tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21269083
Lý luận phê bình văn học
11.03.2017
Nhiều tác giả
Tuyển tập về Nhà thơ Bùi Giáng (kỳ cuối)


Công Án Tử Sinh


HOÀNG NGUYÊN NHUẬN


 Với Tôi, đời anh là một công án. Tôi không ngừng tra hỏi về anh, càng hỏi tôi càng xa những câu trả lời. Những điều tôi sắp nói chỉ là viên đá dò đường ném vào hư không hoặc chỉ như người chạy bắt bóng... Thôi thì tới đâu hay đó, như một lời lắp bắp tạ từ thấn tượng.


Những Ấn Số Linh Ðộng


Tôi có tật ưa ca na cúp núp một vài ẩn số, một vài công án tôi cho là hấp dẫn linh động để khi buồn hay rãnh rỗi tôi lại lôi ra chơi như hồi còn bé những ngày nghĩ học vắng bạn thì đem đồ chơi ra chơi một mình.


 


Hồi bốn năm tuổi, quý những viên bi chai hay bi thủy tinh còn hơn sinh mạng. Lên sáu, bảy tôi mê thổi sáo. Hết thời mê bi, mê sáo đến mê những tờ Programme hay chương trình giới thiệu các tuồng hát bóng, nhất là các tờ chương trình in ở ngoại quốc. Ðến bây giờ, thỉnh thoảng tôi vẫn còn mơ thấy tờ Programme của phim Singing In The Rain hay Les trois Mousquetaires dop Gene Kelly thủ vai chính tôi phải chịu mất số tiền gần bằng cả tháng tiền học để tậu cho được ! Hết mê các tờ chương trình thì mê thơ chép tay, rồi sách...


Không biết đến tuổi nào thì tôi phụ những báo vật ấy và đến tuổi nào thì những báo vật ấy được thế bằng Lê Long Ðĩnh, Diogène, Trang Tử, Cao Bá Quát, Socrate, Quang Trung, Sartre, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Jean Baptiste, Mishima, Phật Thích Ca, Empedocle, Jesus,Hồ Chí Minh, Huệ Năng, Thầy Thiện Minh, Mao Trạch Ðông, Pol Pot... Và anh. Mặc dù anh nhập kho công án của tôi hơi chậm.


Công Án Tử Sinh 


Ðời anh là một công án tử sinh, một bí ẩn về sống chết. Tôi được nhiều dịp sợ chết và thấy người khác sợ chết, tôi có dịp chán sống và thấy người khác chán sống nhưng tôi chưa thấy một người nào không ham sống và cũng không sợ chết như anh.


 


Ðấng Tạo Hóa có hay không, và nếu có thì Tạo Hóa có khôn ngoan thật không, tôi không dám chắc. Tôi cũng kông dám chắc đời người la một sản phẩm Tạo Hóa không ngoan bày thêm vào triệu triệu thứ khác trong vũ trụ, hay là một ân sủng Tạo Hóa tặng cho cặp đàn ông đàn bà yêu nhau.


 


Saint- Exupéry bảo tình yêu đích thực không phải là nhìn nhau mà nhìn vế một hướng. Về hướng nào đây, tiền bạc, danh vọng, con cái? Nếu như thế thì người yêu chỉ là phương tiện! Trái lại, yêu là để mà yêu-nghĩa là nhìn nhau, nhìn vào người yêu chứ không nhìn về gì khác cả, thì con cái, tiền bạc, danh vọng không phải mục tiêu của yêu. Con cái chỉ là kết quả  là tương tự như trúng lotto. Có vé số là có người trúng cả. Ðời mỗi người bắt đầu từ sự gặp gỡ giữa một con tinh trùng hay một tý tẹo tế bào và một cái trứng. Sự gặp gỡ đó là khởi điểm hóa thân của một sinh thể đang “lang thang từ độ luân hồi”. Trừ những vị cha mẹ nuôi, chỉ có vua quan ngày xưa mới đòi làm cha mẹ mà không cần đẻ con, cha mẹ dân! Hoặc chỉ có mấy tu sĩ quyết giữ lời khấn hứa đồng chơn mới đòi làm cha mà không cần đẻ con, cha thiên hạ! Chứ người thường cha mẹ phải có con và con phải có cha mẹ. Cha mẹ “sinh” con, mà con cũng “sinh” cha mẹ, vì không có con thì làm gì có cha mẹ. Gọi đó là mộ sáng tạo, một ân sủng của Tạo Hóa thì có oan Tạo Hóa quá không? ! Ôn Như Nguyễn Gia Thiều gọi Tạo Hóa là trẻ tạo hẳn cũng có lý do nào  đó. Ân sủng hay tai nạn, muốn hay không muốn thì, cho đến ngày chết, mỗi người cũng chỉ có một đời để sống thế nhưng, cho đến ngày nhắm mắt suôi tay, có thể có người chẳng biết mình đã sài cạn lán đời mình như xe dùng hết bình xăng hay chưa. Vũ Hoàng Chương đã chẳng từng hỏi:


Ta đã làm gì đời ta chưa


Ta đã làm gì đời ta xưa?


Hình như anh không hề thắc mắc như Vũ Hoàng Chương vì anh không có đời xưa mà cũng chẳng có đời nay.


Quái Tượng Thứ Nhì


Trong ngày 30.4.1975 ở Sài Gòn, nếu hình ảnh lá cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam phấp phới trên dinh Ðộc Lập là hiện tượng lạ thứ nhất thì anh chính là quái tượng thứ nhì vậy.


Lạ vì trong ngày đó anh là người duy nhất mặc đồ trận của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với áo quần treillis và nón nhựa, tức lớp trong của nón trận. Anh nhởn nhơ trong nhung phục ấy với một bày chó năm bảy con cột dính chùm quanh lưng, đi đâu kéo chúng ăng ẳng theo đó thấy mà phát thương! Ðồ trận và nón nhựa anh nhặt ngoài đường, bầy chó anh mua ngoài chợ chó Hàm Nghi. Trước ngày đổi đời anh nhận được một số tiền nhuận bút. Anh ra phố rủ đám trẻ đánh giày, đám trẻ cầu bơ cầu bất trôi sông lạc chợ cùng anh ăn nhậu, còn bao nhiêu anh mua chó để... phóng sanh!? Nhưng thay vì thả chúng tự do, anh lại cầm tù chúng theo cách của anh như thế. Mới đầu, bầy chó đông đến mấy chục con nhưng lúc tôi gặp anh trên đường Trương Minh Giảng xế Đại học Vạn Hạnh thì chỉ còn năm bảy con, có lẽ vì một số đã thoát khỏi xiềng xích, hoặc có người lén giải thoát... Tôi kẹt đi học tâp cải tạo từ ngày Phật Ðản năm đó nên không biết đến lúc nào anh mới lạc mất con chó thân yêu cuối cùng? Thời buổi một đồng còn quý huống nữa là mấy chục ngàn, nói chi là mấy trăm ngàn, thế mà anh tiêu như vậy đó. Anh tự gọi anh là kẻ chịu chơi, kể cũng còn khiêm tốn lắm!


Chiếc Lá Vàng Rơi Bên Trời Cố Quận


Vật đổi sao dời, lịch sử sang trang mới hay còn trang cũ, thời cuộc quẹo mặt quẹo trái hay còn trên đường thẳng... anh không quan tâm. Anh không cần biết. Anh không lo, không sợ vì anh không có gì để mất, ngay cả sinh mạng của anh. Chính anh không sợ chết thì sao tôi phải đau khổ vì cái chết của anh? Chính anh không ham sống thì sao tôi phải tiếc thương cho số kiếp của anh? Nh chẳng cần ai cả và có để ai cần anh đâu mà phải thương hại cho người còn sống! Thế nên, dù mến phục anh, khi hay tin anh qua đời, tôi thản nhiên như nghe ai kể vừa thấy chiếc lá vàng rơi, hay quả sầu riêng chín rụng đâu đó bên trời cố quận.


Có người hiểu chết là một kết thúc khủng khiếp, một hoàn tất tuyệt đối. Sống chưa biết sống, nói chi chết. Và chưa chết thì biết gì về chết mà nói nên đó có thể chỉ là những giả định của người sống  để khủng bố hay ru ngủ người sống. Cứ đọc mấy cáo phó là thấy. Chết là về chầu Thượng Ðế, là được Trời gọi về, là vãng sanh lạc quốc, là về đất Phật thế mà cả người báo tin lẫn người nhận tin đều... đau buồn, đau đớn, xin chia buồn! Không buồn, không khóc được thì phải mướn người khóc, thuê ban nhạc thổi điệu bi ai. Người khác hiểu chết một cách nhẹ nhàng hơn. Khóc Lưu Kim Cương, Trịnh Công Sơn đã tự vỗ về mình rằng chết là tàn cuộc chơi phương xa:


Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây


Ðã rong chơi trong cuộc đời này...


Nhưng với anh, chết là bắt đầu một cuộc chơi phương xa mới, chết chỉ là một lần đổi sân ga, một lần thay bến để tiếp tục hành trình bao la vô định. Ra đi anh buồn, vấn vương vì phải bỏ lại đàng sau nụ cười và nước mắt:


Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại


Tôi sẽ đi và không biết đi đâu


Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi


VÌ nơi đây tôi sống đủ vui sầu


(Phụng Hiến)


Buồn nhưng chẳng có gì là khủng khiếp vì chết chỉ là từ tạ một nhịp đời, chỉ là đổi màn chuyển cảnh, chỉ là quay lại chính mình để sống một cách khác:


Bỏ trăng gió lại cho đời


Bỏ ngang ngửa sống giữa lời hẹn hoa


Bỏ người yêu bỏ bóng ma


Bỏ hình hài của tiên nga trên trời


Bây giờ riên đối diện tôi


Còn hai con mắt khóc người một con


(Mắt Buồn)


Có Sống Ðâu Mà Chết


Như thế đó, với anh chết không phải là hết. Mà quả thật, anh có sống bao giờ đâu mà phải chết! Nếu hiểu sống không phải chỉ là những hoạt động của cái bị thịt hít thở, ăn uống vào bài tiết ra, nếu hiểu sống là sống với, với địa vị, hoài bảo, hận thù, lo sợ, với tiền bạc, danh vọng, vợ con, cha mẹ v.v. và v.v. thì hình như anh không hề sống. Tôi không thấy anh bận tâm với những thứ ấy, và cũng chẳng nghe ai xác quyết anh từng bận tâm với những thứ ấy. Ðời với tất cả “của nợ” từng gây mưa bão cuốn trôi dìm ngập bao nhiêu người chết lên chết xuống thì anh lại chỉ như tàu lá môn, như cái đầu vịt, mưa bão bao nhiêu cũng trơ trơ. Không bận tâm với cái sống nên anh cũng chẳng bao giờ bận tâm với cái chết nên anh sống thiên thu, anh sống vĩnh viễn. Và nói cho cùng, thiên thu vĩnh viễn cũng không là gì cả vì với anh thời gian chỉ là vô thường sắc không:


Trong vĩnh viễn không có thiên thu


(Em Quên)


Vì anh tốp được thời gian đi đường thẳng, và ép được thời gian đi vòng vòng như thế nên anh mới có thể hỏi người yêu:


Em về mấy thế kỷ sau


Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không


(Mai Sau Em Về)


Một trăm, hai trăm hay ngàn năm sau thì trăng vẫn là trăng hôm nay, anh vẫn là anh hôm nay nên anh có thể quả quyết mối tình phù du mà thiên thu của anh với người yêu như Vũ Hoàng Chương:


