tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18404264
Lý luận phê bình văn học
10.03.2017
Nhiều tác giả
Tuyển tập về Nhà thơ Bùi Giáng (6)



Truy niệm


Thường Quán


Lá thiên thu đẹp làm thinh bên đường. - Bùi Giáng


 


Trận gió cuối cùng của trưa đã để người nằm im


Nằm im trong, không đi đâu nữa trên vỉa hè kề cà trái đất


ngoài kia, thành phố mái tôn xơ xác cuối Hai Mươi


Trận gió thương hải vân ấy là tất cả


 


Ðể người nằm im


Người đã mang những vòng hoa gai trên đầu


Người đã hát vạn lời triều hải thiên thanh


Người nằm sắp về


Mà trận gió trưa


 


Trận gió trưa mẹ bao la


Ðôi mắt như nhiên yên lặng


Bàn tay xanh từ kêu con ngoài phố


 


Ngoài phố những đứa trẻ bán báo


Những đứa trẻ chát chát rễ cây ngoài phố


Chạy lách giữa những đàn xe Dream


Trong cõi chiêm bao lần cuối của người


Chúng vẫn bay non lảo đảo như là chim


 


Hay là lá? Mà người tận lực không đủ xoay vòng


Một vòm mái hiên


Dù ngực dù hai chân dù hai lá phổi


Sự cẩn trọng bắt đầu giữa tim


Nhưng người không còn nói


(những gì người đã thấy thì không ai khứng nỗi)


*


Bây giờ hồi còi trưa những con tàu đen rống lên ngoài đại hải


Những bằ bò cuối cùng trong lũng núi


Mây trắng từ Mỹ Tho tới Duy Xuyên


Ðội nòn rách để tay lên khóe miệng.


*


Mặt đất quê hương của người vẫn tiếp tục một buổi trưa


Ðâm xiên vào cổ áo lập lòe và lổ đổ


Ai đó nói nhỏ: Thôi em đừng


Cuộc tận hiến cũng có hồi kết của nó.


 


Những đứa trẻ vừa nghe tin


Chúng tay tìm những chùm bông cỏ


Bốn năm người thi sĩ sót lại trong thành phố


Tới bên đèn đặt những nhành lá


Rồi khoảng yên lặn thăm thẵm giữa những hồi gió


Rồi quán sách ở ngã ba


*


Một thềm hiên chùa một mái cà phê


Một mặt bàn ngó ra trời


Ngó lui vào là cổng ngỏ


Ngoài cổng ngỏ là bát ngát


Những âm vọng của lời


Và những lầu đài ngôn ngữ u tịch của người


những bài ca trưa người từng bước đi, từng hát


Bụi cát, tán cây, nữ sinh, tiếng xe cộ, âm mây về, bát ngát, ho,


 Khao khan phổi, lá ngực, người hát


 


Người thấy ngược (như sấm chớp trời xanh) người hát


mây trắng từ Mỹ Tho tới Duy Xuyên


mây trắng từ Senegal về Ðiện Bàn


mây trời Sài Gòn mây trắng Hy Lạp


mây trắng Hà Tĩnh chiêm bao Uyên nguyên


mây trắng và một chuỗi tiếng cười nghèn nghẹn


 một buổi trưa nào


 


Như Dzẫn Dzậy Ðó


Khi tất cả đã ngủ trong suốt


người hát và người nói răng rứa mi và


Ðể làm chi


 


Ðể làm chi để làm chi


Những làm thinh bên đường lá thiên thu hẹp


*


Trong giấc mộng của những mái tôn rỉ đỏ


(và những con người dưới một mái hiên chùa Sài Gòn)


Mây trắng đang kéo hàng


và màu xanh đang sửa lại khuy áo cho người


Ôi! trong suốt xanh, người


người làm thinh


THƯỜNG QUÁN 


 


Hiện Tượng Bùi Giáng


THỤY KHUÊ


Sinh thời, Bùi Giáng bảo: “Hãy để cho tôi yên, tôi dại. Ðừng ai nói đến tôi. Và nhất là đừng có ai bàn đến thơ tôi” Có lẽ vì tôn trọng nhà thơ, cho nên ít ai bàn đến thơ ông.


Như ông, Bùi Giáng sống tiêu dao suốt cõi mù sa bên rừng. Thơ ông cả đời lục bát. Tại sao lục bát? Bởi vì, đối với Bùi Giáng: “Lục Bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển, ba bảy sông hồ”.


Về bản thân mình, Bùi Giáng tự họa: “nhe răng cười trong bóng tối...không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn... Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài... Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài... Chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh”.


Hỏi về tiểu sử Bùi Giáng trả lời:


Hỏi tên? Rằng biển xanh đâu


Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa


Gọi tên là một hai ba


Ðếm là diệu tưởng, đó là nghi tâm


Trên báo Văn, số 26 tháng 8 năm 1984, Mai Thảo kể lại rằng khi hỏi về cái lực viết phi phàm của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền lắc đầu cười: “chịu, không giải thích được [...] Nói đến mấy ngàn bài thơ Bùi Giáng là đúng. Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận, vô cùng là đúng hơn. Ngủ ra thơ. Thở ra thơ. Ði ra thơ. Ðứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ”.


Vẫn theo lời Mai Thảo, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, thuật lại: “Anh lang thang suốt ngày chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Ðêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng thì ảnh ngừng. Nói có máy, có giấy, có buổi sáng, buổi chiều ảnh đã tới ném bịch xuống cả năm bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có thì giờ đọc”.


Mai Thảo kể tiếp khi làm số Văn, đặc biệt về Bùi Giáng: “Tôi hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Ông gật. Tưởng lấy ở túi vải ra. Hoặc nói về lấy, hoặc nói hôm sau. Tất cả đều không đúng. Ông hỏi mượn một cây bút, xin một xấp giấy, một chai bia lớn nữa, đoạn ngồi xuống và trước sự kinh ngạc cực điểm của chúng tôi, bắt đầu tại chỗ làm thơ [...] Lần đó, tôi đã thấy, đã hiểu tại sao Bùi Giáng, cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi”.


Về những cơn điên Bùi Giáng Phạm Xuân Ðài kể trong lời tựa tập thơ Bùi Giáng: ”chỉ có thơ và những cơn điên [..] Bây giờ (năm 1992) anh ít làm thơ lắm, còn các cơn điên thì vẫn viếng thăm anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện ở vùng chợ Trương Minh Giảng (chỗ đại học Vạn Hạnh, là nơi ngày xưa anh thường trú ngụ) đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng [...] Có khi anh múa may trong một lớp áo lòe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô hình”.


Ðó là hiện tượng Bùi Giáng, qua lời kể của những người thân trong giới văn học.


Bùi Giáng là ai? Bùi Văn Vịnh, em của Bùi Giáng , cho biết: Bùi giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.


Thuở nhỏ, học trường Bảo An tại Ðiện Bàn, Quảng Nam, trung học ở trường Thuận Hóa, Huế, năm 1950, đậu Tú Tài 2 văn chương ở Liên Khu 5. Sau đó ra liên Khu 4 học tiếp đại học. Nhưng sau khi nghe qua bài diễn văn khai giảng của ông viện trưởng Bùi Giáng quay về Quảng Nam và bắt đầu quãng đời được gọi là “Mười lăm năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt“.


Tháng năm 1952, Bùi Giáng về Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài Gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa.


Lần này, sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dạy ở Văn Khoa, Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.


Từ năm 1957 đến 1997, Bùi Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết. Như lời Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày, có thể ném bịch một vài trăm trang sách. Ðúng là một kỷ lục có một không hai.


Chúng ta thử tìm hiểu bản chất của kỷ lục ấy qua một vài trang sách của Bùi Giáng trong Con đường ngã ba Bước đi của tư tưởng, do An Tiêm Xuất bản lần thứ nhất tại Sài Gòn Năm 1972, và tái bản tại hải ngoại.


Có thể nói trong cuốn sách này, cái gọi là điên của Bùi Giáng phát hiện rõ rệt dưới hình thức loạn ngôn, ngộ chữ cao độ. Về Heidegger, Bùi Giáng viết: “Tất cả con đường tư tưởng của Heidergger là mọi mọi lối nhiếp dẫn bước đi về những vùng u kín trong cổ lục uyên nguyên” (trang 13)


Về Nietzsche, ông viết: “Nietzsche không phải là đại hải đại dương, Nietzsche đã đón vào lòng mình một dòng sông dơ bẩn. Và từ đó? Từ đó, Nietzsche biết thành một loại người mạt hậu theo mọi nghĩa thái thậm ly kỳ. Con người mạt hậu và hư vô chữ nghĩa, con người mạt hậu và sa mạt tinh hoa, con người mạt hậu và Mạt Hậu “Tử Sinh Môn” Hoạt Tinh Thể, con người mạt hậu và Siêu Hình Học Lãnh Ðịa, con nguời mật hậu và Ðịnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, ÐỊnh Mệnh Phối Tiết Sử Lịch Tồn Lưu, và Siêu Hình Học theo nghĩa Sử Lịch chân lý của Hiện Thể như là Hiện Thể, Sử Lịch chân lý của Hiện Thể và Ðịnh Mệnh Tồn Lưu thoái tàng ư mật, Tồn Lưu thoái tàng ư mật vàHằng Thể bước vào vòng di vong trầm một, từ di vong trầm một còn chút hậu tình ân ốc nào sẽ “ trột mầm” cho một trận Dịch Chuyển thông hành của Ðịnh Mệnh hay không? Hay Siêu Hình Học vẫn mãi mãi kiên trì tồn lập trong cuộc đú đỡn “ trê lưu ư ngoại” bất khả tư nghị khuyết phạp từ Hoạt Tinh Thể của Hư Vô?..”. (trang17)


Và cứ như thế, Bùi Giáng sản xuất 499 trang Con Ðường Ngã Ba, Bước Ði Của Tư Tưởng.


Ðiểm thích thú nhất của người đọc trong cuốn sách này là những trích đoạn thơ Bùi Giáng, phần lớn là những câu thơ hay, tỏa ra những suy tư sâu lắng về bản chất con người.


Nhưng trong 499 trang chữ ấy, người đọc tìm thấy rất ít dòng đứng đắn và chỉ tỉnh táo bàn về những vấn đề triết học như hiện sinh và bản thể, tồn tại và thời gian, mặc dù ông rất ngưỡng mộ Heidegger, người thầy hiện sinh được ông trích, dịch một cách kỳ cục. Ví dụ như câu này, dịch ra từ tiếng Pháp, tiếng Ðức: “Nhưng mà lời thuyết thoại trì ngự, trong (khởi từ) Ðịnh Mệnh Phối Tiết mở phơi, sẽ ra sao nếu như cái Sở Khải Khai trong Song Trùng Tịch Hạp bị Ðịnh Mệnh Phối Tiết (ruồng rẫy) bỏ phó mặc cho cuộc thể hội vất vơ nhân tuần (dung thường nhật kệ ) của con người từ diệt chúng tử chúng sinh?”


(Con Ðường Ngã Ba Bước Ði Của Tư Tưởng, trang 12 – 13)


Dù đặc sệt những tên tuổi triết gia, nặng ký trích dẫn thiên kinh, vạn điển; dù có mộtsố ý trội lên về vấn đề đọc sách, đọc Nguyễn Du, đọc Bùi Giáng, về sự gặp gỡ giữa những nhà tư tưởng lớn, đả kích một số nhà xuất bản không tôn trọng văn bản của tác giả, Con Ðường Ngã Ba vẫn không phải là cuốn sách bàn về triết học, hoặc đưa ra một hệ thống tư tưởng mạch lạc; mà có thể nói đây chỉ là cuốn phiếm luận bí hiểm, ngôn ngữ thần trú, nhại triết học, nhạo người đọc. Cho nên khi Tạ Tỵ viết: “Bùi Giáng đối thoại với Nietzsche, Sophocle, {arénide, Khổng Tử, Lão Tử, Sartre, Camus... “ thì e rằng Tạ Tỵ quá lời. Sự tìm kiếm siêu hình nơi Bùi Giáng, như chỉ dừng ở phần vỏ của ngôn từ: tồn sinh, tồn lưu, hằng thể, hư vô, logos,... mà không đi vào nội tâm của suy tưởng. Hoặc có lẽ Bùi Giáng chỉ muốn rỡn chơi. Nếu ông nhắc tới Như Lai, Bồ Tát, Heidegger, Parménide, Platon, Socrate cũng chỉ như ông nói đến Nam Phương Hoàng Hậu, Dương Quý Phi, MarilynMonroe, đười ươi, chuồn chuồn, châu chấu v.v... vậy thôi, trong một trạng thái “tẩu hỏa nhập ma”, một tinh thần anarchiste toàn diện. Thái độ arachiste của Bùi Giáng, ở đây gần với nghĩa “phức loạn tri năng” của Ðào Duy Anh và rất xa với nghĩa “vô chính phủ” mà người ta thường gán cho arachiste theo nghĩa hẹp.


 


Phải chăng Bùi Giáng chỉ muốn “hù dọa” người đọc không chuyên môn? Hay ông muốn nhại, diễu, những hệ thống suy tưởng mà một số trí thức quen dùng như mẫu mực hoạt động tinh thần? Biến chúng thành một thứ charabia, ngôn ngữ vấn đáp chuồn chuồn, châu chấu, nói trẹ, nói xàm, nói bá láp và ông có khả năng sản xuất mỗi ngày vài trăm trang như thế?


 


Thái độ anarchiste toàn diện này mở rộng trong đời sống, trở thành một bản năng phản kháng quẫy đời: Cởi quần áo giữa lớp học, tắm nơi công cộng, ngủ vỉa hè, trở thành clochard (hành khất say rượu), mặc áo rằn ri lính ngụy, để chỉ đường...tất cả những “cơn điên” ấy của Bùi Giáng chứng minh sự sáng suốt Bùi Giáng không điên.


 


Không điên vì ông chỉ đẩy đến cùng trạng thái hiện sinh, chứng nghiệm ý thức trần trụi về bản thể. Cởi dần năm bảy lớp quần áo chẳng qua chỉ là hiện ảnh “trút gọn hiện tượng”, bóc vỏ các tầng lớp bề ngòi của “hiện tượng” để tìm ra bản chất trong hiện tượng luận Husserl.


 


Trở thành clochard là một cách thể nghiệm tự do tự hủy.


 


Trong những đệ tử hiện sinh thời ấy. Bùi Giáng là người đi xa nhất trong hành động tự hủy và hành xác. Tự hủy để chứng minh Cá nhân con người đã chán ngấy cuộc sống, nó còn quyết định tự do lựa chọn, và sự hủy hoại bản thân là sự lựa chọn tiến gần nhất đến tự do tuyệt đối.


 


Sau 75, người ta càng yêu Bùi Giáng hơn, vì trong một xã hội được bị lồng vào khuôn phép, một xã hội đã ổn định cơ thể, công chúng yêu mến những gì bất thường, yêu những kẻ ngoại đạo, bất ổn.


 


Bùi Giáng là người ngoại đạo duy nhất dám làm lũng đoạn môi trường ổn định bằng thái độ tư hủy. Cái điên của Bùi Giáng là cái điên sáng suốt trong một tình thế không có cứu cánh nào khác nếu không tìm về bản thể của con người.


Thơ Bùi Giáng, hiện sinh trong đoạn trường và định mệnh


Những “dạ thưa”. Những “tồn sinh”, những “phố thị”, những “cố quận”, “đười ươi”, đã trở thành những cốt cách, những địa chỉ rất Bùi Giáng:


Dạ thưa phố Huế bây giờ


Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương


Dạ thưa Vĩ Dạ về gần


Ðã từ xa lắm thiên thần nhớ em


Thơ Bùi Giáng, ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạng, tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ tồn sinh, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn kín một dụng tình khép mở Xuân Hương:


 


Cá ở ngoài khe có ít nhiều


Cồn lau cỏ lách có hoang liêu


Em về có hỏi răng ri rứa


Nhắm mắt đưa chân có bận liều.


(Bờ trần gian)


hoặc:


Bỏ hai chân xuống một vùng


Nước truông là lá thu rừng xuống khe.


( Bỏ hai chân)


Những dòng thơ trên đây, theo như lời Mai Thảo, Bùi Giáng đã làm một mạch, tại chỗ, xuất bút thành thơ. Huyền thoại Bùi Giáng, thi sĩ bẩm sinh, poète né, trong thập niên 60 – 70, được xác định như một hiện tượng văn học độc đáo. Như thể ông biết trước đường đi nước bước của thơ. Có khả năng thiên bẩm về sự lang thang ngơ ngẩn của nhũ trên đời, và chỉ cần huơ tay, bắt chúng, nhốt vào ngay câu lục bát, như Bình Nguyên Lộc “nhốt gió”, là có ngay thơ Bùi Giáng:


Một hôm đếm một ra ba


Thật là lạ lắm ấy là cái chi


Hay


Người con gái lội qua khe


Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau


Nỗi niềm tưởng lại xưa sau


Bàn chân với nước cùng nhau lại đè.


(Lá hoa cồn)


Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu


Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa


Gọi tên là một hai ba


Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm


Bốn câu tự họa trên đây dường như gói trọn bản chất thơ ca và tư tưởng Bùi Giáng. Một bản chất đa mang nỗi hiện sinh hoang tưởng trong một “đạo khờ” gắn bó với đoạn trường tái tân thanh (chữ củ Bùi Giáng tiếp nhận Nguyễn Du như một thông đạo, thông thư, thông mệnh văn học).


 


Thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? Ta là ai? Những trầm luân biến đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được? Ðến bản thân ta, ta còn không biết, nữa là... Nếu trường phái hiện sinh (Sarter) bác bỏ tính chất định mệnh, thì ở Bùi Giáng, định mệnh (Kiều) và hiện sinh giao hưởng với nhau thành một cấu trúc tư tưởng mới, tạo nên những vần thơ đậm dấu Ðạm Tiên, hắt ra những ánh siêu thực:


Em chết bên bờ lúa


Ðẻ lại bên đường mòn


Một dấu chân bước của


Một bàn chân bé con


Anh qua miền cao nguyên


Nhìn chân trời bữa nọ


Ðêm cuồng mưa khóc điên


Trăng cuồng khuya trốn gió


Mười năm sau xuống ruộng


Ðếm lại lúa bờ liền


Máu trong mình mòn ruỗng


Xương trong mình rã riêng


(Mưa nguồn)


Bùi Giáng có những câu thơ rất cao, rất tĩnh, rất sâu, thanh thản, gợi đến hư vô trong một không gian lãng mạn trữ tình, ít thấy xuất hiện trong thơ Việt.


Thưa em buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ


Tiếng kêu kia còn một chút mong manh


Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ


Lạc trời cao kết tụ bóng không thành


(Hư vô và vĩnh viễn – Mưa nguồn)


 


Không gian Bùi Giáng, một cõi hư không đầy dấu hỏi, bồng bế nhau đi, năm này qua tháng kác, một cõi trùng sinh, di động luân hồi.


Những nhịp bước trên đường còn dội mãi


Vang về đâu không vọng lại hồi âm


Của réo rắt riên một lần mãi mãi


Gió phương trời ủ mộng giữa hoa tâm


Em hỏi mãi tuy biết lời đáp lại


Chảng bao giờ thỏa đáng giữa đời câm


Em ngó mãi những chiều về trở lại


Manh những gì về trong cõi trăm năm....


(Chiều – Mưa nguồn)


Từ Nguyễn Du, Bùi Giáng trích tạo nên một mô-típ bạc mệnh hiện đại, mầu sắc siêu thực, tài tử và tài hoa, môt chất thơ giao thoa Nguyễn Du Bùi Giáng


Lớp phiêu bồng mọc trăng ngàn


Thành xưa phố cũ muôn vàn phía sau


Ðạp thanh vẽ bóng lộn mầu


Góp dâng cữ gió nghiêng đầu sương mây


Ngõ ban sơ hạnh ngân đài


Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua


Xin chào giữa bước chân ra


Chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn


(Mầu hoa trên ngàn)


Nơi Bùi Giáng còn một mô-típ bạc mệnh, cuồng khất, tổng hợp tính chất đoạn trường, tồn sinh, ngông ngôn, rất liều và rất loạn, mà cũng là vọng âm của niềm hoang mang tuyệt đối:


Hồng quần rất mực bước ra


Trường quần duệ địa phong hoa lá cồn


Phải rằng nắng quáng dập dồn?


Hay là đèn trút linh hồn oái oăm?


Phải là nguyệt giữa đêm rằm?


Nguyên tiêu lãng đãng lá nẳm ngẩn ngơ?


Kể từ hằng thủy ban sơ?


Kể từ sơ thủy về tờ vẽ trang?


Kể từ thu tạ lên đàng?


Rừng phong thu đã quan san nhuộm mầu?


Phải rằng đó trước kia sau?


Hay là sau trước còn tao ngộ gì?


(Con đường ngã ba)


*


Nhưng bi kịch của Bùi Giáng là ông lặp lại mình.


Trong gần nửa thế kỷ làm thơ, Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lặp lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo, về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng. Những dạ thưa, tồn sinh, trùng lai, phố thị của Bùi Giáng, tà huy của Nguyễn Gia Thiều, mù sa, trăm năm của Nguyễn Du... ban đầu làm xuyến xao người đọc: Em về rũ áo mù sa, Trút quần phong nhụy cho tà huy bay. Nhưng vì lập lại nhiều lần chúng bị phá giá. Hiện tượng phá giá này có mặt ngay ở những tác phẩm đầu và chủ yếu của Bùi Giáng.


Từ Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, năm 62, 63 đã thấy xuất hiện tính chất đoạn trường, tồn sinh nhu tinh thần chính trong tư tưởng của Bùi Giáng: Nguyễn Du, Tản Ðà gặp gỡ Heidegger, Breton phóng sinh một tạng chán đời mới lạ. Bài Rượu Uống trong Lá Hoa Cồn, một thứ đoạn trường ngông rất lãng mạng siêu thực, tiêu biểu cho tính chất lang thang trong cấu trúc thơ Bùi Giáng:


Thưa em rượu uống bây giờ


Là trăm năm gục hai bờ tử sinh


Ðộng hờ hững chúa điêu linh


Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi


Nhà ma cửa quỷ đi đời


Chìm hơi thở đục trong lời xuân xanh


Càn khôn xiêm mỏng che mành


Về trong thiên hạ em thành thiên thân.


 


Thưa em rượu uống bây giờ


Là thiên cổ lụy còn trơ bên mình


Tài hoa tiếng vọng điêu linh


Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.


Thưa em từ bữa nghiêng chào


Chớm trang đầu chợt sóng trào trường giang


Em đi rắc lá trên đàng


Cỏ xanh rì mọc suốt càn khôn kia


Mùa xuân mưa rưới mộng lìa


Về trong nắng hạ mép bìa sai bâu


Thưa em rượu uống bây giờ


Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma


Chạy quang cồn cụm lá già


Rách như bươm suốt ruộng sa mạc đồng


Càn khôn gió đổ chất chồng


Rú như beo rống như hùm đổi hang


Trên rừng dưới lũng tan hoang


Vẫ sừng sững bóng chắn ngang quỷ sầu


 


Thưa em rượu uống bây giờ


 Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma


Hỗn mang về giữa hiên nhà


Bây giờ cố quận tên là chiêm bao


Nhìn nhau trong lũy ngoài hào


Lời phôi dựng một điệu chào dị sai


Trên đầu thế kỷ chia hai


Nguồn man mác lạnh tìm ai bây giờ


 


Thưa em rượu uống bây giờ


Là thiên thu lại còn trơ hận trường


Chung cầm dâu biển khôn lường


Chân trời mộng lý con đường chia ba


Nam đình doanh trại dàn qua


Trống chầu trùng ngộ thưa là không mong


Hoạt tồn phát tiết sầu đong


Tràng giang thế kỷ xô dòng xuống lên.


Thưa em rượu uống bây giờ là điệp khúc mấu chốt dẫn đến câu thơ thứ nhì: Là trăm năm gục hai bờ tử sinh. Cả hai nằm trong cầu trúc song song, tổng hợp quan niệm ngông, đoàn trường và hiện sinh toàn bài. Câu ba, câu bốn: Ðộng hờ hững chúa điêu linh, Em làm Hoàng Hậu mọc tình cỏ phơi, đệm thêm chất lẵng lơ dục tính, nhưng được loãng đi vì loại hình này được Bùi Giáng dùng nhiều. Rồi chìm hơi thở đục trong lời sương xanh, một câu rất hay bị đặt bên một câu lãng xẹt: Nhà ma quỷ đi đời. Nếu chúng ta đọc đến nhịp thơ thứ nhì:


Thưa em rượu uống bây giờ


Là thiên cổ luỵ còn trơ bên mình


Cũng vẫn thấy nguyên những nhược điểm như nhịp thơ đầu, tức là trong phần thơ đệm có những vội vàng, dễ dãi, ghép chữ, ghép ý rất sáo: Tài hoa tiếng vọng điêu linh, Phạm Ðan Phượng chết theo Quỳnh Như sao.


Ở những nhịp sau, thì ngay chính điệp khúc mấu chốt:


Thưa em rượu uống bây giờ


Là trong lát nữa lên bờ đuổi ma


Thưa em rượu uống bây giờ


 Là trong lát nữa trăng mờ hỏi ma


Thưa em rượu uống bây giờ


Là thiên thu lại còn trơ hận trường


Ðã có sự lập lại chính mình như thế, như thể nhà thơ tiện tay bắt được chữ nào vội bỏ ngay vào lục bát, không màng nhìn lại những câu thơ đầu nữa.


*


Tất nhiên láy là một quy ước rất thường trong thi ca. Nhưng láy chỉ làm tăng giá trị thơ khi nó dưa đến những dồn dập hoặc trong cảm xúc, hoặc trong nhịp điệu, hoặc trong sinh động... Tức là láy phải đưa tới một trạng thái căng thẳng, tới một vận tốc khác trong tiến trình âm và ý.


Ví dụ:


Này chồng , này vợ, này cha


Này là em ruột này là em dâu


Là một trong cách láy của Nguyễn Du, vừa tăng vận tốc miêu tả, vừa gia tốc sức ép của hiện thực, rành rành, chính xác, chỉ mặt, chỉ tên.


Hoặc:


Làm cho cho mệt cho mê


Làm cho đau đớn ê chề cho coi


Láy ở đây lũy thừa mật độ ác liệt của Tú Bà, hoặc:


 


Buồn trông cửa bể chiều hôm


Thuyền ai thấp thoáng cánh bưồm xa xa


Buồn trông ngọn nước mới sa


Hoa trôi man mác biết là về đâu


Mỗi lần láy là một lần Nguyễn Du chuyển cảnh, chuyển tình.


Sự láy lại, nơi Bùi Giáng, rất thường khi chỉ là láy dập dình tại chỗ, láy lười, thấy hợp vần, tiện thể thì láy. Láy hồ đồ ít khi mang tới trạng thái mới, cảm xúc mới, hoặc một sức ép gia tăng, mà chỉ cho ta một cảm tưởng dằng dai, lai tạp:


Hãy mang tôi tới giữa đời


Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo


Hãy mang tôi tới nắng chiều


Giết tôi chết giữa một chiều khe mương


Hãy mang tôi tới dặm trường


Giết tôi chết giữa con đường bơ vơ


Hãy mang tôi tới bất ngờ


Giết tôi ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên


Hãy mang tôi tới diện tiền


Giết tôi chết giữa người thuyền quyên kia


(Sa mạc trường ca, Cầu nguyện Ca)


Jacques Brel, năm 1966, khi tuyên bố ngừng hát ở tột đỉnh danh vọng, trả lời câu hỏi: “Tại sao ông ngừng hát lúc này?” Brel bảo: “Tôi ngừng vì muốn giữ lòng ngay thẳng với thính giả và với chính mình. Bởi vì khi người nghệ sĩ như tôi, đã nắm vững được tất cả những yếu tố kỹ thuật làm lay động lòng người, thì đó sẽ có khuynh hướng ăn gian (tricher), phong tỏa người nghe bằng tất cả những kỷ sảo của mình, và khi tôi biết mình sắp đi đến chỗ bước vào kỷ sảo, tôi ngừng” Tất nhiên, Brel chỉ ngừng hát hai năm và năm 68, khi ông trở lại với âm nhạc, đã với một tinh thần khác, hẳn Brel biết mình đã đoạn tuyệt được với ý định dùng kỷ sảo để thu phục lòng người. Và Brel ở lại với âm nhạc thêm sáu năm nữa.


Ở Bùi Giáng hình như không có sự tự giới ấy. Cho nên, biết bao lần người đọc tiếc, giá Bùi Giáng đừng ham chơi, chịu khó dừng lại ở chỗ đáng dừng để những câu thơ sáng giá hơn như:


Bụi thu mờ ai phủi với hai tay


Hoặc:


Em về mấy thế kỷ sau


Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không


Ta đi còn giữ đôi giòng


Lá rơi có dội ở nơi sương mù


Khỏi bị lọt vào khu rừng hoang, ôm đồm những lời thơ vội vàng, mọc lên như cỏ dại.


 *


Ám ảnh đoạn trường, tư tưởng và ngôn ngữ Nguyễn Du theo đuổi Bùi Giáng suốt đời. Những tập thơ mới nhất, in ở hải ngoại những năm gần đây càng lộ rõ. Trong những cuốn thơ Bùi Giáng (sđd), Bùi Giáng 94 (in tại California năm 95), và một phần tập Chớp Biển (sđd), Bùi Giáng tìm về người thầy Nguyễn Du như một cứu cánh. Hầu như mỗi bài thơ của ông đều có ít nhất một chữ hoặc một câu của Nguyễn Du. Và cấu trúc toàn bài thường dựa vào ý một câu Kiều:


Rằng xưa ký ức đàn bà


Tên là phụ nữ, tuổi là dấn thân.


...  Trước đèn một tập mở ra


...


Biển dâu lục địa cõi mièn


...


Cảo thơm lần giở gió giăng dậy thì


Ám ảnh “mù sa”, ám ảnh “chỉn e” ám ảnh “vân mòng”, mai sau”, “trăm năm”, ngẫu nhĩ”, “phong tình”, “cổ lục”, “dặm về”, “tử sinh”... trở thành lớp da thứ nhì của Bùi Giáng:


Rừng phong thu đã nhuốm màu


Quan san ngần ấy tư trào ngần kia


...


Chốn nào mộng mị chiêm bao


Chốn này tỉnh táo tiêu tao vân mồng


Từ cảnh sang tình, từ mơ sang thực, ám ảnh ngông ngữ trở thành ám ảnh tư tưởng. Bùi Giáng đã cạn dần hồn mình và sống hồn Nguyễn Du trong đoạn cuối đời:


Em đi từ tỉnh mộng đầu


Một mình anh ở mang sầu trăm năm


Em từ vô tận xa xăm


Trùng lai chất vấn: Từ trăm năm nào?


Những câu hỏi mà Bùi Giáng trải suốt đời thơ, thắc mắc, tìm kiếm, đặt nghi vấn về cỏi đi cõi ở, cõi có, cõi không, biết đâu hôm nay Bùi Giáng chẳng đã tìm được Nguyễn Du ở một cõi trùng lai nào đó, và ông đang chất vấn người thầy về nỗi đoạn trường ấy, từ trăm năm nào?


 Tháng 10/1998


THỤY KHUÊ


(còn tiếp)


Nguồn: Đặc San Hợp Lưu. số 44, tháng 12/1998 - tháng 1/1999.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 36) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »