tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21270638
14.03.2017
Nhiều tác giả
Con đường tơ lụa, Giấc mộng Trung Hoa – Một vành đai, một con đường



Sáng kiến “Một vành đai, một con đường”: Trung Quốc sẽ đóng vai trò Trung tâm địa chính trị - kinh tế toàn cầu?


Giáo sư B. R. Deepak tại Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc-Đông Nam Á thuộc Đại học Jawaharlal Nehru, New Delhi, Ấn Độ. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả và được đăng trên Eurasia Review.    


Sáng kiến này đang dấy lên hy vọng, cũng như hoài nghi về những gì Trung Quốc đang thực hiện. Liệu nó có trùng khớp với các mục tiêu đối ngoại của Trung Quốc như đa cực, không bá chủ, an ninh chung…, hay nhằm thách thức sự bá chủ của Mỹ và viết lại các quy tắc của cấu trúc địa chính trị và kinh tế toàn cầu?


 Kể từ khi được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 11/2012 và sau đó là Chủ tịch Trung Quốc tháng 3/2013, ông Tập Cận Bình đã đưa ra những ý tưởng lớn như "Giấc mộng Trung Hoa" và "Một vành đai, một con đường”.


Lãnh đạo Trung Quốc đã thông qua hai mục tiêu thế kỷ gồm: một là xây dựng một xã hội khá giả vào năm 2021 đúng dịp Đảng Cộng sản Trung Quốc kỷ niệm 100 năm ngày thành lập; hai là xây dựng Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh hài hòa vào năm 2049 nhân kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Các mục tiêu trên sau này đã được đề cập thông qua việc thiết lập Vành đai kinh tế con đường tơ lụa (SREB) và Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ 21 (MSR) kết nối Trung Quốc với châu Âu bằng đường bộ và đường biển.


Mặc dù được báo cáo ở phạm vi hẹp và ít gây tranh cãi tại Ấn Độ cũng như trên thế giới nhưng những sáng kiến này đã làm dấy lên hy vọng, cũng như hoài nghi về những gì Trung Quốc đang thực hiện. Trên thực tế, các tuyến đường tơ lụa đã tồn tại từ thời cổ đại, nhưng sự liên hệ tới các sáng kiến như vậy trong thời hiện đại là gì? Liệu các sáng kiến này có trùng khớp với các mục tiêu chính sách đối ngoại của Trung Quốc như đa cực, không bá chủ, an ninh chung… hay để nhằm đối phó với các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Mỹ như "xoay trục sang châu Á" hay "Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)”? hoặc Trung Quốc đang thách thức sự bá chủ của Mỹ và viết lại các quy tắc của cầu trúc địa chính trị và kinh tế toàn cầu?


Ý tưởng “Một vành đai, một con đường” được bắt nguồn từ lịch sử như là sự tồn tại một con đường tơ lụa trên bộ và một con đường tơ lụa trên biển kết nối Trung Quốc với các nước châu Á, châu Phi và châu Âu. Trong ba thập kỷ cải cách, Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống đường cao tốc, đường sắt từ Bắc vào Nam, từ phía Đông sang khu vực kém phát triển phía Tây và Tây Nam. Sau khi thực hiện được điều này, Trung Quốc coi đó là cơ hội để liên kết với các khu vực ở Nam Á, châu Âu, châu Phi và thậm chí cả châu Mỹ.


Ý tưởng này lần đầu tiên được đưa ra trong bài phát biểu của ông Tập Cận Bình tại Đại học Nazarbayev, Kazakhstan vào ngày 7/9/2013: “Để kết nối chặt chẽ kinh tế, tăng cường hợp tác và mở rộng phát triển trong khu vực Á-Âu, chúng ta nên có một cách tiếp cận sáng tạo và cùng nhau xây dựng một vành đai kinh tế theo con đường tơ lụa. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho tất cả người dân dọc theo tuyến đường”. Ông Tập đã đề nghị kết nối giao thông cần phải được cải thiện để mở đường cho việc kết nối các khu vực chiến lược từ Thái Bình Dương sang Biển Baltic và dần dần hướng tới việc thiết lập hệ thống giao thông kết nối Đông, Tây và Nam Á. Chủ tịch Trung Quốc cũng kêu gọi các thành viên trong khu vực thúc đẩy việc thiết lập hệ thống tài chính nội khối để tăng cường khả năng chống đỡ những rủi ro tài chính và cải thiện năng lực cạnh tranh toàn cầu.


Không nghi ngờ gì, các kết nối kinh tế là lý do chính ông Tập Cận Bình công bố thành lập Quỹ con đường tơ lụa trị giá 40 tỷ USD để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở các nước có liên quan. Tuy nhiên, ý tưởng này có ý nghĩa chiến lược hơn vì nó sẽ bao hàm an ninh truyền thống hoặc sự song trùng về an ninh ở cả cấp độ khu vực và liên khu vực.


Sáng kiến xây dựng Con đường tơ lụa trên biển (MSR) được ông Tập Cận Bình đưa ra trong chuyến thăm Indonesia tháng 10/2013 với mục đích đưa kết nối về kinh tế và hàng hải đi vào chiều sâu. MSR sẽ bắt đầu ở Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến phía Đông Nam Trung Quốc và các đầu phía Nam Trung Quốc với các quốc gia ASEAN, qua eo biển Malacca và hướng tới các quốc gia phía Tây dọc theo Ấn Độ Dương trước khi gặp Con đường tơ lụa ở Venice qua Biển Đỏ và Địa Trung Hải. Theo phạm vi của MSR, Trung Quốc có kế hoạch xây dựng các cơ sở hạ tầng “cứng” và “mềm” từ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đến châu Phi, bao gồm vận tải, năng lượng, quản lý nước, thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội.


Trung Quốc đã tìm cách lôi kéo sự tham gia của các nước và các khu vực trong vùng “Một vành đai, một con đường”. Hầu hết các quốc gia thuộc ASEAN – nơi mà kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc với các nước ASEAN lên tới 400 tỷ USD đã hoan nghênh những ý tưởng này khi các quốc gia ASEAN đang phấn đấu hình thành cộng đồng kinh tế chung vào năm 2015. Các nước khu vực Nam Á, ngoại trừ Ấn Độ cũng đã hoan nghênh những ý tưởng này khi cho rằng đây là cơ hội lớn để làm sâu sắc hơn các quan hệ kinh tế và ngoại giao nhân dân.


Tại sao Ấn Độ vẫn im lặng trước lời mời của Trung Quốc cho dù Ấn Độ từng nhấn mạnh tầm quan trọng của mình trước khi sáng kiến này được quan tâm? Các nhà phân tích an ninh và những người hoài nghi có nên nhìn nhận các sáng kiến trên như là một phần “sự bao vây chiến lược” đối với chính sách của Ấn Độ và cùng với các sáng kiến khác tương tự nhưng nhỏ hơn của Trung Quốc như Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan, Hợp tác kinh tế liên khu vực Himalaya với Nepal và Bhutan, các hành lang kinh tế BCIM (Bangladesh-Trung Quốc-Ấn Độ-Myanmar) kết nối Đông Bắc Ấn Độ với phía Tây Nam của Trung Quốc, Bangladesh và Myanmar? Liệu có phải vì lo ngại sự “bao vây chiến lược" đó mà Ấn Độ chậm trễ triển khai hành lang kinh tế BCIM ngay cả khi nó chính thức được ký kết trong chuyến thăm Ấn Độ năm 2013 của Thủ tướng Lý Khắc Cường và sự suy giảm ảnh hưởng của sáng kiến “một vành đai"? Việc thiết lập an ninh và cộng đồng chiến lược luôn được duy trì theo cách Ấn Độ không thể cho phép Trung Quốc can dự sâu vào các khu vực nhạy cảm. Nhưng liệu chính phủ mới cầm quyền tại Ấn Độ có suy nghĩ khác về vấn đề này?


Shennon Tiezzi, biên tập viên tạp chí The Diplomat và Chen Dingding đã đưa ra sự tương đồng giữa ý tưởng “Một vành đai, một con đường” với “Kế hoạch lớn - Marshal Plan” – được Mỹ thiết lập như là một siêu quyền lực. Tuy nhiên, các học giả Trung Quốc, trong đó có Giáo sư Shi Ze thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế Trung Quốc đã lên án những chỉ trích phương Tây đối với những sáng kiến này và cho rằng Bắc Kinh đã duy trì chính sách “ba không” - đó là không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; không tìm kiếm cái gọi là "ảnh hưởng toàn cầu”; không giành quyền bá chủ hay thống trị trong thực hiện chính sách "Một vành đai, một con đường”.


Sáng kiến “Một vành đai, một con đường” thực sự là lớn hơn so với “Marshal Plan” khi nó cố gắng bao trùm toàn bộ thế giới với giá trị kinh tế có thể lên tới 21 nghìn tỷ USD. Liệu sáng kiến này có thành công và cho thấy đó không chỉ là ước mơ của Trung Quốc mà còn là mơ ước của các quốc gia khác và người dân trên khắp thế giới? Hoặc nó sẽ làm gia tăng sự cạnh tranh địa chiến lược toàn cầu, các cuộc chiến tranh lạnh hay nóng với siêu cường duy nhất và sự suy giảm của cường quốc thế giới?


Sự xuất hiện của các sáng kiến lớn như Ngân hàng “đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), Quỹ con đường Tơ lụa, MSR và Khu vực thương mại tự do châu Á-Thái Bình Dương gần đây (FTAAP) đã đặt Trung Quốc vào vị trí trung tâm địa chính trị-kinh tế toàn cầu và điều này đã buộc Mỹ phải tranh giành vai trò lãnh đạo ít nhất là trong khu vực, thậm chí là toàn cầu. Những sáng kiến trên đã thách thức việc thực hiện quyền bá chủ của Mỹ trong khu vực bao gồm triển khai ý tưởng “xoay trục sang châu Á” và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).


Cách tiếp cận của Ấn Độ đối với hai thái cực trên vẫn đang được xem xét vì cho đến nay New Delhi vẫn ở ngoài quỹ đạo ảnh hưởng của Mỹ cũng như các sáng kiến của Trung Quốc. Người Trung Quốc nhận ra rằng Mỹ sẽ không ủng hộ một Bắc Kinh mới nổi như những năm đầu cải cách và thực hiện chính sách mở cửa cuối những năm 1970. Mỹ coi Trung Quốc là đối thủ duy nhất có đủ khả năng đe dọa vị trí bá chủ của Mỹ. Trung Quốc cũng cho rằng chỉ có Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ có thể kiềm chế tham vọng biển của Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, liệu Ấn Độ sẽ duy trì quyền tự quyết chiến lược của mình hay sẽ nghiêng về một bên giữa Trung Quốc hoặc Mỹ, sự lựa chọn sẽ khó khăn.


Văn Cường (gt)


“Kinh lược Hải dương”: Khái niệm chiến lược mới của Tập Cận Bình


 20 Tháng 1 2015


Tác giả Ryan Martinson là một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Đại học Hải chiến Mỹ tại Newport, Rhode Island. Quan điểm trong bài viết là của riêng tác giả, không phản ánh quan điểm của chính phủ hay hải quân Mỹ. Bài viết được đăng lần đầu trên The Jamestown Foundation.


Khi nghiên cứu về sự bành trướng của Trung Quốc tại các vùng biển gần ở Đông Á, người ta hầu như bỏ qua hoàn toàn khái niệm kinh lược hải dương (jinglue haiyang), đây là khái niệm đại diện cho các nhân tố giúp vận hành “chiến lược cường quốc biển” của Trung Quốc.


 Khi nghiên cứu về sự bành trướng của Trung Quốc tại các vùng biển gần ở Đông Á, người ta hầu như bỏ qua hoàn toàn khái niệm kinh lược hải dương (jinglue haiyang), khái niệm mà gần đây đã được Đảng-Nhà nước xác nhận là một khía cạnh đặc biệt trong chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc. Kinh lược (Jinglue) không phải là một thuật ngữ thông dụng; cụ thể, hầu hết các từ điển đều không định nghĩa cụm từ này. Đây là một động từ được cấu thành bởi từ kinh (jing), nghĩa là quản lý hay quản trị, với từ lược (lue), nghĩa là chiến lược hay mưu lược. Theo Từ điển Từ Hải (Cihai) ấn bản năm 1979, thuật ngữ này có nghĩa là “giải quyết vấn đề trên cơ sở lên kế hoạch từ trước”. Chúng ta có thể tạm dịch cụm từ này là “quản lý chiến lược”, và cụm từ kinh lược hải dương sẽ được dịch là “quản lý chiến lược vùng biển”.


Các nguồn chính thống và gần như chính thống của Trung Quốc, cụ thể là các ấn phẩm của hải quân, hiện tại thường xuyên trích dẫn khái niệm mới này, họ xem đây là một hòn đá tảng trong tư duy chiến lược của Chủ tịch Tập Cận Bình, người đồng thời là Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Đây là một thuật ngữ đáng để chúng ta đào sâu tìm hiểu bởi nó là một thuật ngữ khá mới mẻ cũng như có ý nghĩa quan trọng nếu muốn hiểu rõ chính sách biển của Trung Quốc. Nghiên cứu một cách kĩ càng các văn bản Trung Quốc, chúng ta thấy khái niệm này ủng hộ cho một quan điểm rộng mở về việc sử dụng sức mạnh trên biển trong thời bình, từ đó có lẽ sẽ làm sáng tỏ tại sao nhà lãnh đạo hiện tại lại muốn theo đuổi tham vọng thống trị biển một cách có hệ thống và chủ động hơn, đặc biệt là tại Biển Đông.


Con đường dẫn đến sự phê chuẩn của khái niệm mới


Khái niệm quản lý chiến lược vùng biển trên thực tế không phải là một cái gì đó quá mới mẻ.Trong một bài báo đăng trên Học báo Thái Bình Dương (Taipingyang Xuebao) năm 1996, La Ngọc Như, một Đại úy đã nghỉ hưu của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) và nguyên là Cục trưởng Cục Hải dương Quốc gia (SOA), chủ trương đưa khái niệm này trở thành cốt lõi trong chiến lược biển Trung Quốc. Định nghĩa của ông La về thuật ngữ này, sau gần 20 năm, vẫn còn giá trị:


Kinh lược hải dương nằm trong phạm vi của chiến lược quốc gia. Về cơ bản, thuật ngữ này có nghĩa là sử dụng các công cụ chính trị, công nghệ và ngoại giao để tham gia vào hoạt động quản lý ở mức độ cao và toàn diện các lợi ích và an ninh quốc gia trong lĩnh vực biển, và áp dụng các biện pháp quyết liệt để đẩy nhanh việc phát triển và khai thác biển, tăng cường quản lý toàn diện vùng biển, và bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia trên tất cả các phương diện.[1]


Từ giữa những năm 1990, các nhà bình luận của Trung Quốc thường xuyên kêu gọi nước này thực thi một chính sách quản lý chiến lược vùng biển. Các kiến nghị có thể khác nhau, nhưng cách hiểu về thuật ngữ này là giống nhau. Khái niệm này bao hàm một chiến lược quốc gia tổng thể được xây dựng và giám sát bởi các cấp cao nhất của chính phủ. Khái niệm này gắn liền với nỗ lực của nhiều cơ quan, bộ, ban ngành khác nhau. Khái niệm này cũng hàm ý việc chủ động theo đuổi các mục tiêu đã-được-xác-định-rõ-ràng. Mặc dù phát triển kinh tế vẫn luôn được xem là mục tiêu cốt lõi, nhưng an ninh biển và “bảo vệ các quyền” cũng đã trở thành những mối lo ngại đáng kể. Vì vậy, các công cụ thực thi sức mạnh trên biển – cụ thể là Hải quân PLA – nhiều khả năng sẽ đóng những vai trò quan trọng trong việc quản lý chiến lược vùng biển.


Mặc dù đôi khi xuất hiện trên các ấn phẩm chính thống, nhưng khái niệm này không phải là một chính sách chính thức. Ra đời vào cuối tháng 4/2013, Quy hoạch Phát triển Hải dương 5 năm lần thứ 12 không đề cập gì tới khái niệm này. Quản lý chiến lược cũng không xuất hiện trong Sách Trắngtháng 4/2013 về “Đa dạng hóa Hoạt động của Lực lượng Vũ trang Trung Quốc” (Xinhua, ngày 16/4/2013).


Tất cả đã thay đổi đột ngột chỉ 3 tháng sau đó. Ngày 30/7, các thành viên của Bộ Chính trị, Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) nhóm họp tại một buổi thảo luận về chủ đề đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc biển. Tại cuộc họp này, Chủ tịch Tập Cận Bình đã có một bài phát biểumà sau đó đã được truyền thông Trung Quốc tóm tắt. Phần mở đầu của bản tóm tắt chính thức bao gồm đoạn văn sau, cũng đồng thời là tiêu đề cho bài phát biểu của ông Tập: “Chúng ta cần hành động nhiều hơn nữa để khai thác các lợi ích trên biển, hiểu rõ về biển, và quản lý chiến lược vùng biển, và tiếp tục hành động nhiều hơn nữa để thúc đẩy các nỗ lực nhằm đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc biển” (People’s Daily, ngày 1/8/2013).[2]


Mặc dù đây chỉ là một bản tóm tắt ngắn gọn bài phát biểu của ông Tập, nhưng chúng ta có thể rút ra một vài kết luận, và một trong những kết luận quan trọng nhất đó là “quản lý chiến lược vùng biển” hiện đã trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc. Đây là một thuật ngữ bao trùmcho các hoạt động nhằm khai thác lợi ích biển và hiểu rõ hơn về biển. Các thành tố chính của chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc được đề ra tại Đại hội 18 của Đảng – bảo vệ các quyền/lợi ích trên biển, bảo vệ môi trường, tăng cường năng lực khai thác tài nguyên biển và phát triển kinh tế biển – hoàn toàn đồng nhất với những quan niệm trước đó về kinh lược hải dương. Với chỉ 4 từ, khái niệm “quản lý chiến lược” đã phác họa được bản chất trong các mục tiêu của Trung Quốc.


Quản lý chiến lược với vai trò là một chính sách


Rõ ràng, quản lý chiến lược vùng biển là một khái niệm có tác động tới tất cả các bộ, ban, ngành có trách nhiệm về các vấn đề trên biển. Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của khái niệm này đối với Hải quân PLA, chúng ta nên kiểm chứng xem đơn vị này đã diễn giải và sử dụng thuật ngữ này như thế nào. Việc nghiên cứu sâu những thông tin trên tờ báo chính thức của hải quân, tờ People’s Navy, đem lại những thông tin hữu ích. Bảng dưới đây mô tả tần suất của việc sử dụng thuật ngữ “kinh lược” từ năm 2010.


Việc phân tích nội dung của những bài báo này cho phép đi đến những đánh giá sau:


1. Thuật ngữ “quản lý chiến lược” lần đầu xuất hiện vào tháng 10/2012. Từ thời điểm đó, thuật ngữ này đã được sử dụng trong 39 bài báo, xuất hiện với tần suất tăng dần theo thời gian.


2. Thuật ngữ này hầu như, nhưng không phải là tuyệt đối, đề cập tới nhiệm vụ chiến lược của Hải quân PLA tại các vùng biển gần tại Đông Á.


3. Biển Đông là vùng biển duy nhất được liên hệ cụ thể với khái niệm quản lý chiến lược.


4. Thuật ngữ này thường xuyên xuất hiện song song với cụm từ “bảo vệ các quyền và lợi ích biển.”


Việc khái niệm này bắt đầu xuất hiện thường xuyên trong nửa cuối năm 2012 cho thấy nó đã được chấp thuận trong nội bộ một thời gian khá dài trước khi Chủ tịch Tập Cận Bình ghi nhậnkhái niệm này như là một chính sách. Trong bài phát biểu tại một nhóm thảo luận ở Đại hội Đảng lần thứ 18, được tờ People’s Navy ấn bản ngày 13/11/2012, Phó Đô đốc Hải quân Tưởng Vĩ Liệt nêu bật 4 lĩnh vực phát triển trong tương lai cho hải quân. Trong điểm thứ ba, ông Tưởng nói rằng, “Chúng ta cần hành động nhiều hơn nữa trong việc thực thi chiến lược ‘quản lý chiến lược’ Biển Đông. Hạm đội là một lực lượng có vai trò chiến lược quan trọng tại Biển Đông. Lực lượng này giúp đảm bảo an ninh của các tuyến đường giao thương trên biển quan trọng và giúp bảo vệ có hiệu quả chủ quyền quốc gia và các quyền và lợi ích trên biển. Chúng ta cần làm nhiều hơn nữa để cải thiện hoạt động nghiên cứu lý thuyết về quản lý chiến lược tại Biển Đông; chủ động kết hợp [các hành động nhằm] bảo vệ các quyền và [các hành động nhằm] duy trì sự ổn định; tăng cường toàn diện sự kiểm soát chiến lược Biển Đông; và bảo vệ, xây dựng một cách toàn diện và quản lý chiến lược Biển Đông.”[3]


Việc sử dụng thuật ngữ này trở nên thường xuyên hơn trong quý đầu của năm 2014 liên quan đến chiến dịch truyền bá tư tưởng của ông Tập cho lực lượng hải quân. Vào ngày 19/3, 16 sĩ quan hải quân cấp cao đã đưa ra các bài báo bày tỏ ngưỡng mộ dành cho sự uyên thâm chiến lược của ông Tập. Những văn bản với độ dài 800 từ này cung cấp một góc nhìn thú vị về bản chất tư tưởng của ông Tập trong vấn đề sức mạnh trên biển của Trung Quốc. Khái niệm quản lý chiến lược vùng biển đã được nhắc đến nhiều lần.


Bài viết của Phó Đô đốc Vương Triệu Hải là đặc biệt đáng chú ý, bởi vị trí phó chỉ huy Hạm đội Nam Hải của ông. Trong bài báo của mình, ông Vương viết rằng, “Trong cả hai chuyến thăm Hạm đội Nam hải, ông Tập Cận Bình đều nhấn mạnh tới vấn đề bảo vệ các quyền trên Biển Đông. Ông chỉ ra rằng hải quân cần phải nhìn nhận vấn đề từ góc độ an ninh quốc gia và chiến lược phát triển, rằng hải quân cần phải hoàn thành mục tiêu quan trọng đó là quản lý chiến lược Biển Đông.”[4]


Để làm điều này, ông Vương viết trong bài báo của mình, Hải quân PLA cần phải tăng cường hợp tác với lực lượng chấp pháp trên biểnbởi cơ quan này đang theo đuổi việc “kiểm soát hành chính” (guankong) – một khái niệm đang ngày càng được chú ý trong những năm qua – đối với Biển Đông (The National Interest, ngày 1/10/2014). Cụ thể, điều này có nghĩa là tăng cường tần suất và chất lượng các cuộc diễn tập chung, thiết lập một cơ cấu chỉ huy chung và chia sẻ thông tin tình báo. Ông Vương viết tiếp, “Chúng ta cần phải... thực thi toàn diện chính sách, từ đó đảm bảo rằng chúng ta sẽ có được sự kiểm soát hành chính và thực hiện hoạt động chấp pháp bảo vệ các quyền trên Biển Đông một cách có hiệu quả.” Với mục tiêu đó, Hải quân PLA đóng vai trò hỗ trợ cho hoạt động cho các lực lượng chấp pháp - cơ quan có vai trò như là công cụ chính trong chiến lược bảo vệ các quyền của Trung Quốc.


Một vài bài báo nêu bật tầm quan trọng của các đảo và các thực thể đất liền khác trong nỗ lực nhằm có được sự quản lý chiến lược Biển Đông. Ví dụ, trong một chuyến đi thị sát tới Đảo Phú Lâm vào tháng 10/2012, người khi đó là Phó Chính ủy hải quân, Phó Đô đốc Trương Triệu Ngân, chỉ ra rằng “quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa), và Trung Sa (Bãi Macclesfield) là những cơ sở có nguồn tài nguyên chiến lược phục vụ cho phát triển của Trung Quốc trong dài hạn. Những quần đảo này là những trọng điểm chiến lược quan trọng cho Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh và lợi ích phát triển. Chúng có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc quản lý chiến lược Biển Đông...”[5]


Khái niệm quản lý chiến lược hiện giờ đã được lồng ghép thường xuyên hơn vào trong các phát biểu công khai của các quan chức cấp cao. Tháng 8/2014, hải quân có tổ chức một hội thảo nhân dịp 120 năm Chiến tranh Trung-Nhật nổ ra. Trong phát biểu của mình, Đô đốc Ngô Thắng Lợi có nói: “Đối mặt với môi trường chiến lược quốc tế đang thay đổi một cách sâu sắc và ngày càng phức tạp, cùng với các nguy cơ hết sức đáng lo ngại trên biển, chúng ta cần phải thực hiện triệt để các ý tưởng lớn của Chủ tịch Tập Cận Bình liên quan đến quản trị chiến lược vùng biển, bảo vệ các quyền trên biển và xây dựng hải quân.”[6] Việc những ngôn từ này được nhắc tới trong bài phát biểu của người đứng đầu hải quân Trung Quốc và cũng là một thành viên của Quân ủy Trung ương cho thấy rằng việc quản lý chiến lược vùng biển giờ đây đã trở thành một khái niệm có vai trò trung tâm cho chiến lược hải quân trong thời bình.


Kết luận


Các lãnh đạo Trung Quốc đã chấp nhận khái niệm quản lý chiến lược vùng biển. Tuy nhiên, các văn bản công khai có thể tiếp cận của chính phủ Trung Quốc không đưa ra một định nghĩa thỏa đáng cho khái niệm này, hay khái niệm này sẽ được triển khai thực hiện như thế nào. Điều có thể rút ra đó là khái niệm này bao gồm một chiến lược toàn diện trong thời bình nhằm khai thác vùng biển cho mục tiêu kinh tế, bảo vệ môi trường biển, bảo vệ biên giới biển và bảo vệ đất liền khỏi các nguy cơ tới từ đường biển. Nói ngắn gọn, khái niệm này đại diện cho các nhân tố giúp vận hành “chiến lược cường quốc biển” của Trung Quốc.


Việc nghiên cứu sâu tờ báo của Hải quân PLA cho thấy khái niệm này, trong bối cảnh quản lý chiến lược quốc phòng, hàm ý việc tiến tới sự thống trị trên biển một cách đồng bộ.Hay cụ thể hơn đó là kết hợp khả năng nhận biết các vấn đề trên biển ở mức độ cao, năng lực ngăn chặn các hành vi xâm phạm từ bên ngoài, và năng lực đáp trả mạnh mẽ đối với các thách thức và các động thái khiêu khích nếu như chúng xảy ra. Điều đó đồng nghĩa với việc chủ động áp đặt trật tự hay “kiểm soát hành chính” trên vùng biển yêu sách chủ quyền và quyền tài phán. Các lực lượng chấp pháp Trung Quốc sẽ duy trì trật tự này, với sự hỗ trợ của Hải quân PLA, cơ quan có nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động và ngăn cản sự can thiệp của quân đội nước ngoài.


Rất nhiều các sáng kiến trên biển đã được đưa ra kể từ sau bài phát biểu ở phiên thảo luận tại Bộ Chính trị của ông Tập; những động thái sau đó cho thấy rõ rằng chính phủ đang hành động dựa trên một khái niệm chiến lược mới. Tuy nhiên, sẽ là quá vội vàng khi khẳng định rằng hai diễn biến này có mối liên hệ với nhau nếu không có thêm các bằng chứng trên thực tế. Điều chúng ta có thể tạm khẳng định đó là các chương trình cải tạo đảo trong thời gian gần đây – giả định rằng hoạt động này dẫn đến việc tăng cường sự hiện diện của PLA tại các đảo tranh chấp – và việc Hải quân PLA có động thái hỗ trợ Cảnh sát Biển trong hoạt động bảo vệ giàn khoan HYSY 981 đều nằm hoàn toàn trong mục tiêu quản lý chiến lược vùng biển, như đã đề cập ở trên. Ít nhất, sự xuất hiện của thuật ngữ này trong các văn bản của chính phủ và các tài liệu chính thống khác đáng để chúng ta theo dõi trong những năm mà ông Tập còn nắm quyền.


Người dịch: Quang Vũ. Hiệu đính: Kim Minh


___


[1]Luo Ruyu, “Jinglue Haiyang Ying Zuowei Guojia De Yi Xiang Jiben Guoce,” Taiping Yang Xuebao, 1996/02, tr. 18.


[2]Kể từ năm 1949, Trung Quốc đã thông qua một loạt "chiến lược hải quân". Những chiến lược này bao gồm "phòng thủ tại bờ biển gần", "chủ động phòng thủ tại các vùng biển gần" và "hoạt động tại vùng biển xa". Những chiến lược này cấu thành nên chính sách để đánh bại đối thủ trong thời chiến, không giống với jinglue haiyang, một khái niệm chiến lược biển trong thời bình (với sự tham gia của tất cả cá cơ quan liên quan đến biển). Xem Nan Li, “The Evolution of China’s Naval Strategy and Capabilities: From ‘Near Coast’ and ‘Near Seas’ to ‘Far Seas,’” Asian Security, vol. 5, no. 3, 2009.


[3]Jiang Weilie, “Xianqi Xuexi Guanche De Rechao, Tigao Lvxing Shiming Nengli, Quanmian Tuijin Budui Jianshe Kexue Fazhan Anquan Fazhan,” Renmin Haijun, ngày 13/11/2012, tr. 2.


[4]Zhang Zhaoyin, “Qieshi Youxiao Weihu Nanhai Haiyang Quanyi,” Renmin Haijun, ngày 19/3/2014, tr. 3.


[5]Zhao Zhiwei, “Zhongguo Gongchengyuan Yuanshi Fu Xisha Jinxing Diaoyan,” Renmin Haijun, ngày 23/10/ 2012, tr. 1.


[6]Cai Nianchi, Yuan Zhenjun, and Deng Ranzi, “Jiawu Zhanzheng 120 Zhounian Yantaohui He Jidian Yishi Longzhong Juxing,” Renmin Haijun, ngày 28/8/2014, tr. 1.


Ngoại giao Con đường Tơ lụa - Những Khúc quanh, Ngã rẽ và Lịch sử bị Bóp méo


09 Tháng 12, 2014


Bài viết được đăng lần đầu tại The Yale Global. Bản quyền thuộc về Trung tâm Nghiên cứu Khu vực và Quốc tế Whitney và Betty MacMillan, đại học Yale, năm 2014.


Trung Quốc thúc đẩy Con đường Tơ lụa trong số các sáng kiến về chính sách đối ngoại nhưng lịch sử lại không hề giản đơn như thế. Có một vấn đề nhỏ trong chiến dịch quảng bá dựa trên lịch sử của Trung Quốc, đó là lịch sử đã bị bóp méo.


Yale Global, ngày 23 tháng 9 năm 2014


Trung Quốc thúc đẩy Con đường Tơ lụa trong số các sáng kiến về chính sách đối ngoại nhưng lịch sử lại không hề giản đơn như thế.


NEW YORK: Ý niệm lãng mạn về Con đường Tơ lụa lịch sử với các đoàn lữ hành cưỡi lạc đà băng qua các ngọn núi và sa mạc vùng Trung Á đang được giới truyền thông chú ý trở lại. Bên cạnh đó là các cuộc thảo luận về việc tái thiết lập một mạng lưới trên biển mà theo đó, Đô đốc Trịnh Hòa đã chỉ huy hạm đội hải quân của mình băng qua Ấn Độ Dương 7 lần. Giới lãnh đạo Trung Quốc thúc đẩy các tuyến đường buôn bán cổ, gần đây nhất là trong chuyến thăm các nước Nam và Trung Á của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, nhằm nhấn mạnh vai trò lịch sử của Trung Quốc như một sứ giả của hòa bình và thịnh vượng.


Tuy nhiên, có một vấn đề nhỏ trong chiến dịch quảng bá dựa trên lịch sử của Trung Quốc, đó là lịch sử đã bị bóp méo.


Vào Tháng 9 năm 2013, chưa đầy một năm sau khi đảm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, ông Tập Cận Bình đã khởi động một sáng kiến về đối ngoại mới mang tên “Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa”. Trong bài phát biểu tại trường Đại học Nazarbayev (Kazakhstan), kêu gọi hợp tác và phát triển khu vực Á – Âu thông qua sáng kiến Con đường Tơ lụa mới, ông Tập Cận Bình đã đưa ra 5 mục tiêu cụ thể: đẩy mạnh hợp tác kinh tế, cải thiện kết nối giao thông, thúc đẩy đầu tư và thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi tiền tệ và tăng cường giao lưu nhân dân.


Một tháng sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc lần thứ 16 diễn ra tại Brunei, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đề nghị thiết lập “Con đường Tơ lụa trên biển” của thế kỉ 21 để cùng nhau thúc đẩy hợp tác và kết nối trên biển, nghiên cứu khoa học và môi trường biển cũng như các hoạt động đánh bắt hải sản khác. Sau đó một vài ngày, trong bài phát biểu trước Quốc hội Indonesia, ông Tập Cận Bình đã khẳng định lại sáng kiến này và nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẽ dốc vốn và lực để “thúc đẩy mạnh mẽ các quan hệ đối tác biển trong một nỗ lực chung nhằm xây dựng Con đường Tơ lụa trên biển của thế kỉ 21,” tuyến đường trải dài từ vùng ven biển Trung Quốc đến Địa Trung Hải.


Trong cả hai bài phát biểu, Chủ tịch Tập Cận Bình đã nhấn mạnh mối liên hệ về lịch sử của Trung Quốc đối với từng khu vực và gợi ý rằng những kiến nghị của mình là nhằm tái thiết lập các mối quan hệ hữu hảo từ xưa trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và hiện đại ngày nay. Tại Kazakhstan, ông Tập Cận Bình khen ngợi Sứ thần Trương Khiên (Zhang Qian) nhà Tây Hán vì đã “gánh vác sứ mệnh của hòa bình và tình hữu nghị”, mở ra cánh cửa đối thoại giữa hai miền Đông – Tây và lập ra Con đường Tơ lụa. Tại Indonesia, ông ngợi ca Đô đốc Trịnh Hòa (Zheng He) vì đã truyền lại cho thế hệ sau “những câu chuyện tuyệt vời về sự giao lưu hữu hảo giữa nhân dân hai nước Trung Quốc và Indonesia.”


Tuy nhiên, điều không được đề cập đến là bối cảnh đầy rẫy xung đột và nỗ lực của Trung Quốc nhằm thúc đẩy một trật tự thế giới “dĩ Hoa vi trung” (sinocentric - chủ nghĩa Đại Hán, coi Trung Quốc là trung tâm của thế giới - ND). Trong khi cố gắng mô tả lại quá khứ như một kỷ nguyên không tưởng, mục đích của sứ mệnh mà Sứ thần Trương Khiên gánh vác trong chuyến đi tới vùng đất phương Tây đã bị bóp méo hoàn toàn. Đế vương nhà Hán đã phái Trương Khiên đi tìm đồng minh để chống lại các tộc người Hung Nô (Xiongnu) hùng mạnh – kẻ thù số một của triều đại Tây Hán. Chính bởi những chính sách bành trướng của mình mà Vương triều nhà Hán đã biến bộ tộc Hung Nô du mục trở thành một dạng thực thể bán nhà nước chống lại quân nhà Hán. Vào năm 138 Trước Công nguyên, triều đình Trung Hoa đã phái Trương Khiên tới vùng Trung Á để tìm ra vị trí của người Tân Cương (Duy Ngô Nhĩ - Yuezhi), trước đó đã được người Hung Nô vạch đường. Tuy vậy, nhiệm vụ của Trương Khiên đã thất bại. Ông bị người Hung Nô bắt giữ và ép cưới một phụ nữ dân tộc này. Sau 10 năm bị giam giữ, ông trốn thoát và nhận ra rằng người Tân Cương không hề quan tâm đến việc thiết lập một liên minh quân sự. Đóng góp duy nhất của Trương Khiên là những thông tin ông cung cấp được cho triều đình nhà Hán về thể chế xã hội và người dân vùng Trung Á.


Tương tự, việc mô tả Đô đốc Trịnh Hòa như một sứ giả của hòa bình và hữu nghị là có vấn đề. Trên thực tế, bảy chuyến thám hiểm của Đô đốc Trịnh trong khoảng thời gian từ năm 1405 đến 1433 bao gồm việc sử dụng sức mạnh quân sự tại những khu vực mà ngày nay là Indonesia, Malaysia, Sri Lanka và Ấn Độ, dựng nên những nhà cai trị “thân Trung” và kiểm soát các điểm huyết mạch chiến lược tại Ấn Độ Dương. Ông Trịnh cũng can dự vào việc triều chính của Sri Lanka và Indonesia, đem các tù nhân trở về Nam Kinh (thủ phủ của triều đại nhà Minh). Vua Chu Lệ (Yongle) nhà Minh ban đầu phái Đô đốc Trịnh tới các vùng biển phương Tây để tìm kiếm người cháu mà chính mình đã soán ngôi nhằm thúc đẩy các giá trị của nền văn minh Trung Quốc. Trong quá trình thực hiện các chuyến thám hiểm này, Đô đốc Trịnh Hòa đã bắt cóc rất nhiều vua và hoàng tử, khiến họ phải khấu đầu trước đế vương của mình và trao đổi lễ vật. Các chuyến hải trình này sau đó đã bị hủy bỏ bởi chúng quá đắt đỏ và, theo quan điểm của những quan lại trong triều đình Khổng giáo, đem lại quá nhiều quyền lực cho một người vốn là hoạn quan như Đô đốc Trịnh Hòa.


Triều đại nhà Hán cũng sử dụng sách lược tương tự tại vùng Trung Á, đặc biệt là tại các địa điểm chiến lược trên các tuyến đường trao đổi buôn bán. Vì vậy, dù là trên đường bộ hay đường biển, tất cả những tuyến đường được gọi chung là Con đường Tơ lụa, đều không hề mang tính chất hòa bình hay giúp thúc đẩy các trao đổi hữu nghị thông qua sự hiện diện của Trung Quốc như những gì được thuật lại ngày nay.


Bản thân thuật ngữ “Con đường Tơ lụa” hay các “Tuyến đường Tơ lụa” cũng có vấn đề. Nhà địa lý học người Đức Ferdinand von Richthofen đã đặt ra thuật ngữ này vào năm 1877 để dùng cho tuyến đường buôn bán cổ trên bộ xuyên qua vùng Trung Á. Kể từ đó tới nay, rất nhiều tuyến đường kết nối Trung Quốc với thế giới bên ngoài đã được gọi là các “Con đường Tơ lụa” hay các “Tuyến đường Tơ lụa”, bất chấp sự thật rằng lụa không phải là mặt hàng được buôn bán sớm nhất hay được trao đổi nhiều nhất qua các tuyến đường này. Ngoài ra, thuật ngữ “Con đường Tơ lụa” mà các học giả Trung Quốc sử dụng rất nhiệt tình đã nhấn mạnh một cách không có cơ sở vai trò của Trung Quốc trong các tương tác nội bộ khu vực thời cận đại. Điều này đã khiến cho người ta bỏ qua vai trò của ảnh hưởng bên ngoài đối với xã hội và kinh tế Trung Quốc trong suốt 2000 năm.


Có lẽ, cũng giống như rất nhiều người Trung Quốc khác, quan điểm của Chủ tịch Tập Cận Bình về Con đường Tơ lụa cũng được định hình bởi hệ thống giáo dục nước nhà –  một hệ thống loại trừ các phân tích mang tính chất phản biện cũng như phương pháp giải kiến tạo (deconstruction) phù hợp đối với các nguồn thông tin lịch sử. Cũng có khả năng ông Tập Cận Bình thực sự bị ảnh hưởng bởi thực tế gia đình ông xuất thân từ cố đô Trường An (Xi’an, trong lịch sử còn được gọi là Chang’an) – nơi được ghi nhận trong sử sách Trung Hoa là điểm bắt đầu của Con đường Tơ lụa trên đất liền. Hoặc là Tập Cận Bình không hề biết đến những phản ứng tiêu cực mà việc sử dụng chủ nghĩa tượng trưng văn hóa Trung Quốc trong lĩnh vực chính sách đối ngoại đã gây ra ở ngoại quốc, hoặc ông rất dứt khoát trong việc thúc đẩy các sáng kiến này với nguồn sức mạnh kinh tế mà Trung Quốc đã tích lũy được trong một vài thập kỉ qua.


Tuy nhiên, một số quốc gia đã tỏ ý sẵn sàng chấp nhận những cách giải thích lịch sử bị bóp méo này vì lý do kinh tế.


Ví dụ, chính phủ Sri Lanka năm ngoái đã nhận một bức tượng mạ vàng tạc Đô đốc Trịnh Hòa như một món quà từ Hiệp hội Quản lý Du lịch Quốc tế (International Tour Management Association) của Trung Quốc. Hai nước đã tuyên bố rằng Đô đốc Trịnh Hòa và các chuyến du hành của ông đã thể hiện quan hệ thương mại hòa hữu giữa Trung Quốc và Sri Lanka. Các chi tiết như chính Trịnh Hòa đã dấy lên những thay đổi về chế độ tại khu vực này, bắt cóc một người cai quản địa phương tên là Alaskawera và đày ông này về Nam Kinh như một tù nhân, đều bị bỏ qua. Đô đốc Trịnh cũng chiếm đoạt Xá lợi Răng Phật nổi tiếng tại thành phố Kandy - một biểu tượng về sự độc lập chính trị của Sri Lanka từ lâu đời.


Xung đột quân sự cũng đã xảy ra ở Indonesia – nơi một số tờ báo trong nước lại hoan nghênh đề xuất của Tập Cận Bình, ghi nhận rằng các đề xuất này có thể mang lại “những cơ hội to lớn cho sự phát triển của khu vực.” Chẳng ai quan tâm đến thực tế rằng vào năm 1407, Trịnh Hòa đã thay đổi chế độ trên đảo Sumatra bằng cách bắt cóc một thủ lĩnh địa phương người Trung Quốc tên là Trần Tổ Nghĩa (Chen Zuyi), người bị triều đình nhà Minh coi là cướp biển. Sau khi bị hành hình công khai ở Nam Kinh, vị trí của Trần Tổ Nghĩa được thay thế bởi một người đại diện cho lợi ích của triều đình nhà Minh trong khu vực. Cũng trong năm đó, Trịnh Hòa còn can thiệp vào công việc nội bộ của vương quốc Majapahit trên đảo Java, dường như để làm suy yếu một cường quốc khu vực chính tại Đông Nam Á.


Những cuộc can thiệp quân sự như kiểu này tại các khu vực khác, với cái cớ là thúc đẩy một trật tự thế giới hài hòa dưới sự cai trị của Trung Hoa Thiên tử, mới là mục tiêu của các cuộc thám hiểm của Đô đốc Trịnh Hòa.


Sáng kiến Con đường Tơ lụa của chính phủ Trung Quốc, với nguồn tiền và đầu tư đáng kể, có thể thúc đẩy nền kinh tế của một vài quốc gia tại Châu Âu và Châu Á – các quốc gia sẵn sàng khẳng định mối quan hệ từ xa xưa với vương quốc Trung Hoa cổ đại. Đối với Trung Quốc, sự thành công của sáng kiến này sẽ mở ra các kênh đầu tư mới cho nguồn dự trữ tiền tệ khổng lồ của nước này. Sự thành công của sáng kiến này cũng sẽ đánh dấu một bước tiến lớn trong công cuộc tái thiết trật tự thế giới Trung Quốc thời cổ đại (hay còn được biết đến dưới cái tên là “thiên hạ - Tianxia”) – một trật tự mà trong đó tất cả mọi khu vực được biết đến trên thế giới này đều thuộc về một thiên ủy hoàng đế của Trung Hoa. Trật tự thế giới mới này sẽ không chỉ đơn giản tồn tại trên lý thuyết mà còn đem lại những hàm ý địa chính trị quan trọng.


Tansen Sen là Phó giáo sư tại trường Đại học Baruch, Đại học Tổng hợp Thành phố New York. Ông nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử và các tôn giáo tại Châu Á. Ông đặc biệt quan tâm đến quan hệ tương tác giữa Ấn Độ và Trung Quốc, thương mại tại Ấn Độ Dương, Phật giáo và khảo cổ học về Con đường Tơ lụa. Ông là tác giả cuốn “Đạo Phật, Ngoại giao và Thương mại: Xây dựng lại quan hệ Trung - Ấn, năm 600-1400”[1] (Nhà xuất bản Đại học Hawaii, xuất bản năm 2003) và đồng tác giả (với Victor H. Mair) cuốn “Trung Quốc truyền thống trong lịch sử thế giới và Châu Á”[2] (Hiệp hội Nghiên cứu Châu Á, xuất bản năm 2012).


Tài liệu tham khảo:


·         Nicola Di Cosmo, Trung Quốc cổ đại và kẻ thù của nó: Sự gia tăng của quyền lực du cư trong lịch sử Đông Á. Cambridge: NXB. Đại học Cambridge, 2002.


 


·         Edward L. Dreyer, Trịnh Hòa: Trung Quốc và các đại dương đầu thời kì nhà Minh, 1405-1433. New York: Longman, 2007.


·         Étienne de la Vaissière, Những thương nhân xứ Sogdia: Một lịch sử. Leiden: Brill, 2005.


·         Louise Levathes, Khi Trung Quốc thống trị biển: Hạm đội Trời cho của Ngai Rồng, 1405-1433. New York: NXB. Đại học Oxford, 1994.


·         Tansen Sen, “Thay đổi Chế độ: Hai hồi can thiệp quân sự của Trung Quốc ở Nam Á thời trung cổ.” Trong cuốn Gặp gỡ châu Á: Tìm hiểu lịch sử kết nối, Upinder Singh và Parul P. Dhar (đồng biên tập). New Delhi: NXB. Đại học Oxford, sắp xuất bản.


·         Geoff Wade, “Bạo lực của triều Minh Trung Quốc chống lại các chính thể láng giềng và các mô tả của nó trong chính sử Trung Quốc.” Trong cuốn Tao ngộ châu Á: Tìm hiểu lịch sử kết nối, Upinder Singh và Parul P. Dhar (đồng biên tập). New Delhi: NXB. Đại học Oxford, sắp xuất bản.


Người dịch: Hoàng Đỗ. Hiệu đính: Kim Minh


Đại Kế hoạch của Trung Quốc ở Biển Đông


20 Tháng 8 2014


Bài viết của Billy Tea, chuyên gia nghiên cứu thuộc Diễn đàn Thái Bình Dương của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Mỹ,  đăng trên Asia Times Online.


Thế giới đang hết sức quan tâm đến những mưu đồ và hành động tiếp theo của Trung Quốc sau một loạt hành động hung hăng của Trung Quốc trong các tranh chấp ở Biển Đông, đặc biệt là vụ hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong  tháng 5 vừa qua.


Cho dù quyết định của Trung Quốc về việc rút một giàn khoan thăm dò dầu khí ra khỏi vùng biển tranh chấp nóng bỏng với nước láng giềng Việt Nam vì lý do thời tiết xấu, hoàn thành nhiệm vụ, hay sức ép ngoại giao gia tăng từ phía Mỹ hay không, thì động thái này cũng là giai đoạn mới nhất trong Đại Kế hoạch của Bắc Kinh nhằm khẳng định chủ quyền của họ đối với Biển Đông.


Mặc dù Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã kêu gọi “một sự đóng băng tự nguyện” đối với tất cả những hành động có thể làm leo thang các tranh chấp ở vùng biển này tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) mới đây, nhưng Bắc Kinh đã bác bỏ ý tưởng đó, đồng thời tuyên bố rằng họ sẽ vẫn duy trì quyền của mình về việc xây dựng những cấu trúc ở những khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền. Bản đồ đường chín đoạn của Trung Quốc yêu sách hơn 90% trên tổng số 3,5 triệu km2 diện tích Biển Đông.


Có một lý do địa chính trị cơ bản “ăn sâu bám rễ” trong những chính sách ngoại giao thực tế cho sự quyết liệt ngày càng gia tăng của Bắc Kinh ở vùng biển này. Để hiểu được hiện tại và đánh giá tương lai, cần xem xét vượt ra ngoài những sự kiện hiện nay, coi đó là những vụ việc riêng, đồng thời hãy chờ xem tham vọng lâu dài của Bắc Kinh đối với vùng biển có giá trị chiến lược cao và giàu dầu mỏ này.


Trung Quốc và một loạt quốc gia Đông Nam Á từ lâu đã tranh chấp và thỉnh thoảng xung đột với nhau xung quanh những khu vực khác nhau ở Biển Đông. Tuy nhiên, chỉ đến khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố tại một cuộc họp của ARF hồi tháng 7/2010 ở Hà Nội, rằng Mỹ có “lợi ích quốc gia” ở Biển Đông, thì tình hình mới bắt đầu lao dốc theo đường xoáy trôn ốc.


Lời tuyên bố chính thức của bà Hillary Clinton đã bị Bắc Kinh coi là một hành động khiêu khích và thúc đẩy việc quốc tế hóa tình hình Biển Đông. Trung Quốc, quốc gia đã tuyên bố rằng vùng biển này là một “lợi ích cốt lõi” của họ, mong muốn giải quyết những tranh chấp ở đó bằng hình thức song phương với từng bên có tuyên bố chủ quyền, đồng thời phản đối việc giải quyết theo hình thức đa phương cũng như các giải pháp dựa trên luật pháp quốc tế. Sự bác bỏ ngay lập tức của Bắc Kinh đối với đề xuất “đóng băng tự nguyện” của Ngoại trưởng John Kerry là dấu hiệu cho thấy lập trường ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong vấn đề này.


Kể từ bài phát biểu của bà Hillary Clinton, Biển Đông đã xảy ra một loạt tranh cãi leo thang theo kiểu hành động dẫn đến phản ứng xung quanh những thực thể riêng giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Philippines và Việt Nam. Vụ đối đầu năm 2012 giữa Trung Quốc với Philippines xung quanh bãi cạn Scarborough tranh chấp (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham, Philippines gọi là Panatag) đã đánh dấu sự khởi đầu trong cách tiếp cận mang tính khiêu khích hơn của Bắc Kinh đối với những tranh chấp này.


Những cuộc xung đột trong năm nay giữa các tàu của Trung Quốc và Việt Nam ở gần giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc, được hạ đặt hồi tháng 5 ở gần quần đảo Paracel (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc gọi là Tây Sa, bị Trung Quốc chiếm năm 1974), đã có nguy cơ leo thang thành một cuộc xung đột lớn. Động thái này của Trung Quốc nhiều khả năng là phản ứng đối với việc Việt Nam gần đây mời thầu các doanh nghiệp năng lượng nước ngoài tham gia hoạt động thăm dò. Tháng 11 năm ngoái, Tập đoàn Dầu mỏ và Khí đốt Tự nhiên (ONGC) của Ấn Độ đã ký một thỏa thuận với PetroVietnam, một doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước Việt Nam, về việc hợp tác trong lĩnh vực dầu mỏ.


Đến tháng 5/2014, Việt Nam đã đề nghị trao cho Ấn Độ 7 lô dầu khí để thăm dò ngoài khơi ở Biển Đông mà không phải đấu thầu cạnh tranh. Khi Ấn Độ công bố các kế hoạch từ bỏ lô dầu khí 128 vào năm 2012, Hà Nội đã yêu cầu New Delhi giữ nguyên cho đến năm 2014, qua đó thể hiện mong muốn của Hà Nội về việc duy trì sự hiện diện của Ấn Độ làm đối trọng trong khu vực. Hà Nội cũng đã mở đường cho các mối quan hệ chiến lược mạnh mẽ hơn với Mỹ để chống lại sự quyết liệt ngày càng gia tăng của Bắc Kinh.


Chắc chắn là các cuộc xung đột ở Biển Đông đang bị chi phối một phần bởi trữ lượng lớn tiềm năng dầu mỏ và khí đốt ở khu vực này. Giàn khoan Hải Dương-981 là một phần của cái gọi là Chương trình 863 của Trung Quốc, một sáng kiến được công bố vào tháng 3/1986 nhằm thu hẹp khoảng cách công nghệ giữa Trung Quốc và các nền kinh tế tiên tiến nhất của thế giới. Các cơ quan chính phủ Trung Quốc, bao gồm cả Bộ Khoa học Công nghệ và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia đã ủng hộ mạnh mẽ việc phát triển giàn khoan này.


Giàn khoan này đã giúp Trung Quốc có được khả năng độc lập trong việc khoan dầu và khí tự nhiên ở những khu vực tranh chấp trên Biển Đông mà các công ty nước ngoài có thể không sẵn sàng hoạt động do những nguy cơ chính trị. Sau động thái di chuyển giàn khoan Hải Dương-981 vào tháng 5/2014, tháng 6 vừa qua Trung Quốc đã triển khai thêm 4 giàn khoan dầu (Nam Hải 2, Nam Hải 4, Nam Hải 5 và Nam Hải 9) ở Biển Đông với những nhiệm vụ thăm dò tương tự dự kiến hoàn thành vào cuối năm nay. Những động thái này đã làm dấy lên nhiều tranh cãi ngoại giao và kinh tế hơn giữa Trung Quốc và Việt Nam.


Vậy thì Đại kế hoạch của Trung Quốc ở Biển Đông là gì? Chính sách đối ngoại chiến lược “giấu mình chờ thời” được thực hiện từ trước đến nay đang thay đổi sang một thái độ ngày càng quyết liệt hơn.


Trung Quốc không còn “giấu mình chờ thời” về các khả năng của họ và đang ngày càng sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự và công nghệ của họ, trong đó có việc triển khai một lực lượng hải cảnh đã được cải thiện nhiều để bảo vệ giàn khoan Hải Dương-981 khỏi sự quấy nhiễu của các tàu Việt Nam.


Giờ đây thì Trung Quốc đã thể hiện sự sẵn sàng của họ trong việc đối đầu với các bên có tuyên bố chủ quyền đối địch ở Biển Đông. Chắc chắn là giờ đây họ “không xuất đầu lộ diện” trước Việt Nam và phản ứng đầy đủ của cộng đồng quốc tế đối với vụ việc giàn khoan Hải Dương-981. Đằng sau sự tương tác của chuỗi “hành động-phản ứng” xung quanh những vùng biển tranh chấp, Trung Quốc tiếp tục hành động nhanh chóng theo kế hoạch lâu dài và nhiều giai đoạn của họ để cuối cùng khẳng định sự thống trị đối với khu vực Biển Đông. Kế hoạch này bao gồm 3 bộ phận hợp thành rõ ràng, cụ thể là:


1) Tăng cường các năng lực quân sự, đặc biệt là hải quân và không quân:


Hồi tháng 3 vừa qua, Trung Quốc đã công bố ngân sách quốc gia giai đoạn 2014-2015 của họ, với 132 tỷ USD được phân bổ cho chi tiêu quân sự, tăng khoảng 12% so với năm trước đó. Sự phát triển quân sự của Trung Quốc có nhiều mục đích, và sẽ không chỉ nhằm khẳng định hay bảo vệ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của họ ở Biển Đông và biển Hoa Đông, mà còn được sử dụng làm một sự răn đe đối với Đài Loan và đuổi Mỹ ra khỏi khu vực Tây Thái Bình Dương.


Theo Ronald O'Rourke, một chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Các Vấn đề Hải quân ở Mỹ, những nỗ lực hiện đại hóa hải quân của Trung Quốc bao gồm: tên lửa đạn đạo chống hạm (ASBM); tên lửa hành trình chống hạm (ASCM); các tàu ngầm; tàu mặt nước; máy bay, và sự hỗ trợ của hệ thống C4ISR (chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính, tình báo, giám sát và do thám); bảo trì và hậu cần; học thuyết hải quân; chất lượng nhân sự; giáo dục và huấn luyện.


2) Cải thiện hình ảnh quốc tế


Trung Quốc đã bị chỉ trích nhiều vì thiếu bằng chứng pháp lý cho tấm bản đồ đường chín đoạn (còn gọi là đường “lưỡi bò” hay đường chữ U) tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn diện tích Biển Đông. Trong quá khứ, sự chỉ trích quốc tế như vậy hẳn sẽ có ảnh hưởng hạn chế đối với chính sách của Bắc Kinh, như đã thể hiện qua việc họ từng phản ứng không đủ mạnh sau khi Bắc Kinh tiến hành cuộc đàn áp gây chết người nhằm vào các cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989.


Tuy nhiên, Trung Quốc giờ đây đang phải lo lắng hơn nhiều về hình ảnh toàn cầu của họ. Điều đó đã được kiểm chứng bởi những nỗ lực của các cơ quan chính quyền Trung Quốc nhằm kiểm duyệt bất kỳ sự miêu tả tiêu cực nào về nước này trong thời gian diễn ra Thế vận hội 2008 ở Bắc Kinh. Khi vấp phải sự chỉ trích của cộng đồng quốc tế trong thời gian gần đây về những hành động của mình ở Biển Đông, Trung Quốc đã cố gắng tìm cách củng cố những tuyên bố của họ thông qua những kháng cáo lên Liên Hợp Quốc. Chiến thuật mới này, mặc dù không kêu gọi một sự can thiệp đa phương vào những tranh chấp này, nhưng được coi là một sự phản ứng đối với việc Philippines đệ đơn kiện lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) để khẳng định chủ quyền của họ đối với các khu vực tranh chấp.


3) Củng cố các tuyên bố pháp lý


Bộ Ngoại giao Trung Quốc gần đây đã đưa ra một báo cáo gửi lên Liên Hợp Quốc, với nhan đề “Hoạt động của giàn khoan Hải Dương-981: Sự khiêu khích của Việt Nam và Lập trường của Trung Quốc,” trong đó chỉ trích những hành động bị cho là khiêu khích của Việt Nam xung quanh giàn khoan này và cung cấp một phác thảo toàn diện về những yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, trong đó có một tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc được ban hành ngày 4/9/1958. Hơn nữa, bản báo cáo này cũng bao gồm những trang phôtô từ một cuốn sách giáo khoa địa lý dành cho học sinh lớp 9 của Việt Nam được xuất bản cách đây 40 năm, và một tấm bìa của một tập bản đồ thế giới (World Atlats).


Một phương pháp khác mà Trung Quốc đang sử dụng để hỗ trợ những tuyên bố chủ quyền của họ là vận chuyển cát tới những bãi đá ngầm và bãi cạn mà họ đã kiểm soát ở Biển Đông. Tiến trình này, được gọi là “xây dựng đảo,” được thực hiện nhằm hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền của họ theo định nghĩa về lãnh thổ như đã được quy định trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS). Trung Quốc dường như lên kế hoạch di chuyển những cộng đồng dân cư tới những vùng lãnh thổ đã được tạo ra để sinh sống lâu dài, qua đó tăng cường sự khẳng định về mặt pháp lý của họ đối với các thực thể và các hòn đảo nhất định.


Để dự đoán trước những hành động tiềm tàng của Trung Quốc sau vụ giàn khoan Hải Dương-981, cần phải hiểu được Đại kế hoạch và việc khẳng định sự thống trị cuối cùng của họ ở Biển Đông. Vấn đề không phải là tại sao Trung Quốc lại rút giàn khoan Hải Dương-981 (ra khỏi vùng biển Việt Nam) mà là những chính sách thích ứng nào nhiều khả năng họ sẽ thực hiện trong giai đoạn tiếp theo. Cuộc xung đột leo thang, dù có hay không có những lời kêu gọi kiềm chế của Mỹ, cũng sẽ không được giải quyết sớm. Tuy nhiên, sai lầm lớn nhất mà bất kỳ kẻ bàng quan nào có thể phạm phải là coi sự kiện giàn khoan Hải Dương-981 là chuyện chỉ xảy ra một lần. Thay vào đó, nó là một hành động đã được tính toán cẩn thận và là một phần của một chiến lược lớn hơn.


Duy Anh giới thiệu


Con đường Tơ lụa - Công cụ dẫn dắt Giấc mộng Trung Hoa


 29 Tháng 12, 2014


“Con đường tơ lụa” cổ xưa đang được khôi phục với hy vọng rằng nó sẽ dẫn dắt “Giấc mộng Trung Hoa”. Tuy nhiên, việc thực hiện sẽ gặp rất nhiều khó khăn do những mối nghi ngờ về tham vọng chính trị của Trung Quốc, tư tưởng chủ nghĩa dân tộc của các nước có những tuyến đường đó đi qua.


“Con đường tơ lụa” gợi lên một quá khứ rực rỡ của việc liên kết thương mại giữa các cảng biển và người dân, các thành phố và các nền văn hóa. Giờ đây Trung Quốc đang theo đuổi một kế hoạch đầy tham vọng trong tương lai nhằm khôi phục quan hệ thương mại cổ xưa với các nước láng giềng của họ, trải dài từ phía Nam đến phía Bắc, mở rộng ra tới tận phía Đông Địa Trung Hải.


Cách đây một năm, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi khôi phục “Con đường tơ lụa” trên đất liền có từ cách đây 2000 năm và “Con đường tơ lụa” trên biển cũng được lập ra sau đó – một phần trong tầm nhìn của nhà lãnh đạo Tập Cận Bình nhằm đạt được “Giấc mộng Trung Hoa” về một đất nước Trung Quốc phục hưng.


Trong hai tháng qua, Trung Quốc đã tăng cường đầu tư tài chính để hậu thuẫn các kế hoạch này, trong đó có việc thiết lập một ngân hàng và một quỹ tài chính mới. Trung Quốc lên kế hoạch đầu tư nhiều tỷ USD vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng và hợp tác công nghiệp, tài chính với các thị trường mới nổi nằm dọc theo những tuyến đường này. “Con đường tơ lụa” sẽ đi xuyên qua Kazakhstan, Kyrgyzstan, Iran và cuối cùng kết thúc ở Áo. Trong khi đó, “Con đường tơ lụa” trên biển sẽ kết nối các cảng biển của Trung Quốc tới tận cảng Antwerp của Bỉ.


Các kế hoạch mang tên “Vành đai Kinh tế Con đường tơ lụa mới” và “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” sẽ xây dựng các tuyến đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay ở khắp khu vực Trung Á và Nam Á. Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Cao Hổ Thành đã nói rằng hai khối hợp tác kinh tế mới này – nếu như ý tưởng này “cất cánh” – sẽ bao trùm hơn 60% dân số thế giới và một phần ba kinh tế thế giới.


Về mặt lý thuyết, ý tưởng này có vẻ như hấp dẫn Trung Quốc, các công ty Trung Quốc và các nước láng giềng khát đầu tư của Bắc Kinh. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khả năng có những sự va chạm mạnh và những con đường vòng trong những tuyến đường vừa được giới thiệu do những nghi ngờ về tham vọng chính trị của Trung Quốc và tình cảm dân tộc của các nước có những tuyến đường đó đi qua. Cũng không thể phớt lờ vòng cung lớn hơn của sự thù địch địa chính trị.


Đối với Trung Quốc, các chuyên gia phân tích coi sáng kiến này là một biện pháp để họ tận dụng tình trạng dư thừa sản xuất nghiêm trọng và đa dạng hóa các khoản đầu tư của họ trong khi theo đuổi việc tìm kiếm ảnh hưởng chính trị trong khu vực. Ông Phương Quang Hoa, Hiệu trưởng Đại học Tây Bắc của Trung Quốc đồng thời là người đứng đầu Viện Nghiên cứu Con đường tơ lụa của trường đại học này, nói rằng “Kế hoạch Marshall phiên bản Trung Quốc” này sẽ giúp Trung Quốc sử dụng tốt hơn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối trị giá gần 4.000 tỷ USD của họ, và cung cấp sự đầu tư rất cần thiết cho nhiều quốc gia.


Kế hoạch Marshall nguyên bản là một chương trình hỗ trợ tài chính năm 1948 được Mỹ bảo trợ nhằm củng cố các nền kinh tế Tây Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó được đặt tên theo tên Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ là George Marshall. Ông Phương Quang Hoa nói rằng Trung Quốc cần những lĩnh vực mới cho đầu tư bởi vì nhiều khu vực của Trung Quốc Đại lục đang đạt đến ngưỡng phát triển. Chuyên gia này nhấn mạnh: “Trong nhiều năm, các quốc gia Trung Á và Arập đã bị các nhà đầu tư phớt lờ, vì thế có không gian lớn cho việc cung cấp tài chính và phát triển”.


Các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc đã đưa tin rằng các quan chức từ các nước như Kazakhstan, Campuchia và Lào ủng hộ kế hoạch của Bắc Kinh. Ông Phương Quang Hoa nhấn mạnh kinh tế khu vực Trung Á ngày nay tương đương với kinh tế của Trung Quốc cách đây 30 năm. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Trung Á và thương mại quốc tế đang gia tăng đồng nghĩa với việc có rất nhiều cơ hội trong các lĩnh vực kinh doanh.


Tháng 10 vừa qua, Trung Quốc đã ký một bản ghi nhớ với 20 quốc gia khác nhằm thiết lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) để cung cấp tài chính cho những nhu cầu về cơ sở hạ tầng của khu vực. Sự hấp dẫn của sáng kiến này là các đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc trong khu vực, và hai nước láng giềng đối kháng hơn nữa của Trung Quốc trong các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông là Philippines và Việt Nam, cũng nằm trong số 20 quốc gia đã ký bản ghi nhớ này.


Tháng trước, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã công bố phần đóng góp trị giá 40 tỷ USD của Trung Quốc vào “Quỹ Con đường tơ lụa mới” được thành lập cho các dự án giúp kết nối các quốc gia trong sáng kiến này.


Ông Lý Lập Phàm, một chuyên gia nghiên cứu về khu vực Trung Á tại Viện Khoa học Xã hội Thượng Hải, nói rằng chiến lược này cho thấy Trung Quốc đã chuyển lập trường của họ từ không liên kết sang ngoại giao “láng giềng hữu hảo”. Chuyên gia Lý Lập Phàm phân tích: “Vành đai Con đường tơ lụa mới sẽ kết nối các quốc gia Tây Âu và Đông Á, những nơi vốn đã giàu có. Tuy nhiên, ở giữa toàn bộ khu vực này có ‘vùng trũng’, nơi vẫn bất ổn chính trị và yếu kém về mặt kinh tế, nhưng lại có tiềm năng to lớn”.


Chuyên gia Lý Lập Phàm nhấn mạnh thêm rằng tuyến đường mới cũng sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng ở các khu vực nghèo nằm ở phía Tây Trung Quốc, đặc biệt là khu vực Tân Cương. Ông Lý Lập Phàm nêu rõ: “Tân Cương sẽ trở thành một đầu cầu quan trọng bởi vì một phía có các quốc gia như Nga và Kazakhstan, những nơi có kết nối về mặt văn hóa với Tân Cương, trong khi phía kia là những khu vực giàu có ở phía Đông của Trung Quốc”.


Tuy nhiên các chuyên gia phân tích đã hoài nghi về sự dễ dàng của việc thiết lập những mối liên kết giữa các nước láng giềng khu vực Trung Á. Ông Trương Hồng Châu, một chuyên gia nghiên cứu trong Chương trình Trung Quốc tại Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế S.Rajaratnam ở Singapore, nói rằng do mức độ tin tưởng cực thấp giữa các quốc gia này, nên một cách tiếp cận đa phương có thể không diễn ra thuận lợi. Ông Trương Hồng Châu viết trong một bài báo tháng trước: “Thay vì tập trung vào các dự án lớn cần sự tham gia của nhiều quốc gia, Trung Quốc nên thực hiện một cách tiếp cận song phương để hợp tác với các quốc gia riêng lẻ. Tốt hơn hết là đầu tiên tạo lực đẩy với các dự án nhỏ hơn và tìm kiếm cơ hội kết nối những điểm rải rác sau đó”.


Ông Trương Hồng Châu cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải thừa nhận những lợi ích của Nga, bởi vì khu vực Trung Á – bất chấp ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc – được coi là một phần sân sau của Nga.


Những người khác lo ngại về sự chi phối đang gia tăng của Trung Quốc. Hãng tin Bloomberg dẫn lời Giáo sư Nargis Kassenova, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á tại Đại học Kimep ở thủ đô Almaty của Kazakhstan, nhấn mạnh: “Trung Quốc quá hùng mạnh và chúng tôi sợ việc bị lấn át… Thật khó từ chối những gì Trung Quốc có thể đưa ra, nhưng chúng tôi phản đối việc hoàn toàn cam chịu trước sức mạnh của Trung Quốc. Chúng tôi chỉ đang cố gắng hưởng lợi về mặt kinh tế”.


Các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc không lùi bước. Họ đang lao vào giành giật các cơ hội mới, bất chấp nguy cơ vấp phải sự kháng cự từ các cộng đồng địa phương. Ông Trương Kiệt, Tổng Giám đốc Tập đoàn Cầu đường Beixin ở Tân Cương, một công ty xây dựng thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc, nói rằng doanh nghiệp này đang tích cực và chủ động tham gia các dự án được hỗ trợ bởi AIIB và Quỹ “Con đường tơ lụa”.


Beixin, doanh nghiệp đã tham gia việc xây dựng dự án đầu tiên ở nước ngoài vào năm 2003, hiện đang xây dựng các con đường và các tòa nhà ở 7 quốc gia, trong đó có Mông Cổ, Tajikistan, Kyrgyzstan, Afghanistan và Campuchia.


Ông Trương Kiệt cho biết: “Chúng tôi tin rằng việc đẩy mạnh phát triển ở các quốc gia láng giềng sẽ giúp cải thiện sự ổn định xã hội ở Tân Cương, và đã nêu quan điểm này với Bộ Thương mại với hi vọng cùng chia sẻ những lợi ích của kế hoạch quốc gia này”.


Với doanh thu hàng năm khoảng từ 1,2 - 1,5 tỷ nhân dân tệ từ các dự án nước ngoài, tập đoàn Beixin trông đợi kiếm được nhiều hơn với những dự án như vậy. Ông Trương Kiệt cho biết thêm: “Có tiềm năng to lớn bởi vì những quốc gia này có cơ sở hạ tầng nghèo nàn, ở mức độ của Trung Quốc vào những năm 80 của thế kỷ trước”.


Hoa Vĩ, tập đoàn có trụ sở ở tỉnh Quảng Đông, đã xâm nhập thị trường Trung Á cách đây 17 năm và là một nhà cung cấp thiết bị viễn thông lớn ở khu vực này. Tập đoàn này nói rằng là một công ty tư nhân làm ăn kinh doanh trên toàn cầu, Hoa Vĩ sẽ không được hưởng lợi trực tiếp từ kế hoạch đầu tư nói trên của Chính phủ Trung Quốc nhưng những sự phát triển sẽ thúc đẩy nhu cầu sử dụng các dịch vụ của họ.


Ông Triệu Hiểu Bân, Giám đốc phụ trách truyền thông tại chi nhánh Hoa Vĩ khu vực Trung Á và Caucasus cho biết: “Đầu tư của Trung Quốc ở khu vực này, và sự thúc đẩy quốc tế hóa đồng nhân dân tệ sẽ cải thiện sự phát triển kinh tế và trao đổi giữa Trung Quốc và các quốc gia ở khu vực này. Tiến trình phát triển mới sẽ tạo ra nhu cầu mới về thông tin và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin liên lạc. Sẽ có nhiều cơ hội ở đó cho Hoa Vĩ trong tương lai”. Ông Triệu Hiểu Bân nhấn mạnh mức tăng trưởng kinh tế trung bình hơn 6% của châu Á trong 5 năm qua là mức tăng trưởng hơn gấp đôi tăng trưởng kinh tế trung bình của thế giới, với sự ổn định chính trị là yếu tố thiết yếu cho việc duy trì sự thịnh vượng về kinh tế.


Trong số những bên tham gia lớn nhiều khả năng trở thành những người chiến thắng từ kế hoạch này là Công ty Cổ phần Công trình Quốc tế Trung Quốc, Công ty Công trình Quốc tế Sinoma và Công ty Xây dựng Đường sắt Trung Quốc.


Ông Kiều Thành Hổ, Giám đốc Chi nhánh Kazakhstan của Công ty Công nghệ Công trình Dầu mỏ Trung Quốc Hà Nam, nói rằng có thêm nhiều công ty Trung Quốc đang thành lập ở nước này, trong đó có các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân chuyên hoạt động trong lĩnh vực xây dựng đường bộ và các nhà máy điện, khai thác mỏ và thăm dò dầu khí. Ông Kiều Thành Hổ lạc quan rằng công ty của ông, một doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực kho chứa xăng dầu và đường ống dẫn khí đốt, sẽ được hưởng lợi “bởi vì có một thị trường lớn do ngành công nghiệp này vẫn đang trong giai đoạn ban đầu”. Ông Kiều Thành Hổ nói thêm: “Với việc có nhiều khoản đầu tư cơ sở hạ tầng do Trung Quốc dẫn đầu trong tương lai, về mặt tự nhiên sẽ có thêm nhiều mỏ dầu hơn, và do đó có thêm nhiều cơ hội xây dựng các đường ống dẫn dầu”.


Tuy nhiên, giống như một số người khác, ông Kiều Thành Hổ quan ngại về việc siết chặt các quy định của địa phương, vốn hầu hết là những sự hạn chế được đặt ra đối với việc thuê công nhân Trung Quốc làm việc ở nước ngoài. Ông Kiều Thành Hổ nói rõ: “Việc xin thị thực cho các công nhân Trung Quốc rất khó khăn, trong khi chúng tôi thấy các công nhân địa phương thường nóng tính và không đủ khả năng thực hiện công việc với những tiêu chuẩn cần thiết. Điều không thể tránh khỏi là xảy ra những cuộc xung đột giữa các công nhân”.


Holley Metering, một doanh nghiệp chế tạo dụng cụ đo đạc thông minh ở Hàng Châu, đã thiết lập liên doanh đầu tiên của họ tại Uzbekistan từ cách đây 10 năm. Jeffrey Guo, Chủ tịch công ty này, cho biết mặc dù thiết lập được một thị trường đáng kể và đã thành lập được liên doanh thứ hai trong thập kỷ qua, nhưng hoạt động trao đổi tiền vẫn là một trở ngại đối với việc tăng cường mở rộng hoạt động làm ăn của doanh nghiệp này vào khu vực Trung Á.


Ông Jeffrey Guo khẳng định: “Những hạn chế đổi nghiêm ngặt về việc đổi tiền có nghĩa là chúng tôi phải chờ đợi tới một năm để đổi tiền Uzbekistan lấy đồng USD”. Doanh nhân này nói rằng các công ty tư nhân như Holley Metering chưa chắc sẽ giành được những hợp đồng lớn. Ông nhấn mạnh: “Mặc dù các công ty tư nhân thường linh hoạt hơn và có khả năng kinh doanh ở nước ngoài, nhưng chúng tôi hiếm khi giành được những hợp đồng mà các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước được nhận”.


Beixin, một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước ở Tân Cương, cũng phải đối mặt với một vấn đề tương tự. Ông Trương Kiệt nói rằng mặc dù Beixin có một lợi thế trong việc có chung nền văn hóa, môi trường và đồ ăn với các quốc gia được kết nối bởi “Con đường tơ lụa mới”, nhưng đối với một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước ở Tân Cương, việc cạnh tranh với một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước ở cấp quốc gia là điều rất khó khăn.


Ông Trương Kiệt nhấn mạnh: “Các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước cấp quốc gia là những doanh nghiệp đầu tiên được thưởng cho những hợp đồng có lợi và chúng tôi phải đợi họ đẩy cho chúng tôi những hợp đồng phụ trong công việc của họ. Tất cả những gì chúng tôi mong muốn là chính quyền trung ương trao những cơ hội tương tự cho tất cả các doanh nghiệp, cho dù chúng được kiểm soát trực tiếp bởi chính quyền trung ương hay là bởi một chính quyền địa phương, giống như chúng tôi”.


Dường như không phải tất cả những người đi du lịch bằng các “Con đường tơ lụa mới” đều sẽ tìm thấy cảm giác êm ả và suôn sẻ, ngay cả trong trường hợp điểm đến là một nơi tuyệt vời.


Theo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng. Văn Cường giới thiệu.


Nguồn: nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hai bài về Gobbels (1897–1945), Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Hitler - Tư liệu sưu tầm 10.12.2017
Vài nét về tiểu thuyết nổi tiếng: Bác sỹ Jivago - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago từng “là vũ khí tâm lý chiến”! - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Cộng sản, Bạch vệ và kho báu Sa Hoàng - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Thời báo Hoàn Cầu viết về tình cảm yêu - ghét của Việt Nam với Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 04.12.2017
Trần Hữu Lượng - Người Đại Việt làm Hoàng Đế Trung Hoa - Tư liệu sưu tầm 03.12.2017
Magellan đến Thái Bình Dương - Tư liệu sưu tầm 28.11.2017
Thăm mộ cụ Alexander De Rhodes, người tạo ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 28.11.2017
Tiếng Việt mà thành Tiếq Việt sẽ đứt gãy văn hóa dần dần! - Nguyễn Lân Bình 28.11.2017
Chữ Quốc Ngữ qua những biển dâu - Đoàn Xuân Kiên 27.11.2017
xem thêm »