tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19316497
Tiểu thuyết
13.03.2017
Anh Đức
Hòn đất



- Trời đất, hồi chưa giặc giã, tôi lên đó làm mắm hoài mà! Rồi thím Ba nói tiếp, vẻ hồ hởi:


 


- Cha chả... cái xứ gì mà tới mùa cá dại nổi đặc sông! Ai muốn xúc bây nhiêu thì xúc. Thiệt ham làm sao. Cá lóc, cá trèn, cá lìm kìm, đủ hết, mạnh ai nấy bắt... Còn ruộng lúa sạ ở đó trúng đổ đồng cứ một công hai chục giạ cầm chắc! Người hạ sĩ nhổm tới, nhìn thím Ba ú trân trân:


 


- Ủa, coi bộ thím này biết xứ tôi rành dữ đa?


 


- Tưởng ở đâu, chớ Mặc - cần - dưng thì sao tôi không biết! ở đây đi Mặc - cần - dưng cũng gần xệu thôi, cậu à! Bọn lính chẳng chú ý gì về cái làng mang tên Khơ me xa lắc xa lơ đó. Chúng uống rượu, trả tiền rồi vác súng đi lệt bệt về chỗ đóng quân. Chỉ còn người hạ sĩ đen đúa kia ngồi lại. Đôi con mắt của y giờ đỏ hoe. Ngồi xổm gối trên bộ ván giữa tiệm, y cười coi như mếu, rồi lấy mu bàn tay vụng về chùi mấy giọt rượu giây trên bộ râu lún phún chưa cạo. Thím Ba ú hỏi:


 


- Cậu uống nữa thôi? Hai tay y vội chắp cái ly đưa tới:


 


- Cho tôi một ly nữa. Thím Ba ú múc rượu trong hũ, rót đầy tràn cái ly người hạ sĩ đang cầm:


 


- Hồi ở Mặc - cần - dưng, cậu sanh sống nghề chi?


 


- Tôi mần ruộng. Tháng nước thì dăng câu đặt lờ.


 


- Cậu đi lính lâu chưa?


 


- Hai năm rồi. Thím Ba ú vảnh bàn tay chặn nhẹ ống tay áo của người hạ sĩ:


 


- Khoan, cậu đợi chút xíu, để tôi đi nướng con mực cho cậu nhậu! Nói đoạn, thím mau mắn với tay lên túm mực treo bán, rút lấy một con. Rồi cầm con mực, thím lạch bạch đi vào bếp. Người hạ sĩ để ly rượu xuống, ngồi đợi. Coi bộ y cảm động. Khi mùi mực nướng trong bếp tỏa lên thơm tho, y hít hít cánh mũi:


 


- Cha... mực thơm quá! Thím Ba ú trở ra, tay kẹp chiếc đĩa nhôm đựng con mực nướng. Trong đĩa còn có một cái chén nhỏ. Thím trỏ cái chén nói:


 


- Có chén dấm ớt đây, cậu chấm mà ăn!


 


- Dạ. Người hạ sĩ cầm con mực, dứt mấy cái râu bỏ vô chén dấm, rồi lấy hai ngón tay kẹp vớt ra, thong thả đưa lên miệng nhai. Thím Ba ngồi khoanh tay rế nơi góc ván nhìn người hạ sĩ uống rượu. Chợt thím hỏi:


 


- Sao cậu không ở nhà mần ruộng, đi lính chi cho cực? Người hạ sĩ để ly rượu xuống, lặng thinh, gãi gãi đầu. Một lát sau y mới nói:


 


- Tại tôi ngu. Tôi ngu quá. Mà không phải chỉ có một mình tôi...


 


- Đi đây có cậu nào cùng xứ sở với cậu không?


 


- Có bốn năm đứa... Tụi nó không ở tại Mặc - cần - dưng nhưng cũng ở cận đó. Thằng thì ở Vĩnh Hanh, thằng thì ở Năng Gù...


 


- À, xin lỗi cậu, nói chuyện nãy giờ mà tôi sơ ý quên không hỏi thăm cậu thứ mấy chớ?


 


- Dạ tôi tên Cơ, thứ chín. Thím Ba ú gật đầu. Rồi thím nói, vẻ sợ sệt:


 


- Hồi sáng tới giờ "đụng" trong hang Hòn dữ quá, không biết ra sao? Nghe súng bắn điếc tai. Hạ sĩ Cơ bảo:


 


- Ờ, tụi biệt kích đột vô hang đó, mà đều bị đánh chạy dội ra hết rồi. Mấy ổng ở trỏng bộ đông lắm hay sao mà chống cự gắt mấu. Hồi sáng tới giờ "liểm" tụi tôi gần hai chục thằng rồi.


