết lại nước Pháp đã bị tàn phá trong trận đại chiến thứ hai.


Tháng 9-1947, Bollaert vào Hà Đông đứng trên đống gạch vỡ đọc diễn văn nhắn ra hậu phương của ta, xin nối lại cuộc điều đình theo như Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946. Đài phát thanh của ta ở hậu phương trả lời cho chúng biết rằng: Nhân dân Việt Nam vẫn yêu chuộng hòa bình nên ký kết Hiệp ước Sơ bộ 6-3-1946 nhường cho Pháp nhiều quyền lợi, nhưng thực dân Pháp ngoan cố muốn tái chiếm Việt Nam làm thuộc địa, xé hiệp ước, gây hấn. Nhân dân Việt Nam vì sự tự vệ, phải cầm khí giới chống lại. Nhân dân Việt Nam không chịu chui vào tròng nô lệ của chúng. Lời yêu cầu của Bollaert bị ta cự tuyệt, thế là thực dân Pháp đã lúng túng lại thêm lúng túng. Chúng liền xoay trò đưa Bảo Đại ra làm cái bung xung để lừa dối thế giới. Bảo Đại, tên vua bù nhìn cuối cùng của nhà Nguyễn Gia Long là một thằng ngốc chỉ thích ăn diện và hoang dâm, đã bị nhân dân ta lật đổ hồi cách mạng tháng Tám 1945. Hắn được Chính phủ ta khoan hồng cho ra Hà Nội tham dự với danh nghĩa tối cao cố vấn và lấy lại cái tên cúng cơm là Vĩnh Thụy. Nhưng được ít lâu nó trốn sang Vân Nam rồi ra Hương Cảng ở. Thực dân Pháp lại phái tên Cút-xô sang Hương Cảng báo tin cho Bảo Đại biết rằng Pháp lại đưa hắn về nước làm bù nhìn. Lẽ dĩ nhiên là tên vua ngốc này mừng rơn. Sau đó, thực dân Pháp cử Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng. Nguyễn Văn Xuân là một tên Việt gian có Pháp tịch đi lính cho Pháp thăng dần lên chức thiếu tướng. Hắn không nói được tiếng mẹ đẻ và cũng không đọc được báo chữ Việt. Trong thời gian hắn làm “thủ tướng”, các phòng thông tin phải cử mấy anh dịch báo chữ Việt ra chữ Pháp cho hắn đọc.


Thực dân Pháp lại bày trò: tên Cao ủy Bollaert cùng Nguyễn Văn Xuân đem nhau ra vịnh Hạ Long “điều đình” và cùng ký Hiệp định Sơ bộ trên một chiến hạm. Sau việc này, Pháp đưa cả gia đình Bảo Đại sang Pháp cho ở Cannes, một tỉnh nhỏ gần Paris, rồi cũng ký với Tổng thống Pháp Vincent Auriol bản “tạm ước”. Các bản hiệp định và tạm ước này cũng na ná như các bản thực dân Pháp đã ký với Hồ Chủ tịch năm 1946. Đây là một trò hề để lừa bịp thế giới. Các bản ký kết này cũng nói Việt Nam độc lập, thống nhất, nhưng ở trong khối Liên hiệp Pháp. Thực tế, Pháp nắm giữ hầu hết các quyền hành như cũ. Nhân dân ta gọi là “độc lập giả cầy”.


HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN BỊ TẠM CHIẾM


Sau hơn hai tháng chiến đấu anh dũng trong nội thành Hà Nội, làm cho giặc Pháp chết hại nhiều, Trung đoàn Thủ đô và tự vệ thành vượt sông Hồng bằng thuyền thúng, rút hết ra hậu phương, chỉ còn lưu lại những anh em đánh du kích và làm tình báo, liên lạc.


Tại hậu phương, Chính phủ ta đã thiết lập các khu kháng chiến, các cơ quan hành chính và tòa án, các nhà in, xưởng chế quân nhu, xưởng chế tạo súng đạn thiết lập trong các khu rừng kín. Đồng bào làm giấy ở Bưởi được sắp xếp ở Ấm Thượng thuộc tỉnh Phú Thọ lập thành hợp tác xã làm giấy cung cấp cho các nhà in. Anh em công nhân nhà in trước kia ở Hà Nội đã thành lập công đoàn, khi xảy ra tác chiến đều chuyển vận hết máy in và chữ chì ra hậu phương để tiếp tục công việc in phục vụ kháng chiến. Chữ chì thiếu, công nhân ta đúc lấy bằng cách đổ khuôn làm bằng thạch cao, chữ làm ra chẳng kém gì chữ đúc bằng máy. Tại hậu phương, trong hồi kháng chiến nhân dân ta có đủ sách, báo. Báo Cứu quốc xuất bản hàng ngày thông báo tin tức về các trận thắng của quân và dân ta trên các mặt trận; sự phát triển về nông nghiệp và thủ công nghiệp cùng các tin tức về các hoạt động của Chính phủ. Trong hồi kháng chiến, thủ công nghiệp của ta rất phát triển: nghề làm áo tơi nón lá, rồi cả mũ lá phổ biến khắp nơi, nghề làm dép bằng lốp ô-tô là một nghề mới sản sinh trong hồi kháng chiến; ô-tô của giặc Pháp nống ra hậu phương bị ta chặn đánh phá hủy, lấy lốp làm dép cho bộ đội và nhân dân dùng. Các công chức, giáo viên tản cư ra hậu phương đều được sắp xếp vào làm trong các ủy ban hành chính hoặc tòa án, hoặc đi dạy Bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ; các giáo viên được đi dạy học trong các trường thiết lập khắp mọi nơi. Các bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ sinh tản cư ra hậu phương đều được thu hút vào làm việc trong các bệnh viện, trạm y tế, phục vụ cho kháng chiến rất đắc lực. Trong thời kỳ kháng chiến, Chính phủ ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc, do đó ta có một nền kinh tế tự túc rất vững chắc, theo đuổi được cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp trong chín năm ở Việt Bắc. Cuộc kháng chiến làm cho cả thế giới khâm phục, nên nhân sĩ và nhà báo các nước thường đến hậu phương ta thăm thú và tán tụng. Mọi người đều khâm phục Hồ Chủ tịch là nhà lãnh đạo tài tình.


*


Sau khi các chiến sĩ ta rút ra khỏi Hà Nội để củng cố cuộc trường kỳ kháng chiến, thực dân Pháp tạm chiếm Hà Nội, nhưng chúng vẫn không ở yên, luôn luôn bị du kích tấn công lẻ tẻ các nơi. Tàu điện của chúng tối đến không dám về kho ở Thụy Khuê, đỗ đầy cả ở Bờ Hồ và có lính canh gác, thế mà có lần cũng bị đốt mấy toa. Ban ngày tàu chạy đi các ngả phải có bốn tên lính Pháp mang súng đi hộ vệ, thế mà một lần đoàn tàu qua Bạch Mai bị trúng mìn tan cả đầu máy. Một tên sĩ quan Pháp ngồi uống bia trong nhà Thủy tạ giữa ban ngày, bị một em đánh giày liệng quả lựu đạn chết tươi. Tên Trương Đình Tri (bác sĩ) đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng được thực dân Pháp cho làm chủ tịch Hội đồng an dân, vừa tuy toe được mấy tháng thì trúng mìn chết tan xác.


Trong các năm 1947, 1948 và đầu năm 1949, Hà Nội rất điêu tàn vắng vẻ, những nhà bị đổ bị cháy, đất cát, gạch ngói ngổn nhang, có nơi còn xác người chết bị vùi trong đám đất vôi, mùi hôi xông ra nồng nặc. Thực dân Pháp dùng cách chiêu dụ những người sơ tán về ở. Chúng cho tay sai đem một số ít hàng như giấy, bút, mực, tấm ni lông, một số vải ra vùng Đồng Quan, Chợ Đại, Cống Thần thuộc huyện Phú Xuyên - Hà Đông (nay là Hà Nội), nơi những nhà buôn giàu có ở các phố Hàng Phèn, Thuốc Bắc, Lãn Ông, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Gai, Hàng Bông tản cư ra ở đông. Những người này biến vùng Đồng Quan thành một “thành phố nhỏ”, đủ các hàng quà bánh, phòng trà, tiệm giải khát, họ ăn chơi lu bù. Họ tản cư ra đây gần Hà Nội để nghe tin tức rồi sẽ rủ nhau “dinh tê”1. Bọn nhà buôn giàu có kể trên kéo cả về Hà Nội ở. Giặc Pháp đặt ra các trạm hồi cư ở Bưởi, Ngã Tư Sở, Bạch Mai, Gia Lâm để đón tiếp người hồi cư. Chúng cấp cho mỗi người một giấy thông hành, sau khi vào thành phố yên chỗ rồi, người hồi cư chụp ba tấm ảnh nghiêng rồi đem ảnh và giấy thông hành ra Sở Mật thám ở đường Hàng Cỏ (tức là đường Trần Hưng Đạo) in thẻ căn cước. Giặc Pháp còn cho tay sai ra hậu phương tuyên truyền các công chức cũ: người nào về Hà Nội làm việc cho Pháp sẽ được lĩnh lương truy lĩnh từ 1945 đến năm 1948. Thế là một số công chức tản cư kéo nhau về. Họ được truy lĩnh lương trở thành một nhà giàu, như trường hợp một ông làm ở sở Lục lộ Hàng Tre. Hồi Pháp thuộc, nhà còn đi ở thuê, thế mà hồi cư về, được món lương truy lĩnh, tậu đất làm ngôi nhà bê tông cốt sắt hai tầng rất khang trang lịch sự, đó là ngôi nhà số 36 phố Lò Sũ.


Thực dân Pháp còn dùng lối cho binh lính ra hậu phương của ta càn quét rồi bắt người tập trung một nơi, thấy người nào nói tiếng Pháp thạo là chúng đưa cả gia đình và đồ đạc lên ô tô đem về Hà Nội, xếp cho chỗ ở. Mặc dù giặc Pháp dùng đủ mọi cách để dụ dỗ và phóng tài hóa thu nhân tâm, nhưng nhân dân ta ở trong lòng địch vẫn hướng ra hậu phương, vẫn ủng hộ kháng chiến. Nhiều người nuôi cán bộ và cả du kích trong nhà; nhiều người bỏ tiền mua tín phiếu ủng hộ kháng chiến; một số người còn mua lậu súng đạn của binh lính Pháp gửi ra hậu phương. Tại phố Hàng Bông đã xảy ra chuyện vận chuyển khí giới ra hậu phương khá ly kỳ: một đám ma có đủ người chống gậy, kẻ khóc người lăn ra đường và người đưa đám khá đông. Khi đám ma ra khỏi thành phố gần đến chỗ chôn ở nghĩa địa Thanh Xuân gần Hà Đông, tang gia nói còn chờ ông thầy địa đến phân kim mới hạ huyệt được nên cho anh em chở xe tang về trước và các bạn đưa đám cũng về, tang gia sẽ hạ huyệt lấy. Về sau bọn mật thám Pháp mới được tin báo rằng đám ma ấy là đám ma giả, trong quan tài không có xác chết, chứa toàn súng đạn. Chúng đi tìm hiếu chủ thì hiếu chủ cũng đi đâu mất, đến xem nhà tang thì là ngôi nhà vắng chủ, người tản cư chưa về.


Trong thành phố vẫn luôn luôn xảy ra các vụ ném lựu đạn, mật thám Pháp thường xuyên mở các cuộc càn quét bắt bớ, và chúng có bắt được một số cán bộ và du kích của ta. Chúng đem những người bắt được giam tại nhà tiền, một tòa nhà ở đầu dãy Nhà in Tiến bộ đường Nguyễn Thái Học ngày nay. Tòa nhà này thực dân Pháp xây năm 1942 chuyên in tiền cho phát xít Nhật tiêu, nên gọi là nhà tiền. Những anh chị em bị giam trong nhà tiền đều là những chiến sĩ kiên cường bất khuất, dù bị mật thám đánh đập tra tấn dã man nhưng không ai chịu khai điều gì có hại cho đồng chí và cách mạng. Cán bộ và du kích của ta, người này bị bắt lại có người khác ở hậu phương vào Hà Nội hoạt động, cả những chị em phụ nữ làm các việc liên lạc, đưa báo chí truyền đơn từ ngoài vào để cổ động tinh thần nhân dân ta trong vùng bị tạm chiếm và chuyển lựu đạn cho du kích để trừng trị những tên giặc Pháp và những tên ác ôn tay sai của Pháp. Mật thám Pháp đặt ra một ban nữ cảnh binh để khám xét phụ nữ. Các cô này đều mặc quần chùng áo dài, đầu vấn khăn theo lối cổ, trước ngực đeo cái thẻ tròn bằng sắt tây có sơn hai chữ CB. Một tờ báo ở Hà Nội đăng một bài thơ chế giễu bọn này:


Xưa ta vẫn trầm trồ khen ngợi


Phụ nữ người tiến tới đến đâu.


Biết bao gái Mỹ, gái Âu,


Ra làm cảnh sát đứng đầu ngã ba.


Nay mới thấy đàn bà nước Việt,


Đã xung phong giữ việc trị an.


Đầu đường, góc chợ, ngõ ngang


“Oai phong lẫm liệt” mấy nàng cảnh binh.


Tay trật tự rất xinh khám xét


Khách qua đường cho biết ngay gian.


Thủ đô trong cảnh điêu tàn,


Có nàng cảnh sát giang san cũng tình.


Tớ nhắn nhủ những anh lão bố:


“Súng lục” kia chớ có giương vây.


Các cô khám thấy có ngày,


Nắm luôn lấy súng đem ngay trình đồn


Chị em cố làm tròn phận sự,


Nhờ ơn trên thưởng tứ mề- đay.


Nước nhà khởi sắc từ đây,


Phấn son tô điểm mỗi ngày thêm Xuân!


Bài thơ ấy có tác dụng làm cho những chị em phụ nữ đã trót làm cảnh binh cho Pháp đều xấu hổ từ chức về đi buôn, còn các chị em khác không ai ra làm nữa, họ đi buôn bán lặt vặt còn hơn. Hồi bấy giờ, hàng hóa thực phẩm còn khan hiếm và thiếu thốn nhiều, các chợ ít người họp, Pháp phải cho mở cái chợ bán thức ăn ở quanh tháp Hoa Phong (tức là tháp Báo Ân của chùa Ông Thượng cũ) bên Bờ Hồ để bán rau tươi, thịt lợn, gà vịt và một ít hàng cần dùng. Người ở Hà Nội bấy giờ đi ra đường phải xách cái túi hay cái bị để đi đường gặp thứ gì thì mua.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info







[1] Theo hồi ký của Saintenie trong cuốn “Một cuộc hòa bình bị hụt” (fistime d’une faix manquéc) xuất bản năm 1954, khi không tìm ra lối thoát và bị đại bại tại Việt Nam.




 


[2]Trong sử sách Trung Quốc xưa có ghi chép: Mã Viện đời Đông Hán đem quân sang xâm lược Giao Chỉ (tên cũ của Vệt Nam), sau khi làm thất bại cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng, hắn rút quân về trồng một cột đồng ở biên giới, có ghi sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cột đồng gãy, nước Giao Chỉ bị tiêu diệt). Từ xưa tổ tiên ta vẫn bất bình về chuyện cột đồng này. Trong các sách chuyện nói về cuộc bang giao của phong kiến Việt Nam với phong kiến phương Bắc có lần xảy ra chuyện đối đá như sau: sứ giả phong kiến phương Bắc muốn làm nhục Việt Nam bằng vế câu đối “Đồng thụ chí kim đài vị lục” (Đến nay rêu mọc trên cột đồng vẫn chưa xanh). Sứ giả Việt Nam liền đập lại ngay bằng vế đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết đỏ hồng” (Máu đổ trên sông Bạch Đằng từ xưa đến bây giờ vẫn còn đỏ. Trận Bạch Đằng quân nhà Trần đại thắng quân xâm lược nhà Nguyên). Tên Việt gian Hoàng Cao Khải vịnh thơ Hai Bà Trưng, hai câu kết: “Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy, chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương” (Hồ Tây còn có tên là hồ Lãng Bạc, tương truyền Hai Bà Trưng tuẫn tiết ở đấy).


 


 




[3]Sau ngày 2-9-1945, chính phủ ta phát hành một thứ giấy bạc hoàn toàn Việt Nam, giấy bạc này gọi là tiền tài chính. Năm 1955 chính phủ ta lại phát hành thứ tiền mới in đẹp hơn gọi là tiền ngân hàng và thu tiền tài chính về. Năm 1958, chính phủ phát hành tờ giấy bạc ta tiêu hiện nay.


 




1 Phiên âm chữ Pháp “entres” nghĩa là vào. Danh từ này, ngày xưa trẻ em ta thường dùng trong trò chơi đánh bi: bắn hòn bi vào cái vòng con vẽ dưới đất gọi là "dinh tê".




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »