tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20551287
11.03.2017
Trần Thanh Phương
Đoàn Giỏi – Hầu như nhân vật “Đất rừng phương Nam” đều về trong rượu của anh



Trong số báo Xuân Canh Dần, 2010 của tờ An ninh thế giới, nhà văn Nguyễn Quang Sáng nhớ lại:


Sau khi tập kết ra Bắc, tôi với nhà văn Đoàn Giỏi ở cùng một nhà, số 2 Cổ Tân, Hà Nội, hai phòng bên nhau lầu một, cùng một hành lang, cùng nhìn qua Nhà hát Lớn, cùng nhìn bụi tre ngà và cây sứ trước sân. Nhà văn Đoàn Giỏi thứ năm, tôi gọi anh Năm, tôi cũng thứ năm, nhưng tôi nhỏ tuổi hơn, anh gọi tôi bằng: Mày. Ngày nào hai anh em cũng qua lại và rượu và đủ thứ chuyện, nhiều nhất là chuyện quê hương, không cố ý mà như ngày nào cũng ôn lại cái vốn sống của mình cho văn học.


Một hôm, buổi rượu trưa, tôi sang anh, mâm rượu đã bày sẵn trên sàn gỗ bóng mượt, ngồi xếp bằng kiểu Nam Bộ.


Trên bàn viết anh treo tấm khẩu hiệu:


“Đất rừng phương Nam”


1. Phải hoàn thành đúng thời hạn.


2. Không - Tự sát.


Thấy hai chữ “tự sát” tôi rùng mình. Anh rót ly rượu đế để lên bàn, đốt một cây nhang, thành kính cắm vào lư hương, xá ba xá. Khi vào mâm, anh giọng ngậm ngùi, ít khi tôi được nghe.


- Bữa nay tao khai bút, uống đi!


Khi anh viết lúc nào trên bàn cũng có một ly rượu, thỉnh thoảng nhấp một miếng, hình như nhân vật của “Đất rừng phương Nam” đều về trong rượu của anh, tuôn ra dưới ngòi bút của anh. Vài tháng sau, tiểu thuyết ‘Đất rừng phương Nam” ra đời…


Nhà văn Lê Vân thuật lại một lần uống rượu với nhà văn Đoàn Giỏi khá chi tiết trong số báo Xuân năm 1991 của tờ Văn nghệ Hội Nhà văn:


Buổi chiều một ngày áp Tết, tôi đang buồn chán vì phải “giam” trong bệnh viện, thì may sao nhà văn Nguyễn Minh Châu tới thăm. Chuyện trò được ít phút, cả hai đều nổi máu muốn đi chơi. Tôi bảo anh Nguyễn Minh Châu dắt xe ra trước chờ ở ngoài cổng, còn tôi trút bộ quần áo bệnh viện, thay thường phục tìm cách lọt ra sau.


Cuộc trốn viện diễn ra êm đẹp. Tôi bảo anh Châu:


- Khoan hẵng đưa tôi về nhà, tôi với ông hãy tạt vào nhà ông Đoàn Giỏi.


Nguyễn Minh Châu lúc bấy giờ cũng mới nổi, tính tình lại có phần rụt rè nên quan hệ còn chưa rộng. Đối với Đoàn Giỏi cũng mới sơ giao chưa thân lắm nên anh cũng muốn đến chơi nhân thể xem sinh hoạt tết nhất của một “anh Hai Sè Goòng” ra sao, nên tán thành ngay.


Chúng tôi gõ cửa phòng, và khi mở cửa ra đã thấy nhà văn Đoàn Giỏi đang la đà bên chiếu rượu với một vị khách. Sau phút giới thiệu chủ khách ồn ã, hình như ông khách nọ thấy có cơ hội thuận tiện xin phép chủ nhân cho mình được cáo lui.


Chúng tôi ngồi xuống chiếu đưa mắt quan sát quanh căn phòng hơi chật chội nhưng đặc biệt ấm cúng. (Dường như suốt mùa đông chủ nhân đều đốt một nén hương trong cái trang thờ thổ địa kê dựa chân tường, cạnh lò sưởi (kiểu Pháp cũ). Làn khói hương vật vờ khiến cho mấy chữ đại tự bằng mực Nho trên tờ giấy hồng điều treo phía trên thấp thoáng như bức tranh thủy mạc.


Nhà văn Nguyễn Minh Châu và tôi chỉ biết chút ít chữ Nho, còn đang vừa đọc vừa đoán thì chủ nhân khẽ cười:


- Đó là mấy chữ “Chích thân thiên lý mã”. Nét bút tài hoa của ông Hoàng Trung Thông, Tết năm xưa đó.


Nguyễn Minh Châu đòi ông giải nghĩa. Ông cười hà hà:


- Hờ, hờ… Chích thân thiên lý mã nghĩa là con ngựa ngày đi nghìn dặm một mình lẻ bóng…


Tôi rất lấy làm thắc mắc:


- Anh như con xích thố của Quan Vân Trường, giới văn nghệ nhiều người hiểu anh. Nhưng đâu có cô đơn. Là người miền Nam tập kết ra đây dẫu nay chưa tính chuyện về nhưng suốt mấy chục năm anh vẫn sống vui giữa lòng bạn bè…


Nét mặt nhà văn Đoàn Giỏi chợt nghiêm lại, tối sầm. Một bên má ông giật giật khiến đôi mắt như lác hẳn đi. Sau một thoáng xao động, chủ nhân vừa nói vừa nhoài người kéo cái thùng sắt tây dưới gầm giường, mở nắp lôi ra một cái gói được chằng buộc bằng mấy lớp giấy báo. Chúng tôi chăm chú nhìn cái vật chủ nhân đang mở ra một cách từ tốn thận trọng. Thật có trời mà nhận ra ngay đó là cái gì. Tựa như một chiếc thắt lưng da của trẻ con được cuộn tròn lại.


- Cá thiều đấy. Đặc sản vùng quê tôi nhưng cũng hiếm lắm. Ông bạn cũ, hình như nay cũng thường vụ Tỉnh ủy chi đó mới gửi ra cho bữa trước. Cũng chỉ còn một thẻo này…


Nhà văn Đoàn Giỏi dùng một cái kéo y tế lấp lánh ánh mạ kền gỡ dần cuộn cá để cắt. Lưỡi kéo sắc ngọt cứa vào miếng cá sần sật, giòn tan. Ba đoạn cá, mỗi đoạn chừng đốt ngón tay trỏ bằng nhau chằn chặn rớt nhẹ xuống chiếc đĩa sứ trắng.


Tuy không được thiên hạ xếp vào hạng tứ quý là chim, thu, nụ, đé nhưng ở quê ông giống cá này lại rất được ưa chuộng, nhất là dân nhậu. Bắt được cá thiều, người ta lọc nguyên lấy cái lườn và lạng mỏng ra như cái thắt lưng và đem phơi khô. Mẻ cá nào được nắng, hồng đỏ, lên màu mã não. Thân cá thiều phơi khô thơm phức mũi có thể bỏ mồm chén ngay được mà không sợ Tào Tháo đuổi. Còn nướng trên than đước thì hết chê. Làm đồ nhậu lai rai thì tuyệt cú mèo!


Chiều đông ảm đạm, nhưng trong phòng chưa vội lên đèn, tối mờ mờ. Nhìn ông già thu mình trong tấm áo varơi dạ cổ lông to xù, ánh lửa đỏ rực của dây mayxo hắt lên khiến khuôn mặt méo mó có phần cổ quái, khách giàu tưởng tượng có thể ví ông như một nhà giả kim thuật thời cổ đang tập trung trí lực để luyện đan. Và miếng cá thon dài, mỏng như lá lúa đặt trên bếp điện đỏ rực trước mặt ông kia khác nào như lưỡi đoản đao của Chuyên Chu kiếm khách từng mang theo để nhập Tần.


Nén hương nơi trang thờ thổ địa chợt phụt thành ngọn lửa, tỏa khói mịt mù, che mờ mấy chữ đại tự trên mảnh giấy điều trước khi tắt hẳn. Chủ nhân đứng lên đốt tiếp một nén khác. Xong đi vào phòng xép phía trong lục lọi một hồi. Lát sau ông mang ra một cái bát cùng con dao, cười hềnh hệch:


- Chà, mấy ông bạn số còn hên. - Nhà văn Đoàn Giỏi nói và đặt tất cả xuống chiếu.


Trời! Một cái phao câu gà luộc. Quả tình tôi chưa hề được nhìn thấy một chiếc phao câu vĩ đại đến thế bao giờ! Nó vốn đã to, lại được chém già tay dao, lạm sâu cả vào mình con gà nên to lùm lùm dễ sợ, để vừa khít cái bát mẫu. Đặc biệt nó béo vàng, mỡ tứa ra cả ngoài da.


- Con gà béo cực! - Tôi không khỏi thốt lên - Chú gà tuyền này rán khỏi cần mỡ lợn, cứ mỡ nó rán nó!


Nghe tôi nói, ông già có vẻ khoái, giọng lộ vẻ tự hào:


- Giống gà công nghiệp to con. Bà xã nhà tôi mua từ cơ quan đem về nuôi từ lúc còn bé tý teo. Thế mà hàng ngày tôi chăm bẵm còn hơn cả con mèo (Nhà văn Đoàn Giỏi rất thích nuôi mèo, cưng chiều hết ý, cho ngủ cùng trên giường). Chiều hôm qua có khách - mấy anh em ở trỏng ra… Cân đúng bốn ký lận! Tôi bảo bà xã nhà tôi cắt cái phao câu này dành lại phòng khi có bạn đột xuất. Mà trong con gà thì “thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh” nhá!


Vừa nói lý lịch và mọi chuyện xung quanh con gà chủ nhân vừa đưa dao xẻo một miếng nhỏ, phần cuối của phao câu, để vào bát của mình. Phần còn lại ông bổ làm đôi đều cắn cua và chia cho hai chúng tôi, Nguyễn Minh Châu vội rụt bát lại kêu lên:


- Ôi! Phải chia cho đều. Mỗi người một miếng cùng ăn cho vui chứ?


Nhà văn Đoàn Giỏi cười thân mật:


- Đây, phần tôi đây rồi. Tôi cũng vừa ăn xong với ông bạn đại sứ, các ông đã biết đấy. Xin cứ tự nhiên cho. Thôi nào… - ông nâng chén lên giơ ra đòi cụng bằng được chén của chúng tôi.


Rượu chừng đã ngà ngà, ông Đoàn Giỏi kể chuyện ông có một ông bạn quen với cả gia đình. Ông ta làm đến chức Bộ trưởng, đời sống phải nói là khá giả. Thức ăn lượm trong tủ lạnh. Thỉnh thoảng nhà văn Đoàn Giỏi đến chơi, đến khi ra về, ông ta lại giúi cho khi vài khoanh giò, lúc dăm quả trứng, thậm chí có lần cả một tảng philê thịt bò non.


- Ông ta chẳng ăn được! Mỗi bữa chỉ rau dưa với vài lát thịt đã muốn ứ tận cổ - Nhà văn Đoàn Giỏi kết luận - Thế đó, người có thì lại không ăn được, trong khi mình ăn được thì lại không có…


Biết ông bắt đầu sa đà vào thế sự, lại sẽ khơi dậy một tâm sự có thể não lòng, nhà văn Nguyễn Minh Châu uống ít nên còn tỉnh, nháy tôi ra hiệu. Và chúng tôi đứng dậy cáo lui.


Nhà văn Đoàn Minh Tuấn ở cùng nhà với nhà văn Đoàn Giỏi: 148, đường Võ Văn Tần, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, cho biết:


…Mấy tháng trước khi Đoàn Giỏi mất, anh thích đọc “Thiền” và cả tuần nay có lúc “nhà đạo sĩ” ngồi yên tĩnh cho thuốc đốt hai bên mép đầu gối, một kiểu đốt huyệt của Đông y. Anh bảo thấy dễ chịu trong người. Anh rất khâm phục các đồng chí cách mệnh bị tù đày, giặc tra tấn đốt lửa đôi bàn tay mà vẫn không hé nửa lời kêu ca. Anh cho rằng đó là cách giữ vững niềm tin và khi đã tin yêu một điều gì đó thì chịu đựng được hết mọi gian nan. Anh vẫn thường triết lý: “Người chết bao giờ cũng khỏe nhẹ, chỉ khốn khổ cho những người còn sống lại mà thôi! Nhiều lúc mình cũng muốn chết như Hêminhuê[1] tự cho mình một viên đạn là xong. Nhưng chao ôi! Nếu có đấng thiêng liêng thì mình chỉ xin một thị thực gia hạn cho mình hết năm 1989, để viết cho xong cuốn tiểu thuyết “Núi cả cây ngàn” nói từ thời buổi hoang sơ của đất Nam Bộ - Cuốn sách này mình ấp ủ từ lâu, vừa hoàn thành đề cương, đã ký hợp đồng với xuất bản Văn hóa; anh em họ ép mình quá chứ mình không định ký. Sách dày độ 350 trang”.


Và sáng hôm 27-3 trước khi nhập viện anh đã mang theo một tập tài liệu để viết, nhưng cái bệnh quái ác đâu cho anh viết tiếp được gì.


…Tôi đã đi cùng Đoàn Giỏi những năm kháng chiến ở ngoài Bắc, những vùng có chiến sự ác liệt, các vùng giặc Mỹ ném bom rải thảm. Có một lần chúng tôi đi biển, khi về thì xảy ra sự kiện Ních Xơn phong tỏa Vịnh Bắc Bộ, rải mìn toàn bộ khu vực cảng Hải Phòng hòng làm áp lực với ta ở chiến trường miền Nam. Đoàn Giỏi xông xáo như một nhà hàng hải. Nhiều người đã say sóng, không ăn uống được gì. Rượu thì càng tránh xa. Riêng anh, cái vẻ vạm vỡ như chiếc phao lúc nào cũng sôi nổi cùng biển cả, uống rượu như thường, ai cũng nể phục. Tôi nhớ ở Câu lạc bộ Ba Đình, anh cũng là tay bơi lội có hạng. Anh thường nói:


- Mình xuống nước lặn một hơi ép mình như chiếc lá sát dưới đáy hồ ở trên trông xuống cũng đẹp lắm chứ!


Rồi anh thẳng bàn tay đưa ra trước mặt làm bộ, làm tịch như con cá đao đang lao mình xuống đáy đại dương nằm sát mặt biển.


Một kỷ niệm khác là dịp khăn gói theo “thầy” đến tận Cà Mau khi vừa giải phóng. Lúc ấy, đường đi còn xấu lắm, phải dùng chiếc Jeep Mỹ mới vượt qua đoạn đường từ Bạc Liêu về Cà Mau. Đoàn Giỏi muốn về với Năm Căn. Tại đây, trong những ngày đình chiến 1954, anh đã viết một bài mang tựa đề “Bà má Năm Căn” rất hay. Nhưng dọc đường hôm ấy, chúng tôi gặp một đám cưới. Sẵn máy quay phim đưa lên quay cảnh rước dâu. Máu giang hồ nổi lên, chúng tôi cứ theo cái đám cưới ấy đến hàng năm bảy cây số. Chúng tôi vào chào hai họ, tất nhiên cô dâu chú rể ra tận xe mời vào uống nước. Đâu phải nước mà là nhậu cho hết 16 món của bà bếp trưởng. Bà bếp nhiệt tình là dì cô dâu, còn trẻ đẹp, bác Giỏi thích trêu chọc, nên bà đã cho tác giả “Đất rừng phương Nam” ăn toàn những món rất đặc sắc. Sau này, Đoàn Giỏi nhắc bữa nhậu đó hoài và coi đó là một trong những cuộc nhậu ngon nhất trong đời anh.


…Tôi cũng không bao giờ quên hồi còn làm báo Thống Nhất, tôi xin xếp Nguyễn Chánh Sắc chiếc Commăngca đưa Đoàn Giỏi đi Cẩm Phả, huyện đảo. Tất nhiên đâu phải mình ông Giỏi mà cái băng ấy còn có cả cụ Nguyễn Tuân, bác Diệp Minh Châu, bác Nguyễn Văn Bổng, bác Tế Hanh, v.v… Cứ cái kiểu tạt ngang rẽ dọc ấy, một tuần thành nửa tháng. Hôm trở về cơ quan, Phạm Hữu Tùng quân sư cho xếp đạo diễn kỷ luật tôi. Đoàn Giỏi hay tin, qua nhà Phạm Hữu Tùng nhậu và nói:


- Nếu kiểm điểm Đoàn Minh Tuấn thì cả năm sáu anh em chúng mình sẽ mang đến thùng bia hơi xin dự thính uống ngay bên cạnh và thỉnh thoảng tiếp tế bia cho Đoàn Minh Tuấn vừa uống vừa nghe kiểm điểm, cụ Tuân sẽ là người rót bia!


Nghe Đoàn Giỏi nói vậy, tôi thấy khỏe ra, không ai động đến tôi cả. Cả Xích Điểu hồi ấy là Tổng biên tập, nhưng Xích Điểu, Đoàn Giỏi và tôi coi như vua Lê cho có vì, còn bao nhiêu quyền hành do chúa Trịnh tiếm quyền cả.


Cá tính của Đoàn Giỏi là như vậy, cho nên văn chương của anh cũng phản ánh sự sắc cạnh và độc đáo mang sắc riêng biệt. Làm văn chương mà không có cá tính khác nào Kim Tự tháp mà không có đỉnh nhọn.


Anh như một cây chò chỉ cao thẳng hơn 60 mùa xuân thử thách nắng gió phương Nam nhưng vẫn giữ được phong cách cao đẹp. Sách của anh đã vượt biên, dịch ở Liên Xô, Hungari và nhiều nơi khác. Có lần Xuân Diệu đi Hung về chuyển cho anh cuốn “Cuộc truy tìm kho vũ khí” của anh bằng tiếng Hungari, kèm bài viết về cuốn sách của Đoàn Giỏi cho bạn đọc thiếu nhi bên ấy. Chị Zimônina Inhia dịch cuốn ách “Đất rừng phương Nam” của anh ra tiếng Nga, có lần chị tâm sự với tôi: “Đọc Đoàn Giỏi làm tôi thích miền Nam”, và chị đã sang thăm miền Nam, đến tận quê nhà Bác Tôn.


Anh có nhiều hoài bão, hoài bão cao nhất là được viết, được đi, và được đọc.


Hôm đưa anh đi nhà thương, anh nói vui, nếu mình giàu có, mình muốn đi nhiều nơi, tới đâu viết và in được sách ở đó, rồi viết lấy tiền để đi tiếp. Khi nào chết được đốt xác rắc tro xuống ba dòng sông: sông Tiền, sông Hồng và sông Hương thân yêu của xứ xở mình.


Cũng Đoàn Minh Tuấn nhớ lại: Vào trung tuần tháng 3-1989, Nguyễn Quang Sáng và anh uống chén rượu cuối cùng với Đoàn Giỏi khi anh ở Hà Nội. Đoàn Giỏi đưa ra một hộp phômai và nói:


- Dành cho hai cậu đó! Còn mình thì không uống được nữa rồi: nửa ly bằng hột mít, mình đã dội muốn ọe ra…


Nguyễn Quang Sáng và tôi cùng lắc đầu:


- Sức khỏe ông Năm Giỏi mình suy sụp nhanh quá! Anh có tặng cho Sáng tấm lịch 1989 ở Hungari có hình cô gái ở trần và bốn con ngựa, cả ba anh em đều thích bức hình đó.


Đoàn Giỏi hôm đó rất vui:


- Mình phải giấu dưới đáy vali khi về nước, sợ mấy vị hải quan ta cho là tranh ảnh “đồi trụy” lại tịch thu đưa “về nhà” mất!


Nhà văn Nguyễn Văn Bổng nhớ lại: Ở thành phố Hồ Chí Minh ra, anh Đoàn Giỏi thường đến nhà tôi ăn cơm, anh thích nhắm rượu với món chao nhà tôi làm. Chuyến ra cuối cùng, tôi mang cho anh một đĩa để anh ăn một bữa cho vui miệng nhưng anh đã để dành ăn tới một tuần lễ; mỗi ngày một ít, có bữa mua bánh mì phết chao lên, ăn như pho mát rồi đưa cay một cách điệu nghệ.


Nhà văn Tô Ái Như kể lại trên báo Văn nghệ công an số 3 (tháng 3-2004) rằng: Tôi không biết uống rượu để hiểu hết cái khoái cảm của nhà văn Đoàn Giỏi trong các cuộc vui thú với thần lưu linh, nhưng tôi rất yêu quý cái tính nghệ sĩ của anh là quên hết sự đời, chỉ một mình đối thoại ngầm với thiên nhiên để tận hưởng hết cái vẻ đẹp tao nhã của nó. Các buổi trưa, tôi thường thấy anh uống rượu, nhưng hầu như việc ăn uống của anh rất đơn giản. Miếng đậu phụ, chén lạc rang, thậm chí có lần tôi thấy anh nhắm rượu với mấy quả mận xanh chấm muối…


Cuộc sống của anh kham khổ là vậy, nhưng bao giờ tôi đến, anh cũng rót rượu ép tôi uống, khi nào tôi nhấp được một chút, anh mới vui lòng.


Mấy năm trước khi anh mất, tôi thấy đi đâu anh toàn cuốc bộ. Trời rét, anh không có giày. Trước Tết, anh sắm được đôi giày mới, đem khoe tôi. Anh nói là anh sẽ may bộ comlê, trong những ngày lạnh ở Hà Nội, anh vẫn mặc cái áo dạ cũ với chiếc khăn len đã bạc màu.


Sau đây xin kể vài món nhậu và cách nhậu của người miền Tây Nam Bộ, nhất là miệt U Minh, miệt rừng đước ở bán đảo Cà Mau mà nhà văn Đoàn Giỏi rất thích:


Nghe nói đến món nhậu nhà quê thì người ta luôn nghĩ tới món ăn đặc sản của thôn quê. Đúng vậy, người U Minh đặt cho món nhậu quê hương nhiều tên hấp dẫn khác nhau: Nhậu “chay”, “nhậu cóc ổi”. Hai cái tên nhậu này làm cho khách đường xa nghĩ là món nhậu nhẹ nhàng. Khi làm đồng về, năm ba người rủ nhau lai rai… Ghé vô cái quán cóc ở ngã ba, nhưng quán chỉ có rượu, không có mồi. Trời nắng ngồi trong nhà không thoải mái, họ ngắt mấy tàu lá chuối lót dưới gốc gòn cặp mé sông ngồi cho mát. Gòn non, trái bằng chân cái, tay cái, một người leo lên cây bẻ xuống, người vô quán xin muối ớt và xách chai rượu ra, bẻ gòn chấm muối ớt. Chất chan chát, ngòn ngọt hòa lẫn với ngọt và cay của muối, nuốt xong miếng gòn chép miệng, uống vô chung rượu nếp sủi bọt trong veo, rượu vào tới đâu thấm tới đó, xong miếng này thèm ăn và uống miếng nữa. Cứ thế hết chai này đến chai khác. Tới chiều, chỉ trả tiền cho chủ quán vài lít rượu, “mồi” miễn phí.


Bần chấm muối nhậu là hết sẩy. Nhưng cũng chưa bằng mía chấm muối ớt. Bên góc vườn có bụi mía Tây vàng ươm. Họ xin một cây, chặt ra từng lóng chia nhau chấm muối ớt nhai vào vừa ngọt, mặn, cay nuốt nước nhả xác ra, hít hà một tiếng cho đã miệng, chép chép nghe thèm rượu vô cùng, uống vô một chung, khà một tiếng dài cho thật đã. Mồi bắt, rượu bắt, hết rượu như chơi.


Một lần anh Đoàn Giỏi kể trong bài “Mắm Châu Đốc - Long Xuyên” được đăng lại trong sách Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam (tập I), NXB Giáo dục, 2008, anh cho rằng đây là món đưa cay tuyệt trần ở vùng quê Nam Bộ. Anh viết:


Ăn mắm có nhiều cách. Mắm sống: hoặc cắn nguyên con, hoặc xé tay, xé miếng nào ăn miếng nấy, kèm rau sống, khế, chuối chát, lá gừng, bần chua, đọt chiếc, ớt nguyên trái, tự cắn lấy, rồi hớp chút rượu đế. Thỉnh thoảng ăn chút cơm xới ra để nguội, mà phải ăn bốc bằng tay. Ngon nhất là nhậu và ăn trên thuyền thả theo dòng trôi, hoặc neo dưới bóng các cội bần. Mắm ruột hoặc mắm thái (giả mắm ruột) ăn kèm thịt phai, thịt thủ luộc với các thứ rau sống kể trên và gừng củ thái nhỏ. Chỉ ăn với bún, có thể cuốn bánh tráng nhúng nước, thêm tép bạc luộc. Ai cuốn nấy ăn. Một thứ “mồi nhậu” hạng ưu. Hoặc mắm chưng, mắm chiên ăn với bí rợ hầm dừa. Mắm bằm thực chưng với trứng vịt ăn với bất cứ loại canh nào cũng ngon, nhiều đạm, dinh dưỡng, dễ tiêu hóa… Nói chung những loại mắm kể trên đều “đi” với chất cay rất tuyệt diệu.


Cô Bùi Thu Hà, con dâu của Đoàn Giỏi kể: Ba tôi thích bông cẩm chướng, cúc vạn thọ lùn. Ông thường uống trà đặc, viết văn vào đêm khuya. Lúc nào trong túi cũng mang theo ly “hạt mít” quen thuộc để uống rượu. Ba thích ăn cơm với ớt, mắm, hột vịt chiên với hành. Nhưng ba không nỡ ăn cả quả trứng, bao giờ cũng chia hai phần một phần của ba, phần còn lại cho anh Viễn, chồng tôi.


Món nhậu hương quê của người U Minh xưa thường là thế. Còn ngày nay, những tay sành ăn nhậu, khi tàn tiệc nhậu những món cao lương mỹ vị, rượu ngà ngà say họ thường thay món nhậu “cóc ổi”. Những dĩa muối chát chấm cơm mẻ, bần, ổi, mía chấm muối ớt. Chất chua chát có tác dụng làm giã rượu, cơn say bớt dần. Mồi bén, rượu ngọt, cuộc tiệc tiếp tục rôm rả trở lại. Chuyện đời, chuyên tiếu lâm, ca hát vui vẻ. Những người nhậu ít, nhậu hết nổi lén đi nằm, hoặc ra đâu đó kiếm nước uống ngồi tán gẫu, giờ cũng trở lại tham gia, vừa ăn mồi vừa đóng góp tiết mục vui. Những cuộc nhậu cóc ổi như thế mới có thể kéo dài hết ngày hoặc tới gần sáng mới tan. Đã nhiều lần, tôi từng nhậu cách này với nhà văn Anh Động, nhà thơ Lê Chí, nhà thơ Nguyễn Bá và nhiều văn sĩ khác ở miền Tây Nam Bộ.


Đặc điểm người dân U Minh khi nhậu trên mâm chỉ có một chiếc cốc mà thôi. Tên gọi vật dụng hai miền Nam - Bắc khác nhau. Người miền Nam gọi cái cốc là một loại vật thể đúc bằng thủy tinh, đít tròn, miệng tròn; đít túm, miệng rộng có sức chứa một phần tám lít, giữa hông có đúc nổi hai lằn chỉ thật nhỏ nằm khít nhau để lấy đó làm độ chuẩn chia đôi, người ta gọi đó là “lằn chệt đẻo”. Dù trên mâm nhậu có bao nhiêu người thì cũng dùng một cái cốc mà thôi. Nhà thơ viết cho thiếu nhi Trần Hồng Thắng thường đọc câu thơ sau mỗi khi bạn văn đến nhà nhậu: Nhà nghèo chỉ có một ly/ Xin mời các bạn hãy đi lòng vòng…


Cách uống: Người ta tạm giao quyền cho một người làm “chủ xị”, thường họ đựng rượu trong chai nước xá xị có sức chứa một phần tư lít. Người chủ xị rót rượu đầy một cốc bưng lên uống trước giựt xuống tới chệt đẻo, anh được quyền trao cho người nào đó, phần nhiều là người lớn tuổi nhất trong mâm. Với vòng rượu đầu, ai từ chối là xem khinh tình nghĩa cả mâm nhậu. Có thể những vòng rượu sau anh từ chối được bởi có một lý do chính đáng nào đó. Rồi người chủ xị tiếp tục rót, cốc rượu cứ chuyền vòng tròn trên hai người một, hoặc người uống trước cạn tới chệt đẻo rồi tùy thích mời một người nào đó; có khi chủ xị chấp nhận cốc rượu đó được tính vào vòng, có khi ông ta phạt bảo “đá bổng, đá bỏ”, vòng sau mới được tính. Một cốc rượu không được uống nhiều người vì họ bảo uống như vậy là rượu bị nát đi, không trọn tình nghĩa. Không phải người U Minh chỉ đặt ra cốc rượu phải uống chia đôi mà cục đường, trái ớt, con cá, củ khoai… nhất nhất đều chia đôi. Họ bảo rằng đó là tục lệ ông cha thời mở đất với muôn ngàn khó khăn gian khổ, nhưng cùng nhau đoàn kết thương yêu nhau đẩy lùi tất cả cho nên ngọt bùi cùng hưởng, cay đắng cùng chia, bây giờ việc ấy trở thành tập tính của họ.


Lại một tập tính uống rượu trong cốc thì chia đôi nhưng phải xoay vòng. Theo nhà văn Sơn Nam, thuở mở đất người vào đây rất thưa và rất hiếm bạn bè, họ gặp nhau, quen nhau và kết nghĩa “ní” với nhau, mặc dù đồng trang lứa hay vong niên cũng coi như vai vế anh em ruột thịt. Lễ kết nghĩa một người với một người hoặc một tập thể họ đều làm theo chuyện “Tru hắc ngưu tế địa, sát bạch mã tế thiên”, của Tam anh Lưu Huyền Đức, Quan Vân Trường và Trương Dực Đức thời Tam quốc nơi Đào Viên yến kết nghĩa. Trong rượu họ có trích huyết ăn thề nên phải uống cưa đôi và xoay vòng như vậy.


Chuyện đời xưa của ông cha đã qua hàng ba trăm năm rồi, không biết có đúng như vậy không, nhưng ngày nay người U Minh vẫn đậm nét trong các cuộc nhậu với kiểu cách.


Trong một tạp chí văn nghệ, có bài viết nhân 80 năm ngày sinh Đoàn Giỏi, nhà văn Trần Thanh Giao kể lại rằng Đoàn Giỏi nói “xỉn là cha Mười Xỉn ở Mỹ Tho” thường say “quắc cần câu” nên “xỉn là danh từ riêng trở thành động từ” (đúng ra là từ chỉ trạng thái chứ không phải động từ). Có thể ở Mỹ Tho có một anh thứ Mười suốt ngày say rượu be bét nên người ta quên tên thật mà gọi anh là Mười Xỉn thành ra “chết tên”, chứ không phải Mười Xỉn có thể biến tên mình từ “danh từ riêng trở thành động từ”. Đoàn Giỏi mất rồi, làm sao kiểm chứng? Mà cho dù Đoàn Giỏi có nói thì có khi là nói trong lúc nhậu xỉn, còn khi đưa lên báo, người viết phải cân nhắc và chịu trách nhiệm.


Thật ra xỉn là một từ của đồng bào người Hoa nói giọng Quảng Đông ở Nam Bộ, chỉ trạng thái say rượu be bét. Nhưng nguồn gốc nó do đâu? Nhà nghiên cứu Hán - Nôm và phương ngữ Nam Bộ Cao Tự Thanh bảo: “Xỉn từ tiếng Hoa, đọc theo âm Hán - Việt là trình, phát âm Quảng Đông là xỉn. Chữ trình bên trái có bộ dậu (tức chai, lọ); bên phải là khẩu (trên) vương (dưới)”. Tôi vẫn còn ngờ nên tra tự điển Hán - Việt Thiều Chửu thấy có một chữ trình được giải nghĩa là cái hũ (từ chĩnh của ta có gốc từ chữ này chăng?). Chữ Trình (cái hũ) này bên trái có một bộ thổ, bên phải vẫn là chữ trình: khẩu (trên), vương (dưới); nhưng sách này không có chữ Trình nào như chữ Cao Tự Thanh nói. Tôi lại tra sang bộ dậu, thấy có chữ đính (bên trái bộ dậu, bên phải chữ đinh) được giải thích là: say rượu, say mèm. Nó đây chăng? Nhưng ngẫm lại thấy chưa phải, nghĩa thì đúng mà âm chưa ổn. Vì phụ âm đ trong Hán - Việt thường biến thành t trong âm Quảng Đông (đả thành tả, như trong “ngộ tả nị xẩy”), còn tr mới thành x (trà thành xà, ẩm trà thành “nhẩm xà”)… Chữ trình mới là đúng qui luật. Tôi lại gọi điện hỏi Cao Tự Thanh: “Chữ Trình ông nói có nghĩa là gì, nghĩa đó được giải thích trong từ điển nào?”. Đáp: “Chữ Trình (xỉn) có nghĩa là bệnh vì rượu, say ba ngày mới tỉnh được giải thích trong các từ điển Hán - Hán như Từ Hải, Từ Nguyên…”. Theo chỉ dẫn đó, tôi tìm thì ra kết quả như sau: Yến tử xuân thu: Cảnh Công ẩm tửu, trình, tam nhật nhi hậu phát (Nội thiên, Gián hượng) Cảnh Công uống rượu, say mèm, ba ngày sau mới tỉnh.


Vậy xỉn là âm Quảng Đông của trình, nghĩa như trên chứ không phải là tên của Mười Xỉn ở Mỹ Tho; người Nam Bộ đưa từ xỉn vào phương ngữ theo cách tạo từ rất đúng qui luật ngôn ngữ, cũng như đồng bào miền Bắc gọi săm xe đạp, từ tiếng Pháp chambre à air, v.v…


(còn tiếp)


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info


 







[1] Ernest Miller Hemingway (21- 7- 1899/ 02-7- 1961), Giải Pulitzer năm 1953 với tiểu thuyết Ông già và biển cả, và Giải Nobel Văn học năm 1954. Ngày 02-7-1961, Hemingway tự chết bằng súng (Chú thích của Triệu Xuân).




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »