tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21302080
Tiểu thuyết
22.03.2017
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy



Cái tên La- gác làm Long hơi ngờ ngợ. Anh nhớ rằng hồi đi học Khải Định, ở bên hệ học tiếng Hy lạp, La- tinh có một tên học trò người Pháp lai tên là La- gác, nổi tiếng ngỗ ngược hay đánh nhau với đám học sinh Việt Nam. Anh hỏi tên lý trưởng:


       - Quan đồn này tên là La- gác à? Ông ấy người như thế nào?


       Lý trưởng nhìn trước nhìn sau thấy không có ai liền thầm thì:


       - Ông ấy mới ở đồn Mỹ Chánh đổi sang đây. Ông ấy là Tây lai nhưng nghe nói dữ hơn Tây. Nghe bên Mỹ Chánh mấy ông lý trưởng nói rằng ai mà bảo ông ấy là lai thì chết ngay với ông ấy.


       Long chưa kịp hỏi thêm thì một tên lính đã bước tới, ấn cả hai người vào một phòng giam tối mò ở cuối trại. Cũng may nhờ có lý trưởng Phong Thái bảo giúp, tên lính đã ném cho hai người một cây đèn dầu nhỏ xíu.


       Long thở dài lẩm bẩm: Vừa ra khỏi nhà giam lại chui ngay vào nhà giam. Và trong lòng anh, mối nghi ngờ cứ dâng lên, dâng lên mãi: La- gác nào, hay chính là tên đã bắn chết Vân? Trời ơi, ta sẽ đứng ngay trước mặt kẻ thù. Nhưng mà làm thế nào được nhỉ? Trong tay ta không có một tấc sắt. Đồn này lại là của hắn.


       Long thở dài, đưa tay lên ngực. Anh chợt thấy cồm cộm. Cuốn sổ tay nhật ký và chiếc bút chì nhỏ xíu vẫn còn đấy. Mặc cho Hanh hí hoáy. Vuốt lại ống quần nhàu nát và tháo đôi dép ướt nhầu vì vừa lội bừa qua sông Ô Lâu, Long tới ngay bên ngọn đèn dầu, hí hoáy ghi vào nhật ký những dòng chữ nóng hổi cái nghi ngờ của anh đối với cái tên La- gác mà anh vừa nghe xong.


       Anh chợt dừng tay nhìn Hanh một cái nhìn đầy trách móc rồi khẽ nói:


       - Cháu đã bảo mà cậu không nghe. Có phải trốn khỏi nhà giam kia lại rơi vào nhà giam này không. Kia còn là của ta, đây là của Tây, nhục lắm. Biết đâu chẳng chết oan vì cái thằng Tây lai tàn ác này.


       Hanh hứ một tiếng, ông trừng mắt đáp:


       - Anh đừng nói bậy. Anh phải cảm ơn tôi mới phải. Ông đồn trưởng chưa nghe ra đấy thôi. Tôi tin rằng nếu ông ta biết thì mình sẽ được tiếp đãi tử tế. Còn hơn là chết rục xương thảm hại trong tay Việt Minh.


       Long lại thở dài, không trả lời Hanh. Anh tự trách mình đã quá yếu đuối, nghe theo Hanh vượt ngục đến đây. Anh đút cuốn nhật ký và chiếc bút chì con vào túi, ngồi âm thầm nghĩ ngợi. Việc xảy ra nhanh quá làm tâm trí anh bị đảo lộn, chưa kịp nhận chân ra đầu đuôi của sự việc. Phải, mới cách đây chưa đầy một giờ đồng hồ, anh còn ở trong cái nhà giam bằng phên nứa của chiến khu. Sáng hôm ấy, anh là người duy nhất đã áp tai vào phên lắng nghe cuộc cãi vã giữa hai anh em Hanh, Thắng. Anh đã phân biệt rõ những luận điểm của hai người. Theo anh thì rõ ràng là Thắng đúng hơn, Thắng đã nói đúng sự thật. Nhưng Long cũng có chỗ chưa đồng ý với Thắng, anh cho rằng tất cả những người vào thành cũng không phải là Việt gian cả, anh cũng cho rằng Thắng có chỗ nóng nảy hấp tấp và đã kết án cha mẹ một cách vô lý. Nhưng Long không thấy có con đường nào khác ngoài việc đi theo kháng chiến. Nhưng trong trường hợp của anh thì đi theo bằng cách nào? Liệu người ta có tin tưởng những lời anh trình bày không? Anh quen được với ai ở đây mà trình bày? Với Thắng ư? Cái kiểu người nóng nảy như Thắng không hẳn đã là người của Việt Minh. Không, cậu Thắng chắc cũng chỉ làm ở bệnh viện chiến khu thôi, là cán bộ chuyên môn chứ chưa phải là người có quyền hành gì, Long nghĩ thế. Hơn nữa, bây giờ cậu ấy lại đi rồi, hai anh em cậu ấy lại thề không gặp mặt nhau nữa, làm sao mà mình có thể xin gặp cậu Thắng được. Trong thâm tâm, Long thầm trách Hanh đã bỏ qua một dịp tốt để quay về chính nghĩa. Nhưng tại sao cuối cùng anh cũng theo Hanh vượt ngục tới đây. Long lại thở dài, thầm trách mình đã quá nhu nhược. Sau khi Hanh vừa nói chuyện xong với Thắng, Hanh đã nói với Long chuyện trốn khỏi nhà giam. Mới đầu chính Long chuyện trốn khỏi nhà giam. Mới đầu chính Long đã chống lại ý kiến ấy một cách kịch liệt, anh cho rằng làm như vậy là nguy hiểm, là cố tình chống lại kháng chiến. Anh nói rằng anh tin ở kháng chiến và nếu quay về với kháng chiến được thì tốt hơn. Nhưng Hanh đã mắng át anh, ông nói:


       - Được, anh không trốn, vậy thì anh ở lại đây ư? Anh ở lại để ngày ngày ăn như thế, ngủ như thế và không được ai xét hỏi tới ư? Để không biết hôm nào, người ta lôi anh đi chém ư? Chính anh đã biết bọn Việt Minh đấy. Anh chết thê thảm ở đây, ai mà không bảo anh là Việt gian. Còn ai thanh minh cho anh nữa. Anh không muốn tin ở chúng nó, đấy là quyền anh, tôi không ngăn cấm, nhưng thử hỏi chúng nó có tin anh không? Anh sẽ làm thế nào mà nói với chúng về lòng tin của anh đối với kháng chiến như anh nói. Cuối cùng nữa là tôi thì nhất định trốn rồi đấy. Hay là anh ở lại chỉ để bị chết chém mau hơn vì tôi đã trốn? Đấy, tôi để cho anh suy nghĩ cho kỹ.


