tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20551410
03.03.2017
Tư liệu
Chữ “Tông’ trong miếu hiệu của các vị vua Việt Nam



Bài viết này sẽ góp phần giải quyết hai vấn đề: Một là phân biệt các khái niệm Niên hiệu – Tôn hiệu – Thụy hiệu – Miếu hiệu, trên cơ sở đó, bài viết sẽ lý giải nguyên nhân và ý nghĩa chữ thành tố “tông” hoặc “tổ” trong thụy hiệu của các vị vua.


Khi một hoàng tử được sinh ra, vua hoặc hoàng tộc sẽ đặt tên cho vị hoàng tử đó theo nguyên tắc của dòng họ hoặc theo sở thích. Tên gọi đó được gọi cho đến khi hoàng tử chính thức lên ngôi vua. Tên gọi đó được gọi là tên húy (húy danh). Đây là tên gọi mà bất kỳ ai cũng không được phép gọi tên; do vậy mà thuật ngữ “kỵ húy” đã hình thành. Thực ra, nói một cách chính xác hơn thì tên húy là tên gọi mà những người ở vị trí xã hội thấp hơn không được phép gọi những người ở vị trí cao hơn chứ không nhất thiết là chỉ kỵ húy tên vua, bởi vì bên cạnh việc kỵ húy tên vua còn phải kỵ húy tên hoàng tử, tên hoàng hậu, tên của những người trong hoàng tộc. Ví dụ điển hình nhất cho trường hợp này chính là bà Hồ Thị Hoa – vợ của vua Minh Mạng, sau khi bà mất đi thì tất cả địa danh có yếu tố “hoa” điều bị đọc trại đi hoặc dùng từ thay thế (bông, ba, huê…).


Về niên hiệu, đây là danh xưng của hoàng đế khi lên ngôi. Mục đích của việc đặt niên hiệu là để xác lập khoảng thời gian trị vì của mình. Ví dụ: Lý Công Uẩn khi lên ngôi lấy niên hiệu là Thuận Thiên, Nguyễn Ánh khi lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, Nguyễn Phúc Đảm khi lên ngôi lấy niên hiệu là Minh Mạng… Sau này, trong các tài liệu Sử học, người ta thường ghi“Niên hiệu + năm thứ “x”” thay vì gọi năm chính xác. Cách gọi này có ưu điểm là cho ta biết sự kiện đó xảy ra dưới triều đại nào nhưng nhược điểm là gây khó khăn cho những người không nắm rõ lịch sử. Ví dụ người ta có thể nói: “Năm Minh Mạng thứ 6” thay vì nói “năm 1825”, hay thay vì nói “năm 1856” thì người ta có thể nói “Tự Đức năm thứ 8”…


Tuy nhiên, về niên hiệu của các vị vua ở Việt Nam, cần lưu ý có hai vấn đề đáng quan tâm:


+ Thứ nhất, đối với niên hiệu, trong lịch sử Việt Nam duy nhất có triều đình nhà Nguyễn là triều đại mà các vị vua chỉ sử dụng duy nhất một niên hiệu cho mình trong suốt thời gian trị vị. Cụ thể:


Stt        Húy danh                                  Niên hiệu


1          Nguyễn (Phúc) Ánh                    Gia Long


2          Nguyễn Phúc Đảm                     Minh Mạng


3          Nguyễn Phúc Miên Tông            Thiệu Trị


4          Nguyễn Phúc Hồng Nhậm          Tự Đức


5          Nguyễn Phúc Ưng Chân            Dục Đức


6          Nguyễn Phúc Hồng Dật             Hiệp Hòa


7          Nguyễn Phúc Ưng Đăng            Kiến Phúc


8          Nguyễn Phúc Ưng Lịch              Hàm Nghi


9          Nguyễn Phúc Ưng Kỷ                Đồng Khánh


10         Nguyễn Phúc Bửu Lân               Thành Thái


11         Nguyễn Phúc Vĩnh San              Duy Tân


12         Nguyễn Phúc Bửu Đảo              Khải Định


13         Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy Bảo Đại


+ Thứ hai, các nguồn sử liệu khi đề cập đến một vị vua thì sử dụng miếu hiệu, tuy nhiên, đối với nhà Nguyễn thì cá biệt sử dụng niên hiệu. Nói cách khác, lẽ ra cần phải gọi là “Thế Tổ Cao Hoàng Đế” hay “Thái Tổ Nhân Hoàng Đế” để gọi Nguyễn Ánh hay Nguyễn Phúc Đảm thì họ lại sử dụng niên hiệu để gọi. Lý giải điều này, tôi cho rằng có lẽ gọi niên hiệu để ngắn gọn và vì đặc điểm các vua nhà Nguyễn không có ai sử dụng hơn một niên hiệu, do đó không cần quan tâm đến việc nhầm lẫn.


Trong khi đó, với các triều đại phong kiến trước đó, rất nhiều vị vua đã cho thay đổi niên hiệu không dưới hai lần trong suốt giai đoạn trị vì. Có ý kiến cho rằng việc thay đổi niên hiệu thường xảy ra khi đất nước có nạn đói kém, mất mùa hay thảm họa; vua quan niệm rằng mình đang bị ông trời trừng phạt và do vậy, việc thay đổi niên hiệu là một động thái thể hiện sự ăn năn của mình. Về điều này, một số tài liệu sử học được biên soạn theo phương thức lịch đại sẽ cho ta thấy rất rõ. Trong phạm vi bài viết ngắn này, tôi không có tham vọng thống kê vì vấn đề dung lượng và thời gian chi phối.


Về tôn hiệu, đây là tên gọi ít phổ biến hơn so với niên hiệu, miếu hiệu, thụy hiệu. Có thể hiểu tôn hiệu là tên gọi tôn kính dành cho những người tôn quý. Những người thường được đặt tôn hiệu sẽ là những vị Thái Thượng hoàng (cha của vua), Hoàng Thái hậu (mẹ của vua). Sở dĩ tôi nói ít phổ biến hơn bởi lẽ thường thì sau khi tiên đế băng hà thì hoàng thái tử mới lên ngôi. Và khi mà tiên đế băng hà rồi thì khi đó, tên gọi được vị vua kế nhiệm đặt sẽ gọi là miếu hiệu chứ không còn là tôn hiệu. Nói tóm lại, tôn hiệu là danh xưng mà vua dùng để gọi cho những người bao gồm cha, mẹ của mình khi còn sống.


 Đặc điểm để nhận diện tôn hiệu bao gồm 2 vấn đề: (1) Tôn hiệu thường sử dụng chữ Hán với dung lượng rất dài – (2) Tôn hiệu trong các triều đại Việt Nam tồn tại nhiều nhất dưới triều Trần. Về đặc điểm thứ hai, ta thấy triều Trần là triều đại phong kiến đầu tiên bắt đầu thiết lập chế độ Thái Thượng Hoàng và do vậy, tất yếu là tôn hiệu xuất hiện dưới triều Trần rất phổ biến. Chẳng hạn như “Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái thượng hoàng đế” (Trần Thái Tông), “Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái thượng hoàng đế” (Trần Nhân Tông)…


Như vậy, nếu tiên đế đã băng hà thì vị vua kế vị sẽ đặt thụy hiệu cho tiên đế của mình. Thụy hiệu hay còn gọi là “tên hèm” trong dân gian. Lịch sử Việt Nam ghi nhận một số trường hợp vua sau khi mất không có thụy hiệu. Nguyên nhân của việc một số vị vua không có thụy hiệu thuộc các trường hợp: Các vị vua cướp ngôi của nhau, triều đại sau cướp ngôi của triều đại trước hoặc vị vua đó mất trong chiến tranh. Tiêu biểu cho những trường hợp này là những vị vua: Nguyễn Quang Toản, Mạc Mậu Hợp, Lê Long Đĩnh…


Thụy hiệu là tên gọi được đặt cho vua khi vừa mất, sau khi hoàn tất các thủ tục mai táng, vị vua tiếp theo của triều đại đó (thường là hoàng thái tử sau khi lên ngôi) sẽ đặt tên cho vị vua trước (tiên đế). Tên gọi này được gọi là Miếu hiệu. Các tài liệu sử học hiện nay hầu như đều thống nhất cách ghi chép các đời vua bằng cách sử dụng miếu hiệu. Như vậy, có thể hiểu miếu hiệu chính là tên gọi của vị vua sau đặt cho vị vua trước của một triều đại nào đó. Như đã đề cập, cách nhận diện dễ dàng nhất để phân biệt Miếu hiệu với các khái niệm Niên hiệu – Tôn hiệu – Thụy hiệu chính là tồn tại thành tố “Tông” hoặc “Tổ” trong danh xưng của các vị vua. Tuy nhiên, cũng chính vì quy luật định danh miếu hiệu như vậy cũng đã gây ra không ít khó khăn cho những thế hệ sau nhớ được từng vị vua. Vấn đề đặt ra là chữ “Tổ” hay chữ “Tông” trong miếu hiệu của các vị vua là từ đâu mà ra ?


 Có thể nói, phương thức đặt ra các niên hiệu, tôn hiệu, thụy hiệu, miếu hiệu trong các triều đại phong kiến ở Việt Nam hầu như chịu ảnh hưởng tuyệt đối từ phong kiến Trung Hoa. Phương thức đặt tên như vậy từ phong kiến Trung Hoa ảnh hưởng hầu như ở tất cả các quốc gia trong khu vực (chẳng hạn như Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc) chứ không riêng gì ở Việt Nam. Tôi nhấn mạnh đến yếu tố ảnh hưởng này bởi lẽ xét ở góc độ lịch sử, phong kiến Trung Hoa mà theo huyền sử thì vua Nghiêu truyền ngôi chua vua Thuấn, vua Thuấn truyền ngôi cho vua Vũ, nhưng sau đó vua Vũ lại truyền ngôi cho con trai của mình. Đây là cơ sở để thay đổi nguyên tắc từ “truyền tử” chứ không còn “truyền hiền”. Tông (tôn) pháp chính là yếu tố tiên quyết trong việc xét người nối ngôi. Cũng cần nói thêm rằng, việc sử dụng thành tố “Tông” hay Tôn” trong miếu hiệu các vua Việt Nam đều tương đồng nhau, sở dĩ có sự khác biệt là vì kỵ húy với tên của vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông”.


Có thể hiểu tông pháp là chế độ kế thừa theo dòng tộc, huyết thống nam giới. Từ đây cho phép tôi đặt ra giải thuyết liệu chăng chữ “Tông” trong miếu hiệu của các vua phải chăng để làm nổi bật tính “chính thống”, theo đúng tông pháp của dòng tộc ? Mặt khác, trong hệ thống triều đình ngày xưa có một cơ quan gọi là “Tông nhân phủ”. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm xét huyết thống, phả hệ trong hoàng tộc.


Đó là về chữ “Tông”, còn về chữ “Tổ” thì như thế nào ? “Tổ” là thành tố thường xuất hiện trong miếu hiệu của những vị vua sáng lập triều đại. Kể từ vị vua thứ hai trở về sau mới sử dụng chữ “Tông”. Ví dụ như đối với triều Lý, Lý Công Uẩn là vị vua sáng lập nên miếu hiệu là Lý Thái Tổ, sau đó lần lượt là các vị vua: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, … Tuy nhiên, cũng tương tự như Niên hiệu – Tôn hiệu – Thụy hiệu, miếu hiệu cũng có trường hợp ngoại lệ là vị vua khai sáng triều đại không sử dụng thành tố “Tổ”, đó là trường hợp của Trần Cảnh – Trần Thái Tông. Lý giải điều này, ta cần hiểu rằng Trần Thừa – cha của Trần Cảnh không ở ngôi ngày nào nhưng sau khi lên ngôi vẫn được Trần Cảnh kính trọng mà đặt tên cho miếu hiệu là Trần Thái Tổ. Và cũng cần lưu ý, Trần Thừa là vị Thái Thượng hoàng chưa ở ngôi ngày nào.


Miếu hiệu của các vị vua từ thời Nguyễn trở về trước (đặc biệt là dưới triều đại Lê – Lý – Trần) thường được dùng để gọi trong các nguồn Sử liệu hiện nay. Tuy nhiên, nhà Nguyễn lại là trường hợp ngoại lệ khi miếu hiệu của các vị vua Nguyễn khá dài và không còn tuân theo nguyên tắc bao hàm thành tố “Tông” trong miếu hiệu nữa. Do đó, thay vì sử dụng miếu hiệu để gọi tên các vị vua, các Sử gia lại sử dụng niên hiệu để gọi tên các vị vua. Chính điều này đôi lúc đã dẫn đến sự sai lệch trong cách hiểu miếu hiệu của các vua nhà Nguyễn.


Huỳnh Thiệu Phong


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Stalin và vấn đề ký ức lịch sử của nước Nga - Tư liệu sưu tầm 23.09.2017
Sau vụ xử Bạc Hy Lai: Tham nhũng có đe dọa tương lai Trung Quốc? - Tư liệu 21.09.2017
Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18 - Li Tana 19.09.2017
Chuyến du lịch Việt Nam của vị Nga Hoàng cuối cùng - Tư liệu sưu tầm 19.09.2017
Franklin Roosevelt – Người duy nhất đắc cử ba nhiệm kỳ tổng thống Mỹ - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Tưởng Giới Thạch – Tổng thống Trung Hoa Dân quốc - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Mao Trạch Đông trong mắt người Trung Quốc hiện nay - Lý Lỵ & Chương Lập Phàm 18.09.2017
Huyện Kiên Lương: Vững vàng hội nhập và phát triển/ Du lịch đảo ở Kiên Lương - Nhiều tác giả 17.09.2017
Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang - Tư liệu 17.09.2017
Vài ký ức về ba tôi: Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh - Vũ Trọng Khải 10.09.2017
xem thêm »