Anh vẫn còn thơ về Giáng bút


Em còn hoa đủ kết hoa đăng


Có người bảo Bùi Giáng chịu ảnh hưởng nặng nề của Nguyễn Du. Tôi không biết nặng nề về điểm nào, nhưng chắc chắn không phải là điểm “Ba trăm năm sau ai là người khóc Tố Như”. Bởi với kẻ đã hiểu được “trong vĩnh viễn không có thiên thu”, thì ba giây còn chưa biết có không, nói gì ba trăm năm? Và nếu có ai bám vào ảo tưởng đó thì bị chính Nguyễn Du quại đau điếng ngay là “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” cho mà coi! Chẳng lẽ anh không thấy cái mâu thuẫn đó:


Ai Tỉnh Ai Ðiên


Có người bảo anh điên, nhưng thế này là điên hay tình? Giữa chợ trời đông như hội cuối đường Trương Minh Ký Sài Gòn sau ngày lịch sử 30.4. 1975, đến trước một hàng bán phụ tùng xe đạp cũ, anh nhẩn nha vớ lấy một cái guidon - hay cái cần lái rồi tỉnh bơ bỏ đi. Bà chủ quán chạy theo la oai oái nhờ thiên hạ bắt giùm thằng ăn cắp. Chẳng đợi ai bắt, anh quay lại trả cái guidon vào chỗ cũ và từ tốn phân bua đại để rằng bà con thấy nguỵ chưa, mất cả nước chẳng ai than một tiếng, mất cái guidon thì la ầm lên như bị thọc huyết vậy. Kỳ khôi chưa?


Câu nói ấy là điên hay tỉnh? Hay khi nói câu đó thì không, nhưng trước đó và sau đó thì anh điên? Có phải anh tỉnh trong lúc điên, và điên trong lúc tỉnh? Nói sao cũng được, nhưng với tôi, câu nói của anh hôm ấy không phải là điên, tiếng cười của anh hôm ấy là thiên tài.


Lò Vạn Hạnh


Hồi thập niên 70 ở Ðại Học Vạn Hạnh, thỉnh thoảng ghé thư viện mượn sách hay thăm anh em, tôi có duyên may dự những buổi đấu láo hay tọa đàm bất chợt của các bậc đàn anh về cả tuổi đời lẫn tâm tư.


Vạn Hạnh là một trung tâm trí thức tân lập nhưng sinh động qui tụ nhiều chiều hướng tư tưởng dị biệt phản ánh cơn khủng hoảng chung diễn ra lâu nay ở miền nam. Một số khoa bảng bảo cựu như Nguyễn Ngọc Huy, Tôn Thất thiệt, Bùi Tường Huân, Trần Ngọc Ninh, và có lẽ cả Nguyễn Long, Ðoàn Viết Hoạt đang tấp tễnh nhập cuộc. Bùi Tường Huân và Nguyễn Long cũng từng là người suy nghĩ bằng tay chân như chúng tôi. Nhưng Bùi Tường Huân đã kẹt vào canh bạc quyền lực mà Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn là tay hồ lỳ. Nguyễn Long mới ở Mỹ về đang ngầy ngật choáng váng với những thần chú ý thức hệ của Ðại Học Berkeley. Nguyễn Long có thể liều trở lại nếu có cơ duyên nhưng Ðoàn Viết Hoạt chỉ là một thư lại học chánh. Anh em sinh viên Sài Gòn hồi 1963 – 1964 ai cũng biết nếu nói về liều thì Trần Thị Thức, người bạn đời của Hoạt, mới là nói liều. Vạn Hạnh cũng là nơi chứa trái mìn nổ chậm hiệu Lê Tôn Nghiêm, Phạm Công Thiện, Nguyễn Ðăng Thục, Vệ Sĩ, Ngô Trọng Anh. Với chúng tôi, họ là những “cái đầu” và chúng tôi tự xem mình là tay chân. Họ tư tưởng để mà tư tưởng, chúng tôi tư tưởng để dấn thân, để xếp bút nghiên xuống đuờng giải nghiệp.


 Anh thỉnh thoảng cũng tham dự những buổi mạn đàm bất chợt này nhưng không tranh cãi, không bốc mà chỉ cười vu vơ theo nghĩa “yên chí, không sao, đâu lại vào đấy cả mà” Anh sâu sắc, tài hoa, đọc nhiều, nhớ nhiều và cà khịa dí dỏm nhưng không “nổi loạn” như Lê Tôn Nghiêm, không “đập phá” như Phạm Công Thiện, không “dân tộc quá khích” như Nguyễn Ðăng Thục, không trào lộng như Ngô Trọng Anh, không là không là “trái bom nổ chậm” như Tuệ sĩ. Anh với đám này có một điểm chung là thấy rõ những thoái hóa của gia tài tư tưởng tây phương đang tác hại tâm tư và xã hội Việt Nam, nhưng lối thoát của anh không phải là triết lý, thần học, tín ngưỡng, văn hóa như đám kia, lối thoát của anh là văn học, là thơ văn . Và với thơ văn, anh cũng không đi sâu vào thơ văn triết lý kiểu như Phạm Công Thiện với Holderlin, Rilke hay Tuệ Sĩ với Tô Ðông Pha chẳng hạn. Anh theo con đường riêng của anh...


Tự Tại Quay Cuồng


Thời này thiên hạ nói nhiều đến ngộ và tẩu hỏa nhập ma. Ngộ là đã nhảy qua bờ bên kia. Bờ giác. Nhưng ngộ không đi liền với lánh đời tỵ thế, ngộ đi liền với dấn thân nhập cuộc, nghĩa là đến bờ bên kia rồi thì phải nhảy về. Có người nhảy vế an toàn và tiếp tục sống với một tâm tư mới. Có người “nhảy hụt” và loay hoay lần thần giữa ngộ và mê. Có một từ ngữ kiếm hiệp đã được mượn tạm để diễn tả tình trạng lợn cợn tâm linh đó: tẩu hỏa nhập ma.


 


Anh em chúng tôi có người nghĩ đôi lúc anh cũng hơi tẩu hỏa nhập ma. Thảng hoặc nghĩ đến Tam Ích đã tự tử, chúng tôi cũng ái ngại cho anh và lưu ý nhau trông chừng anh. Nếu hiểu tự tử là tự chấm dứt hiện hữu vì chán hay không chịu đựng nỗi cuộc sống thì chết không phải là tự tử và tôi không tin vào lập luận của tự tử. Chết như  Trần BìnhTrọng, Nguyễn Thái Học, Phan Thanh Giảng hay cảm tử như Phạm Hồng Thái “một lần đi là không trở về” không phải là tự tử. Ðã làm thì phải để-làm-gì, ngay cả chẳng để làm gì cả như chơi chẳng hạn. Tự tử thì không thể để-làm-gì, không thể chẳng-để-làm-gì-cả, và cũng không thể để-chơi-thôi! Thế thì tự tử làm gì cho vô ích? ! Sau này tôi mới thấy nỗi lo của anh em chúng tôi là lo con bò trắng răng, vì anh có sống đâu và có ham sống đâu mà phải chán sống. Anh sống như không sống, anh sống như đã chết. Anh như như tự tại rồi.


Anh tự họa chân dung bằng những tiếng dễ thương:


Những người bạn xem tôi là cà gật


(Phụng Hiến)


Hay


Nửa đời bê bối thân anh


(Thiếu phụ trở về)


Cũng có khi anh tự gọi mình là kẻ chịu chơi nữa. Anh tự gọi anh như thế thì ma nào cãi nỗi. Nhưng tôi thấy chẳng có chữ nào đúng với anh cả, có lẽ vì anh khiêm cung, có lẽ vì anh không muốn tỏ ra hơn ai. Tôi chỉ thấy anh là người có được câu trả lời về ý nghĩ cuộc đời này và hiện hữu cũa riêng anh:


Ngày tháng ám vong hồn về đô hộ


Nhịp thay vần là mộng giữa chiêm bao


(Thưa)


Ðời chỉ là mộng giữa chiêm bao nên hiện hữu của anh rốt cuộc là gì, anh không thác mắc. Là người cũng được, bằng không:


Con ruồi con kiến con châu chấu


Bươm bướm chuồn chuồn cũng thế thôi


(Nhe Răng)


Anh không cần thắc mắc con người hay con gì? Con nào cũng là con, con nào cũng thế thôi nên anh chẳng hơi đâu băng khoan. Tâm linh anh đã đạt đến mức không cần phải có một băn khoăn một suy tư nào về bất cứ một chuyện gì:


 Không biết nữa mà cần chi biết nữa


(Anh Lùa Bò Vào Ðồi Sim Trái Chín)


Bẫy Yêu


Thế đó mà anh vẫn không thoát được bẫy sập của yêu thương. Không những không né mà anh còn ngây thơ hăm hở nhảy vào:


Ðời dại khờ như một giấc chiêm bao


- Ừ thế sao? em hãy rũ ta vào


(Và Màu Xuân Ðó)


Vì nghĩ mộng là thực nên anh tự nguyện làm người yêu ngu ngơ nhảy từ đỉnh mơ này sang chóp mộng khác:


Thưa em từ bữa xa nào


Nhìn nhau mộng đã bước vào trong mơ


(Thưa Em Sài Gòn)


Hay long nhong từ mê đắm nọ đến cuồng si kia:


Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả


Bủa vi vu như thoáng mộng la đà


(Ly Tao)


Tình yêu là một hóa thân vì hạnh phúc, chẳng còn ngã-tha, chẳng còn thời gian và không gian, chẳng còn bây giờ và thiên thu:


Em sẽ thành con kiến


Tôi thành con chuồn chuồn


...


Ta sẽ tạo lại mối tình sâu bọ


Về hư vô vĩnh viễn bóng buông màn


(Trò Chuyện)


Tình yêu biến thực thành mộng, và biến mộng thành thực. Anh đã một lần tính chuyện sống với sự thực như mộng ấy:


Giã từ cõi mộng điêu linh


Tôi về buôn bán với mình phôi pha


(Về Buôn Bán)


Anh nghĩ mình có thể đầu hàng cuộc đời để thực hiện giấc mộng lớn:


Dựng càn khôn giữa loạn cuồng si mê


(Tượng Số Thiên Nhiên)


Nhưng lúc mộng thành sự thật thì sự thật đó lại không hồng như mộng vì tình yêu có thể vô hạng nhưng sức người yêu thì có hạn:


Em quốc sắc em thiên hương đã uổng


Làm sao khuây khỏa hận của thiên tài


(Hận)


Hay nói như Huy Cận:


Ðời nghèo thế không dành cho chút lại


Ðến ái ân cũng hết cả đợi chờ


Và những ngày sau giấc ngủ trưa


Mùng buông xuống không che sầu vũ trụ


Quanh quẩn trong trùng vây đó, anh hết biết đường ra vì trong mộng hay ngoài mộng cũng chỉ là thực, nghĩa là mộng mà thôi:


Anh nằm im nhắm con mắt mơ màng


Mở con mắt cũng mơ màng cỏ lá


(Không Ðủ Gọi)


Yêu thương mộng ước chỉ còn là bi đát, nỗi bi đát do chính con người tạo ra cho mình và cho người mình yêu:


Bàn chân bước lệ buồn em có nhỏ


Xuống điêu tàn em khóc mộng tiêu ma


(Màu Trời Ðó)


Ước mộng cũng chỉ là ảo mộng nên tình yêu chỉ là lầu đài trên cát, chia ly ray rứt thật nhưng cũng chỉ là chuyện đương nhiên:


- Ly Biệt tơi bời lảo đảo


Em ra đi - đời bưng mặt khóc òa


(Chiêm Bao)


Ðau đớn hay không cũng là ly biệt, và người yêu lại lên đường  với con tim tan nát:


Thuyền ngao ngán bến lại bồng bềnh trôi


(Người Hải Nội)


Hai tiếng “ngao ngán” nhắc tôi nhớ đến mấy chữ “thôi thì thôi” của Phạm Thiên Thư. Khởi điểm cũng cũng chính là kết điểm. Cho nên Hồ Dzếnh mới cầu mong đừng bắt đầu để không bao giờ chấm dứt, đừng hy vọng để không thất vọng:


Thu viết đừng xong, thuyền trôi chớ đổ


Cho nghìn sau lơ lững với nghìn xưa...


Trong biển tình, thuyền chỉ trôi bồng bềnh và người chỉ bơi vòng vòng, nhiều khi là cho đến tận... mai sau! Nên khi gặp nhau anh có thể nói mà không sợ mang tiếng cà khịa cà gật:


Anh đã đợi chờ em từ lâu lắm


(Ly Tao)


Hí Lộng Ngôn Từ


Có người bảo những đau khổ vì tình đã làm anh hẫng hụt, tẩu hỏa nhập ma, tàn tạ... Anh như người võ sĩ bị đòn nằm mọp, trọng tài đếm chín, đếm mười cũng mặc. Có chết vì tình thì có điên vì tình, đã hẳn. Nhưng tôi không nghĩ tình đau tình hận làm cho anh hụt bước tâm linh.


Câu hỏi quay cuồng bám lấy tôi là anh làm thơ như một người điên hay thơ anh điên vì đã diễn đạt được trạng thái tâm linh của anh? Thơ dẫn anh vào đường tẩu hỏa nhập ma hay thơ là rào cản ngăn anh hụt bước rơi vào vực thẳm? Vũ Hoàng Chương từng muốn “lấy thơ làm Ðạo. Có ngộ Ðạo mới có duyên tiếp nhận ‘Hồn Thơ’ (vì) Thơ mới là chỗ nương tựa vững vàng nhất..”. (Ta Ðã Làm Chi Ðời Ta, tr,114) Nhưng thơ là gì?


Câu trả lời xin để cho những nhà lý luận và phê bình văn học, chỉ xin tạm hiểu Thơ là trò chơi vô cầu với ngôn ngữ và vần điệu. Thơ chỉ là một trò chơi, có thể giết người, có thể cứu người nhưng cũng chỉ là một trò chơi.


 


Có những truyền thống văn minh, văn hóa xem ngôn từ là chân lý. Ngôn từ là Ngôi Lời tối thượng, là chân lý vĩnh hằng. Thượng Ðế hiện đến và ở lại trần gian bằng ngôn từ. Thánh Kinh Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo. Nhưng cũng có những truyền thống văn hóa xem ngôn từ chỉ là dấu hiệu chỉ đường, là chiếc thuyền đưa người sang sông, đến bờ thì phải “bỏ thuyến, bỏ lái, bỏ dòng sông”. Ý nghĩa của ngôn từ chỉ có giá trị cho những người chấp nhận trước ý nghĩa của ngôn từ đó. Nghĩa là chỉ có ý nghĩa vả giá trị giữa những người đồng thuận. Lão giáo nói đến những cái không thể nói. Khổng giáo cảnh cáo chớ mê muội bám vào sách vở. Phật giáo bảo gần nửa thế kỷ lang thang giảng đạo, Phật chẳng nói “lời nào”.


 


Nhân loại nhiều khi hết trò chơi nên bày trò giết nhau vì ngôn từ và bằng ngôn từ như tuyên ngôn, thông điệp, giáo lệnh, nghị quyết, chiếu chỉ,... cho ai đúng là kẻ đúng, bảo ai sai là kẻ ấy sai, cho sống là được sống, bảo chết là phải chết. Nhưng nếu tôi viết hay nói rằng: “Tôi nói dối” thì đúng chỗ nào sai chỗ nào? Thử trả lời câu hỏi đó rồi sẽ thấy rằng bám vào chân lý của ngôn từ nhiều khi cũng chẳng khác gì con mèo đùa giỡn với cái đuôi của chính nó.


 


Thiền của Phật giáo là khuynh hướng đánh đổ chủ trương chấp vào ý nghĩa của ngôn từ đến triệt để. Thơ thiền, thơ Ba Tiêu, những công án của Vô Ngôn Quan, Bích Nham Lục là thành quả của những đập phá ngôn từ nầy. Anh không thừa nhận là đi theo khuynh hướng nầy nhưng quả thực anh đã vờn chữ nghĩa như con chó vờn trái banh hay con mèo vờn con chuột khi chúng đùa nghịch. Vì anh không tin ngôn từ có thể giải bày hết tâm tư và thực tại. Ngôn từ bất lực là một ám ảnh không nguôi đối với anh. Không viết, không nói không được nhưng nói viết rồi cũng chẳng đến đâu:


Thưa rằng: nói nữa là sai


Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào


(Chào Nguyên Xuân)


Xin lời nói ở trên môi


Là ở lại bên đời quên nhau


(Lời Xuân)


Lời sai trên miệng sẽ không là lời


(Lời Xuân)


Nói nữa là thôi, lời là lở dở


 (Thưa)


Ðể thấy rằng thơ không đủ gọi


(Không Ðủ Gọi)


Lời chưa nói cũng như lời đã trao


(Nausicaa)


Anh đùa với thơ và anh  đùa bằng thơ. Tôi không nhớ ai đã gọi Jacques Prévert là le jongleur spirituel. Tôi mong ước được mượn tiếng đó để tạm gọi anh. Kẻ hí lộng với chữ nghĩa.


Ðọc thơ anh có khi phải trồng chuối như một đạo sĩ yoga, bởi vì anh cũng đã lộn đầu xuống đất chổng chân lên trời khi làm thơ. Anh có những bài thơ không biết kết chỗ nào, bởi vì câu kết là câu mở đầu cho bài thơ vừa đọc hay một bài thơ khác. Câu kết của bài thơ sau đây là ví dụ:


Em nghiêng tai ta nói nhỏ chuyện nầy


 (Bữa Hôm Nay)


Biết răng chừ đây nói nữa


(Kim Trọng Tại Sao)


Vòng ma nghiệt mấy lần ta rất sợ


Giờ xin em đếm lại một hai và


 (Không Nói Nữa)


Phút trùng lai là ngó vội nhau và...


(Thưa)


Mai sau dù có đi về


Xin nhìn gió rụng ngành tre thưa rằng


Em về)


Ta người viễn khách đưa tin


Bỗng đờ đẫn đứng chợt nhìn nhận ra


 (Xuân Thôn Nữ)


Thơ của anh giống như một điệu nhạc cổ của Ấn Ðộ, Trung Hoa hay Việt Nam. Chơi liền tù tì cả ngày cả tháng cũng được hay dừng lại một “bài” cũng xong. Ðọc thơ anh mà nghĩ rằng mình biết rõ anh muốn nói gì thì cũng liều như là nghĩ rằng mình chẳng hiểu anh nói gì cả. Bỏ thương vương nặng, thơ của anh là một chén thuốc đắng dịu dàng chỉ dành cho những kẻ liều ham thắc mắc vấn nạn.


Và liều nhất có lẽ là câu hỏi: “Anh là ai, thưa anh Bùi Giáng?” Bởi vì người hỏi có thể nghe câu trả lời đồng vọng từ vô biên: “Bùi Giáng là ai, thưa anh?”


 HOÀNG NGUYÊN NHUẬN


Nguồn: Đặc San Hợp Lưu. số 44, tháng 12/1998 - tháng 1/1999.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »