tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19992818
18.03.2017
Nhiều tác giả
Tham nhũng (corruption) đang là Quốc nạn - Đọc về Quyền lực & sự tha hóa!



"Trong hiến pháp của các nước, bất kể bản chất của nó là như thế nào, đều có một điểm nơi đó nhà lập pháp phải buộc cầu viện đến lương tri con người và đạo đức công dân. Trong trường hợp nền cộng hòa, điểm này càng gần càng thấy rõ nét, còn trong trường hợp các nền quân chủ chuyên chế thì điểm này càng xa và càng bị che giấu kỹ, nhưng nó vẫn cứ tồn tại đâu đó. Không có nước nào mà luật pháp lại đủ sức tiên liệu tất cả mọi điều và ở đó các thiết chế lại thay thế được cho cả lý trí lẫn tập tục”. - Alexis De Tocqueville - De la Démocratie en Amérique, 1866, (Nền dân trị Mỹ. Phạm Toàn dịch. Nxb.Tri Thức, 2013)


Quyền lực công cộng, sự tha hóa quyền lực công cộng và tham nhũng


PGS,TSKH. Phan Xuân Sơn


Trước hết, chúng ta cần khẳng định rằng, tham nhũng là một loại bệnh của nhà nước. Do đó, nghiên cứu tham nhũng, chủ yếu phải từ nghiên cứu nhà nước, phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Hãy bắt đầu bằng khái niệm quyền lực công cộng.


Quyền lực công cộng (loại quyền lực chung của bất kỳ cộng đồng xã hội nào) là nhu cầu tất yếu, khách quan trong đời sống của con người khi đã tập hợp thành xã hội. Đó chính là nhu cầu phối hợp hoạt động chung, duy trì trật tự chung và bảo về cộng đồng xã hội khỏi sự xâm hại từ bên ngoài. Đối với một cộng đồng nhỏ, như gia đình, dòng họ, thậm chí là thị tộc, quyền lực công cộng được tổ chức rất đơn giản, thường đượnationc trao cho một người hoặc một nhóm ít người có uy tín hoặc có sức mạnh. Ví dụ, quyền lực công cộng của một cộng đồng nhỏ nhất là gia đình chẳng hạn (tế bào của xã hội) thường trao cho người đàn bà (trong chế độ mẫu hệ) hoặc cho người đàn ông (trong chế độ phụ hệ); trong dòng họ thường trao cho người vai trên, cao tuổi, người có uy tín; đối với thị tộc thường trao cho một Hội đồng thị tộc gồm những người có uy tín và các thủ lĩnh quân sự. Cơ quan quyền lực công cộng này còn gắn chặt với cộng đồng, vừa trực tiếp sản xuất vừa làm chức năng quản lý xã hội. Trong loại hình tổ chức xã hội này còn chưa có tham nhũng, vì quá trình thực thi quyền lực công cộng rất minh bạch: cùng bàn bạc, cùng quyết định, cùng thực hiện và cùng chịu trách nhiệm (hưởng hoặc không hưởng kết quả của những quyết định đó). Các chu trình thực thi quyền lực công cộng trong xã hội thị tộc là trực tiếp, khép kín, từ lúc ra quyết định đến lúc có kết quả của quyết định đó, không qua cấp trung gian nào, không qua một đội ngũ quan lại trung gian nào.


Đây là một mô hình thực thi quyền lực công cộng mang tính minh bạch lý tưởng. Tuy nhiên, mô hình như vậy chỉ có thể tồn tại ở quy mô mô thị tộc hay một cộng đồng nhỏ. Khi sản xuất phát triển hơn, quy mô dân cư tăng lên, các mối tương tác nhiều hơn cũng là khi xuất hiện nhiều hơn các hình thức liên kết cá nhân, liên kết các cộng đồng xã hội, các thị tộc. Từ đây xuất hiện các tập đoàn xã hội, các giai cấp ở phạm vi rộng lớn, đó là các quốc gia, các nhà nước.


Nói đến nhà nước là nói đến một loại cộng đồng rộng lớn, trong đó có nhiều thành phần giai cấp, ổn định, sống trong một vùng lãnh thổ được khẳng định chủ quyền, gọi là biên giới quốc gia. Quyền lực công cộng kiểu thị tộc đã không thể duy trì được nữa, khách quan yêu cầu quyền lực công cộng cho toàn xã hội trên lãnh thổ quốc gia. Bây giờ quyền lực này không những mang tính chất công cộng, mà hơn thế nữa, nó mang tính chất công cộng rộng lớn nhất bao trùm toàn xã hội và toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Vì tính chất đó, chủ thể quyền lực công cộng này – nhân dân – không thể tự thực thi một cách trực tiếp quyền lực công cộng như trong công xã hoặc thị tộc. Nó được trao cho một cơ quan, lúc đầu là từ xã hội nhưng bây giờ đã đứng lên trên xã hội, độc lập với xã hội. Cơ quan tối cao đó của xã hội gọi là nhà nước. ở đây, chúng tôi không bàn kỹ và đầy đủ về nhà nước, mà chỉ nhấn mạnh nguồn gốc ra đời của nó với tư cách là một cơ quan công cộng của toàn xã hội. Nhà nước – cơ quan công cộng tối cao của xã hội – khi vừa ra đời đã bị chi phối bởi những kẻ mạnh, của giai cấp giàu có (giai cấp thống trị) và giai cấp này dùng bộ máy nhà nước vừa thực hiện chức năng công quyền vừa làm lợi riêng cho giai cấp mình. Trong nhiều trường hợp và dần dần chức năng công quyền chỉ còn lại tối thiểu, việc làm lợi riêng cho giai cấp cầm quyền là mục tiêu chủ yếu của nhà nước. Nhà nước trở thành công cụ bóc lột nhân dân lao động, nuôi dưỡng bộ máy quan lại, trang bị những phương tiện vật chất to lớn nhất cho bộ máy cai trị và đàn áp, nhằm bảo vệ đặc quyền của giai cấp thống trị.


Để có thể có đủ sức mạnh bảo vệ đặc quyền của giai cấp thống trị, bộ máy nhà nước thường được tổ chức đồ sộ hơn mức cần thiết, bộ máy quan liêu nhiều tầng nấc và phức tạp, đội ngũ quan lại cũng ngày càng đông đảo, chi phí cho nhà nước ngày càng tăng.


Như vậy, quyền lực công cộng của toàn xã hội (quyền lực công) đã dần dần bị biến đổi, dần dần xa rời bản chất ban đầu của nó. Nhân dân – khách quan là người đã ủy quyền để tạo nên quyền lực công – đã dần dần không còn kiểm soát được nó nữa, thậm chí mất hẳn quyền lực và trở thành nạn nhân của các tệ chuyên quyền, lạm quyền. Những người đại diện ban đầu của nhân dân đã trở thành giai cấp thống trị, trở nên xa lạ với nhân dân, thành kẻ áp bức, bóc lột nhân dân. Quyền lực công ban đầu đã dần bị tha hóa, biến thành quyền lực chính trị thuần túy của giai cấp thống trị. Trong quá trình tha hóa quyền lực nhà nước đó, giai cấp thống trị đã biến nhà nước – một cơ quan công quyền – thành một công cụ thống trị giai cấp.


Quá trình phát triển của lịch sử chính trị đã cho thấy sự tha hóa quyền lực nhà nước thường diễn ra theo hướng bảo vệ lợi ích ích kỷ của giai cấp thống trị. Vì thếQ, để có thể có đủ sức mạnh bảo vệ đặc quyền của mình, giai cấp thống trị thường tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng: đồ sộ hơn mức cần thiết (cồng kềnh), bộ máy quan liêu nhiều tầng nấc và phức tạp hơn nhu cầu quản lý; đội ngũ quan lại ngày càng đông đảo hơn nhu cầu thực tế; chi phí cho nhà nước ngày càng tăng cao hơn mức cần thiết.


Bốn yếu tố này là điều kiện sống còn của nhà nước bóc lột chuyên chế, quan liêu. Bởi vì chỉ nhờ vào các yếu tố này nhà nước mới tự nuôi sống nó bằng các phương thức vơ vét, bóc lột nhân dân, và tham nhũng chỉ là một loại hành vi của quá trình tự nuôi sống của nhà nước quan liêu, chuyên chế hoặc gọi cách khác là dã man (khác với nhà nước văn minh) mà thôi.


Như vậyN, từ lúc tan rã của chế độ công xã thị tộc, cùng với sự xuất hiện của cải thặng dư và việc chiếm hữu của cải thặng dư, cùng với xuất hiện giai cấp và bắt đầu hình thành bộ máy cai trị của tầng lớp giàu có, khi mà thị tộc đã không thể giúp đỡ được con người, con người cần đến nhà nước và nhà nước đã ra đời, nhưng lại nằm trong tay kẻ mạnh, thì chủ quyền nhà nước – vốn từ nhân dân – tự nhiên đã thuộc về kẻ mạnh. “Chúng được tôn kính như thần thánh, chúng xét xử và trừng phạt, giải quyết các cuộc tranh chấp” (Ghêxioot). Tầng lớp này tạo ra luật pháp để cho mọi người phải thừa nhận sự thống trị của họ. Lúc này pháp luật hoàn toàn thuộc vào kẻ mạnh.


Ăngghen cũng đã viết về tình trạng này: “Lòng tôn kính không ép buộc mà trước kia người ta tự nguyện biểu thị với các cơ quan của xã hội thị tộc, là không đủ đối với bọn quan lại nữa, ngay cả trong trường hợp họ có cả sự tôn kính đó; họ là những đại biểu cho một quyền lực đã trở nên xa lạ đối với xã hội, nên phải bảo đảm quyền này của họ bằng những đạo luật đặc biệt, những đạo luật khiến cho họ trở thành đặc biệt thần thánh và đặc biệt bất khả xâm phạm. Viên cảnh sát tồi nhất của một nhà nước văn minh vẫn có quyền uy hơn tất cả những cơ quan của xã hội thị tộc cộng lại; nhưng một vương công có thế lực nhất, một chính khách hoặc một chỉ huy quân sự lớn nhất của thời đại văn minh vẫn có thể ghen tị với một vị thủ lĩnh nhỏ nhất trong thị tộc về sự tôn kính tự nguyện và không thể tranh cãi được mà vị thủ lĩnh ấy được hưởng. Đó là vì vị thủ lĩnh thị tộc nằm ngay trong lòng xã hội, còn những người kia thì bắt buộc mong muốn đại biểu cho một cái gì ở bên ngoài và đứng trên xã hội” (C. Mác, Ph. Ăngghen, Tuyển tập, T 6,  Nxb Sự  thật, H. 1984, tr 263 – 264).


Như vậy sự ra đời của nhà nước, việc hình thành bộ máy quan liêu, đội ngũ quan lại đứng lên trên xã hội đã mở đầu cho một quá trình phát triển lâu dài của xã hội có nhà nước và cũng bắt đầu cho một quá trình lâu dài tha hóa quyền lực nhà nước. Trong quá trình tha hóa đó, nhân dân – với tư cách là người có chủ quyền – nhưng khi muốn các cơ quan nhà nước giải quyết những công việc liên quan đến mình, đều phải cầu cạnh các cơ quan nhà nước, thậm chí phải trả cho quan chức một khoản dưới hình thức cống nộp, phụ thu, lót tay, hoa hồng, bôi trơn… Còn các quan chức nhà nước thì sống bám vào các khoản nộp này. Các hành vi này rất phổ biến trong mọi nhà nước quan liêu còn ít nhiều mang tính chất dã man và được gọi là tham nhũng.


Ở các nhà nước chuyên chế phương Đông, quá trình ra đời của nhà nước cũng không khác mấy so với ở phương Tây. Nhưng ở đây, việc vua quan thần thánh hóa mình còn tinh vi hơn. Hàng ngàn năm, vua quan được giải thích là những người thay trời trị dân, là cha mẹ dân, có trách nhiệm chăn dắt, dạy dỗ dân. Vì thế, mỗi hành vi thực hiện chức năng công quyền của quan lại đều được coi là ban ơn cho dân. Nhân dân bị bóc lột, bị tước quyền mà vẫn cảm thấy đội ơn bọn vua quan áp bức. Trong tình hình như vậy, vua quan tha hồ bóp nặn nhân dân, nạn tham nhũng trở thành phổ biến, là hành vi thông thường của kẻ quan quyền. Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, việc bổ một chức quan luôn đi kèm với sự tính toán chức quan ấy sẽ ăn được gì ở vị trí bổ nhiệm.¡ n ở đây không phải là lương mà là bổng lộc và các khoản khác gọi là lậu.


Như vậy, trong lịch sử, hiện tượng tham nhũng đã từng là một kiểu tồn tại của hệ thống quan liêu của mọi nhà nước, một kiểu bảo kê chính thức được tiến hành bởi bộ máy và quan lại nhà nước. ở đây quan liêu và tham nhũng có quan hệ ruột thịt với nhau.


Quan liêu xuất phát từ bureau nghĩa gốc là cái bàn viết, cái bàn giấy. Bureaucracy – Giới quan liêu, là những người thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Từ cuối thế kỷ XVIII, từ này bắt đầu mang ý nghĩa xấu, muốn chỉ giới quan chức hành chính, làm việc phục vụ giới đặc quyền, xa rời nhân dân, xa rời thực tế đời sống của nhân dân. Chế độ quan liêu và Bureaucratizm – chủ nghĩa quan liêu là phương thức cai trị thông qua hệ thống quan lại tách rời nhân dân, đứng trên nhân dân, trong giải quyết công việc quản lý hành chính thường cố ý tạo ta sự phiền hà nhiều tầng nấc, gây nhũng nhiễu đối với nhân dân. Khi chế độ này trở thành phương thức hành động và nhân sinh quan, thì được gọi là chủ nghĩa quan liêu. Biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu là: biệt lập với cuộc sống của nhân dân; tính đẳng cấp (thường là một hệ thống); tính áp đặt và mệnh lệnh; tính hình thức trong hoạt động quản lý; coi trọng chức vụ hành chính.


Chế độ quan liêu khi được coi trọng và sử dụng quá mức, bị lạm dụng, vượt quá giới hạn cần thiết, không kiểm soát được, sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển xã hội, gây thiệt hại, tổn thất cho nhân dân. Lúc đó, chế độ quan liêu trở thành bệnh quan liêu, tệ quan liêu, nạn quan liêu. Cũng cần nhấn mạnh rằng, bệnh quan liêu đang còn tồn tại trong nhà nước xã hội chủ nghĩa. Biểu hiện của bệnh quan liêu là: quan cách, quan dạng (cố làm ra vẻ bề trên, oai vệ, quyền uy giả tạo); háo danh, tham quyền, sính hình thức; hách dịch, cửa quyền với cấp dưới, với dân, kiêu ngạo, hợm hĩnh (nịnh trên nạt dưới); xa dân, không hiểu dân, khinh dân, sợ dân; bảo thủ, trì trệ, kinh nghiệm chủ nghĩa; bản chất của chủ nghĩa quan liêu là chủ nghĩa cá nhân.


Có thể nói, chế độ quan liêu xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Nó là một tất yếu trong xã hội có giai cấp, là bộ máy để giai cấp này thực hiện sự cai trị đối với giai cấp khác. Chế độ quan liêu còn là một phương thức quản lý nhà nước, vì thế nó mang tính tất yếu, nhưng nó đối lập với phương thức quản lý dân chủ (chế độ dân chủ). Quan liêu gắn với bộ máy và công chức nhà nước, chủ yếu ở những cấp trên và xa cơ sở. Ngày nay, chủ nghĩa quan liêu không chỉ xuất hiện ở bộ máy nhà nước mà còn có ở bất kỳ tổ chức bộ máy quản lý nào, dù đó là tổ chức kinh tế hay xã hội. Như vậy, hệ thống quan liêu đã là môi trường để công chức nhà nước có thể lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình trong thực thi quyền lực nhà nước để tham nhũng.


Tham nhũng (corruption) là một hiện tượng xã hội trong đó tổ chức tập đoàn, cá nhân lợi dụng những ưu thế về chức vụ, cương vị, uy tín, nghề nghiệp, hoàn cảnh của mình hoặc người khác, lợi dụng những sơ hở của pháp luật để làm lợi bất chính. Tham nhũng có thể diễn ra trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đạo đức. Tham nhũng trong các lĩnh vực này quan hệ với nhau bằng một mạng lưới chằng chịt, che chắn, chế ước, thậm chí đe doạ lẫn nhau. Trong những nước mà ở đó tham nhũng trở thành tệ nạn, thì tham nhũng là một hệ thống tự bảo vệ vững chắc. Cũng cần thấy rằng, có những trường hợp có quan liêu mà không có tham nhũng, hoặc chỉ có tham nhũng mà không quan liêu. Tuy nhiên, trên thực tế, tệ quan liêu và tệ tham nhũng là anh em sinh đôi. Nạn quan liêu là tiền đề cho tham nhũng, tham nhũng làm trầm trọng thêm chế độ quan liêu. Quan liêu và tham nhũng quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề và điều kiện cho nhau, chúng đối lập với dân chủ, công khai và minh bạch. Vì vậy, về nguyên tắc, chống tham nhũng cũng đồng thời với chống quan liêu và ngược lại.


Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, từ trước tới nay, thường không độc lập mà gắn liền với các cuộc đấu tranh chống chế độ quan liêu – chuyên chế hà khắc nói chung, chống nhà cầm quyền nói riêng. Các hình thức đấu tranh cũng vô cùng phong phú, đa dạng, đỉnh cao là những cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Các cuộc đấu tranh đó, nhìn tổng quát trong lịch sử là một bộ phận không tách rời của các cuộc đấu tranh giai cấp. Qua các cuộc đấu tranh đó, nhà nước ngày càng tiến hóa và ngày càng văn minh hơn, chức năng công quyền ngày càng được quan niệm và thực hiện đúng hơn; hoạt động của nhà nước ngày càng được minh bạch, được sự kiểm soát chặt chẽ của toàn xã hội. Sự ra đời của nhà nước pháp quyền chính là thành quả của văn minh hóa tổ chức và hoạt động của nhà nước, chống sự tha hóa quyền lực nhà nước, và là một phương thức quan trọng chống tệ nạn quan liêu, tham nhũng. Tuy vậy, nhà nước pháp quyền cũng có những thất bại của nó, cho nên không thể có ảo tưởng rằng, cứ xây dựng nhà nước pháp quyền thì tự nhiên tham nhũng sẽ bị đẩy lùi.


Ngày nay trong bất kỳ hệ thống xã hội nào, ngoài nhà nước còn hàng loạt các tổ chức khác nhau như đảng chính trị; các tổ chức chính trị – xã hội; các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp; các tổ chức kinh tế. Nhưng không có tổ chức nào có được tính chất như nhà nước.


Một đặc điểm của tổ chức quyền lực công (quyền lực nhà nước) là một bộ máy có nhiều cấp, tổ chức bao trùm và rộng khắp toàn xã hội, những người được giao nhiệm vụ thực thi quyền lực công là những người giữ một chức vụ, có quyền hạn nhất định và được giao các phương tiện công để thực hiện quyền lực; trong đó có nhiều phương tiện đặc quyền, tức ngoài bộ máy nhà nước, không ai có thể có được. Công chức hành chính nhà nước có quyền ra quyết định hành chính bắt buộc thi hành ngay, quyền cưỡng chế hành chính, quyền trưng dụng, trưng mua. Thẩm phán các toà án có quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế, hành chính. Kiểm sát viên có quyền công tố và kiểm sát chung. Thủ trưởng các cơ quan nhà nước có quyền quản lý, sử dụng tài chính, công sản nhà nước. Người đứng đầu các tổ chức kinh tế, dịch vụ nhà nước có quyền quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước giao cho họ. Sự khác biệt giữa cơ quan tổ chức nhà nước với các tổ chức khác không phải là cơ quan công quyền là ở chỗ, toàn bộ quyền hạn của cơ quan, tổ chức, chức vụ nhà nước được pháp luật quy định, làm cho nó trở thành quyền lực hợp pháp và tối cao. Tuy nhiên, trong thực thi quyền lực nhà nước, sự xê dịch giữa đúng thẩm quyền và lạm quyền chỉ là gang tấc, ở đó dễ có khuynh hướng lạm quyền. Khi các quan chức trong bộ máy nhà nước được trao thẩm quyền công, họ có thể thu lợi tư từ sự lạm dụng thẩm quyền ấy. Đó là tham nhũng. Vì vậy, tham nhũng là sản phẩm của xã hội có nhà nước, là căn bệnh đồng hành với nhà nước. Tuy nhiên, trong mỗi chế độ nhà nước khác nhau, thì tính chất và mức độ tham nhũng cũng khác nhau, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, vào năng lực của đội ngũ công chức của nhà nước đó.


Tóm lại, tính ăn bám của nhà nước đã nói lên rằng, tham nhũng là một thuộc tính của nhà nước ăn bám. Tham nhũng là một hình thức tha hóa (biến dạng) của quyền lực nhà nước (do nhân dân ủy quyền), là một phương thức tồn tại của bộ máy quan liêu, bóc lột, chuyên chế của nhà nước. Tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng gắn với quá trình ra đời và vận động của nhà nước. Vì vậy, nghiên cứu tham nhũng không thể không nghiên cứu cách tổ chức và vận hành nhà nước. Có như vậy, chúng ta mới có thể ngăn chặn, đẩy lùi quốc nạn tham nhũng.


Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp, tháng 3-2008


QUYỀN LỰC VÀ SỰ THA HÓA CỦA QUYỀN LỰC


THS. Bùi Xuân Phái. Khoa Pháp luật Hành chính – Nhà nước, Đại học Luật Hà Nội


Là một vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm, quyền lực được quan tâm đến trong mọi xã hội. Cho dù nó có tồn tại ở đâu, khi nào, với ai hay trong cộng đồng nào, được thực hiện bằng cách nào và cho đến bao giờ thì quyền lực cũng luôn được coi là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của một xã hội. Điều đó còn đúng hơn rất nhiều khi quyền lực đó tồn tại trong xã hội có giai cấp và có nhà nước.


Thông thường, nếu hiểu quyền lực là khả năng áp đặt ý chí của chủ thể này lên chủ thể khác và buộc chủ thể đó phải phục tùng ý chí đó thì sự hiện diện của quyền lực ở bất kỳ đâu, khi nào cũng tồn tại một sự khác biệt giữa người áp đặt ý chí và người phải phục tùng ý chí đó. Nói cách khác thì giữa người áp đặt ý chí (người mang quyền lực) và người bị áp đặt ý chí (người phục tùng quyền lực) luôn phải có sự khác biệt thì quyền lực mới tồn tại. Quyền lực càng lớn thì sự khác biệt giữa hai loại chủ thể này càng xa. Vấn đề đặt ra ở đây là quyền lực đó có nguồn gốc từ đâu, do ai nắm giữ, được thực hiện bằng cách nào, trong điều kiện nào và nhằm mục đích gì, khả năng áp đặt ý chí ở mức độ nào…


Quyền lực trong xã hội loài người, đặc biệt là quyền lực nhà nước thì hết sức phức tạp tương ứng với mức độ tiến hoá của con người với tư cách là động vật cao cấp nhất. Con người có khi tốt, có khi xấu hoặc có khi cái tốt, cái xấu lẫn lộn hoặc lấn át nhau. Cái tốt, cái xấu đó được bộc lộ rất rõ trong quá trình thực hiện quyền lực của con người, nhất là khi con người còn có thể chinh phục được cả tự nhiên và đặc biệt là nghĩ ra được các phương tiện có thể “nối tay” để thực hiện quyền lực của mình cùng với những thủ đoạn ngày càng trở nên tinh vi hơn. Con người là chủ thể duy nhất có thể sáng tạo ra các phương tiện hoặc nghĩ ra các phương pháp để thực hiện các mưu đồ hay nhu cầu của mình. Bản thân sự tốt, xấu cũng do cách mà người ta quan niệm tuỳ từng quan hệ trong bối cảnh, vị thế cụ thể nên quyền lực cũng có thể bị tha hóa theo những quan niệm và bối cảnh đó.


Trong tính hiện thực của nó- như Mác quan niệm, bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội- nên sự phức tạp của quyền lực trong xã hội loài người xuất phát từ chính bản chất của con người. Thực ra, quyền lực là cái phục vụ cho người ta để thoả mãn những nhu cầu nhất định. Giữa hai loại nhu cầu của con người thì nhu cầu tự nhiên mang tính bản năng là cái có trước, còn nhu cầu mang tính xã hội sẽ lớn dần theo sự trưởng thành của con người. Vì vậy, quyền lực bản thân nó ban đầu mang tính tự nhiên, được hình thành từ những bản năng mang tính sinh vật trong quá trình đấu tranh để sinh tồn và phát triển. Sau này, do nhu cầu của việc quản lý và kiểm soát các hoạt động chung để phối hợp các thành viên trong xã hội với nhau mà quyền lực tiếp tục nảy sinh theo những cách khác nhau. Kể từ khi xã hội xuất hiện giai cấp, sự khác bỉệt về khả năng cũng như điều kiện xuất phát mà nhu cầu của con người đã có những chuyển biến quan trọng. Có quan điểm cho rằng nhu cầu là động lực cho sự phát triển. Điều này đúng trong nhiều trường hợp nhưng không phải là tất cả. Vấn đề là ở chỗ nhu cầu đó có tự nhiên và chính đáng hay không và nó được thoả mãn bằng cách nào. Nếu quyền lực để thoả mãn nhu cầu chính đáng, các sức mạnh tự nhiên, thiên bẩm phát huy hết thì khi đó, quyền lực sẽ trở nên bền vững và ít bị tha hóa. Nếu quyền lực phục vụ cho nhu cầu không chính đáng thì quyền lực đó hình thành theo những cách không tự nhiên và thiếu tính bên vững. Đi theo việc thoả mãn nhu cầu loại nào và bằng thứ quyền lực gì thì sẽ có cách hành xử quyền lực theo hướng đó. Khi đó quyền lực sẽ bị biến dạng so với lúc hình thành hay nói cách khác thì khi đó quyền lực có sự tha hoá.


Biểu hiện rõ ràng nhất, đầy đủ nhất và cũng phức tạp nhất của quyền lực là trong hoạt động của nhà nước vì quyền lực nhà nước là bao trùm lên toàn lãnh thổ, tác động lên tất cả các chủ thể, ảnh hưởng giữa quốc gia này với quốc gia khác trong khu vực hay toàn thế giới. Nắm giữ quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước như thế nào có một ý nghĩa vô cùng to lớn, tác động mạnh mẽ lên sự phát triển của xã hội loài người nói chung và của mỗi thành viên trong xã hội nói riêng. Về cơ sở mang tính bản chất, quyền lực nhà nước phải được hình thành từ sự trao quyền của toàn xã hội và nhà nước trở thành người đại diện chính thức duy nhất cho xã hội và nhân danh xã hội để thực hiện quyền lực đó nhưng cũng thế mà sự tha hóa của quyền lực nhà nước trở nên phức tạp hơn và ảnh hưởng lớn đối với toàn bộ đời sống xã hội. Do đó, sự biến dạng (hay tha hóa) của quyền lực nhà nước sẽ được xem xét kỹ hơn.


2. Sự tha hoá của quyền lực nhà nước.


2.1.Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tha hoá của quyền lực nhà nước


Quyền lực tồn tại trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống với những biểu hiện khác nhau về sắc thái, về mức độ, về các biện pháp bảo đảm kèm theo…Nhưng dù thế nào thì theo thời gian, quyền lực cũng bị biến đổi. Nói cách khác, quyền lực luôn luôn có xu hướng bị tha hóa. Nó không còn trạng thái nguyên thủy khi quyền lực được hình thành. Sự tha hóa của quyền lực do rất nhiều yếu tố tác động lên chủ thể nắm giữ và quá trình sử dụng quyền lực. Xem xét xu hướng tha hóa của quyền lực cũng như tìm ra các yếu tố tác động lên quá trình tha hóa của quyền lực là một việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn nên phải nghiên cứu về cơ chế hình thành và vận hành của quyền lực mà cụ thể là quyền lực hình thành từ đâu và bằng cách nào hay nguồn gốc của quyền lực; quyền lực ấy do ai nắm giữ; cách thức chuyển giao quyền lực; mục đích của việc nắm giữ quyền lực; đối tượng của quyền lực; cách thức thực hiện quyền lực; bảo đảm của quyền lực; xu hướng phát triển và chuyển hóa của quyền lực, sự kiểm soát quyền lực… Những yếu tố có khả năng ảnh hưởng lớn đến sự tha hóa của quyền lực có thể là:


Thứ nhất, về nguồn gốc của quyền lực.


Quyền lực xuất hiện có thể vì nhiều mục đích cũng như từ những nguyên nhân khác nhau như vì sự sinh tồn, vì sự hào nhoáng, sĩ diện, vì cộng đồng, vì một quốc gia… nhưng hầu hết nó đều vì những lợi ích nhất định. Quyền lực hình thành cùng quá trình khẳng định sức mạnh của chủ thể và vì vậy thường diễn ra trong quá trình cạnh tranh. Trong quá trình cạnh tranh đó, thế lực nào mạnh thì thế lực đó sẽ giành được quyền lực cho mình và áp đặt ý chí lên các đối tượng còn lại. Điều đó cho thấy quyền lực có nguồn gốc từ sức mạnh. Có thể có sức mạnh mà chưa có quyền lực nhưng không có sức mạnh thì không thể có quyền lực. Sức mạnh ở đây có thể là sức mạnh về thể chất, sức mạnh về trí tuệ, sự khôn ngoan, sức mạnh về kinh tế, về quân sự…Và tùy từng quan hệ khác nhau mà quyền lực sẽ hình thành từ loại sức mạnh nào. Sự hình thành quyền lực có thể mang tính tự nhiên, được cộng đồng hoặc những thành viên khác mặc nhiên thừa nhận như xã hội của một đàn ong, đàn mối với vai trò của ong chúa và mối chúa. Kiểu quyền lực này hầu như không bị tha hóa trong toàn bộ đời sống của chúng do đặc tính tự nhiên đem lại. Trong xã hội, quyền lực đó hình thành dưới dạng được cộng đồng suy tôn. Người được suy tôn phải là người giành được sự tín nhiệm gần như tuyệt đối. Cũng chính vì vậy mà quyền lực của người được suy tôn mang tính tự nhiên. Trong trường hợp này thì quyền lực của người cầm quyền gắn luôn với trách nhiệm của họ và trách nhiệm đó mang tính tự thân nhưng chắc chắn họ phải có một quá trình khẳng định mình trước cộng đồng. Tuy nhiên, đây là quá trình cạnh tranh mang tính tự nhiên. Chẳng hạn, nếu như cạnh tranh trong một cộng đồng của một bộ lạc là để khẳng định vị thế của người chỉ huy vì mục đích bảo vệ lợi ích cộng đồng thì điều đó sẽ đem lại lợi ích cho mỗi thành viên trong cộng đồng, vì vậy mà trách nhiệm của họ là rất lớn. Họ phải bằng mọi cách để bảo vệ cộng đồng trước các thế lực khác và thực hiện lợi ích của cộng đồng trước tự nhiên. Quyền lực kiểu này hình thành một cách tự nhiên và vì vậy nó có tính chất bền vững, ít bị tha hóa cùng với việc phục tùng quyền lực mang tính chất tự nguyện của các thành viên trong cộng đồng đối với uy tín tự nhiên của người đứng đầu bộ lạc, quyền lực đã dần được khẳng định qua thời gian và được cộng đồng thừa nhận. Trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính trị được hình thành từ sự liên kết của những người có tài sản để bảo vệ tài sản của họ, từ đó làm hình thành nên quyền lực nhà nước, qua đó vô hiệu hoá sự chống đối của các tầng lớp người nghèo và nô lệ bằng sức mạnh quân sự và làm cho quyền lực của cả xã hội nhanh chóng bị tha hoá thành quyền lực của giai cấp. Quyền lực cũng có khi hình thành từ sự cạnh tranh rất khốc liệt do đặc điểm của các chủ thể tham gia cạnh tranh và tính chất của sự cạnh tranh. Nếu sức mạnh của các thế lực tham gia cạnh tranh càng lớn thì tính chất khốc liệt càng cao. Nếu các cuộc cạnh tranh có mục đích đối kháng thì sẽ đem lại một kết cục của “kẻ mất, người còn”. Nếu quyền lực được hình thành trong các cuộc cạnh trạnh sinh tồn và có mục đích loại trừ nhau thì quyền lực luôn luôn bị đe dọa bởi các thế lực bên ngoài và sự sự phục tùng quyền lực sẽ là miễn cưỡng. Quyền lực dạng này ít bền vững và có nguy cơ tha hóa rất nhanh. Khi giành được quyền lực trong trường hợp này, người nắm giữ quyền lực phải củng cố quyền lực bằng nhiều thủ đoạn mang tính cực đoan nên nhanh chóng dẫn tới sự tha hóa của quyền lực. Khi đó sẽ có các phản ứng dữ dội hoặc ngấm ngầm từ đối tượng nhằm chống lại sự cưỡng bức cứng rắn đó. Điều đó càng rõ ràng khi mà chủ thể nắm giữ quyền lực đang ở thế yếu hoặc mất uy tín trước cộng đồng hay đối tượng của quyền lực. Khi đó, khả năng tha hóa của quyền lực ngày càng trở nên rõ ràng hơn.


Nếu quyền lực hình thành bằng con đường tự xưng với sức mạnh tuyệt đối của người tự xưng thì quyền lực này có tính cách áp đảo và không có người dám chống đối ngay tại thời điểm quyền lực được hình thành. Nhưng quyền lực hình thành kiểu này cũng ít bền vững vì chính sức mạnh của chủ thể mang quyền lực có thể mang lại cho họ nhiều kẻ thù hơn. Trong lịch sử, quyền lực hình thành bằng cách này khó được duy trì ở các thế hệ sau vì người thừa kế nó khó có thể có được sức mạnh của người thiết lập quyền lực. Vì vậy mà sự tha hóa diễn ra nhanh hơn. Ví dụ như thời Lý Nam Đế hay nhà Tây sơn ở Việt nam.


Thứ hai, về mục đích nắm giữ quyền lực.


Điều này rất quan trọng vì mục đích của việc nắm giữ quyền lực có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình thực hiện quyền lực, phương pháp cũng như phương tiện thực hiện quyền lực. Những yếu tố này trong cơ chế quyền lực ảnh hưởng trực tiếp đến sự tha hóa hay thay đổi quyền lực. Mục đích nắm giữ quyền lực có quan hệ mật thiết với con đường hình thành của quyền lực. Trong quan hệ này, chủ thể quyền lực đã cạnh tranh để có quyền lực vì cái gì, nắm giữ quyền lực ấy để phục vụ cho cái gì, điều đó có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hành xử quyền lực của chủ thể đó và liên quan đến sự thay đổi của quyền lực đó. Nếu quyền lực phục vụ cho lợi ích của cộng đồng nó sẽ bền vững vì nó tồn tại không vì mục đích tự thân mà vì cộng đồng mà nó phục vụ nên quyền lực ấy cũng thường do cộng đồng tạo nên một cách tự nhiên và được củng cố, vun đắp bởi chính những người tham gia xây dựng nên nó. Ngược lại, mục đích của việc tranh giành quyền lực là vì lợi ích ích kỷ của cá nhân, vì một nhóm người thì phương thức tạo lập quyền lực sẽ trở nên cực đoan và nhiều khi với những thủ đoạn tàn độc để loại trừ đối thủ. Chính vì vậy, người nắm quyền lực sẽ có nhiều kẻ thù và nguy cơ bị chống đối cũng sẽ rất lớn, khó kiểm soát được quyền lực. Trong trường hợp này, quyền lực sẽ bị tha hóa từ hai hướng. Hướng thứ nhất là tự tha hóa do quyền lực đó không có cơ sở hình thành tự nhiên. Hướng thứ hai là bị tác động từ bên ngoài từ những thế lực có thái độ thù địch. Nó có thể làm cho chủ thể nắm quyền lực có thể trở nên mạnh mẽ hơn do thường xuyên phải đối phó, cảnh giác và tìm cách củng cố quyền lực. Nhưng chủ thể này cũng có thể bị suy yếu do khả năng áp đặt ý chí kém đi và mai một khả năng kiểm soát quyền lực vì phải dốc sức nhiều cho việc củng cố, bảo vệ quyền lực của mình. Nói chung, quyền lực được tạo dựng vì mục đích ích kỉ sẽ có xu hướng tha hóa tiêu cực nhanh hơn. Mục đích của việc nắm giữ quyền lực có thể bị thay đổi theo thời gian. Theo thiển ý của tác giả thì quyền lực nhà nước nhất là các nhà nước ở phương Đông- ban đầu mang tính xã hội, phục vụ cho xã hội nhưng sau này do sự chuyển giao hay tha hoá của quyền lực mà nó mang tính giai cấp do chuyển mục đích sang phục vụ cho người nắm quyền lực. Bên cạnh đó, trong lịch sử tồn tại của loài người, phần lớn người ta nhận quyền lực hay đấu tranh giành quyền lực vì mục đích vị kỷ chứ ít khi người ta “phụng công”. Ngay trong thời đại ngày nay, nhiều người lên nắm quyền lực lúc ban đầu cũng rất chí công, nhưng càng về sau, ngươời nắm quyền lực càng có xu hướng lạm quyền, lộng quyền và lợi dụng quyền lực mà xã hội đã trao cho ngay cả những người rất tốt.


Sau này, do sự tiến bộ của con người, sự văn minh đã đem lại cho nhân loại ánh sáng của tự do. Các cuộc cách mạng xã hội được tiến hành bởi những lực lượng cấp tiến của xã hội đã đem lại cho con người cơ hội thấy được và thực hiện được sự tự do của mình, quyền lực của mình thông qua các thể chế dân chủ có thể giải thích là dân là người làm chủ- làm chủ bản thân, làm chủ tự nhiên và làm chủ xã hội. Người dân trong xã hội vừa là chủ thể của quyền lực, vừa là đối tượng của quyền lực. Quyền lực của nhân dân được thực hiện bằng cơ chế đại diện thông qua hoạt động bầu cử- hoạt động uỷ quyền của toàn xã hội cho một bộ phận. Nếu mọi việc diễn ra bình thường thì đây là cơ chế có tính ưu việt nổi trội. Thế nhưng sự thực lại không hẳn như vậy vì để giành được sự tín nhiệm của dân chúng – những người vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quyền lực- các ứng cử viên có thể có nhiều thủ đoạn như mỵ dân, lừa dối, thậm chí họ là người tốt nhưng vì có những đối thủ không tốt thì họ buộc phải sử dụng những thủ đoạn nhất định. Nếu cử tri là người có hiểu biết, có ý thức chính trị cao thì các thủ đoạn khó qua mắt được họ và ngược lại. Trong trường hợp ngược lại này thì quyền lực, phần thì do bản thân nó đã không được hình thành tự nhiên, phần thì do mục đích nắm quyền không vị công nên nó nhanh chóng bị tha hoá, trong đó có thể có những thủ đoạn loại trừ nhau hoặc liên minh với nhau nhằm mưu đồ củng cố quyền lực. Vì vậy, có cơ chế tốt cũng còn cần đến con người (cả nắm quyền và đối tượng của quyền lực) tốt, nếu không sự tha hoá của quyền lực sẽ nhanh chóng diễn ra. Nhưng trên thực tế, nguy cơ này ít nhiều đã bị hạn chế bởi cơ chế kiểm soát quyền lực.


Thứ ba, về chủ thể nắm giữ quyền lực. Ai là người nắm giữ quyền lực có một ý nghĩa rất đặc biệt vì họ thường là người đứng đầu của một thế lực, một cộng đồng… Trong đấu tranh sinh tồn, sự thiết lập quyền lực nhằm tạo ra vị thế cho người chỉ huy trong tổ chức lao động sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt. Sự cạnh tranh ở đây lại diễn ra giữa cộng đồng này với cộng đồng khác mà nếu như công đồng nào yếu thế thì có thể trở thành tù binh hay nô lệ cho cộng đồng kia và bị cộng đồng đó áp đặt ý chí. Chính vì lẽ đó mà người đứng đầu cộng đồng phải là người giành được sự tín nhiệm tuyệt đối của cộng đồng. Khi đó, quyền lực gắn liền với uy tín và trách nhiệm của người đứng đầu và sự tiếp nhận ý chí của cộng đồng cũng mang tính tự nguyện mà bảo đảm cho quyền lực chính là bổn phận của mỗi thành viên được ý thức một cách tự giác cùng với sự cưỡng chế của cả cộng đồng. Mệnh lệnh của người đứng đầu được phát ra nhân danh cả cộng đồng và việc tuân theo mệnh lệnh ấy không chỉ vì lợi ích của cộng đồng mà vì lợi ích của chính bản thân của mỗi thành viên thực hiện mệnh lệnh ấy. Về sau này, quyền lực có con đường hình thành riêng của nó. Đó có thể là do sự chuyển giao, sự liên kết…mà có. Trong chế độ thị tộc mẫu hệ, quyền lực của người phụ nữ đứng đầu cộng đồng được coi là rất thiêng thiêng do khả năng cũng như vai trò của người phụ nữ đó. Quan hệ huyết thống, tập quán sinh hoạt, sản xuất của các thị tộc đã tạo ra hình ảnh của người phụ nữ có uy quyền thực sự. Điều đó được thể hiện trong phần lớn của lịch sử nhân loại cho đến khi chế độ phụ hệ xuất hiện với sức mạnh của người đàn ông cho phù hợp với yêu cầu của việc chỉ huy cộng đồng trong tổ chức sản xuất mà đặc biệt là công cuộc trị thủy và hoạt động chăn thả gia súc. Quyền lực do ai nắm giữ có liên quan đến việc chuyển giao quyền lực. Bản thân sự chuyển giao quyền lực cũng có nhiều cách khác nhau từng tồn tại trong lịch sử nhân loại. Chẳng hạn như chế độ chuyển giao quyền lực một cách tự nguyện trong chế độ cộng sản nguyên thủy, hay chế độ chuyển giao quyền lực cho người kế nhiệm được lựa chọn một cách thận trọng của người tiền nhiệm (hình thức truyền hiền) như vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn nhường ngôi cho vua Vũ ở Trung quốc thời cổ đại, ở La mã từ năm 30 TCN đến 180 SCN, ngôi vua lần lượt được chuyển giao từ Nerva, Trajan, Hadrien, Antonin đến Marc Aurèle…và bền vững ít bị tha hoá, mỗi ông vua nắm quyền trung bình trong khoảng 35 năm. Trong trường hợp này, quyền lực ít bị tha hóa hơn và chế độ chuyển giao quyền lực kiểu này đã tạo ra sự thịnh trị cho xã hội và sức mạnh cho các dân tộc Trung hoa và La mã mà các dân tộc khác phải nể phục họ vì đây cũng chính là những thời đại hoàng kim của các dân tộc này. Sự chuyển giao quyền lực kiểu này nhiều khi còn tăng thêm sức mạnh bởi người thừa kế với uy tín của họ đã được khẳng định từ người tuyển chọn với khuynh hướng mở rộng và được củng cố vì tính tự nhiên xuất phát từ lợi ích của cộng đồng và được cộng đồng ủng hộ.


Chế độ chuyển giao quyền lực theo kiểu cha truyền con nối khá phổ biến sau này cũng có khi có kết quả tốt nhưng phần lớn có kết cục không tốt. Kiểu chuyển giao quyền lực này không mang tính tự nhiên nên sự tha hóa của nó diễn ra khá nhanh. Sự sụp đổ của các vương triều trong lịch sử là một minh chứng cho điều này. Sự không tự nhiên của việc chuyển giao quyền lực kiểu này xuất phát từ chỗ người con nhận quyền lực của cha nhờ uy tín của cha. Ban đầu thì việc này còn ít ảnh hưởng bởi niềm tin của cộng đồng dành cho những người đi trước còn rất lớn và niềm tin ấy chưa bị phai nhạt. Nhưng càng về sau, thông thường niềm tin của cộng đồng dành cho người kế thừa càng bị giảm sút vì những người này thường không kinh qua gian khổ, thiếu sự rèn luyện để tạo ra bản lĩnh và trên thực tế họ không phải cạnh tranh với những người xung quanh để tạo nên uy tín cho họ nên họ không có điều kiện để khẳng định uy tín và không được cộng đồng thừa nhận rộng rãi. Chính vì lẽ đó, áp lực để khẳng định quyền lực của những người này đã tạo ra các biện pháp cực đoan nên quyền lực ấy càng xa với cộng đồng, vừa mang tính chất quan liêu vừa có xu hướng độc đoán. Bản thân sự cố gắng khẳng định quyền lực đã tạo ra sự tha hóa của quyền lực vì quyền lực ban đầu không phải như vậy. Điều này làm tăng nguy cơ chống lại quyền lực đó và dẫn đến nguy cơ xung đột giữa người nắm quyền với đối tượng của quyền lực làm cho quyền lực bị tha hóa nhanh hơn. Ănghgen đã từng viết về vấn đề này như sau: “Lòng tôn kính không ép buộc mà trước kia người ta tự nguyện biểu thị với các cơ quan của xã hội thị tộc, là không đủ đối với bọn quan lại nữa, ngay cả trong trường hợp họ có cả sự tôn kính đó; họ là những đại biểu cho một quyền lực đã trở nên xa lạ đối với xã hội, nên phải bảo đảm quyền này của họ bằng những đạo luật đặc biệt, những đạo luật khiến cho họ trở thành đặc biệt thần thánh và đặc biệt bất khả xâm phạm. Viên cảnh sát tồi nhất của một nhà nước văn minh vẫn có quyền uy hơn tất cả những cơ quan của xã hội thị tộc cộng lại; nhưng một vương công có thế lực nhất, một chính khách hoặc một chỉ huy quân sự lớn nhất của thời đại văn minh vẫn có thể ghen tị với một vị thủ lĩnh nhỏ nhất trong thị tộc về sự tôn kính tự nguyện và không thể tranh cãi được mà vị thủ lĩnh ấy được hưởng. Đó là vì vị thủ lĩnh thị tộc nằm ngay trong lòng xã hội, còn những người kia thì bắt buộc mong muốn đại biểu cho một cái gì ở bên ngoài và đứng trên xã hội”[1].


Sau này, do sự tiến bộ của xã hội, quyền lực không còn do một người nắm giữ mà chuyển sang cho một số chủ thể là thành viên của một cộng đồng. Ban đầu, tập thể những người này thực hiện quyền lực cũng do uy tín của họ nhưng về sau, vì rất nhiều lý do mà chính các chủ thể này lại có thể trở nên mâu thuẫn, xung đột với nhau hoặc có thể tạo ra các liên minh về quyền lực giữa các chủ thể ấy nên quyền lực cũng bị tha hóa ngay chính trong lòng nó mà chưa cần đến sự tác động từ bên ngoài. Việc hình thành nên các đảng phái trong việc cạnh tranh và thực hiện quyền lực trong xã hội hiện đại ngày nay là minh chứng cho điều này


Như vậy có thể thấy, quyền lực- nhất là quyền lực của nhà nước- có thể bị tha hóa hay thay đổi ở mức độ nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào việc chủ thể nắm quyền lực là người như thế nào. Đây là vấn đề có tính thời sự đặc biệt trong thời đại ngày nay, nhất là đối với yêu cầu xây dựng một nhà nước pháp quyền. Sự tha hoá của quyền lực theo khía cạnh này đã làm nảy sinh rất nhiều mô hình chuyển giao quyền lực trong lịch sử và cũng hình thành nên nhiều mô hình chính thể khác nhau phần nào đó đã hạn chế bớt sự tha hoá của quyền lực, trong đó có cơ chế giám sát quyền lực.


Thứ tư, đối tượng của quyền lực.


Lịch sử loài người đã chứng kiến sự thay đổi của các triều đại cả ở phương Đông cũng như phương Tây, trong đó sự thay đổi của quyền lực nhà nước ở phương Tây diễn ra nhanh hơn. Lý do giải thích cho điều này nằm trong khí chất mạnh mẽ, tâm lý độc lập, lối sống duy lý của người phương Tây – họ hướng tới cái đúng trước. Họ hướng tới sự dân chủ, tự do, đòi hỏi sự công bằng để giải phóng con người và vì vậy sẽ rất dễ dàng thực hiện cách mạng xã hội. Điều đó sẽ làm cho các nhà cầm quyền phải “giữ mình” nhiều hơn và cũng vì vậy mà quyền lực ít bị tha hóa hơn. Nói cách khác, người phương Tây không dễ dàng chấp nhận sự tha hóa của quyền lực. Ngược lại, người Phương Đông có vẻ “nhẫn nhục, cam chịu ” hơn nên nhà cầm quyền dễ có khuynh hướng lạm dụng quyền lực hơn, sự tha hóa của quyền lực dễ dàng xảy ra hơn mà ít gặp phải sự chống đối, cản trở. Cũng chính vì thế, ở phương Đông, các chế độ chuyên chế dễ hình thành, tồn tại và phát triển hơn so với phương Tây.


Như vậy, các yếu tố của truyền thống, trong đó có những yếu tố như tâm lý, khí chất, chất lượng dân cư…cũng tham gia vào sự tác động lên quyền lực. Ngày nay, khi trình độ dân trí được nâng cao, nền dân chủ ngày càng trở nên hoàn thiện, đối tượng của quyền lực đồng thời cũng là chủ thể của quyền lực, là người trao quyền và cũng là người kiểm soát quyền lực nên quyền lực ít có nguy cơ tha hóa hơn. Vì vậy, dân chủ vừa được coi là mục tiêu, vừa là động lực trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Chính vì thế, ở đâu trình độ dân trí cao, ở đó quyền lực ít bị tha hóa, ở đâu trình độ dân trí thấp, ở đó quyền lực có nguy cơ tha hóa nhiều hơn. Do đó, muốn có dân chủ thì phải có trình độ dân trí. Có lẽ vì thế trong xã hội hiện đại (có thể liên hệ ở Việt nam), phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đang trở thành một khuynh hướng chính trị phổ biến trong việc thực hiện quyền lực nhà nước.


2.2. Một số dạng tha hoá và hậu quả của sự tha hóa của quyền lực


Quyền lực có thể tha hoá và có những hậu quả dưới một số dạng sau:


-Sự lạm quyền.


Đây là sự tha hoá của quyền lực thể hiện dưới dạng chủ thể nắm quyền lực tự cho mình thêm những quyền mà họ không có được khi được trao quyền. Khuynh hướng này diễn ra trong hầu hết các quá trình nắm quyền lực của chủ thể nhưng diễn biến tăng lên về sau với những hậu quả khó lường trước được. Lạm quyền có thể là sự tạo ra thêm quyền lực, có thể là mang lại lợi ích không chính đáng cho mình. Đây thực chất là việc trái phép dưới dạng vượt quá giới hạn, làm biến dạng quyền lực. Nó thường phụ thuộc nhiều vào mục đích của người nắm quyền lực. Nói cách khác thì sự lạm quyền chính là sự lợi dụng địa vị có sẵn của chính chủ thể nắm quyền lực. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự lạm quyền là do thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực một cách hợp lý của người trao quyền đối với người nắm quyền và hậu quả của nó là sự thiệt hại cho lợi ích xã hội và tự do của con người.


      Sự lộng quyền.


Đây là dạng tha hoá quyền lực của chủ thể mà sự liều lĩnh là dấu hiệu có tính chất đặc trưng. Sự tha hoá này thường do sự thiếu kiểm soát nên chủ thể của quyền lực thường “coi trời bằng vung”. Nó vừa là dạng tha hoá, vừa là kết quả của sự tha hoá, trong đó chủ thể của quyền lực muốn làm gì thì làm mà không sợ hậu quả xảy ra thế nào cho đối tương và cũng không sợ trách nhiệm của mình phải gánh chịu. Sự lộng quyền có thể không nhất thiết xảy ra với chính chủ thể nắm quyền mà có thể do người được uỷ quyền hoặc là người nhiếp chính thực hiện vì sự không trực tiếp chịu trách nhiệm của họ. Họ có thể nhân danh này khác để đổ thừa trách nhiệm cho chủ thể mà họ nhân danh hoặc được bao che bởi những thế lực cao hơn. Trong những trường hợp này, bản thân người nắm quyền thường chỉ có hư danh hoặc quan liêu, không bám sát cuộc sống… do cả những yếu tố khách quan và chủ quan xảy ra với họ. Chẳng hạn như vua lên ngôi khi còn ít tuổi hoặc yếu đau…


      Sự tuỳ tiện.


Sự tha hóa này được thể hiện ở chỗ bản thân người nắm quyền không biết rõ quyền lực của mình đến đâu, sự phân định thẩm quyền không rõ ràng và bản thân người nắm quyền lực có sự cẩu thả và cũng không ý thức về hậu quả của sự tùy tiện. Sự tùy tiện cũng có thể dẫn tới sự lạm quyền và lộng quyền. Chẳng hạn việc chính quyền địa phương đặt ra các loại phí, lệ phí mà không cần biết đến các quy định của pháp luật.


      Sự vô trách nhiệm.


Sự tha hóa của quyền lực ở đây có thể là thờ ơ hoặc buông xuôi trước trước yêu cầu của việc thực thi quyền lực đã được trao và thường gây thiệt hại cho xã hội và cho chính người trao quyền. Thông thường, sự vô trách nhiệm đến từ những người được trao quyền lực mà không có năng lực và không ý thức được ý nghĩa của công việc được giao. Người nắm quyền lực càng cao mà thiếu trách nhiệm thì hậu quả càng lớn. Nhiều khi, sự thiếu trách nhiệm còn được thể hiện trong việc ra các quyết định mà không lường trước về hậu quả của quyết định đó do thiếu cân nhắc, thẩm định trước khi ra quyết định. Nó làm cho niềm tin vào người nắm quyền lực bị sụt giảm và kéo theo sự bàng quan của cả đối tượng của quyền lực


-       Sự bất lực.


Thông thường, sự tha hóa này được thể hiện trong việc người nắm quyền lực dần mất đi thực quyền hoặc kém khả năng quyết đoán. Sự không thực quyền của người nắm quyền lực thể hiện việc họ chỉ có danh mà không có sức mạnh để áp đặt ý chí và thường bị thao túng bởi một thế lực nào đó và quyền lực sẽ dần rơi vào tay các thế lực này. Chẳng hạn như các vị vua trẻ tuổi lên nối ngôi khi còn quá ít tuổi thì thực quyền thuộc về người nhiếp chính hoặc khi người đương nhiệm bị ốm đau hay già cả thì thực quyền rơi vào tay của những quyền thần. Sự bất lực của người này sẽ tạo ra quyền lực cho người khác mà hậu quả của nó là sự tha hóa được thể hiện dưới dạng lộng quyền kể trên. Khi quyền lực rơi vào tay những người nhiếp chính hay quyền thần thì quyền lực sẽ bị tha hóa rất nhanh. Lịch sử đã chứng kiến rất nhiều sự tha hóa kiểu này mà kết quả thường là sự sụp đổ của một vương triều, kể cả khi đó là một vương triều đã từng rất thịnh vượng. Bên cạnh đó, sự tha hóa còn thể hiện ở sự nhu nhược của người cầm quyền. Đó là sự không quyết đoán khi có các tình huống chính trị nhạy cảm do lo sợ trách nhiệm về hậu quả của các quyết định nên để vuột mất cơ hội hoặc không thể vãn hồi được tình hình để kiểm soát quyền lực. Sự tha hóa này dẫn đến nguy cơ của tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ.


-Sự lợi dụng quyền lực (trục lợi từ quyền lực). Sự tha hóa này hình thành dần trong quá trình thực thi quyền lực. Gần như trong tất cả các chế độ xã hội, người nắm quyền lực đều sử dụng quyền lực để phục vụ cho lợi ích các nhân hoặc bộ phận. Từ ảnh hưởng của quyền lực, các chủ thể nắm giữ quyền lực có thể “tranh thủ” chi phối đối tượng, đặt ra những đòi hỏi cho họ và buộc phải đáp ứng các yêu cầu quá đáng của họ. Trong trường hợp này, người ta không thể có được lợi ích nếu họ không phải là người nắm giữ quyền lực hoặc lợi dụng được người nắm quyền lực. Sự tha hóa này là diễn biến tự thân của quyền lực nhưng cũng có thể do sự tác động từ những người xung quanh mà đặc biệt là những người thân thích như vợ, con… của họ và đây lại là nguyên nhân quan trọng làm cho sự tha hóa diễn ra nhanh hơn. Sự lợi dụng quyền lực cũng là một biểu hiện của sự lạm quyền. Nói chung thì những lợi ích mà chủ thể có được là những lợi ích không chính đáng. Nó kéo theo sự mất niềm tin của xã hội, của những đối tượng của quyền lực và hệ quả của nó là “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Đối với nhà nước thì đây là một nguy cơ rất lớn mà chúng ta đã xác định trong thời gian gần đây là tình trạng tham nhũng của các quan chức trong các cấp chính quyền.


-Sự tiếm quyền.


Sự tiếm quyền là biểu hiện nghiêm trọng của sự tha hóa quyền lực. Nói như Khổng tử thì ở đây người nắm quyền lực là người “không chính danh”. Người thực hiện quyền lực không phải là người nhận được quyền lực một cách hợp pháp mà là sự thoán đoạt địa vị của người có quyền lực hợp pháp nhưng lại tỏ ra bất lực và bị cưỡng bức chuyển giao quyền lực do họ còn quá nhỏ tuổi hay bị ốm yếu, già cả. Người tiếm quyền thường là người gần gũi với người có quyền mà chủ yếu là từ quan hệ hôn nhân như chú tiếm quyền của cháu, mẹ tiếm quyền của con… Đặc biệt ở những nước ở phương Đông, nạn hoạn quan và ngoại thích đã phá hoại rất nhiều vương triều hùng mạnh mà mọi hậu quả thì nhân dân là người phải hứng chịu.


-Sự tham quyền cố vị.


Khi người cầm quyền không thực sự còn khả năng và mất uy tín trước đối tượng, họ không xứng đáng với sự ủy quyền của xã hội hay sự trao quyền của ai đó nhưng họ bằng mọi cách họ giữ lại địa vị vốn có trước đó của họ. Khi đó họ không từ một thủ đoạn nào để loại trừ đối thủ nên quyền lực bị tha hóa hết sức nhanh chóng. Mục tiêu của việc thực hiện quyền lực là để giữ quyền lực chứ không phải là để phụng công. Các thế lực thù địch với người tham quyền cố vị sẽ ngày càng nhiều hơn phần vì bản thân họ bị đàn áp, phần thì họ không phục, phần khác là do khi đó có nhiều thế lực cùng nhòm ngó để giành lấy quyền lực. Sự giằng co giữa các thế lực cũ lạc hậu, phản động với những thế lực cấp tiến và các lực lượng thù địch sẽ dẫn tới mâu thuẫn cần được giải quyết bằng cách mạng xã hội. Đó sẽ là kết quả tất yếu của sự tha hóa kiểu này.


–Sự quan liêu.


Sự quan liêu là biểu hiện của sự tha hóa mà chủ thể của quyền lực không bám sát vào thực tế, không dựa trên những cơ sở thực tế trong quá trình hành xử quyền lực. Thông thường, khi quyền lực được thiết lập, tự nó đã có khuynh hướng thoát ly khỏi người trao quyền. Quyền lực công cộng của toàn xã hội (quyền lực công) dần dần bị biến đổi, dần dần xa rời bản chất ban đầu của nó. Nhân dân – khách quan là người đã ủy quyền để tạo nên quyền lực công – đã dần dần không còn kiểm soát được nó nữa, thậm chí mất hẳn quyền lực và trở thành nạn nhân của các tệ chuyên quyền, lạm quyền. Những người đại diện ban đầu của nhân dân đã trở thành giai cấp thống trị, trở nên xa lạ với nhân dân, thành kẻ áp bức, bóc lột nhân dân. Quyền lực công dần bị tha hóa, biến thành quyền lực chính trị thuần túy của giai cấp thống trị. Trong quá trình đó, giai cấp thống trị đã biến nhà nước – một cơ quan công quyền – thành một công cụ thống trị giai cấp.


Quá trình phát triển của lịch sử chính trị đã cho thấy sự tha hóa quyền lực nhà nước thường diễn ra theo hướng bảo vệ lợi ích ích kỷ của giai cấp thống trị. Vì thế, để có thể có đủ sức mạnh bảo vệ đặc quyền của mình, giai cấp thống trị thường tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng: đồ sộ hơn mức cần thiết, bộ máy quan liêu nhiều tầng nấc và phức tạp hơn nhu cầu quản lý; đội ngũ quan lại ngày càng đông đảo hơn nhu cầu thực tế; chi phí cho nhà nước ngày càng tăng cao hơn mức cần thiết. Bốn yếu tố này là điều kiện sống còn của nhà nước bóc lột chuyên chế, quan liêu. Bởi vì chỉ nhờ vào các yếu tố này nhà nước mới tự nuôi sống nó bằng các phương thức vơ vét, bóc lột nhân dân, và tham nhũng chỉ là một loại hành vi của quá trình tự nuôi sống của nhà nước quan liêu, chuyên chế hoặc gọi cách khác là dã man (khác với nhà nước văn minh) mà thôi.


Trong lịch sử loài người, từ lúc tan rã của chế độ công xã thị tộc, cùng với sự xuất hiện của cải thặng dư và việc chiếm hữu của cải thặng dư, cùng với xuất hiện giai cấp và bắt đầu hình thành bộ máy cai trị của tầng lớp giàu có, khi mà thị tộc đã không thể giúp đỡ được con người, con người cần đến nhà nước và nhà nước đã ra đời, nhưng lại nằm trong tay kẻ mạnh, thì chủ quyền nhà nước – vốn từ nhân dân – tự nhiên đã thuộc về kẻ mạnh. “Chúng được tôn kính như thần thánh, chúng xét xử và trừng phạt, giải quyết các cuộc tranh chấp” (Ghêxioot). Tầng lớp này tạo ra luật pháp để cho mọi người phải thừa nhận sự thống trị của họ. Lúc này pháp luật hoàn toàn thuộc vào kẻ mạnh.


– Sự tập trung quyền lực quá đáng.(sự độc đoán, chuyên quyền).


Xét về nguồn gốc hợp pháp, quyền lực có nguồn gốc từ xã hội. Nhưng quyền lực ấy không dàn trải trong toàn xã hội mà phải có người đại diện để thống nhất quyền lực và điều đó là cần thiết. Do đó mà phải có hình thức xã hội trao quyền. Tuy nhiên, quá trình hành xử của quyền lực đã dần làm cho nó trở nên quan liêu và thoát ly khỏi xã hội, người được xã hội trao quyền muốn thâu tóm, khống chế quyền lực bằng một cơ chế tập trung quyền lực cao độ về tay mình. Điều đó làm xuất hiện nguy cơ của cách hành xử quyền lực một cách độc đoán, chuyên quyền với các thủ đoạn chính trị cực đoan, trấn áp tất cả các thế lực chống đối, từ đó tuyệt đối hóa quyền lực của mình. Nhiều chính thể quân chủ chuyên chế đã hình thành từ sự tập trung quyền lực một cách quá đáng mà hậu quả của nó là sự triệt tiêu nền dân chủ, tước đoạt tự do của con người, vô hiệu hóa cơ chế cạnh tranh quyền lực một cách lành mạnh để phát hiện và sử dụng những nhân tố mới và tích cực


– Sự phân tán quyền lực.


Đây là xu hướng ngược lại với sự tập trung quyền lực. Sự phân quyền có nguy cơ làm cho quyền lực nhà nước yếu đi vì về nguyên tắc, quyền lực nhà nước là thống nhất. Sự phân quyền nếu có thì đó phải là sự phân công để phối hợp và có thể kiểm soát được nhau để tránh nguy cơ tập quyền quá đáng, còn nếu đó là sự chia sẻ quyền lực thì quyền lực sẽ bị phân tán. Thời kỳ đầu của chế độ phong kiến, chính quyền trung ương thực hiện sự tản quyền là cần thiết để kiểm soát và quản lý lãnh thổ rộng lớn nhưng các chư hầu có xu hướng ngày càng thoát ly khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương và thôn tính lẫn nhau, nạn phân quyền cát cứ là biểu hiện điển hình của sự phân quyền. Hậu quả là nội chiến xảy ra liên miên mà triều đình không kiểm soát nổi dẫn đến cảnh nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn… Hiện nay, sự phân quyền được biến tướng dưới dạng như cục bộ địa phương, lợi ích bản vị, chia bè kéo cánh …làm mất đi tính thống nhất về quyền lực nhà nước cũng như lợi ích của quốc gia, dân tộc.


-Nạn kiêu binh.


Quyền lực có thể được hình thành bằng cách suy tôn nhưng không phải bao giờ sự suy tôn cũng do uy tín của người được suy tôn mà có thể sự “suy tôn” là nhằm mưu đồ chính trị và để phục vụ cho một bộ phận nào đó có thế lực đã đứng ra “suy tôn”. Sự “suy tôn” biến tướng này chính là biểu hiện của nạn kiêu binh. Khi đó, người nắm quyền lực dễ dàng bị thao túng, bị “giật dây” bởi các thế lực công thần. Ngược lại, để “trả ơn” cho họ, người được “suy tôn” dễ dàng dung túng, bỏ qua những biểu hiện quá khích, bất chính của các thế lực công thần này. Quyền lực bị biến thành một công cụ, một thứ “trò chơi chính trị” của các kiêu binh, công thần và xã hội phải chịu khuất phục trước các thế lực này. Nhà nước tư sản thời kỳ tư bản lũng đoạn nhà nước là một ví dụ điển hình cho sự tha hóa này.


Ngoài những biểu hiện trên, sự tha hóa và hậu quả của sự tha hóa của quyền lực còn có những biểu hiện khác nữa nhưng nói chung, dù có biểu hiện như thế nào thì các khuynh hướng tha hóa tiêu cực của quyền lực cũng đều gây ra hậu quả xấu cho xã hội và ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước. Do vậy, cần phải có các biện pháp nhằm hạn chế sự tha hóa của quyền lực mặc dù không thể loại bỏ ngay được chúng ra khỏi quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực.


4. Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hạn chế sự tha hóa của quyền lực.


Sự tha hóa của quyền lực có tính tất yếu mặc dù chúng ta không mong muốn và đã có nhiều biện pháp để loại trừ. Xã hội càng văn minh thì nguy cơ tha hóa của quyền lực càng có xu hướng giảm đi nhưng tính chất của sự tinh vi lại tăng lên. Sự giảm nguy cơ này không hẳn do người nắm giữ quyền lực trở nên tốt hơn mà do nhân loại đã tìm ra nhiều biện pháp để hạn chế nguy cơ đó và sự nhận thức về quyền lực và ý thức về trách nhiệm của bản thân con người trong xã hội cũng như của người cầm quyền cũng cao hơn. Chính ý thức đó đã giúp cho người ta đã trở nên kiên quyết hơn trong việc đấu tranh chống lại sự tha hóa của quyền lực.


Ông Lý Quang Diệu- nguyên thủ tướng Singapo đã từng nói đại thể là làm thế nào để người ta không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không thèm tham nhũng. Đây có thể coi là định hướng đối với việc chống lại nguy cơ tha hóa quyền lực trong điều kiện hiện nay vì các nguy cơ tha hóa như lạm quyền, lộng quyền… đều chủ yếu hướng tới việc trục lợi để tham nhũng. Trong quan điểm trên, để không thể tham nhũng thì phải có một hệ thống pháp luật chặt chẽ, hợp lý, không có kẽ hở để có thể lợi dụng, để không dám tham nhũng thì pháp luật phải thật nghiêm, để không thèm tham nhũng thì phải có chế độ ưu đãi thỏa đáng và phải có đội ngũ công chức có phẩm chất đạo đức tốt. Đây là điều rất khó thực hiện ngay vì cần phải qua một qua trình nhận thức, tìm kiếm lâu dài với trình độ về chuyên môn cũng như phẩm chất đạo đức của chính người làm luật. Do vậy, xin nêu một số kiến nghị và giải pháp sau:


Thứ nhất, kiến nghị về quá trình xây dựng luật là cho nhiều bộ phận khác nhau tham gia xây dựng dự án để loại trừ tình trạng cục bộ ngành, loại trừ nguy cơ biến sự độc quyền của nhà nước thành độc quyền của ngành, đồng thời tổ chức phản biện xã hội rộng rãi để lường trước những hậu quả phát sinh từ chính pháp luật và quá trình thực hiện luật.


Ở Việt nam hiện nay có tình trạng tương đối phổ biến là giao việc xây dựng các dự án luật cho các cơ quan quản lý thực hiện nên luật được ban hành chủ yếu theo hướng thuận lợi cho việc quản lý và thường xuyên thể hiện dấu ấn lợi ích cục bộ cho ngành. Như vậy thì nguy cơ tham nhũng đã nằm ngay trong hệ thống pháp luật vì các hệ thống cơ quan quản lý đã chuẩn bị trước về điều kiện cho việc sử dụng và bảo vệ quyền lực của mình ít nhất là trong lĩnh vực mà mình quản lý.


Thứ hai, về quá trình thành lập các cơ quan trong bộ máy nhà nước và hoạt động của chúng. Có thể thấy một hiện thực không mấy tích cực trong thực tế của việc thành lập cũng như hoạt động của các cơ quan đại diện dân cử hiện nay. Đó chính là tình trạng nhân dân không thực sự hào hứng trong việc bầu cử ra những người được coi là đại diện cho ý chí nguyện vọng của chính họ. Nguyên nhân chính của sự thơ ơ này nằm ở chỗ nó không thiết thực và gắn bó lợi ich của chính họ. Xu hướng hiện nay là nên có ít các đầu mối chính quyền theo thiết chế đại diện vì tính hình thức và tốn kém của nó. Thực chất hoạt động của Hội đồng nhân dân nhiều cấp không mang lại hiệu quả như mong muốn, trong khi đó kinh phí để tổ chức một kỳ bầu cử và duy trì hoạt động cho những cơ quan này là không hề nhỏ. Điều đáng buồn là người dân Việt Nam trên thực tế lại quan tâm đến việc bầu cử tổng thống ở Hoa kỳ nhiều hơn việc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân các cấp vì có lẽ người ta cho rằng ai lên làm tổng thổng nước Mỹ lại quan trọng hơn và ảnh hưởng tới cuộc sống của người ta nhiều hơn. Mặt khác người ta theo dõi rất sát sao việc tranh cử tổng thống diễn ra như thế nào, tổng thống đó sẽ làm gì và thực chất đã làm được gì cho cử tri so với những gì họ đã hứa khi tranh cử. Chính vì không có sự kiểm soát thực sự người ra tranh cử có tư cách, phẩm chất gì, thực tế làm được gì nên cử tri Việt nam không quan tâm đến quyền bầu cử của chính mình. Sự tồn tại của nhiều cấp hội đồng nhân dân có thể đã làm phân tán quyền lực của nhà nước, mặt khác nhân dân khó có điều kiện để lựa chọn người xứng đáng để đại diện cho ý chí và nguyện vọng của họ vì không có hoặc có chỉ là hình thức việc tranh cử để các ứng cử viên bộc lộ phẩm chất của họ. Hơn thế nữa, việc quy định của pháp luật cho cử tri quyền bãi miễn tư cách của các đại biểu mà không có cơ chế nào cho sự bãi miễn và cũng chưa từng có việc đại biểu dân cử bị cử tri bãi miễn khi họ đã bị thoái hoá, biến chất nên cử tri không thấy mình có thực quyền do đó họ không mặn mà với quyền của mình vì họ cho rằng có bầu hay không bầu và bầu nên ai thì cũng vậy. Vì vậy, nên nghiên cứu và áp dụng cơ chế tự quản của các cộng dân cư cho phép các cử tri tự quyết định ai là người đại diện cho họ và quyền xem xét sự đại diện đó có xứng đáng không. Quyền lực đó không phải là quyên lực nhà nước nên ít có khuynh hướng tha hoá và dễ được kiểm soát, đồng thời nó có khuynh hướng như một sự đối trọng để kiểm soát sự tha hoá quyền lực của các cấp chính quyền địa phương.


Thứ ba, nên nghiên cứu và áp dụng chế độ khảo hạch đối với các công chức trong bộ máy nhà nước như một số triều đại phong kiến Việt Nam đã thực hiện trước đây để loại trừ những công chức kém năng lực, biến chất.


Đội ngũ công chức nhà nước phải là những người được tuyển chọn nhờ năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị và đạo đức tốt. Tuy nhiên, trong quá trình tuyển chọn có thể do sơ xuất hoặc do cố tình sắp xếp, chạy chọt để được biên chế vào các cơ quan nhà nước mà không ít công chức kém phẩm chất vẫn “lọt lưới”. Một thực tế cho thấy, ở vị trí nào càng có điều kiện tham nhũng và lạm quyền, lộng quyền thì càng có nhiều người chạy chọt để có được một vị trí công tác ở đó. Khi đã có được vị trí đó thì họ phải tìm cách để “hoàn vốn” và lợi dụng vị trí đó để trục lợi. Việc khảo hạch thường xuyên sẽ hạn chế được cả sự chạy chức, chạy quyền lẫn việc lợi dụng chức quyền. Tuy nhiên khi thực hiện chế độ khảo hạch phải có quy trình chuẩn xác bởi nếu không có thể xảy ra sự lạm quyền từ những người thực thi việc khảo hạch để “ban phát ân huệ” và bỏ qua những công chức kém phẩm chất và sự tha hoá của quyền lực này lại nảy sinh từ chính chế độ khảo hạch.


Thứ tư, ngoài chế độ lương, nên có chính sách khen thưởng thích đáng để động viên đối với người có năng lực thực sự và có nhiều thành tích. Điều này là hoàn toàn chính đáng vì hiện nay vẫn còn tồn tại chế độ cào bằng giữa người có năng lực với người không có năng lực, người có nhiều đóng góp với người ít công lao. Sự khen thưởng không chỉ ở các giá trị vật chất mà còn cả sự cất nhắc trong vị trí công tác.


Hiện nay, có hiện tượng rất nhiều công chức giỏi xin thôi việc và ra ngoài dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám trong đội ngũ công chức nhà nước mà nguyên nhân thì có nhiều như chế độ đãi ngộ không thỏa đáng theo năng lực và sự đóng góp, phần thì do việc bố trí vị trí công tác không phù hợp để lãng phí năng lực. Mặt khác, do một số người tham quyền cố vị mà người có năng lực không thể được đề bạt, cất nhắc nên họ sinh ra tâm lý bất mãn. Đây là biện pháp có tính thống nhất với biện pháp thứ ba.


Thứ năm, phải quy định và sử dụng các biện pháp xử lý nghiêm hơn nữa đối với các trường hợp vi phạm trong quá trình thực hiện quyền lực do cố ý. Những người có địa vị càng cao thì hậu quả của sự vi phạm càng lớn, sự lợi dụng quyền lực càng nhiều và tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ” càng có điều kiện mở rộng, bản thân người có quyền sẵn sàng “hy sinh đời bố để củng cố đời con”. Các biện pháp xử lý nghiêm được áp dụng sẽ buộc người ta phải cân nhắc thiệt hơn khi muốn làm điều gì sai trái. Đây chính là phương châm mà ông Lý Quang Diệu đã đề xuất là “không dám tham nhũng”.


Thứ sáu, việc kiểm soát quyền lực để hạn chế xu hướng lạm quyền, lộng quyền bằng cách phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được tăng cường hơn nữa.


Hiện nay, có nhiều hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên công quyền không được kiểm soát tốt nên vi phạm xảy ra rất nhiều mà việc phát hiện lại không phải là từ phía nhà nước. Nguyên nhân là do chính các cơ quan và các nhân viên công quyền bao che cho nhau hoặc liên kết với nhau để tạo ra một khu vực đặc quyền cho họ như một thứ thành trì vững chắc. Nhiều vi phạm được phát hiện khi nội bộ có sự mâu thuẫn hoặc bị tố cáo. Như vậy thì sự kiểm soát quyền lực bởi các cơ chế pháp lý đã không phát huy hiệu quả. Do đó sự phân công phối hợp giữa các co quan trong quá trình thực thi quyền lực để có để giám sát và kiểm soát lẫn nhau cần phải được xem xét lại. Chẳng hạn việc việc bỏ án không chuyển hồ sơ cho Tòa án xét xử của viện kiểm sát Hà tây trước đây là một ví dụ về việc không có ai kiểm tra, giám sát hoạt động của viện kiểm sát mặc dù viện lại có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tố tụng khác hay việc chất vấn của các đại biểu trong hệ thống cơ quan quyền lực với các cơ quan khác còn mang tính chất hình thức nhiều hơn thực chất. Tất nhiên, để thực hiện được giải pháp này, cần phải có một hệ thống các điều kiện như chất lượng đội ngũ công chức, chất lượng pháp luật, trình độ dân trí, văn hóa pháp lý… đi cùng.


Việc chống lại hay hạn chế nguy cơ tha hóa của quyền lực nhà nước là việc làm không dễ nhưng cũng không phải là không thể. Nó đòi hỏi một hệ thống đồng bộ các biện pháp pháp lý, vật chất… liên quan đến cả chất lượng cuộc sống, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa, sự phát triển kinh tế… Nhưng đầu tiên nó đòi hỏi sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, của mỗi công dân và của chính các công chức trong bộ máy nhà nước. Xã hội ngày càng trở nên văn minh, nền dân chủ ngày càng được củng cố và mà rộng. chúng ta có thể tin tưởng vào một xã hội tốt đẹp mà ở đó quyền lực nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân và vì nhân dân để quyền lực của nhà nước không bị ai lợi dụng, thao túng hay bị tha hóa trong quá trình trao quyền cũng như thực hiện và kiểm soát quyền lực.


___


[1] C. Mác, Ph. Ăngghen, Tuyển tập, T 6,  Nxb Sự  thật, H. 1984, tr 263 – 264


thongtinphapluatdansu.edu.vn


 


Tham vọng quyền lực và sự tha hóa


Vũ Ngọc Hoàng.TCCS


Lịch sử thế giới đã chứng minh mỗi quốc gia chỉ có thể thành công khi việc trao quyền lực được thực hiện một cách đúng đắn, bảo đảm mọi quyền lực thực sự là của nhân dân và có cơ chế kiểm soát để người được trao quyền không bị thoái hóa, biến chất. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, một quốc gia muốn thành công cần phải có phương thức lãnh đạo trao quyền cho những người có đạo đức, có tài năng và cần tập trung kiểm soát quyền lực, bổ sung các cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi trong đảng và trong xã hội.


    Trong buổi bình minh của nhân loại, khi con người còn hoang sơ, cuộc sống còn phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, người ta đã nghĩ và tin rằng, quyền lực thuộc về tự nhiên, do các thần linh nắm giữ. Sau đó, nhờ trình độ nhận thức tăng lên, con người đã dần dần nhận ra và phân biệt được sức mạnh của tự nhiên và sức mạnh của mình trong chế ngự tự nhiên và quản lý xã hội. Từ đó quyền lực bắt đầu xuất hiện.


    Quyền lực, khởi nguyên là của nhân dân, của cộng đồng mà không phải cá nhân ai bỗng nhiên có được. Khi mọi người tự nguyện đồng lòng tôn vinh ai đó là thủ lĩnh, là người phụ trách để thay mặt họ xử lý công việc chung, thì đồng thời cũng là trao quyền lực cho người ấy. Bắt đầu từ đó, người thủ lĩnh, người phụ trách có quyền lực. Về bản chất thì quyền lực không phải của họ mà họ được nhân dân trao quyền, ủy quyền để sử dụng cho mục đích chung.


    Khi quyền lực được trao cho người có nhân cách tốt thì nó được sử dụng đúng mục đích, bảo vệ và đem lại lợi ích cho cộng đồng. Người xưa có câu: “Đức trọng, quyền cao”. Câu ấy có thể hiểu là dựa trên cơ sở của đạo đức, nhân cách mà trao quyền lực. Người có đạo đức là mười thì có thể trao quyền lực đến bảy, tám, tức là trao quyền lực ít hơn, càng không trao vượt quá. Người có đạo đức ít, thấp mà trao quyền lực nhiều, cao thì vô cùng nguy hiểm, giống như “gửi trứng cho ác”, sai lầm, tai họa là nhất định không tránh khỏi. Theo đó, người có chức quyền càng lớn thì đạo đức, nhân cách phải càng lớn hơn. Không biết từ bao giờ, câu “Đức trọng, quyền cao” lại bị người ta nói chệch sang là “Chức trọng, quyền cao”, tức là trọng chức tước chứ không phải trọng nhân cách.


    Khi quyền lực trao cho người không đủ nhân cách, thì nó trở thành công cụ phục vụ cho lợi ích cá nhân, “lợi ích phe nhóm”, thậm chí là công cụ để làm việc ác. Trong lịch sử thế giới và Việt Nam đã có nhiều trường hợp nhân dân trao quyền và bị mất quyền, trở thành đối tượng cho quyền lực cai trị. Như vậy, quyền lực có thể đem lại công bằng, hạnh phúc và cũng có thể đem lại tai họa, đau khổ cho con người. Điều đó phụ thuộc vào việc quyền lực được trao vào tay ai.


    Trong thực tế đời sống xã hội có nhiều trường hợp quyền lực của một cộng đồng đã bị người khác (hoặc một nhóm người) dùng thủ đoạn tước đoạt, tranh cướp mất. Quyền lực vốn là của nhân dân, nhưng trong chế độ chiếm hữu nô lệ, các chủ nô đã chiếm giữ và sử dụng nó để cai trị xã hội, biến nhân dân (vốn là chủ nhân của quyền lực) thành những người bị mất quyền, phải làm nô lệ. Trong chế độ phong kiến, quyền lực của nhân dân rơi vào tay vua và tập đoàn phong kiến, còn nhân dân nói chung không có quyền, ngoài một số quyền ít ỏi nào đó do nhà vua ban cho; ngay cả đến quyền sống cũng không có, “ý vua là ý trời”, vua đại diện cho pháp luật, muốn giết ai thì giết, thậm chí giết luôn cả dòng họ, cả mấy đời (tru di tam tộc, tru di cửu tộc) của người đó. Thời kỳ đầu của chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền lực do giai cấp tư sản, nhất là giới tài phiệt chi phối, chiếm giữ và sử dụng. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã tiến bộ rất nhiều theo hướng dân chủ, tuy vậy, nhìn chung, giới tài phiệt ở các nước vẫn còn chi phối đáng kể quyền lực. Dân chủ là một vấn đề khách quan, tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, nhất là trình độ dân trí, quan trí và sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.


    Quyền lực luôn có mặt trái là làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng quyền lực nếu như họ không đủ nhân cách. Với những người như vậy, nếu quyền lực mà họ nắm giữ càng lớn thì nguy cơ tha hóa của họ càng nhiều. Một người khi giữ chức vụ thấp hơn thì nguy cơ tha hóa ít hơn. Mặc dù vậy, nói chung phần lớn quan chức đều tham vọng có nhiều quyền lực. Không có gì hấp dẫn, cám dỗ bằng quyền lực. Nó là “ma túy” gây nghiện, là “ma quỷ” xui khiến. Khi có quyền lực là có thể có gần như tất cả, nếu muốn. Vì vậy, quyền lực hấp dẫn bằng các thứ hấp dẫn khác cộng lại. Người ta đam mê nó, suốt ngày nghĩ về nó, dùng mọi thủ đoạn sống chết để giành và giữ lấy nó, dù phải mất nhân cách, dù phải làm việc ác. Có quyền lực rồi thì muốn có quyền lực lớn hơn, lớn rồi vẫn chưa đủ lại muốn lớn hơn nữa. Cứ thế, gần như không có điểm dừng, thậm chí không cần biết có nhiều quyền lực để làm gì. Bản thân việc ấy đã là biểu hiện của sự tha hóa. Quyền lực làm tha hóa con người một cách nhanh nhất. Không ít người chỉ cần sau một cuộc bỏ phiếu hoặc sau một quyết định phong chức, họ có thể bỗng nhiên khác hẳn, họ bắt tay theo kiểu khác, chào hỏi kiểu khác, dáng đi bệ vệ hơn, nói năng ra oai hơn…


    Quyền lực không chỉ làm tha hóa mấy con người cụ thể, mặc dù đúng là bắt đầu từ đó, mà còn làm tha hóa cả một chế độ, một vương triều. Nhìn lại các triều đại phong kiến Việt Nam, hầu hết, lúc đầu được nhân dân ủng hộ lên nắm quyền, làm được nhiều việc lớn cho đất nước, dân tộc nhưng sau đó thì bị tha hóa bởi quyền lực, từ tha hóa ở một số người đến một bộ phận rồi thành việc phổ biến của một vương triều, rồi sụp đổ, vương triều khác lên thay, sau một thời gian lịch sử lặp lại y như vậy. Nhà Ngô, nhà Đinh, Tiền Lê có công lớn nhưng mỗi triều đại chỉ tồn tại trong khoảng 15 – 30 năm. Nhà Lý, nhà Trần nhiều lần đánh thắng quân Tống và quân Nguyên nhờ biết “lấy dân làm gốc” mà chiến thắng, cầm quyền được lâu nhất, trên dưới 200 năm mỗi triều đại, dù vậy nhưng cuối cùng cũng do bị tha hóa mà kết thúc. Nhà Hồ tồn tại quá ngắn, mặc dù có một số tư tưởng và chủ trương cải cách nhưng ngay từ khi mới lên đã không được dân chúng đồng tình, mâu thuẫn quyền lực trong giới quý tộc và mất nước vào tay ngoại xâm. Nhà Hậu Lê (Lê sơ) mặc dù lúc đầu được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ, đứng lên làm khởi nghĩa Lam Sơn, thắng giặc Minh hung bạo, nhưng khi lên cầm quyền rồi lại tha hóa, sát hại các trung thần vì họ can ngăn những việc làm sai trái và sợ họ chi phối quyền lực. Nguyễn Trãi cũng bị mưu hại trong giai đoạn này. Nhờ có minh quân mà nhà Hậu Lê gượng lại được một thời gian gần trăm năm, nhưng cuối cùng cũng tha hóa. Nhà Mạc cũng vậy, chỉ tồn tại khoảng 65 năm. Tiếp theo là thời kỳ vừa có vua, vừa có chúa, chúa giành nắm hết quyền lực, nhiều khi vua chỉ là hình thức cho có vì, các chúa cũng tranh giành nhau quyền lực, đến mức phải cát cứ vùng này, vùng kia, chia cắt đất nước ra để mỗi bên cai trị một vùng. Triều Tây Sơn với chiến công oanh liệt, lẫy lừng là thế, vậy mà sau khi Quang Trung mất thì tha hóa, tham nhũng và sụp đổ, tồn tại chỉ có 24 năm. Phần lớn các triều đại ấy đã thoái hóa ngay cuối đời vua thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, chứ không lâu, ngoại trừ một ít trường hợp. Lâu nay lịch sử nước ta đã ghi lại khá rõ các chiến công lừng lẫy của cha ông, nhưng lịch sử chưa viết kỹ về thời kỳ suy thoái, sự tha hóa quyền lực và nhất là nguyên nhân của nó. Đây rất có thể là một khiếm khuyết trong viết sử. Chính vì vậy mà không rút được kinh nghiệm đầy đủ để phòng ngừa, nên tha hóa quyền lực cứ lặp đi lặp lại.


    Liên Xô trước đây cũng vậy, thời kỳ đầu thực hiện khá tốt tư tưởng nhà nước của dân, quyền lực về tay các xô-viết là cơ quan thật sự đại diện cho đại đa số nhân dân, làm việc vì nhân dân nên đã lập nên nhiều công tích lớn lao, vĩ đại, đánh thắng 14 nước đế quốc đến bao vây, bảo vệ được chính quyền nhân dân non trẻ, chiến thắng trong Đại chiến thế giới thứ 2, cứu nhân loại khỏi thảm họa phát-xít, thực hiện thành công công nghiệp hóa ở một đất nước rộng lớn nhất thế giới trong thời gian ngắn, đưa một nước chủ yếu còn nông nghiệp, thủ công lên thành một nước công nghiệp hàng đầu thế giới, một cường quốc, dẫn đầu nhiều lĩnh vực; vậy mà sau đó không lâu giới lãnh đạo đất nước bị tha hóa về quyền lực, về đạo đức, bảo thủ và giáo điều, không chịu đổi mới, ai nói khác thì bị quy chụp là “xét lại”, là “muốn đưa đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”… và cuối cùng thì Liên bang Xô-viết bị sụp đổ đến mức khó hiểu nổi. Trước đây có nhiều lần giải thích rằng, Liên Xô đổ là do các thế lực thù địch phá bằng thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Địch thì lúc nào chẳng phá, do nó phá nên mới gọi là địch, mà phá sao bằng trước đó, khi 14 nước đế quốc đến bao vây Nhà nước Xô-viết còn non trẻ, khi trong Đại chiến thế giới thứ 2 quân đội phát-xít tập trung toàn lực tấn công Liên Xô làm chết hàng chục triệu người. Liên Xô sụp đổ chính là “tự đổ”, do suy thoái, tha hóa mà đổ. Liên Xô đã tự đánh gục chính mình.


    Sự tha hóa về quyền lực có thể dẫn đến cha con, anh em, chồng vợ giết nhau, người ta giết cả vua, gây ra những cuộc chiến tranh mất bao nhiêu sinh mạng để tranh giành quyền lực, thậm chí người ta bán rẻ Tổ quốc và đem dân tộc làm nô lệ cho ngoại bang để đổi lấy ngai vàng.


    Tất nhiên trong xã hội thời nào cũng có nhiều người tốt, nhiều nhân cách đáng trọng. Đối với họ, quyền lực được giao là để phụng sự nhân dân, dùng để bảo vệ dân, đất nước và bảo vệ lẽ phải, đạo nghĩa, chống gian trừ tà. Họ luôn sẵn sàng trao trả quyền lực trở lại cho nhân dân khi đủ điều kiện. Đã có những ông quan thanh liêm treo ấn từ quan vì xét thấy mình không còn đủ sức gánh vác chuyện sơn hà hoặc là không muốn có lỗi với dân vì không ngăn cản nổi những điều ngang trái. Đã có những ông vua từ bỏ ngai vàng, trao quyền lực cho lớp người trẻ, kể cả vào chùa để thúc đẩy các công việc thánh thiện cho đời và cho muôn dân.


    Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, giành lại được một đất nước đã mất, người có công lớn nhất lãnh đạo cuộc cánh mạng là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng lúc đầu Người kiên quyết từ chối làm Chủ tịch nước, không muốn công danh quyền lực. Chỉ khi tập thể phân tích đây là trách nhiệm trước quốc dân đồng bào, là gánh vác trọng trách và khó khăn, Người mới nhận lãnh trách nhiệm, phát biểu trước đồng bào sẽ làm hết sức mình để phụng sự nhân dân và mong nhanh có người thay thế để được về vui sống với điền viên, giản dị và thanh bạch. Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng cũng là một con người như vậy. Khi đang ở ẩn trong vườn mít ở miền tây tỉnh Quảng Nam, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra làm Phó Chủ tịch nước, rồi làm Quyền Chủ tịch nước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, ông không cần mong vinh hoa phú quý, chỉ đem toàn bộ tâm lực phục vụ nhân dân. Đó là những con người có nhân cách lớn, quyền lực không đe dọa được và cũng không cám dỗ được. Thời gian vừa qua, ở nơi này nơi khác, thỉnh thoảng có những đồng chí bí thư thành ủy, thường vụ tỉnh ủy đã tự nguyện chủ động từ chức sớm, khi chưa hết tuổi và chưa hết nhiệm kỳ, để những vị trí lãnh đạo cho các đồng chí trẻ hơn… Tất cả những con người ấy đều đáng trân trọng, không được “vơ đũa cả nắm” đối với những người có quyền lực được trao.


    Ngược lại, trong xã hội, ở chốn quan trường, không ít người đầy tham vọng quyền lực. Khi quyền lực được gắn với chữ “tham”, lòng tham, thì đó chính là động cơ, nguyên nhân và biểu hiện của tha hóa quyền lực. Không thể hy vọng và tin tưởng gì ở họ, ngược lại phải hết sức cảnh giác, đề phòng bị lừa phỉnh, phủ dụ, mị dân, đừng “gửi trứng cho ác”, đừng đem sự nghiệp của dân, của nước trao vào tay họ.


    Mặt khác, quyền lực không thể trao cho ai mà không cần kiểm soát. Nó là con dao hai lưỡi. Nó có thể biến người sử dụng nó từ một người chưa xấu trở thành người xấu, biến người sử dụng nó thành nô lệ cho nó. Mấy chục năm sau khi thống nhất đất nước, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng Đảng. Nội dung các văn bản ấy nhìn chung đều đúng, không sai, việc tổ chức thực hiện cũng tích cực, thậm chí có lúc vất vả nữa, nhưng tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “mua quan bán chức”,… gọi chung là thoái hóa, không dừng lại mà còn tăng lên, lan rộng hơn, gây nhức nhối hơn, làm cho lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước tiếp tục giảm sút đến mức báo động. Vì sao vậy? Chắc chắn không phải việc chống các tiêu cực ấy là ta chủ trương giả vờ, không chống thật; mà là chống chưa được, chưa hiệu quả. Vậy còn thiếu cái gì? Có hai vấn đề còn thiếu, coi như chưa làm, mà nếu không làm thì không khắc phục được tình trạng trên và có thể nó sẽ còn tiếp tục trở nên xấu hơn, không tránh được. Đó là tập trung kiểm soát quyền lực và bổ sung mạnh các cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội.


    Quyền lực, như đã nói, luôn có mặt trái là làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng nó mà không đủ nhân cách. Nó như con dao hai lưỡi, con ngựa bất kham, luôn lồng lên quật ngã những người cưỡi nó, nếu họ không đủ nhân cách, bản lĩnh, năng lực cầm cương. Nhất thiết phải kiểm soát quyền lực, không thể chủ quan, lơ là, không thể đùa với lưỡi dao nhọn. Đã có rất nhiều bài học thực tiễn, thực tế đã chứng minh điều đó; phải bàn kỹ và có quyết tâm chính trị để thực hiện. Đảng ta phải tập trung cao, tích cực lãnh đạo công việc này. Đây là công việc quan trọng vào bậc nhất, trong đó có các việc, như cơ cấu và phân bổ lại chức năng, quyền hạn của các cơ quan nhà nước theo hướng kiểm soát và điều chỉnh lẫn nhau (để Nhà nước thật sự là một cơ thể thống nhất và tự kiểm soát, tự điều chỉnh được mình, có sức đề kháng cao với căn bệnh thoái hóa quyền lực, có khả năng sửa sai nhanh nhất…); đổi mới căn bản nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó có phương thức lãnh đạo xây dựng Nhà nước thật sự của nhân dân, bảo đảm quyền lực là của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước. Ủy quyền mà không mất quyền. Ủy quyền và kiểm soát được quyền lực, không để lộng quyền.


    Một dân tộc muốn tiến lên cần phải có bộ tham mưu chiến lược. Có sự lãnh đạo của một đảng chân chính và trí tuệ là yêu cầu khách quan. Nhưng khi trở thành đảng cầm quyền thì hoạt động của đảng không tránh khỏi có nhiều việc liên quan với quyền lực. Đảng ta luôn ý thức về sự lãnh đạo của mình chủ yếu phải bằng giá trị (văn hóa) chứ không phải bằng quyền lực, và Đảng phải nghĩ ra các cơ chế để đảng viên, nhân dân và pháp luật kiểm soát mình, kể cả nhân cách và việc sử dụng quyền lực, để Đảng được rèn luyện liên tục, thường xuyên; từ đó mà không bị thoái hóa và ngày càng trưởng thành hơn. Thực hiện điều ấy bằng cơ chế kiểm soát quyền lực và cơ chế thực thi dân chủ. Để có thể thành công, bản thân Đảng phải gương mẫu, từng cấp ủy và từng cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu, vượt qua chính mình. Đảng phải là “con” của nhân dân, là “con nòi” của dân tộc, là đứa con trung hiếu và trưởng thành, để “lòng dân yêu Đảng như là yêu con” như cách nói của Bác Hồ và nhà thơ Tố Hữu. Làm được như vậy, Đảng sẽ được nhân dân luôn tin yêu, nhờ đó mà giữ vững được vai trò lãnh đạo của mình để làm tròn sứ mệnh phụng sự nhân dân và Tổ quốc.


VNH


TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương


Nguồn: TCCS


Lord Acton – Kỳ 2: Quyền lực làm con người tha hóa


Tác giả Powell. Phạm Nguyên Trường dịch


“Quyền lực làm con người tha hóa. Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến tha hóa tuyệt đối” – Lord Acton.


Powell là biên tập viên của Laissez Faire Books và là cộng tác viên cao cấp của Cato Institute. Ông từng viết cho The New York Times, The Wall Street Journal, Barron’s, American Heritage và hơn ba chục tòa soạn báo khác.


Chủ nghĩa bảo thủ thời gian đầu


Những người đã biết những bài phát biểu hùng hồn nổi tiếng của Acton nhằm chống lại chế độ độc tài sẽ phải giật mình khi biết rằng hồi đầu ông là người theo trường phái bảo thủ.


Ví dụ, khác với những người theo phái tự do ở Manchester như Richard Cobden và John Bright, cùng với đa số người Anh khác, Acton đứng về phía các bang miền Nam trong cuộc nội chiến Mỹ. “Không thể dựa trên cở sở tôn giáo để thông cảm với việc cấm tuyệt đối chế độ nô lệ, cũng không thể dựa trên cơ sở chính trị để chia sẻ quan điểm của chủ nghĩa bãi nô”, ông viết như thế trong tiểu luận nhan đề “Những nguyên nhân chính trị của cách mạng Mỹ” (1861). Năm năm sau, trong một bài giảng về cuộc Nội chiến, Acton nhận xét rằng chế độ nô lệ “đã là một công cụ đầy sức mạnh không chỉ để làm điều ác mà còn để làm điều thiện là giữ trật tự thế giới. . . . bằng cách đánh thức, một mặt, sự hy sinh và mặt kia, lòng từ bi”. Acton từng nói với một người bạn: “Tôi đã tan nát cõi lòng khi nghe tin tướng Lee đầu hàng”.


Điều làm nhiều người ngạc nhiên là Lord Acton ủng hộ Liên Minh Miền Nam trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ (1861 tới 1865).


Trong tác phẩm “Thuyết Tin lành về ngược đãi” (1862), ông từ chối lên án cuộc đàn áp trên mọi lĩnh vực. Dường như ông bảo vệ những nhà cầm quyền Công giáo, những người tuyên bố rằng khủng bố là biện pháp gắn kết xã hội duy nhất. Ông cho rằng người theo đạo Tin Lành, như John Calvin, là những người xấu hơn vì họ khủng bố nhân dân là nhằm dập tắt những quan điểm trái ngược với họ. Trong chỗ riêng tư, Acton nói thẳng hơn: “Nói khủng bố là sai, nói trắng ra, trước hết, tôi cho là không đúng. . “.


Tuy nhiên, Dollinger và Acton đã trở thành những người phê bình thẳng thắn thái độ bất dung của Công giáo. Đối tượng của họ lúc đó là những người theo phái ủng hộ quyền lực tuyệt đối của Giáo hoàng (Ultramontanes), tức là những người tìm cách đàn áp tự do trí tuệ. Dollinger và Acton đã bàn về chính sách của Vatican, đặc biệt là sau khi Giáo Hoàng Pius IX ban hành Bản Cáo Trạng Những Sai Lầm (Syllabus of Errors) khét tiếng (1864), cáo buộc chủ nghĩa tự do cổ điển là dị giáo, trong đó có tư tưởng “Đức Thánh Cha ở Rome có thể và phải chấp nhận, và đồng ý với tiến bộ, tự do và nền văn minh”.


Acton đã có đóng góp vào việc xuất bản một loạt tờ tạp chí Công giáo với nhiệm vụ là giúp tự do hóa Nhà thờ: Tờ Rambler ra hai tháng một lần (1858-1862), tờ Home and Foreign Review (1862-1864) ra hàng quý và tờ Chronicle ra hàng tuần (1867-1868). Những nỗ lực này đã bị thất bại vào năm 1870, đấy là khi Hội đồng Vatican tuyên bố rằng Giáo Hoàng có uy quyền tuyệt đối, không thể sai lầm về tín điều của Giáo Hội. Bởi vì Dollinger là một thày tu, việc ông chấp nhận điều này làm cho ông bị rút phép thông công. Acton, chỉ là giáo dân bình thường, không bị yêu cầu chính thức thừa nhận các nghị định của Hội đồng Vatican, và ông vẫn ở trong Giáo Hội.


Cũng trong thời gian này, Acton viết một tiểu luận có tính tiên tri nhất của ông, nhan đề Quốc tịch (1862), một lời báo động sớm về chế độ toàn trị: “Bất cứ khi nào một đối tượng xác định duy nhất được đưa lên thành mục đích tối thượng của nhà nước, dù đấy có là quyền lợi của một giai cấp, sự an toàn hay sức mạnh của quốc gia, hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất, hay ủng hộ bất kỳ tư tưởng tư biện nào thì cùng với thời gian, nhà nước chắc chắn sẽ trở thành độc đoán. Để có tự do, chỉ cần hạn chế quyền lực công, vì tự do là cái duy nhất làm lợi cho tất cả mọi người như nhau và không tạo ra phe đối lập”.


Năm 1865, ở tuổi 31, Acton kết hôn với người em họ, nữ Bá tước Marie Anna Ludmilla Euphrosyne Arco-Valley. Cô dâu vừa tròn 24 tuổi, là con của Bá tước Johann Maximilian Arco-Valley. Bá tước là người giới thiệu Dollinger với Acton, vì vậy Acton và nữ bá tước trẻ tuổi đã biết nhau ngay từ khi ông bắt đầu học tập ở Bavaria. Dường như nữ Bác tước cũng chia sẻ mối quan tâm của chồng về tôn giáo và lịch sử. Họ sinh được sáu người con, bốn người sống đến tuổi trưởng thành. Trong các bữa ăn, Acton thường nói tiếng Đức với vợ, nói tiếng Ý với mẹ vợ, tiếng Pháp với chị dâu, tiếng Anh với các con và có thể nói một ngôn ngữ châu Âu khác với khách.


Tôn giáo luôn luôn nằm trong tâm trí Acton, và ông trở thành người cứng rắn hơn Dollinger, ông tuyên bố rằng các nhà sử học phải lên án cái ác. Tháng 2 năm 1879, ông đoạn tuyệt với Dollinger sau khi vị giáo sư lùi về quan điểm cho rằng vai trò của nhà sử học chỉ là giải thích sự kiện, thậm chí nếu điều đó có nghĩa là không bàn về những tội ác khủng khiếp. Acton khẳng định rằng những hành động tội ác, như giết người, bao giờ cũng là tội ác. Ông viết về Tòa án dị giáo như sau: “Tòa thánh đã gây ra những vụ giết người và tàn sát hàng loạt với quy mô lớn nhất và mức độ tàn bạo và phi nhân nhất. Họ không chỉ là những kẻ sát nhân hàng loạt, mà họ còn đưa nguyên tắc sát nhân thành luật của Giáo Hội Kitô giáo và điều kiện cho sự cứu rỗi”.


Acton than thở: “Trong quan niệm đạo đức nền tảng của mình tôi hoàn toàn cô đơn”. Ông tâm sự với người bạn của mình là Charlotte Blennerhassett như sau: “Hãy để tôi cố gắng nói càng ngắn càng tốt và không cần lập luận với bạn rằng trên thực tế cái đó rất đơn giản, rõ ràng, và không phải là câu chuyện thú vị. Đấy là câu chuyện về người đàn ông bắt đầu cuộc sống với niềm tin rằng mình là người Công giáo chân thành và người theo phái tự do chân thành; do đó ông ta từ bỏ tất cả những thứ không tương thích với tự do trong đạo Công giáo và tất cả mọi thứ không tương thích với Công giáo trong chính trị. . . . Vì vậy, tôi là một trong số những người ít suy nghĩ về những cái đang là, mà suy nghĩ nhiều về những thứ nên là, những người hi sinh thực tế vì lý tưởng, hi sinh quyền lợi vì nghĩa vụ, hi sinh quyền lực vì đạo đức”.


Trong những năm 1870, Acton không chỉ bị sốc về trí tuệ mà còn trải qua giai đoạn khó khăn trong cuộc sống. Số là, phần lớn tu nhập của ông là từ đất nông nghiệp do cha mẹ để lại, nhưng thu nhập từ trang trại lại giảm trong giai đoạn suy thoái kéo dài. Năm 1883, ông phải bán một số tài sản. Ông phải cho thuê bất động sản ở Aldenham. Tuy nhiên, ông cũng đã tìm việc làm được trả lương cao.


Acton và Gladstone


Nhờ ông bố dượng mà Acton trở thành nghị viên trong khoảng 6 năm, kể từ năm 1859 và đã gặp Gladstone ở đây. Galdstone làm thủ tướng tới ba nhiệm kì. Năm 1869, tức là ba năm sau khi Acton thất cử, Gladstone phong cho Acton chức Nam tước và ông có chân trong Viện Nguyên Lão, nhưng trong suốt thời gian ở trong quốc hội, ông chưa bao giờ tham gia tranh luận. Acton coi Gladstone là người lãnh đạo tinh thần vĩ đại và thường lặng lẽ ủng hộ ông này. Hai người đều say mê thảo luận về lịch sử và tôn giáo.


Trong những bài phê bình, Acton trách linh mục Anh giáo là Mandell Creighton, tác giả cuốn Lịch sử Giáo hoàng trong thời kỳ Cải cách, là không lên án các Giáo hoàng thời Trung Cổ – những người khởi xướng Tòa Án Dị Giáo. Nhưng Acton và Creighton đã trao đổi với nhau một cách chân tình, và Actons đã viết những dòng khó quên nhất vào ngày 05 tháng 4 năm 1887:


    “Tôi không thể chấp nhận quy tắc của ông rằng chúng ta phải đánh giá Giáo hoàng và nhà vua khác với đánh giá những người khác, với một giả định có lợi cho họ là họ không có gì sai. Nếu có bất kỳ giả định nào thì đó phải là sử dụng biện pháp khác nhằm chống lại những người nắm giữ quyền lực, biện pháp tăng khi quyền lực tăng. Không chịu trách nhiệm trước pháp luật thì phải chịu trách nhiệm trước lịch sử. Quyền lực dẫn đến tha hóa, quyền lực tuyệt đối tha hóa tuyệt đối”.


Acton là người Công giáo mộ đạo, và ông đã đưa quan điểm của mình đi xa đến mức trách cứ bạn là Gladstone, khi ông này viết bài mà ông cho là chưa xứng tầm nhằm bảo vệ Kitô giáo trước cuộc tấn công của những tiểu thuyết gia nổi tiếng. Acton nhận xét rằng những người không có tín ngưỡng đáng bị coi là đã gây ra cuộc chiến dẫn đến kết quả là Giáo Hội Kitô đã trở thành “tổ chức bất dung, chuyên chế và tàn ác kinh khủng như thế”.


Việc học tập không mệt mỏi của ông thì sao? Acton theo đuổi tư tưởng từ cuốn này sang quyển sách khác, để rồi sau đó thì bỏ. Ông đã nghiên cứu về lịch sử các Giáo hoàng, lịch sử những cuốn sách bị Giáo Hội Công Giáo cấm, lịch sử nước Anh thời James II và lịch sử Hiến pháp Mĩ. Ông đã nghĩ tới cuốn lịch sử phổ quát, chủ đề của nó sẽ là quyền tự do của con người. Nó đã trở thành giấc mơ của ông về lịch sử của tự do.


Tác giả James Bryce nhớ lại, Acton “nói như một người đầy cảm hứng, dường như đang phát biểu trên đỉnh núi cao trong không trung, ông nhìn thấy ở bên dưới con đường tiến bộ của nhân loại quanh co khúc khuỷu từ thời tiền sử tối tăm đến thời hiện đại sáng sủa hơn, nhưng vẫn còn thất thường và đôi khi bị gián đoạn. Khả năng hùng biện của ông thật là tuyệt vời, nhưng hơn cả tài hùng biện là tầm nhìn xuyên thấu, giúp – thông qua tất cả các sự kiện và các thời đại – nhận ra trò chơi của những lực lượng tinh thần, khi thì sáng tạo, khi thì phá hủy, luôn luôn chuyển hóa, tạo ra và tái tạo các thiết chế và trao cho linh hồn của nhân loại những hình thức hoạt động không ngừng thay đổi của mình. Dường như toàn bộ lịch sử đột nhiên lóe lên trước luồng ánh sáng mặt trời rực rỡ”./.


(còn tiếp)


luatkhoa.org


Tư liệu sư tầm


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những nhà tù “ế ẩm” - Tư liệu 13.07.2017
Nhà thờ Chánh tòa nguy nga nhất Italia: Duomo ở Milan - Tư liệu sưu tầm 13.07.2017
Vành đai và Con đường dưới góc nhìn địa chiến lược - Joseph S. Nye 12.07.2017
30/11/1917: Đức chúc mừng Cách mạng Tháng Mười Nga - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Ngày 08/07/1918: Ernest Hemingway bị thương trên Mặt trận Ý - Tư liệu sưu tầm 08.07.2017
Nỗi đau của chàng Vecte (Werther) & Faust - Johann Wolfgang von Goethe 07.07.2017
Văn hóa Ẩm thực: 18 địa chỉ ăn ngon, sạch nhất Sài Gòn và vùng phụ cận - Triệu Xuân 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (14) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
Thần thoại Hy Lạp (13) - Nguyễn Văn Khỏa 07.07.2017
18/12/1972: Nixon tuyên bố ‘Đánh bom Giáng Sinh’ Bắc Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 30.06.2017
xem thêm »