       Long không còn suy nghĩ gì được nữa. Những lời của Hanh xói thẳng vào tim anh, như tách từng thớ thịt của anh: Chính những điều Hanh nói cũng là những điều anh đã lo ngại. Phải, cái chết thê thảm đang chờ anh nếu anh ở lại nơi đây. Không có một triệu chứng nào tỏ rõ là anh ở lại nơi đây mà có thể gặp điều may mắn tốt lành cả. Không, anh không sợ cái cách ăn, ngủ ở đây, anh cũng không thấy người ta tra tấn, ngược đãi gì anh cả. Nhưng anh vẫn kinh hãi nghĩ tới cái cảnh chém người và cái tiếng Việt gian ở ngục.


       Anh thấy anh còn ham sống lắm, anh không thể đành lòng với một cái chết thê thảm, nhục nhã ở cái tuổi hai lăm đầy nhựa sống này. Trốn đi thì sẽ ra sao, Long đã tự hỏi. Anh cũng thấy rằng trốn đi là không còn bao giờ quay về với kháng chiến được nữa, trốn đi đối với Việt Minh là hết, không còn có thể quay lại một lần nữa. Người ta sẽ cho rằng anh đúng là một tên Việt gian hạng nặng và ngoan cố, chỉ chờ dịp là quay đầu về với quân Pháp để bán nước cầu vinh. Mà đã chắc gì trốn được. Lính gác như thế, người ta lại không bắn cho chết ngay à. Nhưng trong cái việc trốn đi, Long lại thấy lóe lên một tia hy vọng: nếu quả là trốn được về Huế thì Long sẽ sống một cuộc sống riêng cho mình và vì mình, không giao thiệp với ai, cũng không làm việc gì cả. Anh sẽ ôm ấp lấy hình ảnh của Vân mà sống, sống để chờ thời cuộc thay đổi. Nếu kháng chiến thắng lợi, chắc anh cũng sẽ được đối đãi như hàng vạn người dân hồi cư về thành phố mà không làm gì ấy. Phải đấy là cái hy vọng tốt nhất, tuy cũng chẳng lấy gì làm đẹp đẽ. Nhưng làm thế nào được. Long cảm thấy mình như bị dồn vào bước đường cùng rồi, không có ngả nào thoát ra được ngoài việc đồng ý trốn đi với Hanh. Anh thở dài hỏi Hanh:


       - Nhưng cậu bảo trốn thì trốn cách nào được hả cậu?


       Hanh mỉm một nụ cười đắc thắng, ông ghé tai Long thầm thì nói rất nhỏ: “Nhìn tấm phên bên trái ấy phía dưới giường ấy”.


       Long cúi người nhìn về phía Hanh chỉ. Anh nhận thấy quả đó là một chỗ phên đã hỏng, nứa đã mục và chỉ cần rút khẽ vài thanh nứa là có thể chui ra ngoài không khó khăn gì. Anh nhìn Hanh hơi ngạc nhiên: người như cậu anh mà có thể tìm ra được cái chỗ như thế trong khi anh ở đây đã hai ngày mà không thấy gì cả? Long lại thấy hơi tin tin ở cái trí óc của Hanh, anh cảm thấy trước đây mình đánh giá Hanh là một người chỉ nói miệng mà không làm được việc gì thực tế thì cũng có hơi quá đáng. Hanh lại thầm thì nói:


       - Thế này anh ạ. Khoảng sáu rưỡi bảy giờ, lúc ấy chưa tối hẳn những đã nhập nhoạng, tôi thấy ở bờ sông chẳng có bóng người nào. Hôm qua tôi xin đi đồng ở bờ sông vào lúc ấy nên tôi biết. Chắc là các bố lúc ấy vừa ăn cơm xong, còn lúi húi cả trong các nhà không ai ra sông làm gì. Lúc ấy cũng là lúc sương đã phủ kín mặt sông. Chỉ cần chúng ta lội qua được vài chục bước, lên được bờ bên kia là thoát. Tôi đã để ý nhìn kỹ, thấy ở bên kia bờ cũng như bên này bờ đều không có vọng lính gác. Chỉ thỉnh thoảng mới có người ra bờ sông để đi đại tiện. Được cái may là chúng ta vẫn mặc quần áo của chúng ta, bọn Việt Minh chắc là không may được áo số để bắt chúng ta mặc. Nếu có người chúng ta cứ đàng hoàng mà đi hoặc làm bộ như đi đại tiện. Đằng sau vườn, chỗ cái lỗ phên này bị hỏng là một vườn sắn đã mọc cao. Chui ra khỏi nhà là lẩn được vào đấy ngay không ai thấy cả. Anh đồng ý chứ.


       Long lưỡng lự giây lâu rồi thở dài gật đầu:


       - Vâng, đành vậy chứ không còn đường nào khác.


       - Thế thì chiều nay cứ việc ăn cơm như thường lệ, đừng làm ra vẻ gì thay đổi cả, anh nghe chưa?


       Quả đúng như Hanh nói, khoảng bảy giờ, lúc hai người bẻ tấm phên mục chui ra khỏi nhà, lẩn vào trong vườn sắn thì không một ai hay biết gì cả. Họ lẳng lặng đi trong bóng tối, nép mình vào những bóng cây rậm bên bờ sông và bước thẳng xuống sông. Nước lạnh. Sương đã phủ kín mặt sông thành một tấm màn trắng đục. Họ để cả dép và nguyên ống quần như thế lội vội qua sông, mấy lần suýt trược ngã. Tim họ đập thình thịch, tưởng chừng như át cả tiếng nước chảy bên chỗ cái đập nước có cái cọn vẫn từ từ quay. Nhanh lên! Gấp lên! Long tự nhủ mình như thế. Đã vượt ra đến đây rồi thì không thể chậm trễ được nữa. Chỉ mấy phút sau, hai người lên tới bên kia bờ, chui luôn vào đám lau sậy rậm rạp. Họ lại theo con đường mòn cũ đã đưa họ lên đây mới hôm nào.


       Long vừa bước vội vừa thầm thì hỏi Hanh:


       - Cậu nhớ đường chứ?


       - Nhớ. Tôi còn nhớ cả cái chỗ ngã tư, hôm ấy chúng ta dừng lại và anh gặp thằng Kếu ấy. Cách đây chỉ chừng cây số. Đến đấy là có chỗ rẽ về làng Phong Thái. Hôm ấy cái thằng áp giải chúng ta chả nói đấy là làng tề, anh có nhớ không? Đấy, ta rẽ vào phía ấy là thoát rồi.


       - Nhỡ bây giờ đã hết tề rồi thì sao?


       - Hết sao được. Mới ba bốn hôm nay thôi mà. Thôi, đừng nói nữa, đi đi.


       Hanh cắm cúi rảo bước. Long nhìn cậu anh mà không khỏi ngạc nhiên. Ờ, sao cái hôm bị giải lên, đi ban ngày ban mặt tử tế, cậu anh bước tập tễnh như người bị thương ở chân vậy, thế mà bây giờ đi mò trong đêm tối, cũng trên cái con đường mòn khúc khuỷu này, cậu anh lại có vẻ nhanh nhẹn thế. Trốn cái chết, tìm cái sống, ra cái sức của con người ta ghê thật! Long nghĩ thế.


       Nửa tiếng sau, họ đã tới cái ngã tư ấy và phải dừng lại một lúc để nhận đường. Nhưng Hanh quả là có trí nhớ rất giỏi. Ông chỉ đứng xoay mình lại một cái nhìn về phía chiến khu, thế là ngay trong đêm tối, ông vẫn quyết định đi theo một con đường mới lạ. Và ông đã đi đúng.


       Khi họ đi thêm được chừng nửa tiếng nữa, khi họ đã mờ mờ trông thấy cái lũy tre của một cái làng lạ hoắc thì trông chừng về phía cái ngã tư họ vừa đi khỏi, có mấy ánh đuốc bập bùng chạy đuổi theo về phía họ. Rồi vài phát súng trường nổ vu vơ về phía họ. Việt Minh đuổi theo. Không ai bảo ai, cả hai đều ba chân bốn cẳng chạy miết. Nhưng họ thoát rồi, lũy tre làng đã kia rồi, và đằng xa mấy ánh đuốc đã mất hút.


       - Ai, đứng lại.


       Họ cũng mừng rỡ nhận ra ngay đấy là những người hương dũng, chú không phải là du kích. Và mười lăm phút sau, khoảng tám giờ rưỡi tối, họ được đưa lên đồn…


       Và thế là bây giờ nằm đây, chưa biết số phận sẽ ra sao, Long chua chát nghĩ thầm. Anh đưa mắt nhìn Hanh. Cậu anh đã nằm ngay ngắn trên chiếc phản gỗ, đầu gối lên chiếc gối gỗ cao một cách thoải mái, mắt lim dim, trông như bình thản chờ giấc ngủ tới. Tự nhiên, một nỗi căm phẫn nổi lên trong người Long. Tình thế như thế mà ngủ được. Người đâu mà không có chút suy nghĩ gì cả. Thế mà cũng luôn mồm nói đạo lý, nói yêu nước được. Không, chuyến này nếu về được Huế, ta sẽ sống một mình, không thể ở với ông này một phút. Lần đầu tiên, đi đôi với sự không tin phục Hanh nữa, Long còn thấy thêm một cảm nghĩ khác: anh đã thầm khinh bỉ con người ấy. Hơn nữa, anh còn quyết định là từ nay về sau không bao giờ anh còn nghe con người ấy nữa, anh không để cho con người ấy ràng buộc anh về tư tưởng và hành động nữa.


       Hai người đang mải suy nghĩ theo ý tưởng riêng của họ thì cánh cửa nhà giam xịch mở, một tên lính và lý trưởng làng Phong Thái thò đầu vào. Tên lý trưởng nói:


       - Tôi đã bẩm quan cho các ông rồi đấy. Quan bảo đưa hai ông lên ngay.


       Hanh đang nằm vắt chân chữ ngũ bỗng ngồi phắt dậy, tỉnh như con sáo. Ông vuốt vội ống quần cho thẳng, xỏ chân vào đôi dép ướt rồi cùng Long bước tới phòng La- gác.


       Họ đang dụi mắt vì chói ánh sáng điện thì Hanh bỗng nghe La- gác quát:


       - Hai thằng chó chết ấy đâu, sao lâu thế?


       Hanh đĩnh đạc bước tới, lên giọng cự lại bằng tiếng Pháp:


       - Ông không được nói thế. Tôi là giáo sư trường Khải Định, ủy viên hội đồng chấp chánh lâm thời của tỉnh, tôi vừa trốn thoát nhà giam Việt Minh, ông phải bố trí cho chúng tôi về Huế ngay…


       Long nhận ra ngay Rô- giê La- gác. Anh bước tới, nói bằng tiếng Việt Nam, hồi còn học ở Khải Định, trong những lúc đùa nghịch, anh với La- gác đã nói với nhau toàn bằng tiếng Việt Nam.


       - La- gác. Nhớ không, tôi là Long đây. Học Khải Định đây.


       La- gác hơi ngạc nhiên trố mắt nhìn hai người. Hắn vẫn còn say lắm. Nhưng hắn cũng nhận được Hanh, ông giáo sư khoa triết trường Khải Định mà hắn chưa được dịp học vì hắn mới học chưa hết tú tài phần thứ nhất thì Nhật dảo chính, và sau đó là cách mạng, hắn không được học tiếp nữa. Hắn cũng nhận được Long, người học trò khác lớp có thân hình lực sĩ thường gặp hắn trong những buổi đá bóng, hay những buổi chạy thi. Hắn chơi với Long chỉ vì Long cũng như hắn đều thuộc loại khỏe nhất trong bọn học sinh cùng lứa tuổi. Hắn hơi ríu lưỡi, rồi buột miệng nói bằng tiếng Việt Nam:


       - À, à… được, xin mời ngồi…


       Nhưng như chợt nhớ ra, hắn lại nói luôn bằng tiếng Pháp :


       - Nhưng xin các ngài nhớ cho. Đây không phải là trường Khải Định. Trước mặt các ngài là thiếu úy đồn trưởng đồn Phong Thái, trước mắt đây các ngài ở dưới quyền tôi…


       Long không nhịn được, anh hỏi luôn La- gác :


       - Này, nghe người ta nói… có phải lúc… mới ở Huế đánh ra, anh đã bắn chết một nữ sinh Đồng Khánh phải không ?


       La- gác trợn mắt, ríu lưỡi nói :


       - Pavles francais, Jêt des ! Tu es sous me, orders, Mais, alors, non… Không, tao không say, thôi được, tao nói với mày bằng tiếng An Nam cho dễ. Chó đẻ, cái tiếng khốn nạn. À, cái gì ? Bắn nhiều tên khốn nạn rồi, nhớ sao được. Nữ sinh Đồng Khánh? Hừ, cái gì ? À, tao nhớ rồi. Đứa đầu tiên ăn đạn của tao sau khi tao ở vòng vây ra. Con bé xinh lắm. Bắn nhầm. Tiếc mãi. Một con bé tóc dài, nước da trắng mịn, trông rất ngon. Nhưng tại sao nó lại chạy. Chết tại nó. Sao mày lại hỏi ?


       Long không trả lời. Anh nắm chặt tay lại, căm hờn bốc lên khóe mắt. Đúng là kẻ thù ở đây rồi. Anh muốn đứng phắt dậy, chồm lên cấu xé cái tên khốn nạn ngồi trước mắt, phanh thây hắn ra để trả thù.


       La- gác vẫn không thấy gì cả. Hắn đập nhẹ lên vai Long :


       - Người yêu mày hả? Ồ, tiếc làm gì. Những đồ đĩ rạc. Đàn bà! Mô- ních của tao cũng đáng ăn đạn như thế, biết không? – Hắn vừa nói vừa lắc lư cái đầu, làm ra dáng đau khổ.


       Hanh như không để ý đến câu chuyện đang trao đổi giữa hai người, ông vẫn tiếp tục lải nhải nói bằng tiếng Pháp:


       - Ông phải biết rằng ông đã là học sinh trường Khải Định thì đứng trước tôi – là một giáo sư, ông phải có lễ phép. Tôi là bạn thân của ông tỉnh trưởng Nguyễn Bá Tòng. Tuổi tôi ít ra cũng bằng tuổi cha, chú anh. Tại sao chúng tôi tới, anh không hỏi han gì cả, lại đem xuống nhà giam ngay. Tôi sẽ báo cáo lên tỉnh trưởng Tòng về việc này.


       La- gác trợn mắt nhìn Hanh. Một hơi rượu nồng nặc từ mồm hắn bay ra. Hơi men bốc lên làm hắn choáng váng. Hắn bỗng đứng phắt dậy, đập bàn quát :


       - Tao không biết tỉnh trưởng nào hết. Tỉnh trưởng nhà mày thì cũng chỉ là Việt gian như mày mà thôi. Cái bọn An Nam chúng mày! Giết hết đi! Việt Minh tao sẽ giết hết. Còn bọn mày thì tao coi khinh! Biết chưa! Hừ, thế nào? Tỉnh trưởng của mày có đáng bằng cái lông chân người Pháp chúng tao không?


       Hanh tái mét mặt khi thấy La- gác sờ tay vào bao súng lục. Ông đổi giọng, nói nhỏ nhẹ hẳn lại:


       - Ông thiếu úy! Ông say quá mất rồi. Như thế còn gì là chính trị nữa. Tôi quen cả ngài trung tá Cốt- xtơ ở Huế…


       La- gác gầm lên:


       - Quen ai kệ mày. Đồ khốn nạn. Chính trị gì? Việc của bọn con buôn nước bọt. Chúng nó dám giáng chức tao…


       Tự nhiên, hắn đưa hai tay lên ôm mặt gầm lên, rít lên the thé như muốn khóc. Rồi hắn lại buông tay ra, sờ vào bao súng lục:


       - Cho chúng nó ăn đạn! Cả tên Cốt- xtơ nữa, biết không. Nhưng trước hết là cái giống An Nam. Lạy Chúa tôi! Cả cái con mẹ đẻ ra cái thằng La- gác này.


       Hanh nói:


       - Đấy, ông thấy không? Ông rủa người An Nam, nhưng chính ông cũng mang trong người dòng máu đó. Là Pháp lai, ông phải…


       Đoàng… Viên đạn từ họng súng của La- gác bay ra trung ngay giữa ngực trái của Hanh làm Hanh ngã vật ngay xuống đất không kịp giãy giụa.


       Việc xảy ra quá đột ngột làm Long đứng sững. Nhưng anh không thể chậm hơn được nữa. Họng súng của La- gác đen ngòm đang chĩa về phía anh. Anh đứng phắt ngay dậy, lao về phía La- gác, dùng hết sức đấm vào mặt tên Pháp lai. Hự, La- gác không tránh kịp, chỉ khẽ lắc cái đầu một cái. Mắt hắn nảy đom đóm. Một dòng máu chảy từ kẽ miệng hắn ra đỏ lòm. Hắn loạng choạng một giây nhưng ngay lập tức hắn chĩa súng về phía Long bóp cò. Long thụp người xuống, nhưng không kịp, viên đạn đã xuyên vào vai trái anh. Anh lảo đảo ngã xuống, vừa kịp lúc La- gác đưa mũi giày đinh cứng như sắt nguội đá vào sườn anh một cái làm anh lộn đi mấy vòng và ngất đi.


       La- gác nhìn theo khinh bỉ, hắn đã định bắn thêm một phát nữa, nhưng không hiểu sao hắn lại vứt khẩu súng lục lên bàn, với lấy chai rượu, tu một ngụm đánh ực, mắt hắn đỏ ngầu lên, vằn những tia máu dữ dội.


       Nhưng hắn chưa kịp đặt chai rượu xuống bàn thì một quả tạc đạn VB ở đâu bỗng bay tới nổ đánh ầm một cái trên nóc đồn. Tiếp theo là tiếng đạn súng cối nổ ngay trước sân đồn và từng tràng súng liên thanh tặc tặc. Mồ hôi toát ra đầy người La- gác. Hắn loạng choạng vớ lấy khẩu súng lục, đạp tung của phòng, chạy như bay về phía phòng điện thoại. Nhưng không kịp rồi, một băng đạn liên thanh lia ngang qua phía trước mặt chính của sân đồn đã quét trúng La- gác và kết liễu cuộc đời hắn.


 


 


       Thiện đã trực tiếp chỉ huy đại đội 2 và đại đội 3 đánh đồn Phong Thái. Chiều hôm ấy, tổ trinh sát báo cáo với anh rằng nhân mối ở trong đồn cho biết tên đồng trưởng Tây lai ấy không hiểu bực tức điều gì mà quát tháo ầm ĩ, đi đi lại lại trong phòng như con chó điên và không ra lệnh phòng bị gì cả. Khoảng tám giờ rưỡi tối thì một nhân mối trong đám hương dũng ở làng Phong Thái chạy ra báo cáo thêm là lý trưởng Phong Thái đã lên đồn với hai tên Việt gian lạ mặt và chúng hiện ở trong đồn cả. Thiện mừng thầm, cho là thời cơ tốt nhất đã đến. Theo kế hoạch, anh bố trí hai trung đội phục kich dọc con đường từ quốc lộ số 1 đến làng Phong Thái, quân tiếp viện có thể kéo từ Phò Trạch hay Võ Xá tới. Hai trung đội khác được lệnh chia làm bốn mũi tiến tới bao vậy diệt bốn bốt hương dũng ở bốn góc làng khi ở đồn chính nổ súng. Còn Thiện đích thân cùng ba trung đội tiến tới diệt đồn Phong Thái. Thiện đi ngay theo trung đội chủ công. Trung đội này có tiểu đội của Thạc và Ngọ, hai chiến binh mà Thiện rất quen thân. Họ đi lẩn vào trong bóng tối. Nhân mối trong hương dũng đã khéo bố trí để họ được canh gác đúng cái chỗ mà quân của Thiệt kéo vào làng. Vì vậy họ kéo sát tới đồn mà quân trong đồn vẫn không hay biết gì cả. Có một tên hương dũng nghe tiếng chó sủa đã đánh hơi là có động. Nhưng khi hắn đi tìm lý trưởng thì không may mắn hắn bị tiểu đội bố trí để diệt bốt hương dũng ở mé phía đông làng tóm mất.