 


- Tôi thấy bao nhiêu võng bố ở trong xóm đều bị lấy hết.


 


- Thì để khiêng tụi bị thương mà... Hạ sĩ Cơ cầm ly rượu nhóng tới, hỏi nhỏ:


 


- Nè, thím nói thiệt cho tôi biết, mấy ổng rút vô trong hang có đông không thím?


 


- Tôi đâu có biết mấy ổng đông hay ít. Hạ sĩ Cơ buông ly rượu, nét mặt rầu rầu:


 


- Thím mà không biết... Thím nói để tụi tôi còn biết mà lánh né. Đây rồi thế nào cũng tới lượt tụi tôi phải vô hang. Thiệt là ngán. Coi bộ mấy ổng trong hang quyết tử quá xá! Thím Ba ú đập khẽ bàn tay xuống gối nghe cái "chách":


 


- Chớ không quyết tử? Tôi hỏi cậu, giả tỷ cậu bị người ta đè xuống cắt cổ, cậu muốn sống thì phải làm sao? ít ra cậu phải lừa thế chụp dao hoặc bóp họng cái người tính cắt cổ cậu, rồi phóc chạy, thì mới sống được, chớ cậu nằm im, ắt cậu phải chết... Mấy ổng cũng vậy đó, cậu à! Hạ sĩ Cơ gật đầu:


 


- Ờ, con trùn đạp riết nó cũng còn phải oằn huống chi là mấy ổng. Y dừng lại giây lâu, rồi tiếp:


 


- Nói thiệt với thím, tôi không ham đụng độ với mấy ổng đâu. Tôi muốn về nhà mần ruộng, dặng câu đặt trúm bắt lươn cá nhậu chơi khỏe hơn. Chắc thím biết kinh Hội - đồng?... Vợ tôi nó ở đó dệt chiếu nuôi con. Tội nghiệp...


 


- Đó, đó!


 


- Thím Ba ú kêu lên:


 


- Rốt cuộc người đờn bà cũng chịu cảnh khổ, cậu thấy chưa? Tôi khen cho cậu đành lòng bỏ vợ con mà đi. Kể cậu cũng là người lòng gang dạ đá! Hạ sĩ Cơ nghe nói đưa tay rờ rẫm bứt dứt cổ áo:


 


- Trời ơi, thím Ba, thím Ba... Tôi khổ lắm, thím Ba à! Y kêu lên như thế rồi bỏ ly rượu, bước xuống đất lê đôi giày bố có mắt cá đi xềnh xệch tới bên cây cột. Đứng dựa cột, người hạ sĩ ngó mông qua miệt Vàm Răng. Y ngó qua những cánh đồng nâu nhạt trải dài tới ven cây xanh mù. Và núi Ba Thê tim tím, vòi või ở trước mặt làm bụng dạ y chết điếng. Mãi một lúc lâu, y mới trở vào khoác cây súng trường mát, móc túi áo gom nhóp mấy đồng bạc lẻ:


 


- Thím tính bao nhiêu tôi trả. Thím Ba lắc đầu:


 


- Thôi, chút đỉnh mà tiền bạc gì cậu! Hạ sĩ Cơ ấp úng:


 


- Không, để tôi trả, để tôi trả mà!


 


- Tôi đã nói là tôi không lấy... Gặp cậu, tôi coi như người bổn sở... Hạ sĩ Cơ nói:


 


- Vậy tôi cám ơn thím... Thôi tôi về, nghe thím!


 


Trên đường về chỗ đóng quân, lòng hạ sĩ Cơ thấy vui vui khi nghĩ tới thím Ba ú, người đàn bà chủ tiệm béo mập mà tốt bụng. Và nhất là thím ta lại biết rất rõ xứ quê của y. Trời ơi, thím ta nhắc làm chi mùa cá, nhắc làm chi đồng ruộng khiến lòng y bồi hồi quặn thắt. Y nhớ ngày nào y đánh cộ trâu chở lúa mướn. Cộ trâu chạy băng băng trên đồng lúa mới gặt. Đó đây, các trại ruộng nổi khói cơm chiều. Rồi thì mùi thơm của những nồi cơm gạo mới, mùi cá lóc nướng trui khen khét. Lũ con nít đi bắt hôi cá đìa, đi mót lúa thấy y đánh cộ ngang đều chạy ùa theo kêu cho chúng đi ké. Thiệt là vui làm sao! ấy, cũng vào cái dạo tháng chạp này đây. Mùa tát đìa nối đuôi mùa gặt. Y nhớ khôn xiết cái cảnh ngày chạng vạng trong đồng. Sau bữa cơm mắm kho bông súng ngon lành, các trại ruộng đốt đống un lên, sửa soạn xây cà lan (3) đạp lúa tối. Và y cầm cây mỏ sẩy xốc lúa cho trâu kéo trục đạp qua.


 


Tụi đàn bà con gái giê lúa gần đó cười nói vang rân. Rồi trăng lên. Y vẫn vừa tiếp tục xốc lúa, vừa nói cà rỡn với mấy đứa con gái giê lúa bên cạnh. Đôi khi, táo bạo hơn, y còn dám bước trớ qua, quơ mỏ sẩy phệt nhẹ vào mông một cô nào đó, tùy theo sự trửng giỡn của cô ta đến mức độ nào, và y có thích cô gái đó hay không. Hồi đó y. còn xôm trai kia. Tuy cũng không trắng trẻo gì hơn bây giờ, nhưng y làm ăn xốc vác, lanh lẹ. Qua ngày mùa, tối tối y hay diện bộ "py - gia - ma" trắng, chải đầu ốp, mua khúc mía róc cầm tay, thả rểu ra cầu sắt chơi. Cái đời y cũng có lúc vui vẻ thảnh thơi như thế. Lúc kháng chiến, y cũng vô du kích đánh Tây. Hòa bình y cưới vợ, rồi cờ bạc. Y cờ bạc riết mà xa đồng ruộng, bỏ bê vợ con, bỏ cái lợp cái lờ để vô lính dân vệ. Từ dân vệ y trở thành lính bảo an không mấy chốc. Ban đầu còn đóng ở Long Xuyên, sau lên Rạch Giá. Y đi lính lâu mà không lên khỏi chức hạ sĩ, vì y không dám giết người như những thằng lính khác. May thay, cái gốc của ruộng đồng còn giữ y lại ở mức người lính đánh thuê. Nhiều trận càn, tụi lính cứ đạp bừa lên mạ, nhưng y lại đi tránh lối khác, vì chính y đã có lúc gieo cây mạ đó. Cũng như chưa lúc nào y dám cầm súng nhắm một con trâu mà bắn. Đến Hòn Đất này, y là một trong số những người lính chẳng thiết tha gì sự đánh chác. Lúc lên đường hành quân, y chỉ những mong sớm sớm trở về. Khi thấy chỉ mới có một buổi sáng mà lính đã chết và bị thương ba bốn chục, y ghê quá. Y đâu lạ gì những người du kích. Y hay ngẫm nghĩ nếu y vót chông cặm ruộng thì cây chông của y cũng sẽ đâm chết bất cứ thằng nào xông qua ruộng y như vậy. Cái khoảnh cách biệt, cái rãnh ngăn đôi giữa hạ sĩ Cơ và những người mà bọn giặc gọi là "Việt cộng" buộc y phải đi đánh đó, không có gì là sâu xa cả. Y cầm súng bắn vào họ không đành. Ngón tay y bóp cò súng không quả quyết chi hết. Y thấy những người du kích đó giống hệt như y, vì hầu hết họ cũng đều là dân ruộng, dăng câu đặt trúm như y vậy. Nghe nói cuộc bao vây này có thể kéo dài, y đâm lo. Trên đường đi từ quán thím Ba ú trở về tiểu đội, hạ sĩ Cơ tâm trí cứ để đâu ở miệt làng cũ. Và cái câu của thím Ba ú nói "từ đây đi Mặc - cần - dưng gần xệu! " cứ gợi đến cho y một ý định táo bạo.


 


4


Cho tới chiều, không có một cuộc xô xát nào xảy ra. Người ta không nghe tiếng súng nổ dữ dội như ban sáng và trưa. Chỉ có tiếng súng của bọn giặc bắn trâu nổ lẻ tẻ ở ven đồng. Những con trâu bị bắn khuỵu giữa ruộng rống dài. Khắp Hòn Đất ai cũng nghe tiếng rống thảm thiết của những con vật hiền lành ấy. Bấy giờ nắng bắt đầu nhòa đi trong vườn lá. Và khi gió biển thổi về Hòn mỗi lúc một nhiều hơn thì từ rặng Thất Sơn xanh mù kia thấy chớp trắng những cánh cò. Chiều nào cũng vậy, vào lối này, đàn cò lại trở về. Sau một ngày đi kiếm ăn ở chốn xa, những con cò bay về Hòn Đất, nơi có không biết bao nhiêu cái tổ rơm vắt vẻo trên đọt xoài, nơi chúng sống từ đời này đến đời khác. Đàn cò cứ mỗi lúc một hiện rõ, với những đôi cánh hình dấu ớ. Và khi sau lưng chúng sắc núi đã chuyển từ màu xanh sang màu tím ngát, thì đã có thể đếm được từng con cò đang bay vẫy, la lả. Nhưng chiều hôm nay đàn cò đầu tiên về tới vừa hạ xuống vườn xoài Hòn Đất thì chúng xáo xác vụt bay lên hết cả. Súng từ bên dưới bắn lên "bóc bùm, bóc bùm". Trong buổi chiều tà, có mấy con cò bị trúng đạn, xoạc đôi cánh trắng, từ không trung rơi thẳng xuống. Những con cò sau sắp hạ cánh đều kinh hãi kêu ré, cất lên. Chúng liệng nhiều vòng trên cao rồi cuối cùng chấp chới bay về phía Hòn Me. Mẹ Sáu đứng nơi bậc thang nhà nhìn thấy đàn cò không hạ cánh xuống vườn được, lòng mẹ đau như cắt. Mẹ ngồi bệt xuống bậc thang, ngó về phía Hòn bị cây cối che phủ. Bụng dạ mẹ càng thêm lo bấn. Hồi sáng tới giờ mẹ có làm được công việc gì đâu. Hết chạy vào lại chạy ra. Bỗng dưng bây giờ cái nhà chỉ còn trơ lại có mỗi mình mẹ. Hai chị em Quyên, Sứ vào hang thì đã đành, đến như con bé Thúy nó vào trong đó làm chi, để mẹ đã lo lại càng lo thêm. Hồi sáng, khi bọn giặc vào tới xóm, thằng Xăm đã ghé nhà mẹ sục kiếm. Nó hỏi:


 


- "Hai đứa con gái nhà bà đâu? " Mẹ đáp:


 


- "Thấy mấy ông vô, tụi nó sợ chạy đâu tôi cũng không biết! " Bọn giặc nói: - "Trốn vô hang hết rồi chứ gì, tưởng tụi tôi không biết hả? Cho bà hay, chuyến này tụi tôi tiêu diệt hết Việt cộng ở đây rồi đóng bót luôn chớ không phải như lần trước đâu. Tưởng chốn vô hang là êm sao. Tụi tôi đánh vô, bắt được đứa nào mổ bụng đứa nấy cho coi!"


 


Chúng nói thế rồi bỏ đi. Một lát sau, súng lớn ngoài tàu bắn lên Hòn nổ rung rinh nhà cửa. Mẹ Sáu phải xuống hầm núp. Dứt trận súng lớn rồi, mẹ vừa chui lên thì lại nghe súng to súng nhỏ rộ lên phía hang Hòn. Mẹ bắc thang leo lên dòm qua mái nhà sau, thấy cây cối ở hang Hòn bị đạn chém sả, như có bàn tay vô hình đang phát cho các nhánh mãng cầu, nhánh xoài rụng xuống một cách không thương tiếc. Kế mẹ nghe súng từ trong hang Hòn bắn ra. Tiếng lựu đạn nổ ầm ầm. Chị Hai Thép bồng con từ đằng nhà chạy đến, kêu


 


 


- Má Sáu ơi! Chị Hai Thép chạy rầm rầm vô nhà. Không thấy mẹ Sáu đâu, chị hốt hoảng kêu lên:


 


- Má Sáu, má Sáu!


 


- Tao ở đây nè! Mẹ Sáu ở trên mái nhà nói. Chị Hai Thép ngước lên hỏi:


 


- Má lên coi đó hả? Có ngó thấy gì không?


 


- Đâu có thấy gì. Chỉ thấy nhánh cây ngã liệt. Mẹ Sáu hai tay vịn thang, bước xuống. Mẹ nắm tay chị Hai Thép, nói tiếng được tiếng không:


 


- Đánh rồi, nó đánh vô hang rồi, vợ Hai Thép à!... Trời ơi, không biết trong đó anh em chống cự ra làm sao. Tao lo cho mấy đứa nó quá. Súng ống đâu có bao nhiêu... Chị Hai Thép đặt thằng nhỏ bảy tháng xuống ván, đứng im, lắng tai. Chị nói:


 


- Má nghe không, lính nó la dữ quá! Mẹ Sáu cũng lắng tai nghe, nhưng tai mẹ không nghe được tiếng la ở đằng xa vẳng tới. Chị Hai Thép hạ giọng:


 


- Không sao đâu, con nghe ba sắp nhỏ nói ở trong hang đó vững lắm, tụi nó không dễ dầu gì tràn vô được đâu!


 


- Ừ, nó không tràn vô được liền, nhưng cho là nó không tràn vô được đi, mà nó cứ vây riết, rồi anh em ở trỏng lấy cơm gạo đâu mà ăn?


 


- Má đừng lo, có gạo! Mẹ Sáu không nói nữa, kéo rổ đựng trầu, têm gấp một miếng. Sắp bỏ miếng trầu vô miệng, bỗng mẹ lại nói:


 


- Tao hỏi vợ Hai Thép, có gạo là có vậy, chớ lấy nước đâu mà nấu cơm, không lẽ nhai gạo sống à? Chị Hai Thép đang vảnh tay quệt mũi cho thằng con nhỏ lồm cồm bò trên ván, nghe mẹ Sáu hỏi chị cũng lo, vì chị cũng biết giặc đóng chiếm suối Lươn rồi. Nhưng chị đáp:


 


- Mấy ông mình thế thần dữ lắm, lẽ nào chịu ăn gạo sống... ít nhất cũng rang gạo mà ăn chớ!


 


Suốt buổi sáng, mẹ Sáu thấp thỏm không yên. Chị Hai Thép sang thăm mẹ Sáu một chút rồi bồng con về ngay. Từ tối hôm kia, anh Tám Chấn đã đến ở tại nhà chị mà không một ai trong xóm biết cả. Ngay mẹ Sáu cũng không biết nữa. Lúc chị Hai Thép trở về bên nhà rồi, mẹ Sáu đi cho heo ăn. Ngồi lùa tay vào máng cám, miệng mẹ kêu heo, nhưng lòng mẹ thì hướng cả về hang Hòn. Thật, bỗng nhiên mà tất cả ruột rà của mẹ đều bị dứt ra để trong hang Hòn đó. Con gái lớn, con gái út, con cháu ngoại cưng như trứng mỏng đó chẳng phải là nguồn sống của cả đời mẹ là gì? Rồi còn con rể và những anh em khác, đều như ruột thịt cả. Bây giờ tất cả đều đang đặt mình trong tình huống khó khăn. Sự sống và cái chết như đã để lên cân, mà bà mẹ là người đang hồi hộp nhìn coi cái cân ấy. Mặc dầu mẹ cũng đã từng nếm những nỗi lo âu kiểu như thế, nhưng trước kia nỗi lo âu của mẹ dàn trải ra, chớ đâu có câu thúc, gom lại ghê sợ như bữa nay. Đêm xuống tối mịt. Mẹ Sáu quờ quạng đi đốt đèn. Cây đèn ống khói cháy lên càng soi rõ sự trống trải của gian nhà. Mẹ ngồi dưới ván một lúc, bồn chồn chịu không nổi, mới đi thắp ba cây nhang. Mẹ chấp nhang đứng trước bàn thờ chồng, lâm râm khấn:


 


- ạng sống khôn thác thiêng, phen này ráng phò hộ cho sắp con cháu của ông được tai qua nạn khỏi...


 


Mẹ xá xá mấy cái rồi cặm nhang vào chiếc lư hương đặt trên bàn thờ. Vừa lúc ấy chợt trong xóm có tiếng loa đột ngột nổi lên. Mẹ giật mình chạy ra cửa. Tiếng loa đang thét vang vang:


 


- Nghe đây, nghe đây. Quân đội Việt Nam cộng hòa thông báo cho dân trên Hòn được rõ, hôm nay quân đội đã chạm súng và tiêu diệt được nhiều tên cộng phỉ. Hiện chúng còn ngoan cố chui rúc trong hang để chống lại. Quân đội sẽ tiếp tục tiêu diệt chúng. Chúng tôi xin báo cho đồng bào biết, bắt đầu từ chín giờ sáng mai cấm tuyệt không ai được léo hánh ra suối. Nghe đây, nghe đây, quân đội Việt Nam cộng hòa... Mẹ Sáu nghĩ bụng:


 


“Cấm dân không được ra suối à? Tụi mày mưu tính chi đây? Chà... nó nói nó tiêu diệt được nhiều anh em mình. Chắc nói láo. Hồi sáng nghe chỉ có hai người mình bị thương, một chú là Thẩm, hai là thằng Bé con của Tư Râu... Không biết sau còn có ai bị thương thêm không? " Tiếng loa của giặc vẫn còn thét ré trong xóm. Lúc tiếng loa im đi, chợt có tiếng kêu ăng ẳng ngoài ngõ. Mẹ Sáu vào nhà cầm cây đèn. Trở ra, mẹ thấy một con chó mực nhỏ chạy quấn tới bậc thang. Đi sau con chó còn có bóng người. Mẹ Sáu nhướn mắt nhận ra là thằng út, con của chú Tư Râu. Thằng út mặc cái áo đen dài tay, vạt áo nhét trong quần cụt. Nó đi lon ton tới bậc thang, nhảy riết lên. Mẹ Sáu hỏi:


 


- Mày đó hả út? Thằng út vừa thở vừa đáp:


 


- Dạ, ba con biểu con vô đây ngủ. Ba con nói tối nay bà Sáu ở nhà có một mình...


 


- Vậy à?... Bộ mày ở ngoài bãi chạy u vô đây sao mà thở hào hển dữ vậy?


 


- Dạ! Thằng út nói và đi vào. Năm nay thằng út mới mười ba tuổi, mà coi tướng đã vạm vỡ. Nước da nó đen, đầu hớt trọc, tóc xửng rửng như bông gáo. Bộ mặt nó coi liếng lắm, nhất là cái trán vồ của nó coi mới lỳ lợm làm sao. Vô nhà rồi, nó vẫn không ngồi yên được, cứ chạy lòng vòng, tắc lưỡi kêu con mực chạy theo. Giỡn với con chó một hồi, thằng út nằm lăn kềnh ra ván. Lát sau, nó ngóc đầu hỏi mẹ Sáu nhà có còn cơm nguội không. Mẹ Sáu ngạc nhiên nhìn nó:


 


- Bộ mày chưa ăn cơm sao?


 


- Con ăn cơm hồi xế lận! Mẹ Sáu đứng dậy cầm đèn, nói với nó:


 


- Đi xuống đây! Thằng út lồm cồm trở dậy, theo mẹ Sáu xuống bếp. Mẹ bưng nồi cơm và một ơ cá kho dọn ra bộ ván kê cạnh bếp. Thằng út đi lấy chén, leo lên ván. Nó tự xúc cơm, chan nước cá, rồi ngồi xếp bằng ăn riết. Mẹ Sáu nói:


 


- Hồi chiều tao nấu nồi cơm đó chớ tao có ăn hột nào đâu. Ba mày có ghé đây. Nghe nói thằng Bé anh mày bị thương, ba mày lo lắng mà không nói chi hết!


 


- Ba con nói không đánh giặc thì thôi chớ hễ đánh giặc thì bị thương là thường. Mẹ Sáu hỏi:


 


- Còn mày, nghe anh mày vậy, mày sợ không, út?


 


- Con khỏi sợ, bà Sáu à. Con liệng lựu đạn chết bà nó hết chớ sợ! Mẹ Sáu phì cười:


 


- Mày còn con nít ai dám giao lựu đạn cho mày mà mày liệng! Thằng út ngó mẹ Sáu, mấp máy môi tính nói gì rồi thôi, bưng chén cơm lên ăn. Và hết cơm, nó thọc chén vô nồi mà xúc. Mẹ Sáu la:


 


- Cái thằng này, có đũa bếp sao không chịu bới? Thằng út cười hề hề:


 


- Xúc mau hơn. ở đó bới thì ăn thêm được một chén nữa rồi! Mẹ Sáu hết biết nói sao với nó, lắc đầu:


 


- Cha con mày tính hệt như nhau. Tới ăn cơm thì cũng ăn hốt ăn táp! Thằng út làm thinh, ăn thêm ba chén cơm nữa rồi bỏ đũa đứng dậy. Nó xớn xác bước ra sau lấy gáo múc nước trong lu uống ừng ực. Trở vô, nó thè lưỡi liếm vòng quanh mép, đưa tay vuốt vuốt cái bụng no ướng, đủng đỉnh đi ra nhà trước. Ngồi nơi bộ ván, nó đong đưa chân chơi một lúc rồi nằm ngả ra:


 


- Con nằm đây, còn bà Sáu nằm ở trong nghen!


 


- Mày nằm đâu đó thì nằm! Mẹ Sáu nói và liệng cho nó cái mền. Nó chụp cái mền hất tung ra đắp kín cả người. Mẹ Sáu ngồi xổm một gối ngoáy trầu, chép miệng:


 


- Cha... Đêm nay không biết con Thúy ở trong hang ngủ nghê ra làm sao? Sợ tụi nó đánh vô nữa quá! Thằng út nằm trong mền nói:


 


- Ban đêm tụi nó không dám vô hang đâu!


 


- Sao mày biết? Mày thì cái chi cũng biết hết hà!


 


- Thiệt mà... Phải chi con được ở trong hang con khoái gắt. Ngủ ở trỏng chắc ấm lắm! Mà hơi ngán...


 


- Ngán cái gì?


 


- Ở trong hang có chôn xương mấy chú chết hồi đó đó. Ghê lắm! Sợ mấy ổng nhát lắm!


 


Mẹ Sáu nghiêm nét mặt bảo:


 


- Nói bậy nè, mấy chú bác của mày hy sinh cho cách mạng mà không lẽ đi nhát mày sao? Từ rày tao cấm mày không được nói vậy nữa, nghe út? Thằng út bị mẹ Sáu rầy, nó nằm im không nói nữa. Mẹ Sáu ngồi nhai trầu bỏm bẻm một lát rồi bước ra đóng cửa. Mẹ thổi tắt đèn, đi nằm. Thằng út tốc mền, hỏi khẽ:


 


- Bà Sáu gài cửa kỹ hôn?


 


- Tao gài rồi! Thằng út lại trùm mền. Nhưng nó cứ lăn qua trở lại. Mẹ Sáu hơi lấy làm lạ:


 


“Thằng này bữa nay không biết có chuyện gì mà cứ rột rẹt hoài. Nó còn hỏi mình có gài cửa kỹ không. Mọi bữa lại đây ngủ, hễ nằm xuống là nó ngáy liền mà! " Nhưng mẹ nghĩ chắc nó ăn cơm no nên tức bụng khó ngủ, và mẹ không để ý nữa. Mẹ nằm trăn trở, không sao dứt được nỗi lo. Mẹ lại hình dung ra hang Hòn. Cái hang đó càng chất thêm vào lòng mẹ bao nhiêu là lo âu, hồi hộp. Cứ mỗi lúc mẹ càng cảm thấy phải làm một cái gì để ngăn chặn bớt sức tấn công của bọn giặc, để những vòng vây của chúng phải giãn ra. Mẹ muốn bứt cái vòng đai hung hãn siết chặt lại hòng dập tắt nguồn thương yêu và sự sống của đời mẹ. Trong đêm tối, khi mẹ Sáu trở về với nỗi lo lắng của mẹ thì thằng út vẫn chưa ngủ. Nó có nỗi lo riêng của nó mà mẹ Sáu không hề hay biết. Thằng út đang mường tưởng nhớ lại dáng dấp một trái lựu đạn, một trái lựu đạn MK3 mới tinh, thực sự chính tay nó đã được cầm, và hiện giờ đang thuộc về nó. Suýt nữa thì ban nãy nó đã để lộ ra với mẹ Sáu là nó có trái lựu đạn ấy rồi. May quá, nó kịp ghìm lại. Nó không thể nói với ai khác. Bây giờ, mỗi một tiếng động ngoài ngõ, một tiếng chó sủa trăng cũng khiến thằng út giật mình, dợm bật dậy. Nó đã sửa soạn đôi chân của nó rồi. Hễ nghe tiếng giày lính đi vô là nó sẽ vọt ngay ra cửa sau. Cái sàn lảng nhà mẹ Sáu nó đã để ý, thấy có hơi cao, nhưng nó lượng sức nó có thể nhảy xuống để chạy. Nhưng tại sao thằng út lại cứ lo ngay ngáy sợ lính vô nhà?


 


Sao nó nằm đây mà nó cứ tính chuyện chạy trốn? Chuyện này cũng chỉ có mỗi mình nó biết. Hồi xế, nhà nó ăn cơm sớm. Ba nó bảo:


 


- "út à, tối nay mày đi lại nhà bà Sáu ngủ. Bà Sáu ở nhà có một mình! " Thằng út liền "dạ" rồi kêu con Mực xuống xuồng bơi đi ngay. Nhưng lúc nó cặp xuồng đi tới vườn dừa thì một tốp lính ngồi dưới gốc dừa ngó thấy ngoắc nó:


 


- ??????, lại đây tao nói cái này nghe mày nhỏ!


 


- ạng nói cái chi? Nó hỏi.


 


- Mày biết leo dừa không? Thằng út mới dơm miệng trả lời "không", mặc dù leo dừa là nghề của nó. Nhưng nó thấy tụi lính tháo xanh - tuya đạn và lựu đạn bỏ đầy trên tấm vải bạt thì nó lại đổi ý, sanh ra muốn cà rà làm quen với tụi lính. Nó đáp:


 


- Biết chớ... Mấy ông muốn bẻ dừa ăn hả?


 


- ờ, leo bẻ vài trái dừa mầy! Bẻ xuống tụi mình chặt uống chơi!


 


- Bẻ thì bẻ! Thằng út nói rồi thót leo liền. Tụi lính đứa nào cũng khen thằng út leo dừa giỏi hơn sóc. Mà thật, trong nháy mắy, nó đã lên tới một ngọn dừa. Nó vặn cho dừa rụng xuống bịch bịch. Tụi lính hí hửng ôm mỗi thằng một trái. Thằng út bẻ tất cả bốn trái rồi tuột xuống. Một thằng lính lăn về cho nó một trái. Nó lắc đầu:


 


- Tôi không uống đâu, thứ này tôi uống hoài! Bọn lính lấy dao găm chém vạt dừa sạt sạt. Thằng út ngó thấy bọn lính chém vụng quá, nó mới giành dao chém. Nó chém trái dừa nào coi cũng muốn uống chớ không sần sùi dơ dáy. Nó ngắm nghía cây dao găm Mỹ của tụi lính, khen cây dao tốt, đoạn chồm tới đút dao vô cái vỏ giắt nơi xanh - tuya. Tụi lính uống dừa xong nằm ngả ngớn ca vọng cổ. Thằng út vui vẻ bảo:


 


- Để tôi đờn miệng cho mấy ông hát, nghe! Nói rồi nó uốn lưỡi tăng tằng dạo qua một câu. Tới chỗ nhịp vào, nó tróc lưỡi một cái giòn khướn nghe hệt như tiếng nhịp của song loan. Tụi lính phục nó quá hỏi:


 


- Ai dạy mày đờn miệng vậy?


 


- Tự ên tôi!


 


- Dóc, mày phải bắt chước ai mới đờn được chớ?


 


- Tôi bắt chước ông Tư Đờn, tôi nghe rồi nhái theo ổng!


 


- Thằng nhỏ này tài quá bây! Thằng út nghe bọn lính khen, mặt nó cứ tỉnh bơ, chẳng hề tỏ vẻ đắc chí như tụi con nít khác. Tánh nó vậy, nó đâu thèm hí hửng ra mặt. Thành ra bọn lính càng thêm phục nó, cứ giữ nó nấn ná ở lại chơi. Thằng út thì nãy giờ đã nhắm một trái lựu đạn ở cái xanh - tuya. Nó rắp tâm đợi trời tối là lấy trái lựu đạn. Trong lúc chờ đợi, nó kể cho tụi lính nghe chuyện cặp rắn hổ mây lớn thường nổi lên ngoài biển, quãng giữa Hòn Tre và Hòn Quéo. Bọn lính hỏi nó có thấy tận mắt lần nào chưa, thì nó nói:


 


- Tui ngó thấy có một con hè. Mà bây giờ cũng còn có một con thôi. Hồi còn nguyên cặp, nó hay nổi lên nhận chìm ghe, ăn thịt người ta thiếu gì! Ba tui nói hồi đó có một ông bự con lắm, kêu là ông cai Thoại. Bữa nọ vợ chồng ổng chạy ghe bườm ra gần Hòn Tre. ạng để vợ coi lái, còn ổng ngồi trước mũi thủ một cây roi mạnh tông dài. Lúc cặp rắn nổi lên xô ghe như mọi khi ổng không thèm nói. Đợi lúc đầu con rắn đực ngóc lên tính táp, ồng quơ ngọn roi, quật ngang, con rắn gãy cổ chết... Từ đó chỉ còn lại con rắn cái... Chồng nó chết rồi, một mình nó không dám đón đường nhận ghe người ta nữa... Thằng út kể dứt câu chuyện cai Thoại giết rắn thì trời nhá nhem. Không chậm trễ, nó nhè nhẹ thò tay tháo trái lựu đạn. Miệng nó vẫn nó leo lẻo:


 


- Con rắn cái bây giờ cũng còn nổi lên hoài... Lúc nó nói câu ấy thì trái lựu đạn đã nằm nặng trĩu trong túi áo nó rồi. Nó thọc tay vào túi nâng giữ trái lựu đạn và đứng lên:


 


- Thôi, mấy anh nghỉ, tôi về!


 


-  lâu lâu lại đây chơi nghe bồ!


 


- Mấy anh còn ở đây lâu lắm sao?


 


- Còn lâu, chừng nào tiêu diệt hết Việt cộng trong hang mới đi! Thằng út bỏ bước chậm rãi. Con mực vẫn theo sau. Đi khuất bọn lính, thằng út mới vụt chạy. Về gần tới nhà mẹ Sáu, nó tạt vô vườn li - ki - ma, bới một cái lỗ ém trái lựu đạn. Nó làm dấu, khỏa đất kỹ lưỡng, rồi chạy về nhà mẹ Sáu.


(còn tiếp)


Nguồn: Hòn đất. Tiểu thuyết của Anh Đức. Rút từ Anh Đức – Tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »