tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20000983
Tiểu thuyết
21.03.2017
Margaret Munnerlyn Mitchell
Cuốn theo chiều gió



Bẩy


Chỉ trong hai tuần, Scarlett đã thành một người vợ và chỉ hơn hai tháng sau, nàng đã thành góa phụ. Nàng đã được giải thoát thật sớm khỏi mối liên hệ mà nàng đã nhận lấy một cách thật hấp tấp và thiếu suy tư, nhưng nàng chẳng bao giờ còn được hưởng cái tự do vô tư lự của những ngày chưa lấy chồng. Sự góa bụa đã theo sau ngay gót của hôn nhân và thật kinh hoàng cho nàng, bổn phận làm mẹ đến liền sau đó.


Nhiều năm sau, mỗi lần hồi tưởng những ngày cuối cùng của tháng tư năm 1861, Scarlett không bao giờ nhớ rõ được chi tiết ra sao cả. Thời gian và những biến cố đã đâm sầm vào nhau, hỗn loạn như một cơn ác mộng phi lý. Cho tới ngày chết, nàng vẫn không thể nào bổ khuyết được ký ức của nàng vào những ngày ấy. Chỉ còn một sự mờ nhạt trong trí nhớ của nàng về khoảng thời gian nhận lời cầu hôn của Charles và ngày cưới. Hai tuần lễ! Thật quá ngắn đối với thời gian đính hôn không thể chấp nhận được trong thời bình. Thời gian trung bình hợp lễ là một năm hay ít lắm là sáu tháng. Nhưng miền Nam đã bốc lửa chiến tranh, biến cố đã kéo đến mau lẹ như có mang theo một trận cuồng phong, thổi tung hết những nhịp điệu êm đềm ngày cũ. Ellen vừa vặn vẹo hai bàn tay vừa khuyên nên trì hoãn để Scarlett được cạn nghĩ. Nhưng trước sự biện giải của mẹ, Scarlett nhíu mày làm ngơ. Nàng muốn lấy chồng và lấy thật mau. Chỉ trong hai tuần lễ thôi!


 


Biết rằng đám cưới của Ashley sẽ cử hành vào khoảng cuối tháng tư đến đầu tháng năm, để chàng có thể gia nhập quân đội ngay khi được gọi, Scarlett đã sắp đặt hôn lễ của nàng vào một ngày sớm hơn của Ashley. Ellen phản đối, nhưng Charles biện hộ với một tài hùng biện mới tìm ra, rằng anh nóng lòng đi Nam Corolina để gia nhập quân đoàn của Wade Hampton, và Gerald lại thuộc về phe hai người trẻ. Ông đã bị kích thích mạnh vì cơn sốt chiến tranh và rất hài lòng vì Scarlett đã tìm được một nơi xứng đáng, còn ai hơn ông để binh vực đường lối tình yêu của tuổi trẻ trong thời chiến? Ellen điên đầu, nhưng sau cùng đành phải làm như những bà mẹ miền Nam khác đã làm. Thế giới nhàn rỗi của họ đã bị đảo lộn, mọi điều khiếu nại, biện hộ và khuyến cáo của họ chẳng có hiệu quả gì trước những lực lượng hùng mạnh đã cuốn họ đi.


 


Miền Nam đang chuếnh choáng bởi hăng say và khích động. Ai cũng biết là chỉ một trận đánh thôi cũng đủ kết liễu chiến tranh rồi và những người trẻ đều nô nức đầu quân trước khi chiến trận có thể chấm dứt... họ cũng hấp tấp cưới các tình nhân trước khi kéo đi Virginia để giáng một đòn vào mặt bọn Yankee. Hơn một chục đám cưới thời chiến được cử hành trong hạt và chẳng có một thời gian nào để khóc lóc giã từ, vì mọi người đều quá bận rộn và khích động, chẳng ai có thể long trọng nghĩ đến những giọt nước mắt. Đàn bà phải may đồng phục, đan vớ và cuộn băng cứu thương, còn đàn ông thì lo dượt và tập bắn. Mỗi ngày đều có chuyến xe lửa chở quân đội qua ngang Jonesboro tiến lên hướng Bắc về phía Atlanta và Virginia. Một vài quân đội vui vẻ trong bộ đồng phục màu đỏ tươi và màu xanh dương, xanh lục của vệ binh quốc gia. Một vài toán nhỏ bận áo vải dệt lấy và đội mũ bằng da, một vài nhóm khác không có đồng phục, chỉ mặc đồ bằng nỉ đẹp hay vải thượng hạng. Tất cả đều chưa được huấn luyện hoàn bị, võ trang sơ sài, man dại vì khích động. Họ reo hò như đang trên đường tới tham dự một cuộc cắm trại. Nhìn thấy những người nầy, bọn trai trẻ trong hạt lo sợ cuống cuồng là chiến tranh sẽ chấm dứt trước khi họ lên tới Virginia nên mọi chuẩn bị cho cuộc xuất quân đã được xúc tiến mau lẹ.


 


Giữa tình trạng cuồng loạn ấy, mọi sự chuẩn bị cho hôn lễ của Scarlett vẫn được tiến hành và, hình như trước khi biết rõ nàng phải làm gì, nàng đã mặc bộ áo và choàng chiếc khăn cưới của Ellen, bước xuống thang lầu Tara trong cánh tay của cha nàng, đối diện với căn nhà đầy thực khách. Một lúc sau, nàng sực nhớ ra, như vừa trải qua cơn mộng, nàng nhớ lại hàng trăm ngọn nến lung linh trên vách, gương mặt của mẹ nàng, đầy thương yêu ái ngại, hơi ngơ ngác và môi bà mấp máy đọc kinh cầu hạnh phúc cho con. Nàng nhớ lại hình ảnh Gerald mặt đỏ rần vì rượu Brandy và hãnh diện thấy con gái ông có được một người chồng thuộc dòng danh giá cố cựu vừa được một gia tài... và Ashley, cầm tay Melanie đứng dưới chân cầu thang.


Lúc vừa thấy mặt chàng, nàng tự nghĩ:


"Đây nào phải là sự thật, không thể được! Đây chỉ là một cơn ác mộng. Mình sẽ tỉnh dậy và sẽ thấy rằng đó chỉ là một giấc mơ. Mình không thể suy tư về nó bây giờ, ngược lại mình sẽ hét lớn trước đám đông ngay. Mình chẳng suy nghĩ gì bây giờ được. Hãy để sau nầy, khi mình đã chịu đựng nổi, khi nào mình không còn trông thấy ánh mắt của chàng nữa".


Thật vậy, tất cả đều giống như một giấc mơ, lúc băng qua lối đi giữa đám người vui vẻ, mặt Charles đỏ ửng lên, những câu nói lắp bắp của anh ta và những câu rõ ràng minh bạch của nàng trả lời cũng thật lạnh lùng. Sau đó là những lời chúc tụng, những cái hôn, những ly rượu mừng và khiêu vũ... tất cả, tất cả đều như trải qua trong mơ. Ngay cả cảm giác lúc Ashley hôn phớt lên má và giọng thì thầm của Melanie "Bây giờ chúng ta thực sự là chị em với nhau rồi đó" cũng đều không thật. Ngay cả lúc hồi hộp khi thấy bà cô mập của Charles, cô Pittypat Hamilton ngã xỉu cũng đều là những diễn biến của cơn ác mộng đó.


 


Nhưng sau khi cuộc khiêu vũ và lễ rượu mừng chấm dứt, bình minh lố dạng, khi tất cả khách từ Atlanta đến, tụ tập trong Tara và nhà của viên quản gia đã ngã mình trên giường, trên ghế dựa hoặc trên những tấm đệm trải ở sàn nhà đều ngủ say và tất cả những khách lân cận đã về nghỉ ngơi để sửa soạn cho hôn lễ ngày mai ở Twelve Oaks, lúc đó cơn mộng mới bị bể tan từng mảnh như pha lê nhường chỗ cho sự thật. Sự thật là Charles, mặt đỏ gay vì thẹn ló ra từ căn phòng trang điểm của nàng trong cái áo ngủ của anh ta, tránh né cái nhìn kinh ngạc của nàng qua lớp mền đắp lên tới cổ.


 


Dĩ nhiên nàng biết rằng vợ chồng phải nằm chung giường nhưng nàng chưa bao giờ nghĩ tới chuyện đó. Đó là chuyện quá hiển nhiên như trường hợp của cha mẹ nàng nhưng nàng chẳng bao giờ đặt mình vào chuyện đó. Và bây giờ, lần đầu tiên từ ngày dự dã yến, nàng mới ý thức rõ những gì do chính tay nàng mang tới cho nàng. Với ý nghĩ gã con trai xa lạ mà nàng chẳng thật tâm muốn lấy lại nằm chung giường giữa lúc mình đang quá đau khổ vì hối tiếc về những hành động hấp tấp của mình và chuyện mãi mãi nàng không còn được Ashley, thật là quá sức chịu đựng. Và khi Charles vừa mon men tới gần giường, nàng đã khàn khàn bảo nhỏ:


 


− Tôi sẽ la lớn lên khi anh tới gần tôi. Tôi sẽ la, tôi sẽ... thật lớn! Tránh ra! Đừng hòng đụng vào tôi!


 


Do đó Charles Hamilton đã trải qua đêm tân hôn trong một cái ghế bành đặt ở góc phòng. Anh ta không mấy thất vọng, vì hiểu hoặc tưởng rằng mình hiểu tánh dễ bị xúc động và sự thẹn thùng của vợ. Anh muốn đợi đến khi sự sợ hãi của nàng lắng xuống, chỉ có điều, chỉ có điều... anh thở dài, xoay người qua lại để chọn một lối nằm cho thoải mái... bởi vì anh ta phải ra mặt trận ngày gần đây.


 


Nếu đám cưới của chính Scarlett đã là một cơn ác mộng thì đám cưới của Ashley lại càng thảm não cho nàng hơn nữa. Scarlett mặc chiếc áo màu xanh vỏ táo, chiếc áo của ngày thứ nhì sau hôn lễ, đứng giữa phòng khách chói lọi bởi hàng trăm ngọn nến của Twelve Oaks. Gian phòng chật nứt với đám người đêm qua. Nàng nhìn khuôn mặt giản dị, nhỏ bé của Melanie, mặt cô ta sáng rỡ vì đã là bà Melanie Wilkes. Bây giờ Ashley đã xa nàng vĩnh viễn. Ashley của nàng. Không, bây giờ không còn là Ashley của nàng nữa. Nhưng còn bao giờ nàng được là của chàng không? Tất cả những điều đó trộn lẫn trong tâm chí và trong đầu óc đã quá mệt mỏi và lạc lõng của nàng. Chàng đã nói yêu nàng, nhưng cái gì đã phân cách hai người? Phải chi nàng có thể nhớ lại được! Lấy Charles, nàng đã ngăn chặn được những lời gièm pha của người trong hạt, nhưng bây giờ vấn đề đó có nghĩa gì đâu? Cái việc trước kia hình như rất quan trọng với nàng, bây giờ hoàn toàn vô nghĩa. Tất cả cái gì đáng kể, chính là Ashley. Nhưng bây giờ chàng đã rời xa nàng. Và nàng đã lấy một người, một người đàn ông mình chẳng hề yêu mà còn khinh bỉ nữa.


 


Ôi! Nàng tiếc biết bao những chuyện ấy! Nàng thường nghe nói "người ta tự cắt mũi vì ác cảm với khuôn mặt của mình", nhưng lúc trước câu nầy chỉ là một hình dung pháp. Bây giờ nàng mới biết được ý nghĩa của nó. Và bây giờ nàng vừa điên cuồng ao ước không bị ràng buộc gì với Charles, trở về Tara làm một thiếu nữ chưa chồng như xưa, vừa nhận ra rằng chính nàng là người có lỗi. Ellen đã cố gắng ngăn nàng nhưng nàng chẳng chịu nghe.


 


Bởi thế nàng đã khiêu vũ suốt đêm trong lễ cưới của Ashley, quay cuồng một cách ngây dại, nói chuyện như một người máy, cười cợt, và ngạc nhiên về sự ngốc nghếch của người ngoại cuộc cứ nghĩ rằng nàng là một tân nương hạnh phúc mà không sao thấu hiểu nổi sự đau đớn của nàng. Tạ ơn trời, họ không sao thấy được.


 


Đêm đó, sau khi Mammy giúp nàng cởi áo và đi ra ngoài, Charles rụt rè nhô ra từ phòng trang điểm, tự hỏi không biết anh ta có phải trải qua một đêm thứ hai trong cái ghế nệm lông ngựa nữa hay không thì đột nhiên nàng oà ra khóc. Nàng khóc cho đến khi Charles leo lên bên cạnh nàng, cố gắng an ủi, nàng vẫn sụt sùi khóc cho đến khi không còn một giọt nước mắt và cuối cùng tức tưởi tựa vào vai Charles.


 


Nếu không có chiến tranh, họ phải bỏ ra một tuần lễ để viếng thăm các gia đình trong hạt, dự dạ vũ và dã yến khoản đãi vợ chồng mới cưới trước khi họ lên đường đi viếng hồ Saratoga hoặc White Sulphur. Nếu không có chiến tranh, Scarlett đã mặc đủ các loại áo ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm sau hôn lễ để dự những bữa tiếp đãi nàng tại nhà Fontaine, Calvert hay Tarleton. Nhưng chẳng có tiệc tùng, cũng chẳng có du lịch. Một tuần sau ngày cưới, Charles đã phải lên đường gia nhập quân đoàn của đại tá Wade Hampton, và hai tuần sau đó, Ashley và bộ đội lên đường để lại cho hạt bao nhiêu buồn nhớ.


 


Trong hai tuần đó, Scarlett không bao giờ gặp Ashley một mình, không một lời riêng nào với chàng. Ngay cả giờ phút khủng khiếp của buổi lên đường, khi chàng dừng lại Tara trên đường tới nhà ga, nàng cũng không nói được một lời nào với chàng. Melanie đội nón, trùm khăn, nghiêm trang trong bổn phận làm vợ mới mẻ, vịn vào tay chồng. Và mọi người ở Tara, da trắng lẫn da đen, đều nghỉ việc để tiễn Ashley ra mặt trận.


 


Melanie nói với chồng:


 


− Anh phải hôn Scarlett chớ, bây giờ cô ấy là em của em rồi.


 


Và Ashley khom xuống, phớt đôi môi lạnh giá trên má nàng, nét mặt khẩn trương. Scarlett chẳng vui gì về cái hôn đó bởi chính Melanie đã nhắc nhở chàng. Cô ta đã làm nàng nghẹt thở vì cái ôm từ giã:


 


− Em phải lên Atlanta thăm chị và cô Pittypat nghe không? Ồ, cưng, chị mong em lắm! Gia đình muốn biết rõ vợ của Charlie hơn.


 


Năm tuần trôi qua, từ Nam Carolina, Charles gởi cho vợ một lá thơ rụt rè, ngây ngất và âu yếm kể lể về tình yêu của anh ta, về những dự định khi chiến tranh chấm dứt, về việc ước ao được là một anh hùng vì nàng, và về sự tôn sùng của anh đối với vị chỉ huy trưởng Wade Hampton. Đến tuần lễ thứ mười bảy, một bức điện tín do chính Đại tá Wade Hampton gởi tới, và sau đó là một bức thơ phân ưu với lời lẽ ân cần và trang nghiêm. Charles đã chết. Đại tá không thể báo tin sớm hơn vì Charles nghĩ rằng cơn bệnh của anh không nặng lắm, anh không muốn làm gia đình lo lắng. Người con trai bất hạnh đó chẳng những bị số mạng cướp đi tình yêu mà anh ta tưởng rằng đã chiếm được mà còn mất cả cao vọng được chết vinh dự trên bãi chiến. Anh đã chết một cách tầm thường và mau lẹ bởi chứng sưng phổi và sau đó là bệnh đậu mùa, và cũng chẳng tới gần được bọn Yankee bao nhiêu hơn là căn cứ Nam Carolina.


 


Đúng ngày tháng, con trai Charles chào đời và theo thói quen, người ta đặt tên cho đứa con theo tên vị chỉ huy trưởng của cha nó. Đứa nhỏ mang tên Wade Hampton Hamilton. Scarlett đã khóc hết nước mắt vì thất vọng khi biết mình có thai, nàng cầu mong được chết cho xong. Nhưng thời gian cưu mang đứa bé đã qua mau, và nàng sanh nó ra không khó nhọc lắm. Nàng chỉ hơi đuối sức và bình phục mau chóng đến nỗi Mammy bảo rằng trường hợp của nàng quá sức tầm thường... Các bà quí tộc cần phải đau đớn lâu hơn. Nàng không thấy thương con lắm. Nàng không hề muốn nó ra đời và còn oán hận vì nó đã được sanh ra. Nhưng bây giờ có nó rồi mà nàng vẫn thấy như chưa, như thằng bé có thể không phải là con nàng.


 


Tuy thể xác hồi phục mau lẹ sau khi sanh bé Wade, tinh thần nàng vẫn còn ngơ ngẩn và kiệt quệ. Nàng hoàn toàn xuống tinh thần, mặc dù tất cả những người trong đồn điền đều cố làm cho nó hồi sinh. Ellen đi qua đi lại với một vẻ lo lắng và các nếp nhăn trên trán. Gerald chửi thề nhiều hơn trước và thường mang từ Jonesboro về những món quà chẳng ích lợi gì cả. Ngay cả lão bác sĩ Fontaine, sau khi bảo nàng dùng thuốc bổ gồm lưu huỳnh, đá tam hợp và dược thảo, cũng thất bại trong việc làm nàng vui trở lại. Ông nói riêng với Ellen rằng sở dĩ Scarlett hay cau có và thờ ơ như vậy chỉ vì nàng đang có chuyện đau lòng. Nhưng nếu muốn nói ra, Scarlett có thể cho họ biết rằng chứng bệnh của nàng khác xa và phức tạp hơn tâm bệnh nhiều. Nàng không muốn cho ai biết rằng chính sự buồn nản quá mức, sự ngơ ngác vì trở thành người mẹ và hơn tất cả, sự vắng bóng của Ashley đã khiến nàng tiều tụy thiểu não.


 


Nỗi phiền muộn của nàng cứ như đau xé và dai dẳng. Cuộc sống trong hạt đã trống vắng những cuộc vui chơi và sinh hoạt bình thường kể từ khi những người trai tráng lên đường ra mặt trận. Tất cả những thanh niên hoạt náo đều ra đi... Bốn anh em Tarleton, hai người con trai nhà Calvert, nhóm Fontaine, nhóm Munroe và tất cả những người trai trẻ, dễ thương ở Jonesboro, Fayetteville và Lovejoy cũng thế. Chỉ còn lại những người già cả, những kẻ tàn tật và nữ giới, và họ luôn luôn bận rộn với chuyện may vá, trồng trọt thêm nhiều bông gòn và nhiều bắp, chăm nuôi thêm nhiều bò, heo và trừu để cung cấp cho quân đội. Gần như chẳng có bóng dáng thật sự của một người đàn ông nào cả, ngoài trừ toán quân lương dưới quyền chỉ huy của con người đứng tuổi Frank Kennedy, ý trung nhân của Suellen, cứ mỗi tháng trở về một lần để thâu góp phẩm vật tiếp tế. Các sĩ quan và binh sĩ quân nhu nầy không mấy hấp dẫn, lại thêm thái độ rụt rè của Frank khi tán tỉnh Suellen càng khiến cho Scarlett bực mình đến nỗi khó giữ được lễ độ đối với y. Thà hai đứa nó lấy nhau phứt cho rảnh mắt!


 


Dù cho những người trong toán vận lương đó có khả ái hơn đi nữa, họ cũng chẳng giúp được nàng thoát khói tình cảnh hiện thời. Nàng đã là góa phụ và trái tim được chôn theo dưới mộ chồng. Đó là điều mọi người cùng nghĩ thế và cùng muốn nàng phải xử sự theo đúng phẩm cách của một người vợ góa. Điều nầy càng làm cho nàng bực bội hơn, bởi vì mặc dầu có muốn đi nữa, nàng cũng không sao nhớ lại được những gì liên quan tới Charles, bộ trừ bộ mặt giống như bò con sắp chết của anh ta khi nghe nàng ưng thuận làm vợ. Ngay cả hình ảnh đó cũng bị lu mờ. Nhưng trên thực tế nàng vẫn là góa phụ và phải biết giữ gìn tiết hạnh. Nếp sống tươi trẻ của các cô gái chưa chồng không phải là của nàng nữa. Nàng phải tỏ ra nghiêm trang và cách biệt. Ellen đã nhấn mạnh dài dòng về điểm đó khi bà bắt gă>p trung uý Frank đẩy chiếc đu của Scarlett ngoài vườn khiến nàng cười ngặt nghẽo. Theo Ellen thì người goá phụ còn phải thận trọng gấp đôi hơn những người đang có chồng.


 


Vừa nghe mẹ dạy, Scarlett vừa nghĩ "có trời mới biết là những người đàn bà có chồng có gì vui sướng. Như vậy, ở góa kể như là đã chết".


 


Người góa phụ phải mặc những chiếc áo đen sầu muộn và không được cài lên đó bất cứ món trang sức nào để cho vui mắt, không có hoa, không dây băng, không ren và không cả nữ trang. Họ chỉ được cài trâm tang hoặc đeo kiềng cổ bện bằng tóc của người chết. Và chiếc mạng che mặt màu đen phải dài từ trên nón phủ tới gối. Phải đợi ba năm sau của cuộc đời góa phụ chiếc khăn đó mới được cho để ngắn ngang vai. Góa phụ không được quyền trò chuyện với nhiệt tâm và không được cười lớn tiếng. Ngay cả lúc cười, họ cũng chỉ được cười ra vẻ buồn thảm. Điều đáng sợ hơn tất cả là họ không được phép tỏ ra tươi vui khi tiếp chuyện đàn ông. Và nếu có một người đàn ông mất dạy nào đó để lộ một chút tình ý gì thì người góa phụ phải chận đứng y lại ngay bằng lời lẽ trang trọng được chọn lựa kỹ càng nhắc tới người chồng đã qua đời. Scarlett chua chát nghĩ:


 


"Ồ, rồi cũng có một vài góa phụ tái giá nhưng lúc đó họ đã già rồi. Và họ đã phải xoay sở cách nào để tránh những cái nhìn tò mò của người lân cận. Và thường thường họ chỉ được tái giá với những ông chủ đồn điền góa vợ già khọm với cả chục đứa con".


 


Lấy chồng đã là một điều tệ hại lắm rồi, còn góa chồng... Ôi, cuộc sống kể như vĩnh viễn không còn nữa. Chẳng biết người đời ngu đần đến mức nào lại có thể cho rằng dầu Charles mất đi nhưng nàng vẫn còn được an ủi nhờ có thằng bé Wade Hamilton! Đã vậy họ lại còn cho rằng nàng có phước còn được một lẽ sống trên đời! Mọi người cũng đồng ý với nhau rằng còn giữ lại được một chứng tích tình yêu của người chồng vắn số quả là một thứ hương tình ngọt lịm. Dĩ nhiên là nàng không có ý định cải đổi tư tưởng họ. Nhưng ý nghĩ của họ nào phải là của nàng. Nàng chẳng quan tâm tới bé Wade bao nhiêu, đôi khi nàng còn quên nó là con của nàng thật.


 


Mỗi sáng, sau khi thức giấc và trong lúc còn ở trạng thái nửa tỉnh nửa mê, nàng lại thấy mình vẫn còn là Scarlett O'Hara ngày trước và ánh nắng bên ngoài cửa sổ vẫn tươi sáng trên cây mộc lan, có tiếng chim ca hót và mùi thơm dìu dịu của thịt heo chiên thoảng đến bên mũi nàng. Nàng trở lại vô tư và trẻ dại. Nhưng rồi sau đó, bỗng có tiếng khóc chát tai đòi sữa, và lần nào cũng vậy... luôn luôn như thế, nàng trải qua một lúc ngạc nhiên khi nghĩ: "Ủa, có một đứa bé trong nhà!" Ngay sau đó nàng nhớ ra đứa bé chính là con nàng. Và tất cả những thứ đó khiến cho nàng hoang mang lạc hướng.


 


Còn Ashley? Ồ, nhứt là Ashley! Lần thứ nhứ trong đời, nàng oán ghét Tara, oán ghét con đường chạy dài từ đồi cao xuống bờ sông, oán ghét những cánh đồng nâu với bông vải xanh tươi. Mỗi tấc đất, mỗi ngọn cây và lạch nước, mỗi con đường mòn và mã lộ đều nhắc cho nàng nhớ tới Ashley. Chàng đã thuộc về một người đàn bà khác và đã bị cuốn theo luồng gió chiến tranh, nhưng hồn chàng vẫn còn phưởng phất trên những con đường vào mỗi hoàng hôn, vẫn cười với nàng bằng ánh mắt mơ màng trong bóng tối mái hiên. Không lần nào nghe tiếng vó ngựa từ Twelve Oaks mà nàng khỏi tưởng rằng người kỵ mã chính là... Ashley.


Bây giờ nàng oán ghét cả Twelve Oaks dù rằng đã có lần nàng yêu quí nó. Nàng oán ghét nó nhưng nàng vẫn cứ bị lôi cuốn về bên đó để nghe ông John Wilkes và các cô gái nói về Ashley... nghe họ đọc những bức thơ của chàng gởi về từ Virginia. Những lá thơ đó làm nàng đau xót nhưng nàng vẫn phải tới đó để nghe. Nàng ghét con bé India gàn bướng và con Honey hay nói xỏ nói nói xiên, và cũng biết bọn nó chẳng ưa gì mình, nhưng nàng không thể lảng tránh chúng. Và cứ mỗi lần từ bên đồn điền Twelve Oaks trở về, nàng chán nản nằm mẹp trên giường, bỏ bữa ăn tối.


 


Chính chuyện bỏ ăn đó khiến cho Ellen và Mammy lo âu nhứt. Mammy mang lên những thức ăn thật ngon, nói bóng gió để nàng nhớ ra rằng đã là góa phụ thì có thể ăn bao nhiêu tuỳ thích, nhưng bà chỉ hoài công.


 


Khi bác sĩ Fontaine nghiêm trang nói với Ellen rằng tâm bịnh thường làm tàn tạ và đẩy người đàn bà xuống mồ, Ellen xanh mặt, vì đó chính là mối lo đang đè nặng lòng bà.


− Không thể làm gì nữa sao bác sĩ?


− Cách tốt nhứt là cho nó đi đổi không khí thôi.


Lão bác sĩ trả lời, mừng thầm vì chỉ mong thoát khỏi một thân chủ quá khó tánh.


Và Scarlett miễn cưỡng bồng con đi thăm viếng, trước hết là họ O'Hara và Robillard ở Savannah và sau đó là hai bà dì Pauline và Eulalie ở Charleston. Nhưng nàng đã trở về Tara một tháng sớm hơn ngày Ellen dự liệu mà không hề giải thích lý do trở về một lời nào. Ở Savannah, nàng được đối xử niềm nở, nhưng hai ông bác James và Andrew và hai bà vợ thật là thủ cựu, thích được ngồi yên một chỗ, kể lể chuyện xa xưa, những chuyện mà Scarlett không thích chút nào. Đối với họ Robillard cũng vậy, còn Charleston quả là khủng khiếp với nàng.


 


Dì Pauline và chồng dì, quá kiểu cách, sống trong một đồn điền cạnh dòng sông, hẻo lánh hơn Tara nhiều. Hàng xóm gần nhứt của họ ở cách đó hai chục dặm và muốn tới nơi người ta phải theo những con đường tối om, xuyên qua các khu rừng sồi và trắc bách diệp đắm mình trong đồng lầy. Những cây sồi với lớp màu rêu xám đong đưa trước gió làm Scarlett rỡn gáy và khiến nàng nhớ lại các câu chuyện của Gerald về những con ma Ái nhĩ lan lảng vảng trong sương mù. Ở đó chẳng có chuyện gì khác hơn là ngồi đan suốt ngày và nghe dượng Carey đọc to những tác phẩm cải cách của Bulwer-Lytton.


 


Dì Eulalie, ẩn dật trong một ngôi nhà rộng lớn có tường cao bao bọc ở Battery trong vùng Charleston cũng không có gì vui hơn. Scarlett đã quen thuộc với khung trời bao la của những ngọn đồi đất đỏ cảm thấy như đang ở trong ngục thất. Ở đây không khí nhộn nhịp hơn nơi dì Pauline nhưng Scarlett không ưa những kẻ đến thăm dì nàng với vẻ kênh kiệu, với óc thủ cựu và sự chú tâm về gia tộc của họ. Nàng biết rõ rằng tất cả bọn họ đều nghĩ nàng là kết quả của một cuộc phối hợp bất xứng và họ ngạc nhiên sao một người trong họ Robillard lại có thể lấy một anh chàng Ái nhĩ lan mới sang lập nghiệp. Scarlett biết dì Eulalie thế nào cũng biện giải với họ sau lưng nàng. Những việc ấy làm cho nàng căm tức, bởi vì giống tánh cha, nàng không hề quan tâm tới vấn đề gia tộc. Nàng hãnh diện vì Gerald bởi ông đã dựng nên sự nghiệp mà không cần sự giúp đỡ của một ai, ngoài bộ óc Ái nhĩ lan minh mẫn.


 


Và dân Charleston quá buồn cười khi tự nhận trách nhiệm về vụ căn cứ Sumộter. Trời! Họ không hiểu nổi là nếu họ không ngu xuẩn bắn những phát súng khơi mào chiến tranh thì cũng có những tên điên dại khác sẵn sàng làm hay sao?


 


Quen với cách nói mau lẹ của người miền cao nguyên Georgia, cái giọng kéo dài đều đều của người bình nguyên có vẻ quá kiểu cách đối với nàng. Nàng nghĩ, nếu còn phải nghe những tiếng "paams" thay vì "palms", hay "hoose" thay vì "house", và "Maa", "Paa" thay vì "Ma, Pa" chắc nàng sẽ hét lên vì quá bực mình. Nàng còn bực dọc đến nỗi trong một buổi thăm viếng đáp lễ, nàng đã nhái giọng Ái nhĩ lan của Gerald khiến cho dì nàng phải âu sầu. Sau đó, nàng về Tara. Thà chịu đựng những kỷ niệm về Ashley vò xé còn hơn là nghe cái giọng Charleston.


 


Ellen bận rộn suốt ngày đêm, tăng gấp đôi mức sản xuất của Tara để phục vụ Liên bang miền Nam, hết sức kinh hoàng khi thấy cô gái lớn trở về Charleston, gầy gò, xanh xao và cáu kỉnh. Chính bà cũng đã biết thế nào là tâm bịnh, và đêm nầy sang đêm khác, bà thao thức cạnh Gerald đang ngủ say, cố tìm cách làm vơi nỗi phiền muộn của Scarlett. Cô của Charles, Pittypat Hamilton, đã nhiều lần viết thơ cho bà, hối thúc bà cho phép Scarlett về Atlanta chơi một thời gian. Và bây giờ, lần đầu tiên Ellen cân nhắc giải pháp đó một cách thận trọng.


 


Cô Pittypat và Melanie sống trong một ngôi nhà rộng lớn và "không có sự bảo vệ của một người đàn ông nào". Cô viết "Bây giờ Charlie đã qua đời. Dĩ nhiên, ở đây còn có em tôi là Henry nhưng chú ấy không ở cùng nhà với chúng tôi. Có lẽ Scarlett có nói với chị về Henry. Vì tế nhị, tôi không thể viết thêm nhiều về chú ấy trên thơ nầy. Melly và tôi sẽ khoan khoái và yên lòng hơn nếu có Scarlett bên cạnh. Ba người đàn bà trơ trọi còn hơn là hai. Và có lẽ cháu Scarlett sẽ tìm được đôi chút bình thản để quên buồn, cũng như Melly, bằng cách săn sóc những thanh niên dũng cảm của chúng ta trong bịnh viện... và cố nhiên Melly và tôi đều mong gặp mặt thằng bé cưng..."


 


Vậy là đồ đạc của Scarlett được gói ghém một lần nữa trong rương với những bộ tang phục. Rồi cùng thằng bé Wade Hampton và vú của nó, con Prissy, nàng lên đường đi Atlanta với một lô những lời căn dặn của Ellen và Mammy, cùng một trăm đô-la tiền giấy của Liên bang miền Nam của Gerald cho trong túi. Nàng không thích đi Atlanta lắm. Theo nàng thì cô Pittypat là người ngớ ngẩn nhứt trong các lão bà và ý nghĩ sống chung dưới một mái nhà với vợ của Ashley mới thật là nhờm tởm. Nhưng trong hạt đã có nhiều kỷ niệm khiến nàng không thể ở lại được cho nên bất cứ sự thay đổi nào cũng được cho là thích đáng.


Tám


Vào một sáng tháng Năm, năm 1862 ấy, khi chuyến xe lửa mang nàng lên miền Bắc, Scarlett nghĩ thầm chắc Atlanta không đến nỗi nào buồn thảm như Charleston và Savannah. Và mặc dù chẳng thích cô Pittypat và Melanie, nàng cũng tò mò nhìn ra phía trước để xem thành phố đã thay đổi ra sao sau lần thăm viếng cuối cùng của nàng vào mùa đông trước khi có chiến tranh.


 


Atlanta luôn luôn là nơi yêu thích đối với nàng hơn bất cứ thành phố nào khác, vì từ lúc bé nàng đã nghe Gerald bảo rằng nàng và Atlanta cùng một tuổi với nhau. Khi lớn lên, nàng khám phá ra rằng Gerald đã nói hơi quá sự thật phần nào vì thói quen muốn phong phú hóa câu chuyện của ông. Atlanta chỉ hơn nàng chín tuổi, và điều nầy làm cho thành phố vẫn còn trẻ trung một cách lạ thường so với những thành phố khác mà nàng được biết. Savannah và Charleston thật xứng đáng với cái tuổi của chúng, một đã ở thế kỷ thứ hai và một đang bước vào thế kỷ thứ ba. Và dưới đôi mắt trẻ trung của nàng, chúng lúc nào cũng như những tổ mẫu, phe phẩy quạt một cách bình lặng dưới ánh mặt trời. Nhưng chính Atlanta mới thuộc về thế hệ của nàng, xanh chua đúng nghĩa lại trẻ trung, ương ngạnh và sôi động như chính nàng.


 


Chuyện Gerald kể dựa trên sự kiện nàng và Atlanta cùng được đặt tên trong một năm. Chín năm trước khi nàng ra đời, thành phố đầu tiên mang tên là Terminus rồi sau đó là Marthasville, và nó chỉ được chính thức gọi là Atlanta vào năm Scarlett được sanh ra.


 


Ngày Gerald lên miền Bắc Georgia, chẳng có một Atlanta nào, ngay cả cái bề ngoài cho ra vẻ một ngôi làng cũng không và đất đai hoang dại. Nhưng năm sau, 1836, chánh phủ cho phép thành lập một đường xe lửa theo hướng Tây Bắc xuyên qua lãnh thổ của thổ dân da đỏ Cherokee vừa nhượng lại. Thiết lộ dự định chạy tới Tennessee và miền Tây thật là rõ ràng và xác định, nhưng khởi điểm đặt tại Georgia vẫn còn lờ mờ, cho đến một năm sau, một viên kỹ sư cắm một cây tiêu trong đất sét đỏ đánh dấu phần cuối cùng của con đường nơi miền Nam. Và Atlanta chào đời với cái tên Terminus, bắt đầu mở mang từ đó.


 


Lúc ấy chưa có xe lửa ở miền Bắc Georgia, còn các nơi khác thì rất ít. Nhưng trong những năm trước khi Gerald thành hôn với Ellen, một xóm định cư nhỏ bé cách Tara hai mươi lăm dặm về phía Bắc đã bắt đầu mở mang thành một ngôi làng và thiết lộ cũng từ từ tiến về phía Bắc. Rồi thì kỷ nguyên thiết lộ thực sự bắt đầu. Từ đó thị cố cựu Augusta, một con đường sắt thứ nhì vươn về phía Tây, băng ngang tiểu bang để tiếp liền với con đường mới đi Tennessee. Từ thành phố Savannah già nua, thiết lộ thứ ba đầu tiên đến Macon, ngay trung tâm Georgia, và sau đó chạy lên miền Bắc xuyên qua hạt của Gerald đến Atlanta, tiếp giáp với hai thiết lộ khác mở cho hải cảng Savannah một xa lộ hướng về miền Tây. Từ một giao điểm như Atlanta trẻ trung, người ta thiết lập một thiết lộ thứ tư theo hướng Tây Nam đến Montgomery và Mobile.


Được sanh ra bởi một thiết lộ, Atlanta bành trướng theo đà mở mang thiết lộ đó. Với sự hoàn tất bốn con đường, Atlanta bây giờ được nối liền với miền Tây, thông với miền Nam, miền duyên hải và qua Augusta nó còn được nối liền với miền Bắc và miền Đông. Nó trở nên ngã tư du hành của bốn miền, và ngôi làng nhỏ bé đã nhảy vọt một bước dài.


 


Không cần nhiều năm hơn tuổi mười bảy của Scarlett, Atlanta vươn mình từ một cây cọc cắm xuống đất thành một tiểu đô thị thịnh vượng với mười ngàn dân, khiến cho toàn quốc chú ý. Những thành phố lâu đời hơn, êm đềm hơn nhìn cái tân đô thị náo nhiệt đó với cảm nghĩ của một con gà mái ấp ra vịt con. Tại sao nó khác xa những đô thị khác của Georgia? Tại sao nó phát triển quá mau như vậy? Chỉ vì nó hoàn toàn không có gì cả để phó thác, ngoài mấy thiết lộ và một đám dân chúng biết nỗ lực xây dựng.


 


Những người đã thiết lập ra cái thành phố lần lượt được gọi tên là Terminus, Marthasville và Atlanta đúng là những người biết vươn lên. Không mệt mỏi, những người kiên trí đó từ những phần đất xưa cũ của Georgia và từ những tiểu bang xa hơn nữa đã tụ tập lại thành phố càng ngày càng mở rộng ra chung quanh giao điểm của các thiết lộ trong lòng nó. Họ đến với nhiệt tâm. Họ thiết lập những cửa hàng gần nhà ga, nơi năm con đường bùn lầy đất đỏ gặp nhau. Họ xây những ngôi nhà tráng lệ dọc theo đường Whitehall, Washington và dài theo giồng đất cao ráo, nơi liên tiếp nhiều thế hệ vết giày của dân da đỏ đã tạo thành một con đường mòn gọi là "đường mòn Cây Đào". Họ rất kiêu hãnh về thành phố của họ, về sự phát triển của nó, tự đắc với chính họ đã góp phần mở mang cho nó. Hãy để cho những đô thị già nua muốn gọi nó là gì tuỳ ý. Atlanta không hề quan tâm tới.


 


Scarlett bao giờ cũng thích Atlanta vì chính những lý do mà Savannah, Augusta và Macon đã kết án nó. Giống như chính nàng, đô thị nầy là sự pha trộn giữa mới và cũ ở Georgia, trong đó cái cũ thường bị đè bẹp trong những cuộc xung đột với cái mới ngoan cố và nhiều nghị lực hơn. Hơn nữa, có một cái gì riêng tư khiến nàng cảm động đối với một thành phố đã ra đời... hay ít nhứt là đã được đặt tên cùng một năm với nàng.


*


Đêm qua mưa lớn gió to nhưng khi Scarlett vừa tới nơi, Atlanta đã ấm áp trở lại, ánh nắng đang cố gắng hong khô mấy con đường quanh co đã biến thành mấy lạch nước đỏ ngầu sau cơn mưa. Khoảng trống chung quanh nhà ga lầy lội và lồi lõm bởi sự qua lại không ngớt của hành khách và hàng hóa đến nỗi trông giống như một chuồng heo khổng lồ, đây đó vài chiếc xe đã mắc lầy đến trục bánh. Xe nhà binh, xe cứu thương đậu thành một hàng dài không gián đoạn, đang tiếp nhận và gởi đi các hàng hóa cùng thương binh nơi một chiếc xe lửa, càng làm cho bùn đất lầy lụa hơn. Mấy người xà ích chửi rủa luôn miệng, và bước chân của mấy con la bắn văng bùn tung toé.


 


Scarlett đứng trên bực thang thấp nhất của toa xe lửa, hơi xanh, mặt xinh xắn trong tang phục màu đen, khăn tang phất phới gần đụng gót. Nàng hơi do dự, không muốn giẵm giày và nhúng vạt áo trong bùn. Nàng nhìn quanh những cổ xe ngựa lẫn lộn hai bánh và bốn bánh tìm cô Pittypat, nhưng chẳng thấy người đàn bà mập mạp với đôi má hồng hào ấy. Trong khi nàng đang sốt ruột rảo mắt thì một lão da đen gầy còm, nón cầm tay, râu màu muối tiêu, cung cách trang trọng, bước qua vũng bùn tiến về phía nàng.


− Có phải bà là Scarlett không? Tôi là Peter, xà ích của bà Pitty. Bà đừng đặt chân xuống bùn.


Ông ta nói nhưng ra lịnh khi thấy Scarlett vén áo sửa soạn bước xuống.


− Bà cũng yếu như cô Pitty, cô ấy giống như con nít, hễ chân ướt là bị đau ngay. Bà để cho tôi ẵm bà qua.


Ông nhấc Scarlett lên thật dễ dàng mặc dầu người ông quá gầy và đã khá trọng tuổi. Thấy con Prissy đang bế đứa bé đứng trên sàn xe, ông ngừng lại:


− Con bé giữ cậu nhỏ đó phải không, bà Scarlett? Nó còn nhỏ quá làm sao coi chừng con cậu Charles được? Nhưng thôi, hãy tính sau. Con nhỏ kia, đi theo tao! Đừng làm rớt cậu nhỏ nghe không!


Scarlett cứ để yên cho ông ẵm ra cổ xe và ngoan ngoãn nghe những lời chỉ trích của ông về nàng và Prissy. Lúc họ vượt qua đám bùn với con Prissy càu nhàu theo sau, nàng nhớ lại những điều Charles đã nói về bác Peter nầy.


 


"Bác tham dự suốt trận đánh Mễ tây cơ với ba, săn sóc khi người bị thương... thật ra là chính bác đã cứu ba thoát chết. Chính bác Peter đã nuôi nấng anh và chị Melanie, vì tụi anh còn nhỏ xíu lúc ba má qua đời. Cô Pitty không hợp với chú Henry nên trong thời gian đó, cô sống chung với tụi anh... Cô chẳng được việc gì cả... giống như một đứa trẻ to xác ngoan ngoãn vậy thôi và bác Peter đối xử với cô như với con nít vậy. Cô chẳng làm nổi một việc gì dù để tự cứu mạng mình cũng vậy, nên bác Peter phải gánh vác mọi việc. Chính ông là người đã quyết định tăng thêm tiền trợ cấp cho anh khi anh 15 tuổi, và yêu cầu cho anh được học ở Harvard khi anh qua hết trung học, trong khi chú Henry thì muốn anh vào đại học của tiểu bang. Và ông cũng quyết định là Melly đã đến tuổi phải vấn tóc lên và được đi dự tiệc tùng. Ông còn nói cho cô Pitty biết khi nào trời lạnh hoặc ẩm quá thì không thể đi thăm viếng ai, và nhắc cô khi nào phải choàng khăn. Bác ấy là người lanh lợi và tận tuỵ nhứt trong số những người da đen mà anh từng biết. Chỉ phiền một điều là bác ta chiếm trọn cả ba người chúng anh, cả thể xác lẫn linh hồn. Chắc bác cũng biết rõ điều ấy".


Những lời của Charles được xác nhận ngay khi bác Peter leo lên xe và cầm lấy con roi.


− Cô Pitty không được khỏe nên không thể đi đón bà. Cô sợ bà không hiểu nhưng tôi nói với cô rằng cô và bà Melly sẽ bị bùn đất làm dơ hết mấy cái áo mới, và tôi sẽ giải thích với bà điều đó. Bà Scarlett, bà nên ẵm đứa nhỏ thì hơn. Con mọi nầy làm rớt cậu nhỏ bây giờ.


 


Scarlett nhìn Prissy và thở dài. Prissy không kham nổi chức vụ vú em. Nó vừa được lên chức, từ một đứa bé da đen gầy ốm với chiếc váy ngắn trở thành nghiêm trang hơn với cái áo dài bằng vải chúc bâu và cái khăn trắng bịt đầu. Chức vụ mới làm nó lúng túng, không bao giờ nó được địa vị cao quí ấy sớm như vậy nếu không vì nhu cầu chiến tranh và sự đòi hỏi của ban quân nhu đối với Tara khiến cho Ellen quá bận rộn đến nỗi không thể để Mammy, Dilcey, ngay cả Rosa hay Teena theo Scarlett. Con Prissy chẳng bao giờ rời Tara hay Twelve Oaks quá một dặm, và chuyến du hành bằng xe lửa, thêm vào đó sự đặc cách thăng chức vú em đã hơi quá lắm đối với bộ óc ấu trĩ chứa đựng trong cái sọ bé xíu đen đũi của nó. Cuộc hành trình hai mươi lăm dặm từ Jonesboro đến Atlanta đã làm cho nó quá khích động đến đỗi Scarlett phải luôn luôn trông chừng đứa bé. Bây giờ nhìn thấy quá nhiều cao ốc và dân chúng đông đảo, Prissy càng hoang mang hơn. Nó không ngớt quay qua, quay lại, chỉ trỏ, thấp tha thấp thỏm và xốc đứa nhỏ tới nỗi nó phải gào lên thảm hại.


 


Scarlett tiếc là không có cánh tay mập mạp của Mammy ở đây. Bà chỉ cần ẵm đứa nhỏ lên là nó nín ngay. Nhưng Mammy phải ở lại Tara còn Scarlett thì không quen dỗ con. Nàng có ẵm thằng bé cũng vô ích. Nó sẽ hét lớn hơn khi nàng không bồng nó. Đã vậy, nó sẽ còn bứt phá mấy sợi dây băng trên nón và chắc chắn nó sẽ làm nhăn áo nàng. Nàng vờ như không nghe lời khuyên của bác Peter.


 


"Có thể một ngày kia mình sẽ biết về trẻ con. Nhưng chẳng bao giờ mình thích vui đùa với chúng".


 


Scarlett bực mình nghĩ về chuyện đó, trong khi chiếc xe lắc lư cố gắng vượt qua vũng lầy quanh nhà ga. Và cho tới lúc mặt bé Wade tái ngắt vì đã khóc hết hơi, nàng gắt gỏng bảo:


 


− Priss, đưa chưa nó cái núm vú trong túi mầy. Miễn sao cho nó nín. Tao biết nó đói rồi, nhưng bây giờ chẳng làm gì được đâu.


 


Prissy lấy cái núm vú mà Mammy mới trao cho nó hồi sáng, và đứa bé liền nín khóc. Được yên tĩnh trở lại và với những cảnh tượng mới mẻ nàng vừa thấy, Scarlett bắt đầu cảm thấy vui vui. Khi chiếc xe ra khỏi vũng bùn, tiến vào đường Cây Đào, nàng tìm lại được cảm giác yêu đời đã mất mát mấy tháng qua. Thành phố đã phát triển quá đồ sộ! Nó không còn như khi nàng đến lần cuối vào năm trước. Nàng không ngờ nổi là thị trấn Atlanta nhỏ bé kia lại thay đổi nhiều đến thế.


Năm trước, bị chi phối bởi quá nhiều phiền muộn riêng tư, bởi bực mình khi nghe nhắc đến chiến tranh, nàng đã không biết rằng ngay những phút đầu chiến tranh bùng nổ Atlanta đã biến đổi rồi. Cũng chính những thiết lộ đã biến thị trấn nầy thành giao điểm của mọi dịch vụ thương mại trong thời bình, bây giờ lại là những con đường chiến lược sanh tử. Nằm thật xa chiến tuyến, thành phố và hệ thống thiết lộ của nó đã làm một gạch nối giữa hai đạo quân của Liên bang miền Nam, đoàn quân Virginia với đoàn quân Tennessee và Tây bộ. Ngoài nơi gặp gỡ của các đạo quân với miền cực Nam, Atlanta còn là một căn cứ tiếp liệu. Để đáp ứng nhu cầu chiến tranh, Atlanta biến thành một trung tâm sản xuất, một tổng y viện và là một trong những kho dự trữ thực phẩm và quân trang, quân dụng cho các đoàn quân ngoài hỏa tuyến.


 


Scarlett nhìn quanh để nhớ lại cái thị trấn nhỏ bé mà nàng vẫn chưa quên. Tất cả đều thay đổi. Cái thành phố hiện thời dưới mắt nàng giống như một đứa bé chỉ qua một đêm đã biến thành một gã khổng lồ bận rộn.


Atlanta nhộn nhịp như một tổ ong, hãnh diện vì đã đóng một vai trò quan trọng trong Liên bang miền Nam và làm việc ngày đêm, để biến đổi từ lãnh vực nông nghiệp sang địa hạt kỹ nghệ. Lúc chưa có chiến tranh, ở đây chỉ có lèo tèo vài nhà máy sợi, dệt nỉ, vài cơ xưởng và binh xưởng của miền Nam Maryland... và đó là những gì mà miền Nam rất tự đắc. Miền Nam chỉ sản xuất ra những chính khách và chiến sĩ, nhà trồng trọt và bác sĩ, luật sư và thi sĩ, nhưng chắc chắn không đào tạo kỹ sư hoặc chuyên viên máy móc. Hãy để bọn Yankee chọn những nghề hạ tiện như vậy. Nhưng bây giờ những hải cảng miền Nam đều bị pháo hạm Yankee ngăn chận, chỉ có một ít hàng hóa từ Âu châu vượt được màn lưới phong tỏa đó, và miền Nam đành cố gắng chế tạo quân cụ lấy cho mình. Miền Bắc có thể kêu gọi thế giới cung cấp nhu yếu phẩm và binh sĩ cho quân đội của họ. Hàng ngàn người Ái nhĩ lan và Đức hăng hái gia nhập quân đội Bắc Mỹ. Miền Nam thì phải tự xoay xở lấy.


 


Ở Atlanta, các xưởng đúc chậm chạp sản xuất các động cơ để chế tạo chiến cụ... thật chậm chạp, vì nó chỉ có một số rất ít những máy móc có thể làm mẫu được, và hầu hết các bánh trớn và bánh xe răng cưa chỉ có thể tạo được theo những họa đồ của người Anh vượt vòng phong tỏa. Bây giờ có những bộ mặt lạ trên đường phố Atlanta, và những công dân cách đây một năm thường vểnh tai khi nhận ra một giọng nói miền Tây, bây giờ không thèm lưu ý tới những thứ tiếng xa lạ của người Âu đã vượt hàng rào phong tỏa để sang đây chế tạo máy móc và sản xuất đạn dược cho Liên bang miền Nam. Và nếu không nhờ tài năng của những người nầy, Liên bang miền Nam đã phải gặp rất nhiều khó khăn trong việc chế tạo súng lục, súng trường, đại bác và thuốc súng.


 


Dường như trái tim của thành phố cứ đập suốt ngày đêm, bơm chiến cụ lên đường sắt cung cấp cho hai chiến tuyến. Xe lửa gầm thét ra vào thành phố suốt ngày. Từ những cơ xưởng mới xây cất, khói đen tuôn nườm nượp trên những ngôi nhà trắng. Ban đêm, các lò vẫn rực lửa, tiếng búa còn vang dậy thật khuya sau khi dân chúng đã ngủ say. Những thửa đất bỏ trống năm trước, bây giờ trở thành các xưởng sản xuất yên cương và giày da, công binh xưởng sản xuất súng trường và đại bác, nhà máy cán và nhà máy đúc làm đường sắt và toa xe hàng để thay thế những thứ đã bị bọn Yankee phá hủy. Sau hết là những xưởng nhỏ chế tạo đinh thúc ngựa, hàm thiếc ngựa, móc lều, nút áo, súng lúc và gươm. Các lò đúc đã bắt đầu thấy thiếu sắt, vì chỉ có một số lượng sắt rất nhỏ vượt được rào phong tỏa. Riêng các hầm mỏ ở Atlanta hầu như ngưng hoạt động vì thợ mỏ đều ra ngoài chiến tuyến. Ở đây không còn rào sắt, nhà mát bằng sắt, cửa sắt, hay đến cả những tượng sắt trên sân cỏ cũng không, vì tất cả đều sớm chui vào các lò nấu kim khí trong nhà máy cán kim loại.


Dọc theo đường Cây Đào và các đường lân cận đều có các Bộ Chỉ huy của các binh chủng. Văn phòng nào cũng đen nghẹt những người mặc đồng phục, lính quân nhu, truyền tin, quân bưu, vận tải thiết lộ và quân cảnh. Ở ngoại ô có những trạm cấp ngựa, nơi đây la và ngựa được nhốt trong những chuồng rộng lớn, và hai bên đường là những y viện. Theo lời của bác Peter, Scarlett có cảm tưởng rằng Atlanta chỉ là một thành phố của thương binh, người ta không thể đếm biết bao nhiêu những bịnh viện tổng hợp, bịnh viện truyền nhiễm và trung tâm hồi phục. Và mỗi ngày, xe lửa lại càng mang từ Five Points về những thương binh và bịnh binh.


 


Thành phố nhỏ không còn nữa và bộ mặt của đô thị tiến bộ nhanh chóng nầy đã trở nên rộn rịp, hoạt động không ngừng nghỉ. Cảnh tượng náo nhiệt đó đã làm cho Scarlett, vốn quen thuộc với cảnh nhàn rỗi và yên tĩnh, nhưng nàng vẫn yêu thích nó dù muốn ngừng thở. Một không khí sôi động bao trùm thành phố làm cho nàng cảm thấy chới với dường như nhịp tim gấp rút của thành phố đang cùng một nhịp đập với tim nàng.


Lúc chiếc xe chòng chành vượt qua những hố bùn một cách chậm chạp để hướng về phố chính. Nàng ghi nhận một cách thú vị các cao ốc và những khuôn mặt mới. Lề đường chật ních những người mặc quân phục, đeo đủ cấp hiệu và huy hiệu của ngành mình. Con đường hẹp đã chen chúc xe cộ... xe bốn bánh, xe mui trần, xe cứu thương, xe che mui của quân đội với những gã xa phu thô lỗ luôn miệng chửi rủa mấy con la đang cố rút chân ra khỏi chỗ lún. Các quân bưu viên mặc đồng phục xám phóng thật mau trên đường, bắn bùn tung tóe. Họ di chuyển từ Bộ Chỉ huy nầy sang Bộ Chỉ huy khác, mang các mệnh lệnh và các điện tín hỏa tốc. Những người vừa hồi phục khập khễnh trên cặp nạng, thường thường có mỗi bà đi kèm theo với vẻ lo âu; tiếng kèn, tiếng trống, khẩu lệnh vang vang từ các thao trường, nơi đang huấn luyện các tân binh. Và Scarlett bỗng nghẹn thở khi lần đầu nhìn thấy bộ quân phục màu xanh của quân Yankee lúc bác Peter đưa ngọn roi chỉ về phía một đoàn quân thất thểu bị lùa về ga xe lửa để chở tới trại giam dưới sự canh gác của một toán binh sĩ Liên bang miền Nam, lưỡi lê gắn đầu súng.


"Ồ, mình bắt đầu thích sống ở đây rồi. Thật là náo nhiệt và thích thú!" Lần đầu tiên, kể từ ngày dự dã yến, Scarlett cảm thấy hài lòng thật sự.


Thật ra, thành phố còn sống động nhiều hơn nàng tưởng, ở đây đã có tới vài mươi quán rượu và theo sau quân đội là hàng loạt gái điếm tràn vào, rồi các nhà chứa mọc lên như nấm gây khiếp đảm cho bao nhiêu người mộ đạo. Mỗi khách sạn, mỗi nhà trọ và mỗi tư gia đều chật ních những người khách phương xa tới để thăm viếng và săn sóc thân nhân bị thương đang được cứu chữa trong các bịnh viện to lớn của Atlanta. Không tuần nào là không có những hội hè, những cuộc khiêu vũ, các buổi tổ chức phước thiện và vô số lễ cưới gấp rút vì chiến tranh, với các chú rể được nghỉ phép mặc quân phục bóng ngời, màu xám viền vàng cùng các cô dâu lộng lẫy trong lớp nhung lụa lọt qua được màn lưới phong tỏa, đem về từ các chuyến tàu. Họ đi qua hàng rào danh dự với hai hàng gươm tuốt trần giao nhau ở bên trên, họ uống sâm banh và sụt sùi khóc chia tay. Đêm đêm những con đường hai bên có nhiều cây rậm luôn luôn rộn rịp tiếng bước chân khiêu vũ và tiếng dương cầm thánh thót từ các phòng khác vang ra với các giọng ca cao vút hòa lẫn những giọng ca ồ ề của các binh sĩ được mời tới cùng xướng họa những nhạc khúc bi ai, chẳng hạn như "Tiếng kèn hưu chiến" và "Thơ em tới nhưng trễ mất rồi", toàn là những điệu hoài cảm dễ khiến những kẻ chưa hề biết khóc vì đau khổ thật sự cũng rơi nước mắt.


 


Trong khi chiếc xe tiếp tục lăn bánh trên con đường lầy lội, Scarlett hỏi không ngớt miệng và bác Peter luôn luôn trả lời với ngọn roi chỉ trỏ đó đây, hãnh diện phô bày sự hiểu biết của mình.


− Đó là công binh xưởng, vâng, thưa bà, ở đó mới có súng. Không, thưa bà, đó không phải là tiệm buôn mà là các văn phòng coi về việc phong tỏa. Coi nào, bà Scarlett, bà biết đó là cái gì không? Đó là chỗ mấy người ngoại quốc tới mua bông vải của mình rồi từ Charleston và Wilmington đem bán ra ngoài và chở trở về với thuốc súng. Không, thưa bà, tôi không rõ họ là người nước nào. Cô Pitty nói họ là người Ái nhĩ lan nhưng không ai biết họ nói gì. Đúng đó, thưa bà, khói dữ quá và làm hư hết mấy tấm màn tơ của cô Pitty. Khói đó là của lò đúc và xưởng cán kim khí. Trời, ban đêm nó kêu ầm ầm! Không ai ngủ được. Không được đâu, tôi không thể dừng xe để cho bà xem đâu. Tôi đã hứa với cô Pitty là sẽ đưa thẳng bà về nhà... bà Scarlett, bà chào người ta đi! Đó là hai bà Merriwether và bà Elsing. Người ta đang chào bà đó.


 


Scarlett mơ hồ nhớ có hai bà mang tên đó đã từ Atlanta tới Tara dự lễ cưới của nàng và họ đều là bạn thân của cô Pittypat. Nàng mau mắn quay người lại cúi chào. Hai bà đang ngồi trên một tiệm hàng vải. Chủ tiệm và hai nhân công đang đứng trên lề đường trình bày một lô xấp hàng ôm trên tay. Bà Merriwether người cao lớn và mập mạp, đã siết thắt đai yếm quá độ đến nỗi ngực bà nhô ra trông chẳng khác mũi tàu. Tóc đã xám như màu sắt bà lại còn quấn thêm vào một cuộc tóc giỏ màu nâu, bất cần để ý đến chuyện hai sắc tóc đối chọi nhau kỳ dị. Khuôn mặt tròn trịa hồng hào của bà biểu lộ tánh tình chất phác, lanh lợi, đồng thời cũng phản ảnh thói hay sai khiến. Bà Elsing còn trẻ hơn, vóc người mảnh khảnh, đã một thời là hoa khôi, vẫn giữ được đôi chút tươi mát còn sót lại với dáng điệu kiểu cách thanh lịch.


 


Hai bà nầy và một bà khác mang tên Whiting đều là những trụ cột của Atlanta. Họ cai quản ba ngôi giáo đường, trông coi luôn các hàng tu sĩ, các ca đoàn và những người trong giáo khu. Họ tổ chức những buổi lễ phước thiện và chủ tọa các hội may vá, điều khiển các cuộc dạ vũ và những buổi ăn ngoài trời. Họ lại còn phân định đám nào xứng đôi vừa lứa, đám nào không, họ cũng biết kẻ nào đã lén lút uống rượu, những ai sắp có con và tới lúc nào mới đi sanh. Họ là những người biết rõ từng chi tiết về phổ hệ của mọi gia đình ở Georgia, Nam Carolina và Virginia, và bất cần để ý tới các người ở những tiểu bang khác vì cho rằng ngoài ba nơi vừa kể, chẳng còn một chỗ nào có được một ai xứng đáng. Họ kiêm luôn cả việc nhận định thế nào là hạnh kiểm đáng khen và thế nào là những hành vi xấu. Điều đáng nói là họ chẳng bao giờ quên phát biểu ý kiến riêng, tự cho đó là mực thước... bà Merriwether thì lúc nào cũng rống to, bà Elsing thì bằng một giọng kiểu cách lê thê còn bà Whiting thì cứ như thì thầm một cách chán chường, ra điều mình không mấy thích nói tới những chuyện đó. Cả ba bà đều ghét nhau và không bao giờ tin cậy lẫn nhau y hệt tình trạng của các chấp chánh quan trọng tổ chức Tam Đầu Chế đầu tiên ở La mã, và sự liên kết của họ có lẽ cũng vì nguyên do đó.


Bà Merriwether mỉm cười:


− Tôi đã nói với Pitty là tôi sẽ mượn cháu vào làm việc trong bịnh viện của tôi. Nhớ đừng có hứa với bà Meade hay bà Whiting!


− Thưa, không đâu.


Scarlett trả lời, chẳng nghĩ gì tới ý nghĩa câu nói của bà Merriwether mà chỉ cảm thấy ấm áp vì được săn đón và mời mọc.


Nàng nói tiếp:


− Rất mong được gặp lại bà.


Xe tiếp tục lăn bánh và phải ngừng lại một lúc để nhường chỗ cho hai phụ nữ tay ôm những thúng đựng đầy băng cứu thương dò từng bước một đi qua trên con đường lài trơn trợt. Đúng ngay lúc đó, Scarlett bỗng chú ý đến một người mặc y phục rực rỡ trên lề đường - quá rực rỡ để mặc đi ngoài phố - với chiếc khăn choàng loại nỉ mềm mại Tô cách lan dài chấm gót. Quay đầu lại, nàng nhận ra đó là một thiếu phụ cao lớn, khá đẹp với khuôn mặt dạn dĩ và mái tóc đỏ chói, quá đỏ để có thể tin là màu tóc thật. Đây là lần thứ nhứt nàng nhìn tận mắt một người đàn bà chắc chắn đã có "làm một cái gì trên tóc" và nàng nhìn ả ta một cách mê mẩn. Nàng thì thầm hỏi:


− Bác Peter, ai vậy?


− Tôi không biết.


− Bác biết mà. Ai vậy?


− Tên là Belle Watling.


Peter vừa đáp vừa xệ môi dưới xuống. Scarlett hiểu ra ngay vì bác ta không nói tới tiếng "cô" hay "bà" để nói về người đó.


− Nhưng là ai mới được?


Peter sầm mặt, quất roi lên mình ngựa:


− Bà Scarlett, cô Pitty không thích bà đặt những câu hỏi không dính líu gì tới bà. Ở đây bây giờ có không biết bao nhiêu người không cần phải nói tới.


"Trời đất!" Scarlett im lìm nghĩ "chắc là một phụ nữ đồi trụy".


(còn tiếp)


Nguồn: Cuốn theo chiều gió. Tiểu thuyết của Margaet Mitchell. Vũ Kim Thư dịch từ nguyên bản tiếng Anh Gone With The Wind. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2001.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
xem thêm »