       Thiện đã bố trí hai trung đội đánh phía lưng và phía sườn bên trái đồn địch. Trong bóng đêm, từng toán Vệ quốc quân bò trườn như rắn về phía đồn địch. Nếu lúc ấy mà trong đồn có phòng bị bắn lên vài cái pháo sáng thì có lẽ quân trong đồn sẽ thấy những cái đầu nhấp nhô, nhấp nhô lổm ngổm bò tới. Nhưng trong đồn, lúc ấy La- gác đang say mèm và đang mải tiếp hai người khách lạ. Bọn lính lố nhố, láo nháo đứng tán gẫu, và chờ đợi một sự gì đó sẽ xảy ra ở phòng chỉ huy.


       Thiện nằm bên cạnh Thạc. Anh thầm thì khẽ hỏi:


       - Này Thạc ơi. Không hiểu sao mình nhớ cái đêm đánh đầu tiên ở nhà Lơ- bơ- rít ở Huế thế. Cậu có nhớ không?


       - Có, hồi ấy cả anh cũng chưa biết đánh trận.


       - Phải, mình đốc các cậu bở hơi tai, đến tới nơi đứt hơi… Chỉ được cái hô xung phong suông là mạnh.


       - Bây giờ thì đánh ăn chắc.


       - Đừng chủ quan nhé.


       - Chưa tới giờ hả anh?


       - Còn năm phút nữa. Tám rưỡi đúng thì khai hỏa. Cối 81 ly và tơ rông bờ lông VB bắn trước. Đồn này công sự không ghê gớm lắm. Công binh báo cáo đã cắt tung nhiều quãng dây thép gai. Rào nứa thì ta đã có sẵn tám thang lớn.


       - Quái, sao không thấy động và chúng nó không thấy bắn ra anh nhỉ? Mọi khi cứ động vào mấy cái lon sữa bò là thế nào chúng cũng nã cho hàng loạt súng máy, bất kể là có người hay không?


       - Nhân mối trong đồn vừa thoát ra báo cáo là thằng đồn trưởng đang say mềm.


       - Thế thì đánh đi chứ anh. Đợi gì nữa.


       - Phải phối hợp với cối và VB chứ. Cứ đúng giờ là khai hỏa.


       Còn một phút nữa mới tới tám giờ rưỡi. Bỗng nghe ngay trong đồn có hai tiếng súng lục nổ đòm. Tưởng bị lộ, Thiện bấm luôn đèn pin về phía sau ra hiệu lệnh cho khẩu đội súng máy.


       Ùng… ùng… oàng, những phát đạn đầu tiên rơi rất trúng đồn. Trong ánh lửa bất thần bốc cháy ở góc đồn, Thiện loáng thoáng thấy một bóng người từ phía trong chỉ huy chạy vút ra. Anh thét khẩu đội súng máy: Bắn. Một tràng súng lia ra: tặc tặc, tặc… tặc, tặc, tặc,… Bóng tên giặc ngã gục xuống trước mặt đồn chính. Bên trong, nghe có tiếng quân Pháp ru lên, mắng nhau, rửa bọn bảo vệ quân ầm ĩ. Rồi từ hai lỗ châu mai ở phía phải và phía trái của đồng những luồng đạn súng máy bắn ra vun vút: tằng tằng tằng… tằng tằng tằng… viu… u… u… bụp, bụp… Một vài phát đạn súng trường nổ vu vơ từ phía đồn giữa và phía cuối trại lính. Thiện thét vang: “Diệt hai khẩu đội súng máy. Ném lựu đạn”.


       Những tiếng lựu đạn rơi bịch xuống quanh quẩn gần hai lỗ cháu mai và nổ ầm ầm. Nhưng bên trong, hai khẩu súng máy địch vẫn bắn trả lại dữ dội, đan thành một viền lưới lửa ngăn đường tiến của hai cánh quân đánh hai bên sườn đồn. Vút, bóng một chiến sĩ Vệ quốc quân thuộc trung đội Thạc lao lên. Anh đạp băng qua dãy rào dây thép gai đã bị cắt đứt, chạy nhanh lên cái thang dài nằm đè ngang đầu bức rào nứa rồi vụt chạy băng qua cái bãi trống mà đạn địch đang đan chéo vun vút.


       - Ngọ, khoan đã. – Tiếng Thạc hét lên nghe lạc hẳn giọng đi.


       Nhưng không kịp nữa. Ngọ đã chạy tới sát bên lỗ châu mai của lô cốt phía trái và nghiến răng rút chốt an toàn và anh tung luôn quả lựu đạn vào trong lỗ châu mai. Oàng, một tiếng nổ rung cả cái lô cốt, bụi trên mái lô cốt rơi xuống trắng xóa và khẩu liên thanh nặng im bặt. Nhưng phía lô cốt bên kia, một băng súng máy đã lia trúng Ngọ. Trong ánh lửa sáng của bức rào nứa bốc cháy, Thạc trông thấy rõ Ngọ nằm vật ra, giãy lên vài cái rồi nằm im không cựa quậy nữa.


       - Ngọ hy sinh rồi. – Thạc lẩm bẩm và nước mắt anh bỗng ứa ra. Anh thét lên – Trả thù cho đồng đội, các đồng chí.


       - Xung phong. – Tiếng Thiện thét lên ra lệnh.


       Thạc nhảy lên trước tiên, anh chạy như bạc trên chiếc thang dài. Ba chiến sĩ nữa chạy theo anh. Sức nặng của họ đè trên chiếc rào nứa đang cháy dở. Ùm… rắc rắc, chiếc rào nứa đổ sụp một mảng lớn, một hai chiến sĩ ngã ngay xuống đất trên những đám dây thép gai và rào nứa đang cháy dở. Hơn mười chiến sĩ nữa vút lên. Hai người hy sinh ngay trước mặt cổng đồn và hai người đã bị thương. Nhưng phía sườn bên trái đồn, trung đội 3 của đại đội 3 cũng vút lên. Khẩu đội súng máy của lô cốt bên trái cũng bị diệt nốt. Bên trong đồn, quân Pháp không có người chỉ huy đã mất tinh thần chiến đấu, phòng điện thoại đã bị ba viên đạn súng cối phá hủy. Một vài tên lính Pháp gan dạ nhất chạy quanh các ngõ ngách của đồn, tì tay lên cò súng trường và súng tôm- xơn bắn trả lại một cách tuyệt vọng, điên cuồng. Mấy tên bảo vệ quân run như cầy sấu nằm nép trong cửa sổ. Có tên sợ quá chui xuống giường nằm, mắt nhắm lại như đã chết rồi. Phía sau lưng đồn, trung đội một cũng phá xong hàng rào tiến vào. Một tên lính Pháp tì tay lên cò súng ngắm vào Thiện sắp sửa bóp cò thì sau lưng hắn một chiến sĩ Vệ quốc quân đã nhảy tới, xỉa cho hắn một lưỡi lê thấu tim gục xuống. Cuộc kháng cự của quân Pháp kéo dài không quá mười phút. Bóng những người Vệ quốc quân Việt Nam đã tràn đầy cả sân đồn, vào khắp các gian phòng, các trại, các lô cốt. Những tên Pháp sống sót, run rẩy, hai tay giơ khẩu súng lên trời bước từ trong những ngõ ngách ra giữa sân.


       - Thắng lợi rồi, anh em ơi. – Tiếng một chiến sĩ reo lên. Ngay lập tực, họ sục vào các trại, các lô cốt, tước vũ khí của bọn Pháp và bảo vệ quân đầu hàng. Họ lôi từ trong gầm giường ra những tên bảo vệ quan giả chết. Và chừng mười phút sau, họ bắt đầu chăm lửa vào những thùng xăng để đốt đồn. Ngọn lửa bốc lên cao, khói bốc ngất trời. Tiếng nổ lép bép hòa lẫn với tiếng reo hò của dân làng Phong Thái. Bốn bốt hương dũng đã bị diệt ngay từ những phát súng đầu tiên sau khi họ thấy đồn chính đã bị đánh. Trong mọi nhà dân, người ta hối hả tìm nồi niêu, xoong chảo, chuẩn bị nấu nước, thổi cơm để đón mừng bộ đội…


       Thiện vào phòng chỉ huy trước tiên. Bóng hai người nằm gục trên nền gạch và những đống máu loang lổ làm anh chú ý. Trên bàn, lạ lùng thay, chai rượu và cái cốc vẫn đứng vững. Anh bấm đèn pin soi vào một người. Ai như ông Hanh? Lạ nhỉ, nghe nói ông ta bị bắt đúng cái hôm tiểu đoàn anh phục kích bôn tập gần đồn An Hòa và nghe đâu còn bị giam ở chiến khu kia mà. Nhưng Hanh đã chết cứng. Một viên đạn xuyên thủng ngực, toàn thân đã lạnh ngắt. Thiện quay sang người kia. Ánh đèn pin cho anh thấy một khuôn mặt quen thuộc. Long, trời ơi. Long cũng ở đây ư? Hay Long cũng bị bắt với Hanh lên chiến khu và bây giờ cùng Hanh chạy về đây? Long chết chưa nhỉ? Thiện sờ vào ngực anh thấy tim vẫn đập, nhịp đập rất nhanh, rất gấp. Máu ở vai anh chảy úa ra đã dần dần khô và làm áo Long dính sát vào người và bám đầy đất cát. Thiện lật ngửa người Long. Anh bỗng thấy Long rên lên vài tiếng. Tưởng Long đã tỉnh, Thiện lay gọi: “Long! Long! Sao lại ở đây?”. Nhưng không, Long vẫn mê man không biết gì cả. Thiện đang bối rối, cố đặt ra những giả thuyết để tìm hiểu cái bí ẩn của việc Long và Hanh cùng có mặt ở đây thì bỗng thấy Thạc khập khễnh bước vào.


       - Thạc sao thế. Bị thương à?


       - Vâng, cái rào nứa đổ xuống, em bị ngã và bị một mảnh nứa nhọn đâm vào chân.


       - Không nặng chứ?


       - Không anh ạ. Em tự băng lấy rồi. Ai thế đấy anh?


       - À, một… anh bạn cũ của tôi… lạ quá, anh xem mặt ông kia xem có đúng là người hôm nọ các anh bắt được ở An Hòa không?


       Thạc khập khiễng bước tới xem rồi nói:


       - Đúng đấy, anh ạ. Thế còn anh này?


       Thiện thấy Thạc kêu lên:


       - Đúng, cái… anh này cũng bị bắt hôm ấy. Họ bị giam trên chiến khu cơ mà.


       - Chắc họ trốn về đây.


       - Đáng kiếp. Chúng nó quả là Việt gian hạng nặng, theo giặc đến cùng. Bây giờ xử trí thế nào hả anh?


       Thiện liếc nhìn Thạc, rồi nói giọng quả quyết:


       - Dù là người như thế nào, hễ còn sống là chúng ta vẫn cứu, vẫn đối xử nhân đạo. Thạc đồng ý chứ?


       - Thưa anh, đồng ý.


       - Thế thì cậu cho người cáng gấp anh này lên CK7.


       - Thế còn cái xác chết này?


       - Thôi, cái ấy thì đành chịu thôi. Ta còn phải gánh bao nhiêu là súng đạn chiến lợi phẩm, bao nhiêu đồng chí bị thương và bao nhiêu quân địch bị thương nữa. Người đâu? Mà nên rút nhanh thôi. Chần chừ ở đây, quân tiếp viện nó đánh tới không lợi.


       Trung đội trưởng trung đội 1 chạy vụt vào báo cáo:


       - Báo cáo, dân làng kéo tới nói họ muốn bộ đội ghé lại để cho họ được liên hoan.


       - Không nên đâu, vùng này rất gần các đồn Phò Trạch, Võ Xá. Hẹn đồng bào một buổi khác anh nhé. Hẹn cho khéo đấy, không họ giận. Nói rõ là bây giờ bộ đội cần rút ngay để tránh quân tiếp viện của địch và đồng bào đỡ bị khủng bố. Tên lý trưởng tề thì chết ở đây rồi. Bộ đội còn có dịp về làng.


       - Báo cáo anh, rõ – Trung đội trưởng trung đội 1 lại chạy vút đi như gió.


       Thiện quay lại nhìn vết thương của Long. Anh nhận thấy vết thương không nặng lắm, nhưng trên miệng vết thương, một vật gì cồm cộm đè lên mép vết thương. Thiện nhẹ tay rút cái vật ấy ra: đấy là cuốn nhật ký của Long.     


 


       22- 4- 1948. “Trời ơi! Sao tôi lại dại dột mà trốn khỏi nhà giam của chiến khu. Ma quỷ nào xui tôi như vậy. Long ơi, mi thật là đáng tội. Thoát một nhà giam để rơi vào một nhà giam khác, nhục nhã hơn! Tôi căm ghét cậu tôi lắm rồi! Tôi muốn được theo kháng chiến. Nhưng tôi làm thế nào. Tên lý trưởng bảo thằng đồn trưởng La- gác ở đây là Tây lai. Tôi ngờ vực. Tôi muốn biết rõ sự thất. Có phải là chính nó không? Nó là cái thằng đã bắn chết Vân của tôi có phải không? Sao đời tôi lại oan trái thế này. Nếu quả là nó thì tôi sẽ làm thế nào? Long ơi, thật đáng kiếp cho mi, chỉ vì mi dại dột đi lỡ một bước đầu. Sắp tới dây, mi sẽ đứng trước kẻ thù mà không dám làm gì nó, biết đâu lại còn phải cười với nó, bắt tay nó, bị nó làm nhục mà đành chịu. Mi ươn hèn như vậy mà mơ tưởng làm người kháng chiến sao được. Trời ơi, sao mà tôi thấy uất ức. Tôi căm ghét tôi. Tôi ghét cái thằng  người nhu nhược trong tôi. Ai tin tôi bây giờ. Ai cho tôi về với kháng chiến. Ai, ai, ai? Vân đã chết vì kháng chiến, còn tôi, tôi thì nhục nhã thế này. Ông cậu tôi, cái ông cha đẻ tinh thần của tôi nằm ngủ được trong lúc này. Tôi bắt đầu khinh ông rồi. Tôi viết lộn xộn vào đây. Tôi điên lên mất…


       Nét bút chì nguệch ngoạc của những trang cuối cùng cuốn nhật ký của Long nhòa đi trước mắt Thiện bên đĩa đèn dầu lạc bập bùng. Thiện thở dài gấp cuốn sổ tay lại. Anh tự hỏi: Thế là thế nào nhỉ? Tại sao Long lại cùng Hanh đi chơi với tên Tòng để bị quân ta bắt ở An Hòa? Và tại sao như thế mà Long lại tỏ ra muốn theo kháng chiến? Muốn theo kháng chiến sao lại trốn về đây, Hanh, Long bị đạn của quân ta hay vì đâu? Sao họ lại nằm cả trong phòng tên đồn trưởng? Vân chết thật rồi ư? Nghĩ tới Vân, Thiện thấy lòng mình se lại. Từ ngày vỡ mặt trận, anh cũng không biết Vân ở đâu và tính mạng như thế nào? Một đôi lần anh đã kín đáo hỏi Hồ về Vân nhưng chính Hồ cũng không biết. Nhưng Thiện chưa bao giờ nghĩ là Vân đã chết. Anh đồ rằng chỉ có thể là Vân chạy ra Vinh hay chạy lạc ở ba huyện miền nam, hoặc có thể vào Quảng Nam và hiện đang ở trong một chiến khu nào đó. Hôm nay, đọc nhật ký của Long và nghe tin Vân chết, Thiện lại tự vấn lòng mình. Anh nhận thấy rằng từ sau cái  hôm cãi nhau với Long, anh có tới nhà Vân một hai lần để hỏi về địa chỉ của Long ở Hà Nội, nhưng anh rất giữ ý không dám thân mật một cách tự nhiên với Vân như trước nữa. Anh tự nhủ rằng mình phải tránh không để cho Long hiểu lầm. Và ngay cả Vân nữa, anh cũng sợ rằng sau buổi cãi nhau với Long, Vân cũng có thể cho là tại anh không giữ ý nên mới ghen tuông như vậy. Nhưng càng giữ ý, anh càng nung nấu trong lòng cái mơ ước được Vân yêu, cái mơ ước mà anh hết sức gạt đi, cho là một mơ ước tội lỗi. Thế rồi đến những ngày trong đồn Mang Cá. Anh biết rằng lúc đó là lúc anh lợi thế hơn Long nhiều. Anh là một đại đội phó, một người Vệ quốc có tư thế oai hùng, còn Long thì biệt tăm, không hiểu có tham gia chút công tác nhỏ nào cho kháng chiến hay không? Trong những ngày ấy, tuy anh vẫn hết sức giữ ý, nhưng quả thật là anh đã không kìm nổi lòng mình, anh đã đi sang bệnh xá trung đoàn khá nhiều lần, tìm những lý do vu vơ để gặp mặt Vân. Câu chuyện giữa họ với nhau lúc ấy cũng vẫn quanh quẩn về chuyện Long không biết còn ở Hà Nội hay đã về Huế, và Long có tham gia kháng chiến hay không? Thiện nhớ có lần anh đã khuyên Vân nên chịu khó lại nhà Long để tìm Long và thuyết phục Long nên tham gia kháng chiến. Tuy miệng anh nói vậy nhưng trong đáy sâu nhất của lòng anh, anh vẫn hy vọng Vân không làm như vậy. Và quả nhiên là Vân bận tíu tít công việc trong đồn lúc sắp sửa tác chiến nên không gặp Long được. Nhưng quan hệ giữa Thiện và Vân vẫn chỉ dừng lại ở đó, Thiện vẫn không dám tiến lên một bước nào nữa, còn Vân thì anh thấy rõ là vẫn một lòng yêu Long, cô rất nóng lòng muốn được gặp Long để nói với Long những câu chuyện tình cảm cần thiết sau hơn một năm xa cách và về câu chuyện cách mạng và kháng chiến. Trong những ngày vỡ mặt trận, Thiện có chú ý dò hỏi và được biết bệnh xá của trung đoàn không mất mát gì về người và của và đã được đưa lên CK7. Nhưng sao trong số đó không thấy có Vân. Cũng có lúc anh lo cho Vân, anh thấy thương những người con gái yếu ớt trong những ngày chạy loạn. Nhưng anh vẫn không hề nghỉ là Vân đã chết. Thế rồi ngày tháng dần trôi qua, hình ảnh Vân ở trong anh tuy chưa mất nhưng cũng ít khi hiện lại. Chỉ những hôm nào trời chiều ủ ê, mưa rừng suối lũ, ngồi buồn trong lán trại, Thiện mới chợt thấy nao nao nhè nhẹ, và hình ảnh những người bạn cũ, những Song, những Xuân, những Hoạt, và nhất là Vân, Long lại đến với anh. Những lúc ấy Thiện cảm thấy hình như đấy là những hình ảnh đã xa lắm của những chuỗi ngày thanh bình rất đẹp của tuổi trẻ đã qua đi không bao giờ trở lại. Hiện tại của anh là chiến đấu, là gay go, gian khổ, là sốt rét rừng và cơm sắn nước ruốc, là đề án công tác, là địa hình địa vật của chiến trường, là công tác tư tưởng trong đại đội, là vấn đề chính trị, vấn đề quân sự, vấn dề dân vận, vấn đề công tác chi bộ v.v… nghĩa là hàng trăm thứ vấn đề luôn luôn làm tâm trí anh căng thẳng, những không vì thế mà có thể bỏ qua đi một vấn đề nào cả.


       Một ý nghĩ bỗng thoáng qua rất nhanh trong óc Thiện. Anh vội vã đứng dậy, đi tới chỗ để chiếc ba lô của anh làm từ trước ngày vào cách mạng mà anh may mắn vẫn còn giữ được. Anh lại tới ngồi bên bàn, đặt cuốn sổ thơ của anh bên cạnh cuốn nhật ký của Long. Anh lật tấm bìa. Mấy dòng thơ ở ngay trên trang đầu do chính tay anh viết bằng một thứ chữ ngay ngắn, tròn trịa nhưng rõ nét non nớt của thời học sinh đập vào mắt anh:


                              Mở lòng sang đón gió muôn phương


                              Khắc dáng Nàng Thơ trước cổng trường


                              Ai đó ngàn sau con xáo động


                              Si tình mấy gã nhớ người thương.


       Thiện chợt nở một nụ cười ngượng ngùng, nhợt nhạt, anh lắc đầu lẩm bẩm: Vô nghĩa. Tiểu tư sản thật. Sao ta lại chưa xé cái tập thơ thổ tả này đi nhỉ? Nhưng anh vẫn không xé, anh cảm thấy dù sao đấy cũng là một kỷ niệm. Thiện nhớ lại rằng cũng đã nhiều lần anh tự mắng mình là tiểu tư sản, nhất là sau những cơn buồn mà hình ảnh của quá khứ trở lại trong anh một cách quá dịu ngọt, quá êm đềm, như quyến rũ anh vào thế giới của những tình cảm nào say đắm lắm. Thế rồi công tác của anh trong đại đội lại cuốn anh đi và cuốn trôi luôn cả những hình ảnh ấy. Nhưng, như những dòng nước luôn luôn chảy xuôi rồi chảy ngược, thường là sau những trận đánh gay go nguy hiểm tới tính mạng, sau những phiên họp kéo dài căng thẳng, sau những cuộc chạy giặc lùng, sau những tháng công tác dân vận ở đồng bằng mà anh cũng khéo hòa mình được với quần chúng nông dân và tìm tháy trong đó những rung động chân thành, những nét vui có thật của cuộc sống mới đang lên, thì những cơn buồn lại kéo đến và những hình ảnh xưa lại hiện lại. Nhưng Thiện cũng là một con người nhiều lý tính. Anh cũng tự biết mình là còn mang nặng tính chất tiểu tư sản học sinh và chính anh, trong cuốn sổ tay công tác, đã ghi lên trang đầu câu: “Rèn luyện, cải tạo, bới nghĩ vẩn vơ, phục vụ nhân dân vô điều kiện”, coi đó là mục tiêu mà mình phải đạt tới và có thể đạt tới. Và cũng chính anh đã tự đặt cho mình nhiệm vụ phải giải quyết vấn đề luyến ái của anh một cách rõ ràng, dứt khoát. Anh đã nghĩ tới chuyện lấy vợ, lập gia đình để giải quyết cho trọn vẹn cái nhu cầu tình cảm của anh, để khỏi phải mơ ước vẩn vơ tới cái tình yêu mà anh tự nhủ không biết bao nhiêu lần là không thể có được giữa anh và Vân, và cũng để thỏa mãn cái đòi hỏi của xác thịt luôn luôn thôi thúc mãnh liệt trong cái thân thể cường tráng của người Vệ quốc quân năm ấy vừa đúng hai lăm tuổi. Bố anh ở tỉnh ủy những lần gặp anh cũng có nhắc qua anh về việc ấy. Mặc dù Thiện cũng đã chú ý tìm kiếm lấy một người để yêu, để xây dựng gia đình nhưng vẫn chưa gặp. Anh biết rằng trong tiểu đoàn anh có một cấp dưỡng và một cứu thương có cảm tình với anh. Hai cô gái quê ấy có tính nết rất tốt, họ lại thân thật, họ không giấu nổi tình cảm của họ qua khóe mắt và nhất là qua những sự săn sóc thực tế về cái ăn, cái uống, cái việc giặt giũ, may vá quần ao chăn màn cho anh. Nhưng không hiểu sao Thiệt không hề thấy lòng mình rung động, anh thầm cảm ơn những sự săn sóc ấy nhưng anh chỉ muốn làm sao cho khỏi bị săn sóc như thế. Những lần đi công tác dân vận ở đồng bằng, bên cạnh bếp lửa của các gia đình nông dân hay trong những đêm liên hoan giữa bộ đội với dân làng, Thiện cũng đã nhiều lần bắt gặp đôi mắt mơ màng của những cô gái quê nhìn anh một cách thèm muốn hay đắm đuối. Nhưng những lúc ấy, kỷ luật của bộ đội buộc anh phải giữ tư cách hết sức nghiêm trang, và không mấy khi anh tìm được cơ hội tìm hiểu sâu hơn những tâm hồn mộc mạc ấy. Buổi liên hoan diễn ra ngắn ngủi, đơn vị của anh rút đi nơi khác, và Thiệt biết rằng những đôi mắt ấy sẽ lại nhìn các chàng trai trẻ khác của những đơn vị bộ đội khác để năm thì mười họa mới thành được đôi lứa.


       Thiện chợt thở dài. Cái câu của Long viết về cái chết của Vân, tuy ngắn ngủi, nhưng cũng có mảnh lực làm hình ảnh Vân sống lại trong con người anh một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn bao giờ hết. Trong một thoáng, Thiện nhớ lại cả những ngày đầu anh với Long cùng cứu Vân khỏi sự trêu ghẹo của một tên lưu manh, rồi cả hai cùng làm thơ để tặng một người, cả hai cùng mơ ước một người và cuối cùng là Long chiếm được tình yêu. Nhưng rồi nổi bật lên hơn hết là cái buổi cãi nhau giữa anh và Long, việc Vân bênh vực anh ngay trước mặt Long và các bạn thân khác, việc Long đi Hà Nội và sau đó là những ngày ở trong đồn Mang Cá. Thiện lẩm bẩm: Vân nếu còn sống thì năm nay cũng đã hai hai tuổi rồi. Tự nhiên khuôn mặt trái xoan với những nét thanh tú, nhẹ nhàng và nhất là đôi mắt to, đen lay láy nằm dưới đôi hàng mi để tự nhiên cong cong rất cân đối, rất xinh của Vân như hiện lên trước mắt Thiện, và như nhìn anh với một cảm tình rõ rệt nhiều hơn trước, trước hết vì anh là người kháng chiến, người Vệ quốc quân, người đang làm cái nhiệm vụ cao quý là đem máu xương mình ra để cứu nước và giữ nước…


       Đĩa đèn dầu lạc chợt lụi đi rồi như muốn tắt, Thiện giật mình, anh vội gạt cho bấc dầu cháy to lên, cái hình ảnh anh vừa mơ màng dựng nên bỗng biến mất. Phải quay về với thực tế mới được, anh tự lẩm bẩm, Vân chết rồi còn đâu nữa. Nào để xem một số trang nhật ký của Long, xem tư tưởng anh chàng diễn biến ra sao nào?


(còn tiếp)


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »