tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20017765
Tiểu thuyết
28.03.2017
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay



Sau các cuộc khủng bố rất dã man bằng máy bay ném bom xuống Nghệ Tĩnh, Vĩnh Bảo, Cổ Am[1], Kiến An, thực dân Pháp tưởng rằng sẽ đàn áp được tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, nhưng không ngờ các cuộc biểu tình Cộng sản với cờ đỏ búa liềm vẫn luôn luôn xảy ra tại nhiều nơi, các chiến sĩ Cộng sản khi bị bắt đem ra tòa của thực dân, họ đều đồng thanh hát bài Quốc tế ca.


Đàn áp nhân dân ta bằng võ lực không được, thực dân Pháp bèn trợ cấp cho Nguyễn Tường Tam ra tờ báo Phong hóa để đầu độc thanh niên Việt Nam. Báo này bằng những bài và truyện khiêu dâm một cách lộ liễu gần giống như báo Phô trương (Tranfran) của Pháp. Tuy báo được một số thanh niên thích đọc, nhưng nhiều người phản đối và tẩy chay. Nguyễn Tường Tam liền đổi tên báo là Ngày nay, không dám đăng các bài và chuyện khiêu dâm quá lộ liễu nhưng xoay lối tuyên truyền để đầu độc nam nữ thanh niên. Họ khuyến khích phụ nữ nên cạo răng trắng, mặc quần trắng, rồi bỏ cái yếm cổ kính đi, đeo sú-chiêng để giải phóng đôi vú, bỏ quần trong, mặt si-líp, rồi đến bôi môi son, giũa móng tay sơn móng tay. Việc tuyên truyền của báo Ngày nay được các cô con nhà tư sản và tiểu tư sản nghe theo, thế là gây thành phong trào cải cách y phục phụ nữ. Họ tổ chức những cuộc thi gái đẹp, gọi là “bầu hoa hậu”, lấy những cô vú to, bụng lép, đít cong, chân dài làm mẫu người đẹp nhất. Bọn Nguyễn Tường Tam định gây phong trào “sống khoái lạc” (vicintégrale). Họ thuê một cái nhà có buồng rộng ở phố Quán Thánh, mỗi chiều thứ bảy và cả chủ nhật, bọn họ vào khoảng mười anh, mỗi anh đem theo một cô gái bao[2] đến nhà đó, rồi tất cả trai gái đều bỏ hết quần áo, sống trần truồng, họ ăn uống, hút thuốc phiện, đàn hát, khiêu vũ và giở trò “quần hôn” trước mặt nhau. Mục đích của báo Ngày nay là làm cho nam nữ thanh niên hồi bấy giờ bị sa ngã để sống say chết ngủ trong cuộc đời lãng mạn, nhạt dần tinh thần yêu nước chống Pháp. Họ chế giễu và gọi báo Nước Nam là tờ Nước Mắm, họ chế giễu cụ Nguyễn Văn Tố, một nhà sử học nổi tiếng, gọi cụ là “ông Tố tổ chấy”, vì cụ vẫn để búi tóc, mặc Nam phục, suốt đời không bao giờ đi xe kéo hay xích lô, đi làm toàn cuốc bộ từ phố Hàng Phèn xuống trường Viễn Đông Bác cổ ở phố Lý Thường Kiệt.


Với những tranh vẽ khôi hài, văn thơ trào phúng, báo Ngày nay hấp dẫn được số người khá đông. Chính báo này đã gây phong trào ra báo đặc san về Tết Nguyên đán thành nền nếp đến bây giờ. Trước kia, các báo hàng ngày và tạp chí không năm nào ra số đặc san về tết và nói chuyện tết, riêng báo hàng ngày số xuất bản cuối cùng rồi nghỉ tết phát hành chiều 29 tháng Chạp (tháng đủ) hoặc 28 tháng Chạp (tháng thiếu) in một cái hình thiếp gấp góc, phía trên bên trái có bốn chữ “Cung chúc tân niên”. Từ năm 1928, một số nhà xuất bản mỗi năm ra một cuốn sách, đặt tên là “Sách xem tết”; năm 1928 gọi là “Sách xem tết năm Mậu Thìn”. Nội dung sách có những truyện ngắn về tết, những bài nói về tục kiêng kỵ trong ngày tết của ta ngày xưa, một số văn thơ câu đối cổ về tết và cách xem ngày giờ xuất hành năm mới v.v…


Năm 1930, nhà in Trung Bắc tân văn ra cuốn niên lịch thông thư năm Canh Ngọ, hơn 300 trang khổ 13x19, ngoài bìa vẽ con long mã lẫn trong đám mây, nội dung có những ngày tốt ngày xấu, ngày kiêng kỵ, suốt cả năm Canh Ngọ; rồi đến những bài về số tử vi, cách so đôi tuổi, cách tính giờ sinh, cách tính giờ chết, cách lấy số tử vi, dạy đánh tổ tôm, một số bài về thường thức trong sinh hoạt và những trang quảng cáo của các nhà buôn, các hiệu thuốc. Loại niên lịch thông thư này ra được bốn năm, bốn cuốn, khi Nguyễn Văn Vĩnh chết thì thôi.


Tiếp đó, nhóm Tự lực Văn đoàn mỗi năm xuất bản một số báo “Ngày nay tết” có kèm theo một phụ bản in màu vẽ cảnh thiếu nữ đi lễ chùa, có năm vẽ cảnh thiếu nữ ngồi xem hoa. Những tranh ấy do các họa sĩ nổi tiếng vẽ nên được nhiều người ưa thích tuy lối in màu hồi bấy giờ còn thô sơ, chưa được tinh tế như ngày nay. Loại báo tết này được nhiều người hoan nghênh, vì có tờ tranh của một hoạ sĩ nổi tiếng dán treo trang trí trong nhà. Từ đó trở đi, các báo và tạp chí đua nhau ra báo tết về dịp cuối năm âm lịch, nhưng không có phụ bản tranh vẽ.


Thời gian này, ông Phan Chân Hưng ra tờ báo Nông công thương, mỗi tuần lễ xuất bản hai kỳ; ông Nguyễn Công Kiều ra tờ Khoa học tạp chí một tháng xuất bản hai kỳ. Trong hồi kinh tế khủng hoảng, những báo ra lâu năm như Trung Bắc tân văn sống ngắc ngoải; Thực nghiệp dân báoĐông Phương nhật báo đình bản hẳn, nhưng lại có nhiều tờ tuần báo xuất bản của những nhóm người ra báo cốt để đầu cơ giấy. Hồi kinh tế khủng hoảng, giấy của Pháp nhập vào bán không chạy, ngoài việc bán cho hàng mã, giấy bán cho nhà in nhà báo rất ít. Bọn buôn giấy của Pháp như hãng Cáp-pha (chúng xây nhà to ba tầng ở phố Nguyễn Trường Tộ ngày nay, chuyên việc buôn bán giấy), bọn buôn bán dụng cụ nhà in và giấy Maron Rosa; nhà in Viễn Đông vừa làm nghề in vừa buôn bán giấy sách đòi bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương phải nới việc ra báo ra sách để mở thêm con đường tiêu thụ giấy. Một mặt khác, bọn buôn giấy người Pháp thúc ép quan Pháp không đánh thuế nhập khẩu thứ giấy dùng vào việc in báo. Thứ giấy này có dấu riêng là khi soi lên thấy trong tờ giấy có một vạch kẻ trắng bóng, gọi là “vết nước” (papier à ligne d’eau) được miễn thuễ nhập khẩu, giá rất rẻ; còn những người muốn ra báo không bắt buộc phải có nhà in hay có tài sản gì đảm bảo như trước, hễ ai khéo vận động với tên chánh mật thám chính trị Marti trên phủ toàn quyền Pháp là ra được báo ngay. Họ ra báo chỉ in mấy trăm số, khi nộp lưu chiểu khai là in mấy nghìn số. Họ mua được nhiều loại giấy có “vết nước” bán cho những nhà chuyên nhuộm giấy màu để bán lại cho hàng mã. Khi thuế quan phát hiện ra việc buôn bán loại giấy này là phạt cho một “vố” rất nặng, mất hết vốn, thế là báo phải đình bản. Những người ra báo để đầu cơ giấy này toàn là in báo thuê tại các nhà in. Họ không có nhà in riêng, nhưng dưới trang tư tờ báo vẫn đề chữ “in tại nhà in riêng”. Hồi bấy giờ đương có nạn kinh tế khủng hoảng, nhiều nhà in không có việc, nhận in báo thuê, sẵn lòng để các ông xuất bản báo đầu cơ giấy, đề chữ “in tại nhà in riêng” như vậy để đề phòng khi báo phạm vào đường lối chính trị của thực dân Pháp bị tich thu, bị cấm, bị phạt, các chủ nhà in không bị liên can. Có một số nhà in vì không có việc hoặc ít việc nhận in báo thuê cho các ông đầu cơ giấy và sẵn lòng cho họ in chịu, sau khi bán được báo sẽ thanh toán. Khi báo họ bị đình bản là mất nợ. Riêng nhà in Lê Cường làm đạo chắc, hễ ai đến thuê in báo, anh chủ nhà in yêu cầu họ phải đặt một khoản tiền ký quỹ, để phòng khi báo của họ bị đình bản đã có số tiền ký quỹ bù vào. Ông chủ nhà in Tân Dân không nhận in thuê cho báo nào, ông chỉ in việc vặt và in sách xuất bản. Ông chủ nhà in ấy là Vũ Đình Long, nguyên là một nhà giáo và là tác giả hai vở kịch Chén thuốc độcTòa án lương tâm đã đăng trên Hữu thanh tạp chí được nhiều người hoan nghênh. Ông từ chức giáo học về mở nhà in và nhà xuất bản Tân Dân ở số 93 Hàng Bông. Trước hết ông xuất bản những truyện cổ Trung Quốc được nhiều người đương mê đọc hồi bấy giờ như Tam quốc, Thủy hử, Mạnh Lệ Quân, Song Phượng kỳ duyên, Anh hùng đáo tam môn nhai v.v… Ông xuất bản thêm cả một số sách giáo khoa dùng cho học sinh hồi bấy giờ để tự học thêm thi lấy bằng sơ học Pháp Việt. Rồi sau ông ra tờ tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy chuyên đăng các truyện ngắn do các nhà văn sáng tác. Trong tòa báo chỉ có hai người làm việc thường xuyên là Trúc Khê và Ngọc Giao, còn cộng tác viên rất nhiều: Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Đái Đức Tuấn (thường ký tên là Tchya), Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai và một số người nữa. Tiểu thuyết thứ Bảy bán rất chạy, ông lại ra thêm tờ Phổ thông bán nguyệt san, mỗi tháng xuất bản hai kỳ, chuyên đăng truyện vừa, đăng truyện nào hết gọn chuyện ấy. Loại báo này cũng được nhiều người hoan nghênh.


Năm 1934, tại Pháp, Mặt trận Bình dân lên cầm quyền, do sự đấu tranh của Đảng Cộng sản Pháp, bọn thực dân Pháp tại Đông Dương phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt. Nhân dịp này các báo xuất bản nhiều hơn, nhiều nhất là các báo của Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản công khai bênh vực quyền lợi cho giai cấp công nông. Tờ Tin tức của các ông Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, Đặng Xuân Khu (tức ông Trường Chinh), tờ Hà thành thời báo của ông Trần Huy Liệu và nhiều báo chữ Việt nữa. Báo chữ Pháp có tờ Lao động (Le Travail) của các ông Trịnh Văn Phú, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp. Các báo của Đảng luôn bị mật thám của thực dân tịch thu hoặc bị cấm xuất bản, nhưng khi báo này bị cấm thì báo khác lại phát hành. Cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai xảy ra, thực dân Pháp đặt lại chế độ kiểm duyệt.


Năm 1939, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện ra báo Tin mới, xuất bản hàng ngày. Ông mua cả một nhà in tối tân hồi bấy giờ có máy in giấy ống, có đủ dụng cụ làm ảnh kẽm. Tòa soạn và nhà in đặt ở ngôi nhà mới làm tại sau phố Hàng Bông, tức là nhà sau của tòa báo Trung Bắc tân văn[3] cũ, nay là ở góc phố Chân Cầm và Phủ Doãn. Tòa soạn gồm có Tam Lang Vũ Đình Chí làm chủ bút, Dương Mậu Ngọc - thường ký tên là Ngọc Thỏ, nhân viên của báo Trung Bắc tân văn cũ - chuyên coi về việc Hà Nội và viết tin “Thế giới hôm nay”; cụ Nghiêm Xuân Lãm chuyên dịch tiểu thuyết cổ Trung Quốc và dịch tin trong báo Trung Quốc, Phạm Cao Củng chuyên viết phóng sự và truyện ngắn (sở trường về lối truyện trinh thám), Trần Văn Quý chuyên về mục thể thao; Phan Linh Chi, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Quốc Ân, Cao Bá Thao (lấy tên hiệu là Thao Thao) chuyên săn tin Hà Nội. Báo in mới xuất bản bán rất chạy, nhưng đến năm 1942 phải chuyển sang chủ khác là Mai Văn Hàm. Hồi bấy giờ, Pháp thua trận, Pétain đầu hàng Hitler, nửa nước Pháp bị Đức chiếm đóng. Pétain phái Decoux sang làm toàn quyền Đông Dương với tên gọi rất “oai” là Cao ủy Pháp quốc hải ngoại và Thái Bình Dương (Haut commissaire de la France d’outremer et du Pacifique). Decoux thẳng tay đàn áp những người có tư tưởng tiến bộ, các báo chí bị kiểm duyệt rất ngặt. Các tờ báo cũng như tạp chí mỗi ngày và mỗi kỳ xuất bản phải in ảnh Pétain và mấy dòng chữ “Thống chế Pétain nói rằng…”. Ông Nguyễn Văn Luyện có chân trong Hội Tam điểm (Franc-maconnerie) của Pháp, một hội xã hội tiến bộ đương bị khủng bố dữ, nên ông phải bán cả tòa báo và nhà in cho Mai Văn Hàm, chủ hiệu mô-tô xe đạp ở phố Phủ Doãn. Người đứng môi giới trong việc mua bán này là Nguyễn Đệ, chủ hiệu xuất nhập khẩu ở phố Hàng Buồm. Anh này chỉ mất chút nước dãi và mấy chục tút thuốc lá Bastos, Cotab cũng dây máu ăn phần trong tòa báo. Anh ta cài ba người vào làm việc trong tòa soạn: Nguyễn Khắc Trạch con cụ Nguyễn Khắc Nhu, nhưng lại là tên phản động trong Việt Nam Quốc dân Đảng làm việc biên tập viên và Hoàng Tích Trù ( em Hoàng Tích Chu) họa sĩ trông nom về mỹ thuật của tờ báo. Sau khi mua lại báo Tin mới, Mai Văn Hàm cử em rể là bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ nhiệm chính trị của Tin mới. Bác sĩ Trọng là người có tư tưởng tiến bộ, ông rất đồng tình với nhân viên tòa soạn cũ, muốn đẩy bọn Nguyễn Khắc Trạch và Nguyễn Thế Nghiệp ra ngoài tòa soạn, làm cho họ viết bài không có chỗ đăng, nhưng bài của họ đều cổ động cho chính sách “Pháp Nam hợp tác” theo ý muốn của Nguyễn Đệ. Ba tháng sau, cả bọn Nguyễn Đệ đều rút lui, không can thiệp vào báo Tin mới nữa. Trước ngày 19 tháng Tám 1945, báo Tin mới được Mặt trận Việt Minh dùng làm cơ quan tuyên truyền cho cuộc tổng khởi nghĩa. Sau cách mạng tháng Tám, báo Tin mới đổi tên là Dân quốc; Đông Pháp đổi tên là Dân thanh, cùng xuất bản đến ngày 19 tháng Chạp 1946 thì đồng đình bản, anh em thợ in, thợ máy đều đi kháng chiến chống Pháp ngay đêm 19-12-1946.


Báo Tri tân là tờ báo chuyên khảo cứu về lịch sử do một nhóm người góp vốn mua nhà in xuất bản báo. Nhóm người đó là Nguyễn Tường Phượng có tên hiệu là Tiên Đàm và Cao Cương, Hoa Bằng, Hoàng Thúc Châm, Phạm Mạnh Phan, Dương Tự Quán và một số người nữa. Hoa Bằng làm chủ bút và bên ngoài có rất nhiều cộng tác viên: Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Đổng Chi, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Chu Thiên, Long Điền Nguyễn Văn Minh, Lê Thọ Xuân gửi bài ra đăng. Báo Tri tân được nhiều người hoan nghênh vì chuyên khảo cứu về lịch sử Việt Nam. Báo cũng đình bản vào ngày 19 tháng Chạp 1946.


 


HÀ NỘI TỪ HỒI KINH TẾ KHỦNG HOẢNG ĐẾN ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI LẦN THỨ HAI VÀ NẠN ĐÓI KHỦNG KHIẾP NĂM ẤT DẬU (1945)


Từ năm 1930 đến năm 1937, Hà Nội bị ảnh hưởng nạn kinh tế khủng hoảng của thế giới. Các hàng hóa bị ế đọng, công nhân bị thất nghiệp, nhiều nhà kinh doanh to bị phá sản, các nhà buôn nhỏ nghỉ làm ăn dọn về quê ở. Thành phố Hà Nội bấy giờ vắng vẻ. Các hàng hóa đều sụt giá, đồng tiền rất khó kiếm. Gạo mùa ngon bấy giờ chỉ độ hai đồng một tạ (100kg); con gà mái hơn một cân giá có ba hào; con vịt đàn non một cân giá có năm xu; củi để đun nấu do bà con ở vùng Chèm Vẽ chở xe bò vào thành phố bán, mỗi tạ có năm hào. Củi rất tốt, bà con cân xong đem vào tận nhà xếp cho người mua. Quần áo, vải vóc, the lượt rất rẻ : chiếc sơ mi may sẵn chỉ có năm hào, bộ quần áo Âu bằng pho tuýt-xo giá có năm đồng; bộ quần áo len mùa rét kể cả gi-lê chỉ có 10 đồng đến 15 đồng. Hà Nội bấy giờ nhiều hiệu giặt là, hàng ngày phái người đến các nhà giặt tháng nhận quần áo mới thay và trả quần áo đã giặt và là phẳng. Giá công giặt rất rẻ: một chiếc sơ mi có 2 xu, bộ quần áo Tây trắng giá 1 hào, bít tất mùi soa không tính tiền, màn và khăn rải giường mỗi thứ có một hào. Hồi bấy giờ vải vóc rất rẻ, nhiều người không có tiền may, mỗi khi có việc cần đi đâu trưng diện, vào hiệu thợ giặt thuê quần áo mặc một ngày hay một lúc rồi trả.


Về nhà ở, hồi bấy giờ các phố nhan nhản những nhà treo biển cho thuê, thậm chí phố Hàng Đào ngày xưa nổi tiếng là phố lịch sự nhất Hà Nội vì toàn người giàu buôn to bán lớn mà cũng có nhà treo biển cho thuê do có nhiều người buôn bán thua lỗ hoặc bị phá sản về quê ở. Do đó, rất ít người đi lại, xe tàu rất vắng khách. Một chuyến tàu hỏa chở khách đi Hải Phòng chỉ kéo có 10 toa, mỗi toa lác đác có từ năm đến mười người. Tàu hỏa vắng khách, ô-tô từ Bến Nứa đi các tỉnh càng vắng khách hơn nữa. Mỗi chủ ô-tô thuê vài ba người chào và đón khách. Người nào có công việc phải đi đâu xa ra bến ô-tô bị những người chào khách lôi kéo, mời lên xe của chủ họ, vì mỗi tuyến đường thường có ba bốn năm chủ có nhiều xe chở khách. Sự chào mời khách đã gây nỗi phiền phức, bực mình cho khách, lại còn gây ra cuộc ẩu đả dữ dội giữa những người đi chào khách. Họ toàn là bọn du côn, tay anh chị ở bến xe, tức khí đâm chém nhau bằng dao bầu, bằng búa đanh, mỏ-lết. Hãng xe lấy tên hiệu “Con thỏ” thuê người làm câu ca dao đăng quảng cáo trên báo:


Ai đi Hà Nội - Hưng Yên,


Lên xe Con thỏ như tiên non bồng!


Đệm êm xe tốt lạ lùng;


Mời chào lịch sự, tuyệt không thói hèn!


Từ năm 1930 trở về trước, rất ít người đi xe đạp. Phụ nữ tuyệt nhiên không một người nào chịu ngồi xe đạp, dù là ngồi sau xe do người khác lai. Công chức các sở vào hạng các ông tham, phán, ký, thông… cũng không ai đi xe đạp, riêng các ông tùy phái hàng ngày phải đi đưa công văn nơi này đến nơi khác mới dùng xe đạp. Đội xếp, mật thám, thu vé chợ mới dùng xe đạp. Trong thành phố có một số người mở hiệu sửa chữa xe đạp, nhưng kiếm lời nhiều hơn về khoản cho thuê xe đạp: họ bỏ ra một số vốn mua những chiếc xe đạp cũ, sửa chữa lại cho thuê mỗi giờ hai xu. Những người thuê xe đạp là khi cần đi ra khỏi thành phố năm mười cây số để đi cho nhanh và tiện. Khi thuê xe đạp chỉ cần đưa tấm thẻ thuế thân cho chủ hiệu xe giữ là đủ. Dần dần về sau này, số người đi xe đạp tăng lên, về phía phụ nữ trước hết là các cô nữ học sinh trường cấp hai cấp ba đi xe đạp nữ đi học.


Trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sự sinh sống ở Hà Nội gần như bế tắc. Các nhà công nghệ dãn bớt công nhân, các công sở của thực dân Pháp bắt các công chức 55 tuổi phải về hưu, rồi bày trò khám sức khỏe các công chức dưới 50 tuổi. Người nào nghiện hút, người nào hay ốm vặt, người nào ngực lép, thở bằng bụng, đều phải về hưu non. Những người phải về hưu lẽ cố nhiên là túng thiếu, không xoay xở nghề gì để kiếm thêm được, vì hàng hóa ế ẩm, thứ gì cũng rẻ và khó bán, chỉ có tiền là khan hiếm.


Hà Nội hồi bấy giờ như có một không khí bực bội trước khi có cơn bão táp. Rồi cơn báo táp xảy ra thật sự. Đó là trận Đại chiến Thế giới lần thứ hai. Trước khi xảy ra trận đại chiến này đã có cuộc chiến tranh cục bộ Trung - Nhật. Từ năm 1921, Nhật xâm chiếm dần phần đất Mãn Châu của Trung Quốc, rồi đặt ông vua Phổ Nghi (tức Tuyên Thống, tên vua cuối cùng triều Mãn Thanh) đã bị cách mạng tư sản của Trung Quốc hạ bệ từ năm 1912. Nhật đặt lại Phổ Nghi làm vua bù nhìn của Mãn Châu quốc để xâm lấn Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc đều căm giận hô hào kháng Nhật triệt để. Nhưng Tưởng Giới Thạch theo chính sách bất để kháng, nhân dân Trung Quốc đều tức giận, gọi Tưởng là “Thảo đầu tướng quân”[4]. Uông Tinh Vệ đứng vào phía nhân dân cũng hô hào kháng Nhật triệt để, được mọi người gọi là “Uông-thánh-nhân”. Ngày 7 tháng 7 năm 1937[5], phát xít Nhật ném bom xuống Lư Cầu Kiều (người Âu châu gọi là Pont de marco Polo) ở miền Bắc Trung Quốc, chính thức xâm lược nội địa Trung Hoa. Mỹ thấy thế, nhảy vào viện trợ cho Tưởng Giới Thạch để chống Nhật. Mỹ lôi kéo cả Anh, Pháp phải viện trợ cho Tưởng. Anh mở con đường lụa (route de la soie) ở Miến Điện để vận tải khí giới sang Trung Quốc; Pháp mở con đường Lạng Sơn để ô-tô chuyển vận khí giới sang viện trợ Tưởng Giới Thạch tại Diên An. Mao Chủ tịch hô hào nhân dân lập thành đội dân quân kháng Nhật chuyên đánh du kích, làm cho phát xít Nhật khốn đốn. Nhật điên cuồng ném bom xuống các vùng Hoa Trung, Hoa Nam, các nhà giàu Trung Quốc đem của cải và gia đình chạy ra nước ngoài lánh nạn. Họ kéo sang Việt Nam cũng nhiều, Hà Nội trở thành đông đúc, chật chội. Bọn nhà giàu Việt Nam vung tiền ra làm nhà cho thuê, những nơi đất trống ở các phố Nguyễn Thượng Hiền, Lê Đại Hành, Trần Nhân Tông, Kim Liên, cuối phố Bà Triệu và nhiều nơi khác, những ngôi nhà đồ sộ mọc lên san sát. Trong thành phố, nhiều ngôi nhà cổ được dỡ đi làm lại hoặc được nâng cao để cho Hoa kiều thuê.


Tại Trung Quốc, Uông Tinh Vệ trước kia hô hào kháng Nhật cứu nước được tâng bốc là Uông thánh nhân, nhưng sau khi Nhật ném bom Lư Cầu Kiều, mở rộng chiến tranh xâm lược, thì Uông lại đầu hàng Nhật, trở thành tên Hán gian. Nhân dân Trung Quốc rất căm giận, lùng tìm hắn để trị tội. Hắn lẩn trốn khắp nơi không yên, phải cùng bọn tay sai lẻn sang Việt Nam, ở nhờ một nhà Hoa kiều ở phố Colon, nay là phố Phan Bội Châu. Một vụ ám sát xảy ra tại phố này, người giết Uông Tinh Vệ lại bắn lầm vào tên tay sai của hắn còn hắn trốn thoát, sau này hắn lưu lạc đi đâu không ai nói đến nữa.


Cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai vùng nổ, Pháp bị bại trận, thống chế Pétain đầu hàng phát xít Hitler. Tại Đông Dương, Nhật tiến công Pháp; tại Lạng Sơn, thực dân Pháp đầu hàng Nhật, thế là quân đội Nhật kéo vào Việt Nam chiếm đóng khắp nơi, nhưng vẫn để cho Pháp giữ quyền hành chính dưới sự điều khiển của Nhật. Thế là dân Việt Nam bị hãm vào cảnh một cổ hai tròng. Bên chính quốc Pháp phái thủy sư đô đốc Decoux sang làm toàn quyền Đông Dương thay cho Georges Catroux. Chiến hạm Decoux cập bến Sài Gòn, Catroux không chịu nhường ghế toàn quyền, Decoux hạn cho Catroux trong 48 tiếng đồng hồ phải rút lui, nếu không hắn sẽ nổ súng tấn công vào Sài Gòn. Bọn thực dân Pháp trong phủ toàn quyền và bọn phòng nhì khuyên Catroux phải nhượng bộ và bố trí cho hắn trốn đi theo phe De Gaulle. Decoux lên làm Toàn quyền Đông Dương với danh từ mới là Cao ủy Pháp quốc hải ngoại và Thái Bình Dương. Decoux thi hành chính sách phát xít đối với nhân dân Việt Nam, như trong mục “Nghề làm báo tại Hà Nội” đã nói: các báo hàng ngày và hàng tuần, tạp chí, cuối mỗi số xuất bản đều phải in ảnh thống chế Pétain và lời nói của hắn. Các sách truyện, ngoài việc bị kiểm duyệt trước, còn phải xin giấy phép xuất bản và in số giấy phép dưới cuối sách cùng ngày cấp giấy phép. Thực dân pháp đề xướng khẩu hiệu: “Pháp - Nam hợp tác”, bắt Bảo Đại phải đưa tặng Toàn quyền Decoux bức trướng bằng sa-tanh đỏ thêu bốn chữ Nho “Bang giao trọng ký” (ý nghĩa là Việt Nam ủy thác thực dân Pháp bảo hộ cho) để bày tỏ cho Nhật biết rằng Việt Nam vẫn gắn bó với Pháp. Các rạp hát và chiếu bóng, mỗi tối trước khi biểu diễn phải treo ảnh Pétain và Bảo Đại, bắt các khán giả phải đứng lên chào, dứt bài quốc ca Pháp rồi mới được mở màn và chiếu phim. Sau khi hạ màn, các rạp hát và chiếu bóng lại phải trưng ảnh ra để khán giả chào rồi các rạp mới mở cửa cho mọi người ra về. Người nào không chịu đứng nghiêm chào, bị sen đầm, mật thám, đội xếp đứng nhan nhản trong các rạp bắt xích tay lại đem về quan giam 24 tiếng đồng hồ và phạt tiền. Tại các làng, Decoux bắt phải thay đổi chính thể. Từ thời phong kiến đến năm 1920, các làng quê đều có lệ bầu tiên chỉ và ban kỳ hào. Năm 1920, thực dân Pháp thi hành chính sách cải lương hương chính, bắt các làng bãi tiên chỉ và ban kỳ hào, bầu chánh phó hương hội và hội đồng tộc biểu. Năm 1941, Decoux bắt các làng lập lại ban kỳ hào và bầu tiên chỉ như cũ, mỗi làng phải mua hai tấm ảnh to Pétain và Bảo Đại treo ở đình làng. Tại Hà Nội, Decoux bắt xây cao thêm tường đá vây quanh nhà pha Hỏa Lò lên một thước, tăng thêm số nhân viên sen đầm, mật thám, đội xếp để khủng bố những người có tư tưởng tiến bộ. Các công chức người Việt, người Pháp có chân trong Hội Tam điểm (Franc-maconnerie) đều bị thải hồi, không được kinh doanh các nghề làm báo hay làm luật sư. Pháp xây đài kỷ niệm Alexandre de Rhodes ở trên bãi đất sau đền Bà Kiệu; giữa đài có các bia kể công de Rhodes đã sáng tạo chữ quốc ngữ. Bia ấy bị ta phá bỏ.


Cuối tháng 12 năm 1941, Decoux bắt Bảo Đại phải ra thăm Hà Nội để tỏ cho Nhật thấy sự hợp tác Pháp - Nam vẫn được chặt chẽ. Chúng bắt các phố phải làm cổng chào, bày hương án bái vọng, bắt các phụ lão phải chuẩn bị sẵn áo thụng xanh để khi đón tiếp “xa giá” thì vái lạy. Tại phố Hàng Trống, hai cột cổng chào có hai vế câu đối:


                 Thánh đế quan quang sơn hà sinh sắc;


                 Thần dân chiêm ngưỡng thảo mộc phùng xuân


(Vua thánh đi xem ánh sáng trong nước non sông đều có sắc đẹp; dân bầy tôi được chiêm ngưỡng, cây cỏ đều tươi tốt như vào mùa xuân. Hai chữ “quan quang” thuộc hào lục tứ quẻ Quang trong Kinh Dịch: “Quan quốc chi quang, lợi tân vu vương” nghĩa là xem ánh sáng trong nước, lợi cho việc đi triều kiến nhà vua).


Chuyến xe lửa riêng chở Bảo Đại vừa ra tới Thanh Hóa sáng mùng 9 tháng 12 năm 1941, thì Nhật đuổi về, vì đêm mùng 8 Nhật đã tấn công Trân Châu cảng của Mỹ. Cuộc chiến tranh Nhật - Mỹ tại Thái Bình Dương bùng nổ. Nhật bắt Pháp phải phát hành thêm giấy bạc để chi vào quân dụng. Nạn lạm phát làm cho giá sinh hoạt đắt đỏ, các nhu yếu phẩm tăng giá vùn vụt. Các công sở, tư sở phải tăng lương cho công chức và nhân viên. Đường giao thông với các nước ngoài bị nghẽn, hàng hóa như giấy, vải, sợi, xà phòng, dầu hỏa, phẩm nhuộm, bút mực và nhiều thứ trước nay vẫn phải nhập từ ngoài vào đều khan hiếm dần. Từ năm 1942 đến đầu năm 1945, máy bay Mỹ luôn luôn đến ném bom xuống Việt Nam: Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, những nơi có quân Nhật đóng đều bị bom. Nhà bảo tàng Maurice Long, nơi có quân Nhật đóng bị bom Mỹ phá tan (năm 1955, Chính phủ ta xây hầm trú ẩn lớn ở giữa vườn hoa Chí Linh, dùng riêng cho người Pháp vào ẩn nấp khi có còi báo động). Chúng lại xây nhiều hầm trú ẩn nổi chung quanh bờ hồ Hoàn Kiếm, giữa bãi đất chợ Hàng Da, sau phố Nguyễn Khuyến, ngày ấy gọi là phố Hàng Đũa. Những hầm trú ẩn này, chúng nói để cho nhân dân Việt Nam ẩn nấp nhưng thực tế là những hầm chiến đấu vì xây lộ thiên và chạy theo hình chữ chi. Cả người Việt và cả Nhật đều biết rõ: Pháp xây những hầm này để chờ cơ hội nào đó sẽ đánh nhau với Nhật trong thành phố. Trong trận chiến tranh Nhật - Mỹ, dân Việt Nam chết về bom Mỹ cũng nhiều. Tại các nơi khác không rõ ra sao, riêng tại Hà Nội, một lần bom Mỹ ném trúng hầm trú ẩn xây lộ thiên giữa bãi đất trống chợ Hàng Da, có mấy trăm người ẩn nấp; một lần khác máy bay Mỹ ném bom trúng hầm trú ẩn sau phố Nguyễn Khuyến, nay là địa diểm phố Trần Quý Cáp và phố Ngô Sĩ Liên, trong đó cũng có mấy chục người ẩn nấp. Một khách sạn trước cửa ga Hàng Cỏ cũng bị trúng bom Mỹ, sập nhà chết người; lác đác một số nơi khác trong thành phố Hà Nội cũng bị bom Mỹ phá hoại.


Cuộc chiến tranh Nhật - Mỹ càng ngày càng ác liệt, công nhân, nông dân, viên chức hạng thấp, thư ký sở tư đều bị hãm vào cảnh thiếu thốn đến cùng cực. Riêng bọn nhà buôn giàu có là phát tài thêm, vì hàng hóa và các thứ nhật dụng đều thiếu, bọn nhà giàu tung tiền ra mua vét, tích trữ đầu cơ, nâng giá hàng lên vùn vụt. Thóc gạo, hoa màu và các thức ăn càng ngày càng khan dần, vì quân phát xít Nhật bắt nông dân nhổ bỏ mạ đi trồng đay, trồng lạc cho chúng để làm nguyên liệu chế thuốc nổ và dầu máy, vì các đường giao thông ra nước ngoài đều bị phong tỏa. Khoản thu hoạch về hoa màu, lúa gạo giảm sút dần, phát xít Nhật còn thu thóc gạo của nông dân để làm lương ăn cho quân đội chúng. Thực dân Pháp cũng thu thóc gạo để tích trữ lương thực phòng chống lại Nhật và còn có mục đích khác. Trong mỗi cuộc họp của thực dân Pháp, một tên Pháp đã đưa ra ý kiến “Phải làm cho dân đói để đàn áp cuộc nổi dậy (il faut affamer la population pour réprimer la révolte). Nạn đói khủng khiếp xảy ra. Từ đầu năm 1944, số người đi ăn mày kéo vào Hà Nội đã nhiều, thực dân Pháp hồi ấy còn giữ trật tự trong thành phố, chúng dồn những người này về nguyên quán, nhưng dồn được đám người này thì lại có đám người khác kéo vào. Đó là những nông dân các làng (nhiều nhất là vùng Thái Bình) bị mất ruộng, mất hoa màu lúa gạo, phải dắt díu nhau đi tha phương cầu thực. Cuối năm 1944, Hà Nội nhan nhản những người đi xin ăn. Họ tụ tập tại các chợ và các phố gần chợ. Họ bới các đống rác tìm cái gì ăn được là họ nhặt ăn tất: vỏ ốc, họ khêu lấy trôn ốc; cuống rau, vỏ khoai, vỏ sắn, lõi ngô v.v… Cả đến con chuột, họ bắt được, đập chết, cạo lông mổ bỏ ruột, vơ giấy, lá, cành cây, que nan đốt ngay trên vỉa hè thui chín rồi ăn. Họ ăn uống bừa bãi, mắc bệnh đường ruột phóng uế ra giữa đường phố rồi lăn ra chết. Mùa Đông cuối năm 1944, đầu năm 1945 trời rét dữ, ban đêm hàn thử biểu xuống đến 5 độ, 6 độ. Vải vóc khan hiếm, anh em công nhân, lao động không đủ áo mặc, phải mặc cả áo buồm, thứ áo cộc tay, dài đến đầu gối. Những người đi xin ăn, đêm nằm vật vạ vỉa hè, bụng đói cật rét, sáng hôm sau chết cóng.


Số người chết đói ngoài đường ngoài chợ mỗi ngày một nhiều, nhiều nhất là sau ngày mùng 9 tháng 3 năm 1945, ngày phát xít Nhật nổ súng lật đổ thực dân Pháp. Từ 8 giờ tối ngày 9-3, súng nổ râm ran khắp nơi trong thành phố, nổ suốt đêm cho đến ngày 10-3, đến 4 giờ chiều mới chấm dứt. Dân đói các nơi nghe có tiếng súng nổ trong thành phố Hà Nội, tưởng rằng trong này có loạn, ùn ùn kéo nhau vào để hy vọng hôi của chống đói. Nhưng họ chẳng được gì, chỉ làm tăng thêm số người chết đói trong thành phố. Tại các phố gần các chợ như chợ Đồng Xuân, chợ Cửa Nam, chợ Hàng Da, chợ Hôm, sáng sớm người nào bước chân ra cửa là đụng phải xác chết. Một Tổng hội cứu tế Bắc kỳ do ông Ngô Tử Hạ làm hội trưởng quyên tiền những nhà giàu các nơi để cứu đói mà cứu không xuể, đến lúc người chết đói nhiều quá, Tổng hội xuất tiền ra thuê những người thất nghiệp còn có sức khỏe đi nhặt xác chết xếp lên xe bò do người kéo người đẩy đem xuống cánh đồng làng Giáp Bát chôn. Tại đây họ đã đào sẵn những cái hố rất lớn quăng xác xuống đầy hố rồi lấp đất lại. Ngày nào cũng có hàng mấy chục xe bò chở xác chết đi chôn. Xe bò chở không kịp, người ta phải điều đình với bọn nhà binh Nhật cho mượn cả xe ô-tô cam nhông (camion) để chở xác chết.


Trong nạn đói này, không riêng nông dân bị mất ruộng bị thu thóc kéo vào Hà Nội và các thành phố kiếm ăn mà bị chết đói, cả một số người trước nay vẫn sinh sống trong thành phố cũng bị chết đói. Đó là những công nhân bị thất nghiệp, những dân nghèo sống bằng cách bán hàng rong lặt vặt, không kiếm được miếng ăn cũng chết đói. Một người thợ may làm công cho một hiệu chuyên may áo phụ nữ Âu, nổi tiếng là tay thợ khéo, nhưng chủ hiệu bị phá sản, sa thải người làm, anh thợ khéo này không xoay nổi miếng ăn chết đói rục dưới cái cống ở phố Lê Đại Hành. Trong khi thu nhặt xác chết anh em khất thực phát hiện một nữ nghệ sĩ rạp hát Quảng Lạc là cô đào Cưỡng chết còng queo chỗ chân đê phía cột đồng hồ trông sang. Cô đào Cưỡng đã nổi danh tài sắc một thời, đã được một hãng quay phim của Pháp cho đóng vai Thúy Vân trong cuốn phim Kim Vân Kiều. Về sau cô ta được anh tay chơi bao làm gái riêng và cô ta đâm ra nghiện thuốc phiện. Nạn đói xảy ra, anh tay chơi bỏ cô, đi nơi khác mất, cô sống vất vưởng, tuy được bạn cùng nghề và bà con hàng xóm giúp đỡ, nhưng người nào cũng chỉ có hạn, không giúp mãi cô ta về cơm trắng cơm đen được. Thế rồi một đêm rét cóng, cô chết trong một túp lều lụp xụp trong ngõ Sầm Công (nay là phố Tạ Hiện). Mọi người chung quanh không đủ sức làm ma, chôn cất cho cô, đang đêm họ khiêng xác cô ném ra vệ đê cho anh em khất thực đem xuống Giáp Bát.


Tổng hội cứu tế đã xuống thăm một số làng gần tỉnh lỵ Thái Bình. Nhân viên cứu tế đi vào những làng này thấy vắng tanh vắng ngắt, không gặp một bóng người sống, không nghe thấy tiếng gà gáy chó sủa, đi qua một quãng lại thấy một xác chết bên bờ ruộng hoặc cạnh bờ ao, có xác đã rữa thịt, dòi bọ lúc nhúc, ruồi nhiều vô kể, có thể quơ tay nắm được hàng mấy chục con. Nhân viên cứu tế vào thăm một số nhà, nhà nào cũng có người chết đói, xác nằm vật vã ngoài sân, trong nhà, bên chuồng lợn. Có nhà mái ngói, tường gạch sân gạch ra vẻ nhà giàu nhưng trong nhà có mấy xác chết, cái trên giường, cái dưới đất. Thì ra địa chủ cũng bị chết đói. Thảm thương nhất là đám trẻ con mới có năm, sáu tháng, bố mẹ chúng chết đói cả, chúng còn sống vất vưởng được ban cứu tế tỉnh lỵ Thái Bình thu nhặt đem về đặt nằm trên những cái giường giát tre trong một gian nhà rộng. Số trẻ này có đến hai trăm đứa đói khóc râm ran, mùi hôi thối nồng nặc, người ta nấu cháo bón cho chúng.


Nạn đói này ta gọi thành tên là nạn đói năm Ất Dậu (1945). Tại Hà Nội, những nhà khá giả, có ông bà bố mẹ chết vì bệnh vào năm này, có ai hỏi thăm phải nói tránh là các cụ chết năm 1943 hay 1946, không dám nói thực là chết năm 1945, sợ mang tiếng là bị chết đói. Do muốn tránh tiếng người thân mình bị chết đói nên từ xa xưa, nhân dân ta có tục: khi người thân vừa chết liền đặt ngay trên đầu giường người chết một bát cơm đầy và một quả trứng luộc có hai chiếc đũa tre vót một đầu thành bông tua cắm vào bát cơm. Đồng bào dân tộc miền ngược có tục: khi đến viếng người chết đem theo một bát cơm, vừa nhét cơm đầy mồm người chết, vừa khóc lóc kể lể nỗi thương xót.


Ở đây chúng tôi xin được nói thêm về việc Nhật đảo chính Pháp ngày 8-3-1945. Vào hồi 8 giờ tối hôm ấy, Nhật nổ súng tấn công các chỗ đóng quân của Pháp. Súng nổ râm ran suốt đêm, quân lính Nhật canh gác các phố không cho ai đi ra đường. Nhật chiếm đóng các cơ quan trọng yếu và bắt giam luôn những tên đội xếp, sen đầm, mật thám Pháp, do đó trong thành phố không có sự rối loạn, điện nước vẫn có đều. Sáng ngày mùng 10 súng vẫn nổ ở các mạn Cửa Đông và Cửa Bắc, đến hồi 10 giờ mấy ban tuyên truyền người Việt do Nhật chở bằng ô-tô cho đi các phố tuyên truyền về việc Nhật lập lại trật tự ở Đông Nam Á, khuyên nhân dân không nên nhốn nháo, các nhà buôn cứ mở cửa bán hàng, các công chức cứ đi làm, các chợ cứ họp như thường ngày. Những người làm việc tuyên truyền này đều là đảng viên Đảng Đại Việt quốc gia liên minh do Nhật lập ra trong bí mật từ khi muốn kéo quân vào Việt Nam. Mấy ngày sau có tờ báo Bình minh do Khái Hưng làm chủ bút xuất bản tuyên truyền cho Nhật. Hai tờ báo Tin mớiĐông Pháp chỉ đình bản có hai ngày rồi lại tái bản dưới sự kiểm duyệt của Nhật.


Ngót một tháng sau, một chính phủ mới do Nhật lập lên tại Huế. Bảo Đại vẫn làm anh vua bù nhìn cho Nhật. Trần Trọng Kim, nguyên đốc học trường Sinh Từ (nay là trường Nguyễn Khuyến) kiêm nhà sử học làm thủ tướng các bộ do một số ông bác sĩ, luật sư, thạc sĩ người Bắc, người Trung, người Nam phụ trách. Chính phủ lập theo lối Nhật Bản: người phụ trách các bộ gọi là đại thần, như Ngoại giao đại thần, Hậu sinh[6] đại thần v.v… Tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai đại thần; tại Hà Nội Phan Kế Toại[7] làm Khâm sai đại thần, Trần Văn Lai[8] làm thị trưởng. Quốc kỳ dùng nền vàng, giữa có ba sọc đỏ, sọc thứ hai ở giữa cắt đứt đôi là hình tượng quẻ Ly. Quẻ Ly trong Kinh Dịch thuộc phương Nam. Các ông bác sĩ, luật sư, thạc sĩ (tôi không tiện nói tên các ông ấy ra) vì sự bất đắc dĩ, sợ Nhật khủng bố nên phải ra nhận các chức vụ trong nội các Trần Trọng Kim. Trong một cuộc họp hội đồng nội các bàn về quốc kỳ, một ông phát biểu: “Dân đang chết đói như ngả rạ, cờ với biểu làm gì? Cần phải lo việc cứu đói đã!”. Thế rồi các ông bộ trưởng ấy, người Sài Gòn vẫn ở Sài Gòn, người Hà Nội vẫn ở Hà Nội, không ai muốn vào Huế hội họp. Trong khi đó, các chiến sĩ trong Mặt trận Việt Minh vẫn hoạt động dữ: tại các tỉnh, các đội du kích đánh trả quân đội Nhật, phá các kho thóc chúng tích trữ, phân phát cho dân đói các nơi. Tại Hà Nội, các đội tuyên truyền xung phong tuyên truyền chống Nhật. Nhiều đêm giữa lúc các rạp hát đương diễn tuồng, đội tuyên truyền xuất hiện trên sân khấu, cổ động mọi người nổi lên chống Nhật, rồi truyền đơn tung ra như bươm bướm. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, bọn Hiến binh Nhật khủng bố nhân dân rất dữ. Chúng chiếm nhà dầu Sen ở góc hai phố Henri Rivière và Janberta (nay là Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo) làm sở Hiến binh, nơi giam cầm và tra tấn những người bị bắt.


Kiều dân Pháp, kiều dân Trung Hoa, những người Việt Nam thân Pháp hoặc tay sai đắc lực của Pháp đều bị bắt giam và nhiều người bị chúng tra tấn đến chết rồi ném xác ra bãi cỏ trước cửa nhà dầu Sen, sai người gọi người nhà nạn nhân đến lấy xác đem về chôn. Những người Việt Nam bị tình nghi là Việt Minh đều bị bắt và bị tra tấn. Chúng đã nói ra mồm: “Những người đầu húi cua, mặc quần soóc xanh là Việt Minh!”. Tại những nơi xảy ra các vụ phá kho thóc, chúng kéo về khủng bố rất dữ: chúng bắt các thanh niên tra tấn ngay trong nhà người ta trước mặt bố mẹ bà con của họ. Lối tra tấn của chúng là đánh đập chán tay rồi bơm nước xà phòng vào bụng cho trương phình lên rồi ép mạnh nước phọt cả ra mồm, ra mũi, ra tai. Nhiều người sức yếu vì thế chết tươi.


Tại Hà Nội, ông thị trưởng Trần Văn Lai làm được một công việc là hạ các tượng do thực dân Pháp dựng lên trong thành phố Hà Nội: tượng thần Tự do ở vườn hoa Cửa Nam là pho tượng do thực dân Pháp dựng đầu tiên sau khi phá xong thành cổ Thăng Long. Pho tượng này tạc hình một phụ nữ Âu đứng trên bệ, tay cầm bó đuốc giơ cao, đầu đội cái mũ có nhiều tia đâm chĩa ra như tia mặt trời mới mọc, nên ta gọi là tượng đầm xòe. Địa điểm xây là Quảng Ninh đình hay Quảng Văn đình, một cái đình do nhà Nguyễn dựng lên để dán các bản cáo thị của triều đình và hàng tháng vào ngày Rằm và mùng Một âm lịch, có viên quan gọi là Câu Kê đến giảng thập điều cho dân nghe và tuân theo. Thập điều là khuyên mọi người làm tôi phải trung, làm con phải hiếu, anh em phải quý mến nhau, vợ chồng phải hòa thuận, nhân dân cư xử với nhau phải có lễ phép, đi nhường đường, cày nhường bờ, không được trộm cắp, trai gái không được nghiện hút, cờ bạc, rượu chè v.v… Một bài thơ cổ còn lưu truyền:


                             Nhớ Quảng Minh đình tớ đến nghe


                             Câu Kê chả thấy, thấy đầm xòe!


                             Thập điều bặt tiếng ê a giảng,


                             Chỉ thấy kèn Tây rúc tí toe.


Tượng Paul Bert, thực dân Pháp dựng vào khoảng năm 1910 tại vườn hoa Chí Linh (xưa Pháp gọi là vườn hoa Paul Bert). Pho tượng này có tính cách ngạo nghễ: tên toàn quyền Paul Bert đứng trên cái bệ gạch cao hơn hai mét, một tay cầm lá cờ Pháp, một tay buông xuôi xòe năm ngón che trên đầu một người Việt Nam ngồi dưới chân nó, đầu quấn khăn đầu rìu, ngửng mặt lên nhìn nó. Hồi Pháp thuộc, người Việt Nam đều căm giận pho tượng này. Trong việc phá tượng, pho tượng này bị phá đầu tiên, ai cũng hỉ hả. Cũng tại vườn hoa này về phía nhà Ngân hàng trung ương có pho tượng bán thân tên toàn quyền Giô-hình-ô-ven[9], thực dân Pháp dựng năm 1933. Tại vườn hoa Canh Nông trông sang cột cờ có mấy pho tượng lính Pháp để kỷ niệm binh lính Pháp bị chết trận trong hồi đại chiến 1914-1918; cách đó một quãng có cái đình xây theo lối Á Đông kỷ niệm binh lính Việt Nam bị Pháp đưa sang Âu châu tử trận trong hồi đại chiến ấy. Tại vườn hoa bên cạnh Nhà hát Lớn có pho tượng tên thống chế Pháp bị hạ; pho tượng ở vườn hoa phố Hàng Buồm (nay là phố Phạm Đình Hổ) gần Câu lạc bộ Lao động cũng bị phá. Cái bia trong đài kỷ niệm Alexandre de Rhode Pháp gọi là ông tổ chữ Quốc ngữ cũng bị phá, hiện nay còn lại cái nhà bia ở sau đền Bà Kiệu. Đài kỷ niệm tên Francis Garnier ở cuối đê La Thành thuộc Giảng Võ cũng bị phá. Đài này Pháp dựng lên kỷ niệm tên tướng giặc của chúng bị quân ta phối hợp với quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc giết chết sau khi chúng hạ thành Hà Nội lần thứ nhất, năm 1873.


Khi Nhật mới lật đổ Pháp, một số người Việt Nam tưởng rằng Nhật sẽ giúp cho Việt Nam độc lập nên nhảy ra ôm chân Nhật hy vọng sẽ trở thành các vị “khai quốc công thần”. Lại có những anh đi lại bợ đỡ ông Nguyễn Sĩ Giác, mọi người thường gọi là nghè Rẽ để mong ông này ra làm việc với Nhật sẽ được “theo đóm ăn tàn”. Nguyễn Sĩ Giác (đỗ tiến sĩ trong khoa thi hội ở Huế năm 1916) sau ra làm việc trong tòa lãnh sự Nhật. Vào các năm 1931 đến 1934, những dò xét việc gì liên quan đến Nhật phải báo với tên chánh mật thám chính trị Pháp là Marti trong phủ toàn quyền Pháp. Năm 1945, Nguyễn Sĩ Giác già yếu và nghiện thuốc phiện nặng nên Nhật không dùng. Những người ra làm việc cho Nhật sau ngày 9-3-1945 (kể cả các người trong Đảng Đại Việt quốc gia liên minh và anh em sinh viên trường Đại học tại Đông Dương học xá) dần dần chán nản vì Nhật nắm giữ các quyền hành, ai làm việc gì cũng phải xin phép, phải tuân theo chỉ thị của Nhật. Thế là những người này vỡ mộng “khai quốc công thần” nên lảng dần. Tại các công sở, Nhật sa thải các công chức Pháp, dùng người Nhật vào chỉ huy, điều khiển các công việc. Công chức Pháp thất nghiệp phải đem đồ đạc quần áo ra bán để lấy tiền sinh sống. Họ nhờ anh em bồi bếp người Việt bán hộ. Họ bày ra trên bãi cỏ cạnh Sở Tài chính cũ (nay là Bộ Ngoại giao) các thứ đồ cũ như xoong chảo, bàn là, bếp điện, quần áo, giày dép cũ, v.v... Mọi người đến mua, đem xuống bãi đất trống trước chùa vua Đế Thích bày bán lại. Danh từ “chợ giời” phát sinh ra từ đó và chỗ chùa vua Đế Thích sau này thành tên chợ giời Hòa Bình (ở cuối phố Huế giáp ô Cầu Dền).


Giữa năm 1945, trục Đức -Ý- Nhật bị gãy, nhưng chưa gục hẳn. Ý bị tiêu diệt, Mussolini bị bắt sống[10]. Quân đội phát xít Hitler bị Hồng quân Liên Xô tấn công như vũ bão, dồn về đến Berlin. Tại Trung Quốc, Bát lộ quân dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh Diệp Kiếm Anh, Chu Đức, Lưu Bá Thừa (ông này có biệt hiệu Độc Nhỡn Long) đánh cho quân phát xít Nhật thua liểng xiểng, giải phóng được nhiều vùng đất quan trọng Nhật chiếm đóng trước đây.


Mỹ thấy Hồng quân Liên Xô đại thắng tại mặt trận Đông Âu, đoán biết thể nào rồi Liên Xô cũng sẽ quay mũi súng tiến công Nhật. Ngày 6-8-1945, Mỹ ném quả bom nguyên tử xuống Hiroshima để chiếm lấy sự thắng lợi ở mặt trận Á Đông. Quả bom ấy giết hại hàng chục vạn thường dân Nhật, quân Nhật vẫn không nhúc nhích. Ba ngày sau (9-8-1945), Mỹ lại ném quả bom nguyên tử thứ hai xuống Nagasaki, quân Nhật vẫn không chịu hạ khí giới. Đến khi Hồng quân Liên Xô tấn công vào đội quân sinh lực của Nhật ở Quan Đông, Nhật mới tuyên bố đầu hàng không điều kiện vào ngày 15-8-1945. Ngày 2-9-1945, Liên Xô nhận sự đầu hàng của Nhật.


Cùng ngày này Việt Nam trở sang trang sử mới.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 







[1] Sau các cuộc ném bom khủng bố này, thực dân Pháp sợ xáo động nhân tâm và sợ nhân dân Việt Nam trả thù nên chúng bịa ra một chuyện là chúng đào thấy một cái bia cổ trong đền thờ cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng Cổ Am. Bia ấy có khắc bài sấm của cụ Trạng Trình như sau:


            Kìa cơn gió thổi lá rung cây,


            Rung Bắc sang Nam rung tới Tây.


            Tan tác Kiên Kiều an đất nước,


            Xác xơ cổ thụ sạch am mây.


            Sơn lâm nổi sóng mù thao cát,


             Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy


   Một ngựa một yên ai sùng bái,


            Nhắn con nhà Vĩnh bảo cho hay


Những chữ gạch dưới đều là tên đất: Kiến An, Cổ Am, Lâm Thao, Hưng Hóa, Yên Bái, Vĩnh Bảo là những nơi nhân dân ta đã nổi dậy và thực dân Pháp đã đến khủng bố và triệt hạ. Lợi dụng sự mê tín dị đoan của nhân dân ta hồi bấy giờ, thực dân Pháp bịp bợm dân ta rằng những việc xảy ra bấy giờ, cụ Trạng Trình đã biết trước từ mấy trăm năm rồi. Đó là quả kiếp các nơi đó phải chịu tàn phá như vậy.




[2] Tức là hạng gái đĩ nhưng không có nhà thổ, chuyên làm đĩ lậu kiếm tiền.




[3] Tòa nhà này nguyên là nhà riêng của Sơ-nay-de, mặt trước trông ra phố Hàng Bông mặt sau là phố Chân Cầm sau này là nhà in và nhà báo Trung Bắc tân văn. Năm 1938, người kế nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh bán cho Nguyễn Giác Hải, chủ hiệu thuốc Tây ở nhà số 15 phố Hàng Gai. Người này dỡ đi làm lại thành một ngôi nhà hai tầng; mặt trông ra phố Hàng Bông cho một nhóm Hoa kiều thuê mở hiệu cao lâu Asia.


 


 




[4] Thảo đầu cùng nghĩa với “thảo khấu” là tên giặc cỏ (chữ Tưởng có thảo đầu chữ tướng).




[5] Nhân dân Trung Quốc gọi là “Thất thất sự biến”.




[6] Trong nội các của Nhật Bản thường có Bộ Hậu sinh (Ministère du Bienêtre) là bộ phụ trách sự sinh sống đầy đủ cho nhân dân.




[7] Năm 1930, Phan Kế Toại, tri huyện huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) đã từng đàn áp các cuộc biểu tình Cộng sản của nông dân.




[8] Trần Văn Lai nguyên là y sĩ, Pháp phong cho hàm bác sĩ.


 




[9] Trong danh sách Toàn quyền Đông Dương tôi không thấy có người này, chỉ có toàn quyền Joost van Vollenhouven (đảm nhiệm khoảng thời gian từ 4-1-1914 đến 5-3-1915) là có âm đọc tương tự (Thái Thành Đức Phổ)).




[10] Mussolini bị bắt sống hai lần: lần thứ nhất bị bắt vào năm 1944, bị giam trên một ngọn núi cao có người canh giữ cẩn thận, mật vụ của Hitler dò ra được đem máy bay lên thẳng cứu thoát. Lần thứ hai bị bắt lại sau khi Berlin bị hạ, Mussolini bị xử giảo; còn Hitler thì tự tử.


 




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »