tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21279354
22.02.2017
Nhiều tác giả
Chim sẻ - Bộ sẻ



Chim sẻ ăn hạt, nhưng nuôi con bằng sâu


Mỗi khi mùa lúa chín trên các cánh đồng các bạn sẽ thấy các đàn chim sẻ thoắt bay thoắt đậu để ăn những hạt lúa trên cây hay rơi vãi. Nhưng nếu có lần bạn htấy một tổ chim sẻ thì sẽ thấy "Chim sẻ mớm mồi cho con bằng sâu". Tại sao vậy, có một nghịch lý mà khó giải thích được, hay chim sẻ ăn cà hạt và cả những động vật nhỏ bé, côn trùng mà chúng ta chưa thấy. Tôi đã lên mạng tìm kiếm và có được câu trả lời thoả mãn và chia lại cho các bạn.


Sẻ mái: Lông màu nâu nhạt hoặc xám


Sẻ trống: Lông màu đen hoặc sáng


Chim sẻ là loài chim thường gặp nhất, đâu đâu cũng có chúng, từ rìa làng, sân phơi đến ruộng lúa… Chỉ cần nhìn qua cái mỏ hình nón, thô ngắn và khỏe là đủ biết chúng mổ hạt “ác” như thế nào. Ấy vậy mà mùa sinh sản, chúng lại tíu tít tìm sâu cho chim non.


Chim sẻ non ăn sâu là do nhu cầu dinh dưỡng cao


Té ra, chim non trưởng thành nhanh, trao đổi chất của chúng rất mạnh, do đó cần thức ăn giàu dinh dưỡng để thỏa mãn nhu cầu hàng ngày. Hơn nữa, chim non còn quá bé, chức năng dạ dày kém, chưa đủ sức nghiền nát và tiêu hóa quả, hạt ngũ cốc cứng. Vì vậy, một số loài chim bình thường ăn hạt, thời kỳ nuôi con thì luôn tìm kiếm thức ăn động vật, chứa nhiều dưỡng chất cho con. Ví dụ chim tê điêu, loài chim quý hiếm của Trung Quốc, bình thường ăn quả dại, lúc nuôi chim non thì bắt chim non của loài khác để chăm con mình, có khi nó bắt cả một con kỷ (loài hươu nhỏ) xé ra từng mảnh rồi đem cho con.


Chim sẻ sinh sản đúng dịp xuân hè, mùa côn trùng nở rộ, nên chúng tha hồ bắt các loại côn trùng có hàm lượng protein cao.


Chim sẻ là loài dễ nuôi, nặng dưới 50gam, chim sẻ dược nuôi để làm thực phẩm hoặc bán lại làm chim phóng sinh. Nếu bạn đi lễ chùa vào dịp lễ tết sẽ thấy cảnh tượng thả chim sẻ hay còn gọi là phóng sinh để tạo phước lấy lộc.


Chim sẻ mẹ "sinh con theo ý muốn"


Trong một lứa chim, những con nở ra đầu tiên bao giờ cũng to lớn và có khả năng sống sót cao hơn cả. Nhưng làm thế nào để chúng thích nghi tốt nhất với môi trường? Chim sẻ mẹ dường như thông tỏ điều đó, và nó sẽ quyết định đứa con đầu tiên nên là đực hay cái.


Các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu loài chim sẻ nhà ở hai môi trường hoàn toàn khác nhau tại bang Alabama và bang Montana. Họ nhận thấy chúng đều có chung một cách kiểm soát giới tính và kích cỡ của con non, để khi ra đời “lũ trẻ” sẽ thích nghi nhất với môi trường sống.


Tại bang Montana, thời tiết lạnh và khô. Hầu hết những quả trứng chim sẻ nở đầu tiên là con mái. Trong khi đó ở Alabama, với điều kiện ấm và ẩm là chủ đạo, đa phần những trứng tách vỏ đầu tiên lại là sẻ đực.


Các nhà khoa học phỏng đoán rằng chim mẹ đã có ảnh hưởng quan trọng tới trình tự ra đời và kích cỡ của chim trống hay mái. Chẳng hạn, trong mùa đông lạnh lẽo ở Montana, những con cái nở ra đầu tiên có lợi thế sống sót cao hơn là các con đực. Mặt khác, những con cái có kích thước lớn sẽ dễ dàng sinh tồn và tiếp tục duy trì nòi giống hơn so với các con cái bé nhỏ.


Alexander Badyaev, trưởng nhóm nghiên cứu của Đại học Montana, nhận định: "Chọn lọc tự nhiên đã quy định chiến lược sinh sản của chim sẻ mẹ. Chúng sẽ lập trình thứ tự cho các quả trứng đực hay cái trong lứa, và kết quả là những con chim non nở ra theo đúng trình tự đó, thích nghi tốt nhất với môi trường. Trong trường hợp này, đứa con cả sẽ là người thừa tự chủ yếu và truyền lại bộ gene cho các thế hệ sau. Nó càng khỏe mạnh, càng thích nghi, thì sự tiến hóa càng mạnh mẽ".


Các nhà khoa học không thực sự hiểu rõ chức năng sinh lý đằng sau việc chim mẹ bố trí thứ tự ra đời cho những quả trứng của chúng, nhưng rõ ràng, ảnh hưởng chung của người mẹ lên đứa con dường như đã làm các quần thể trong loài trở nên khác xa nhau hơn, đôi khi có thể dẫn tới hình thành loài mới. Trên bình diện đó, chúng đã thúc đẩy quá trình tiến hóa diễn ra mau chóng hơn.


B.H. Theo USAtoday.


Bộ Sẻ


Danh pháp khoa học: Passeriformes, là một bộ chim đa dạng về số lượng loài. Trên một nửa các loài chim là dạng sẻ. Đôi khi còn biết đến như là các loài chim đậu cành hay ít chính xác hơn là chim biết hót, bộ Sẻ tạo thành một trong những bộ đa dạng nhất của động vật có xương sống trên mặt đất: với khoảng 5.400 loài, nó khoảng 2 lần đa dạng hơn so với bộ động vật có vú đa dạng nhất là bộ Gặm nhấm (Rodentia).


Tên gọi khoa học của bộ ("Passeriformes") có nguồn gốc từ Passer domesticus, tên khoa học của loài điển hình cho bộ này là sẻ nhà – và nó lại có nguồn gốc từ tiếng Latinh passer để chỉ các loài sẻ thật sự và các dạng chim nhỏ trông tương tự.


Nhiều loài chim dạng sẻ là các loài chim biết hót và có các cơ phức tạp để kiểm soát minh quản của chúng; nhiều loài há mỏ trong tổ khi còn non để xin thức ăn.


Bộ Sẻ có thể chia thành 3 phân bộ là Tyranni (gần/cận biết hót), Passeri (biết hót) và nhóm cơ sở Acanthisitti (hồng tước New Zealand). Các dạng chim biết hót có khả năng kiểm soát tốt nhất các cơ minh quản của chúng trong số các loài chim, có thể tạo ra nhiều kiểu kêu, hót khác nhau và các dạng xướng âm khác (mặc dù một số trong chúng, chẳng hạn như một số loài quạ, không phát ra tiếng kêu/hót để người có thể nghe thấy); một số như hai loài chim lia là những kẻ bắt chước hoàn hảo). Phân bộ Acanthisitti là những loài chim nhỏ, tương tự như hồng tước, chỉ có ở New Zealand trong thời gian gần đây; trước kia chúng được đưa vào phân bộ Passeri, nhưng trên thực tế là nhóm rất khác biệt và rất cổ.


Phần lớn các loài chim dạng sẻ là nhỏ hơn các thành viên điển hình của các bộ chim khác. Loài to lớn và nặng nhất trong chim dạng sẻ là quạ mỏ dày; quạ phương Bắc cũng gần như thế và hai loài chim lia là dài hơn cả.


Các chân của chim dạng sẻ có 3 ngón xòe ra phía trước mà không có màng chân hay khớp nối và một ngón xòe về phía sau. Ngón sau nối với cổ chân ở vị trí như các ngón trước. Kiểu sắp xếp ngón chân ở các bộ chim khác không giống như vậy.


Phần lớn chim dạng sẻ đẻ các trứng với vỏ có màu sắc, ngược lại với các loài chim không là dạng sẻ với vỏ trứng màu trắng (ngoại trừ ở một vài nhóm chim làm tổ dưới đất như choi choi (bộ Charadriiformes) và cú muỗi (họ Caprimulgidae), khi sự ngụy trang là cần thiết, và một số chim cu cu (họ Cuculidae) ký sinh, với màu vỏ trứng phù hợp với màu vỏ trứng chim chủ thuộc bộ Sẻ).


Nguồn gốc và tiến hóa


Lịch sử tiến hóa và các mối quan hệ giữa các họ trong bộ vẫn còn là điều bí ẩn cho tới tận gần đây. Nhiều họ được gộp nhóm cùng nhau trên cơ sở các nét tương đồng hình thái mà hiện nay người ta tin rằng chỉ là kết quả của tiến hóa hội tụ chứ không phải là do có quan hệ di truyền gần gũi. Ví dụ, các loài chim "hồng tước" ở Bắc bán cầu, ở Australia và ở New Zealand trông rất tương tự và chúng có cung cách sinh sống cũng tương tự, nhưng thuộc về 3 nhánh xa nhau trong cây phát sinh loài của bộ Sẻ; chúng không có quan hệ họ hàng gần như vẫn tưởng mà chỉ cùng nằm trong bộ Sẻ mà thôi.


Cần phải có thêm nhiều nghiên cứu, nhưng những tiến bộ trong sinh học phân tử và các dữ liệu cổ địa sinh học ngày càng hoàn thiện dần dần sẽ cho thấy hình ảnh rõ ràng hơn về nguồn gốc và tiến hóa của các loài chim dạng sẻ. Hiện nay, người ta cho rằng những loài chim dạng sẻ đầu tiên đã tiến hóa tại Gondwana vào thời gian trong kỷ Paleogen, có thể là khoảng Hậu Paleocen cỡ 60–55 Ma. Sự chia tách ban đầu là giữa Tyranni, các dạng chim biết hót, Eurylaimides và "hồng tước" New Zealand, có thể đã phân ra trong khoảng thời gian ngắn (nhiều nhất là vài triệu năm). Bộ Sẻ dường như cũng đã tiến hóa ra ngoài để thành các nhánh có quan hệ tương đối gần ("cận chim sẻ") như các nhánh chứa Piciformes (các dạng gõ kiến), Coraciiformes (các dạng sả) và Cuculiformes (các dạng cu cu).


Muộn hơn một chút, sự phân tỏa lớn các dạng diễn ra tại khu vực ngày nay là Australia-New Guinea: Passeri hay chim biết hót. Nhánh chính của Passeri, tiểu bộ "Passerida", đã nổi lên hoặc như là nhóm chị-em với dòng dõi cơ sở và nhóm dạng quạ (tiểu bộ "Corvida"), hoặc có thể nhiều hơn là một phân nhóm của nó, mở rộng sâu vào đại lục Á-Âu và châu Phi, tại đó lại tiếp tục có sự phân tỏa lớn sinh ra các dòng dõi mới. Điều này cuối cùng dẫn tới 3 dòng dõi chính trong bộ Sẻ bao gồm khoảng 4.000 loài, cùng với nhánh Corvida và hàng loạt các nhánh nhỏ khác tạo thành sự đa dạng của chim biết hót ngày nay. Cũng diễn ra sự phối trộn địa sinh học trên phạm vi rộng, với các dạng phía bắc quay về phía nam còn các dạng phía nam thì di chuyển lên phía bắc v.v.


Mẫu hóa thạch


Các dạng sẻ sớm nhất


Nghiên cứu về xương các loài chim đậu, đặc biệt là các xương chi, chỉ mang tính chất chẩn đoán. Tuy nhiên, các mẫu hóa thạch sớm là ít do các dạng chim dạng sẻ đầu tiên dường như là ở phía nhỏ của khoảng kích cỡ ngày nay và các xương mỏng mảnh của chúng không được bảo quản tốt. Các mẫu vật của Viện bảo tàng Queensland số F20688 (carpometacarpus) và F24685 (xương đầu gối) từ Murgon, Queensland là các mảnh xương hóa thạch rất dễ dàng nhận ra là có dạng sẻ; chúng đại diện cho hai loài với kích thước chiều dài tổng thể khoảng 10 tới 20 cm và chứng minh rằng vào khoảng 55 Ma, gần với Tiền Eocen, các dạng chim đậu nguyên thủy đã có sự khác biệt có thể nhận ra. Một nhóm tương tự, Zygodactylidae (đặt tên theo khả năng tiếp cận bằng ngón (zygodactyly) để đậu) đã phát sinh độc lập có thể cùng khoảng thời gian này – và có thể từ các tổ tiên có quan hệ gần – tại các vùng đất tiếp giáp với Bắc Đại Tây Dương, khi đó chỉ có bề rộng cỡ 2/3 bề rộng ngày nay.


Cho đến khi có phát hiện ra các hóa thạch ở Australia, người ta tin rằng Palaeospiza bella từ tầng hóa thạch Florissant Priabona (Hậu Eocen, khoảng 35 Ma) là chim dạng sẻ cổ nhất đã biết. Tuy nhiên, hiện nay người ta coi nó thuộc về nhóm cận chim sẻ không có dạng sẻ.


Từ thành hệ Bathans tại sông Manuherikia ở Otago, New Zealand, MNZ S42815 (ngoại biên xương cổ chân phải của loài chim có kích thước cỡ chim tui (Prosthemadera novaeseelandiae)) và một vài xương của ít nhất là một loài chim kích thước cỡ chim yên ngựa (Philesturnus carunculatus) đã được mô tả gần đây. Chúng có niên đại từ khoảng Tiền tới Trung Miocen (tầng Awamoan tới tầng Lillburnian, khoảng 19-16 Ma).


Chim lia lớn trống (Menura novaehollandiae). Loài chim biết hót rất nguyên thủy này có dị hình lưỡng tính mạnh, với bộ lông kỳ quặc ở các con trống.


Kiến thức hiện nay về các mối liên-quan hệ của các nhóm chim dạng sẻ còn sinh tồn cho thấy tổ tiên chung gần nhất của mọi chim dạng sẻ còn sinh tồn là một loài chim rừng nhỏ, có lẽ với đuôi ngắn và mập[5] và màu nâu xám tổng thể, nhưng có thể với dị hình lưỡng tính rõ ràng. Đặc điểm sau dường như đã bị mất và tái tiến hóa nhiều lần chỉ riêng ở quá trình tiến hóa của chim biết hót, được phán đoán từ phân bố của đặc điểm này trong các dòng dõi còn sinh tồn: chẳng hạn tổ tiên chung của Passerida gần như chắc chắn là không có dị hình lưỡng tính rõ ràng khi xem xét tới việc đặc điểm này là rất hiếm trong số các dòng dõi cơ sở của nó, nhưng rất phổ biến trong nhánh Passerida trẻ hơn, nhóm Passeroidea; ngược lại trong số các dòng dõi cơ sở nhất của Passeri thì có một lượng đáng kể các dòng dõi có dị hình mạnh, chẳng hạn họ Menuridae rất cổ cũng như nhiều nhóm trong Meliphagoidea và Corvoidea. Dị hình lưỡng tính cũng không là hiếm ở Acanthisittidae và rõ nét ở một số chim gần biết hót như Pipridae và Cotingidae.


Chim sẻ tại thành phố Hồ Chí Minh


Các dạng sẻ sớm ở châu Âu


Tại châu Âu, các loài chim đậu là không quá hiếm trong các mẫu hóa thạch từ thế Oligocen trở đi, nhưng phần lớn là quá rời rạc để có thể xác định vị trí dứt khoát hơn:


Wieslochia (Tiền Oligocen ở Frauenweiler, Đức)


Passeriformes chi mơ hồ loài không rõ ràng (gen. et sp. indet.) (Tiền Oligocen ở Luberon, Pháp) – gần biết hót hay cơ sở.


Passeriformes chi mơ hồ loài không rõ ràng (Hậu Oligocen ở Pháp) – một vài đơn vị phân loại cận biết hót và biết hót


Passeriformes chi mơ hồ loài không rõ ràng (Trung Miocen ở Pháp và Đức) – cơ sở?


Passeriformes chi mơ hồ loài không rõ ràng (Sajóvölgyi Trung Miocen ở Mátraszõlõs, Hungary) – ít nhất 2 đơn vị phân loại, có thể là 3; ít nhất một trong đó là chim biết hót.


Wieslochia có thể không là thành viên của bất kỳ phân bộ còn sinh tồn nào. Điều đó nghĩa là không chỉ có nhóm Passeri là đã mở rộng ra ngoài khu vực phát sinh của nó và được chứng minh bằng hóa thạch của chim mỏ rộng không xác định (họ Eurylaimidae) từ Tiền Miocen (khoảng 20 Ma) ở Wintershof, Đức và của chim cận biết hót danh pháp không xác định Hậu Oligocen tại Pháp như liệt kê trên đây. Thậm chí các dạng chim dạng sẻ rất cơ sở có thể cũng là phổ biến tại châu Âu cho tới Trung Miocen, vào khoảng 12 Ma.[10] Các siêu họ còn sinh tồn của nhóm Passeri cũng đã rất khác biệt vào thời gian đó và được biết kể từ khoảng 12–13 Ma khi các chi hiện đại đã có mặt trong nhóm Corvoidea và chim biết hót cơ sở. Sự đa dạng hiện nay của các chi Passerida được biết đến chủ yếu từ Hậu Miocen trở đi và trong thế Pliocen (khoảng 10–2 Ma). Các khu hệ hóa thạch thế Pleistocen và đầu thế Holocen (<1,8 Ma) chứa hóa thạch của nhiều loài hiện còn sinh tồn, và nhiều khu chỉ chứa hóa thạch của các loài còn sinh tồn hoặc loài thời gian và các phân loài cổ của chúng.


Hóa thạch châu Mỹ


Tại châu Mỹ, các mẫu hóa thạch là hiếm hơn trước thế Pleistocen, từ đó một vài họ chim cận biết hót hiện vẫn còn tồn tại đã được chứng minh. Bên cạnh mẫu vật không thể xác định MACN-SC-1411 (Pinturas, Tiền/Trung Miocen ở tỉnh Santa Cruz, Argentina),[11] thì dòng dõi đã tuyệt chủng của các dạng chim đậu đã được mô tả từ thời gian Hậu Miocen ở California, Hoa Kỳ: Palaeoscinidae với một chi Paleoscinis. "Palaeostruthus" eurius (Pliocen ở Florida) có lẽ thuộc về họ còn sinh tồn, có thể nhất là Passeroidea.


Hệ thống và phân loại


Ban đầu, hai nhóm Corvida và Passerida được phân loại như là các "tiểu bộ" trong phân bộ Passeri; phù hợp với thực tiễn phân loại thông thường thì chúng cần được phân loại như là các cận bộ. Theo sắp xếp ban đầu của phân loại Sibley-Ahlquist, chúng chứa tương ứng là Corvida bao gồm hai siêu họ lớn Corvoidea và Meliphagoidea cũng như các dòng dõi nhỏ khác, còn Passeri là các siêu họ Sylvioidea, Muscicapoidea và Passeroidea.


Sự sắp xếp này được nhận ra là sự đơn giản hóa quá mức theo các nghiên cứu gần đây. Vào khoảng giữa thập niên 2000, hàng chục nghiên cứu được công bố trong đó người ta cố gắng giải quyết thành công hơn phát sinh loài trong phân tỏa tiến hóa của chim dạng sẻ. Ví dụ, Corvida trong phán đoán truyền thống là tổ hợp mang nặng tính ngẫu nhiên và chủ quan chứa các dòng dõi sớm và/hoặc nhỏ của các chim dạng sẻ có nguồn gốc Cựu thế giới, nói chung từ khu vực Australia, New Zealand, và Wallacea. Nhóm Passeri, ngược lại, có thể trở thành đơn ngành bằng cách chuyển đi một vài họ, nhưng cách sắp xếp 3 siêu họ "sạch" lại hóa ra là phức tạp hơn và một điều không chắc chắn là các tác giả trong tương lai sẽ bám vào đó hay không.


Một vài đơn vị phân loại lại hóa ra là đại diện cho các loài có sự khác biệt cao-các dòng dõi được hiểu kém và hậu quả là các họ mới cần được thiết lập, một số trong chúng – như chim Stitch (Notiomystis cincta) ở New Zealand và sẻ ngô râu ở đại lục Á-Âu – là các họ đơn loài với chỉ một loài còn sinh tồn.. Dường như là trong nhóm Passeri thì một số các dòng dõi nhỏ cuối cùng sẽ được công nhận như là các siêu họ khác biệt. Ví dụ, tước mào vàng chỉ có 1 chi với ít hơn 10 loài còn sinh tồn, nhưng dường như thuộc về các dòng dõi chim đậu đầu tiên đã rẽ nhánh ra do nhóm này đã lan rộng khắp đại lục Á-Âu. Người ta không tìm thấy bất kỳ họ hàng gần nào của chúng trong các nghiên cứu bao hàm toàn diện về chim trong bộ Passeri còn sinh tồn, mặc dù có nghi ngờ rằng chúng có thể khá gần với một vài nhóm ít được nghiên cứu ở vùng nhiệt đới châu Á. Các họ "thùng rác" như chim chích Cựu thế giới (họ Sylviidae) và họa mi (họ Timaliidae) là các nhóm cận ngành và đang được sắp xếp lại. Quá trình này vẫn đang được tiếp tục. Vì thế, việc sắp xếp tại bài này có thể bị thay đổi.


Danh sách phân loại các họ


Danh sách này lấy theo trật tự phân loại, đặt các nhóm có quan hệ cạnh nhau. Các phân chia nhỏ của nhóm Passerida được cập nhật theo phân loại chuẩn trong Handbook of the Birds of the World,[13] dựa trên các nghiên cứu gần đây nhất và bao hàm toàn diện hơn cả.[14] Cập nhật bổ sung là cần thiết.


Sắp xếp các họ


Các họ được sắp xếp theo một trật tự hơi không bình thường. Điều này là do có quá nhiều sự tái định vị đã thực hiện kể từ năm 2005 nên sắp xếp rõ ràng cuối cùng vẫn chưa đạt được. Trật tự hiện tại là cố gắng để bảo tồn càng nhiều càng tốt trật tự truyền thống trong khi vẫn ưu tiên cho việc xác định chính xác các mối quan hệ giữa các họ.


Phân bộ Acanthisitti


Acanthisittidae: "Hồng tước" New Zealand


Phân bộ Tyranni


Chim cận biết hót


Cận bộ Eurylaimides – Chim cận biết hót Cựu thế giới (hay chim cận biết hót mỏ rộng). Có thể là một phân bộ riêng.


Siêu họ Eurylaimoidea – chim mỏ rộng và đồng minh


Eurylaimidae: mỏ rộng


Philepittidae: asity


Sapayoidae: sapayoa mỏ rộng


Siêu họ Pittoidea


Pittidae: đuôi cụt


Cận bộ Tyrannides – chim cận biết hót Tân thế giới


Siêu họ N.N. (không tên)


Tyrannidae: đớp ruồi bạo chúa


Tityridae: tityra và đồng minh.


Cotingidae: cotinga


Pipridae: manakin


Siêu họ Furnarioidea


Furnariidae: chim lò và trèo cây


Thamnophilidae: ăn kiến


Formicariidae: antpitta, hoét kiến và tapaculo điển hình. Có thể là đa ngành.


Conopophagidae: ăn muỗi và gnatpitta


N.N. (Không tên): "tapaculo" không điển hình (ngực lưỡi liềm và đồng minh)


Phân bộ Passeri


Chim biết hót


Passeri cơ sở – chim biết hót thực sự và cổ nhất, đặc hữu Australia. Đôi khi coi là siêu họ "Menuroidea".


Menuridae: chim lia


Atrichornithidae: chim bụi rậm


Siêu họ Meliphagoidea – chủ yếu là chim ăn sâu bọ và chim hút mật, phân bố với trung tâm là khu vực Australia-Melanesia trải rộng ra xung quanh, chủ yếu là Thái Bình Dương.


Maluridae: hồng tước tiên, hồng tước emu và hồng tước cỏ


Dasyornithidae: chim rễ tre. Trước đây xếp trong họ Acanthizidae.


Acanthizidae: chích bụng vàng, hồng tước bụi rậm, mỏ gai


Meliphagidae: hút mật Australia


Meliphagoidea không chắc chắn (incertae sedis)


Pardalotidae: Trước đây xếp trong họ Acanthizidae, có thể được đưa vào Meliphagidae.


Acanthorhynchus: mỏ gai. Thông thường gộp trong họ Meliphagidae; có thể coi là họ đơn loài nếu Pardalotidae cũng được coi là hợp lệ.


Siêu họ Corvoidea – nhóm đa dạng rất lớn với phân bố toàn cầu, nhưng nhiều nhất tại khu vực Australasia và xung quanh. Nhóm thành công thật sự toàn cầu cổ nhất trong chim dạng sẻ, nó bao gồm những loài có thể là thông minh nhất và kỳ lạ nhất của bộ Sẻ.


Melanocharitidae: chim mổ quả và mỏ dài. Trước đây trong nhóm Passerida.


Callaeidae: chim yếm thịt New Zealand. Đặt vào đây không dứt khoát.


Họ N.N. (không tên): chim Stitch. Đặt vào đây không dứt khoát.


Cnemophilidae: chim sa tanh


Neosittidae: sittela


Vireonidae: vireo


Campephagidae: Họ Phường chèo


Pachycephalidae: bách thanh lưng nâu và đồng minh. Phân định với sự lưu tâm tới vài họ và phân họ khác đã được đề xuất đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng.


Oriolidae: vàng anh


Paramythiidae: mổ quả-sẻ ngô và mổ quả mào. Trước đây trong Passerida.


Artamidae: nhạn rừng, yến quyết và ác là Australia


Malaconotidae: phường chèo nâu


Platysteiridae: mắt yếm. Trước đây trong Passerida. Có lẽ là cận ngành.


Aegithinidae: chim nghệ


Pityriaseidae: đầu cứng Borneo. Đặt vào đây không chắc chắn.


Prionopidae: bách thanh helmet và bách thanh rừng


Vangidae: vanga


Dicruridae: chèo bẻo, đớp ruồi vua, rẻ quạt và đồng minh. Có lẽ cận ngành; có thể coi các phân họ Monarchinae và Rhipidurinae (rẻ quạt) như là 2–3 họ khác biệt thì hợp lý hơn.


Monarchidae:


Rhipiduridae: rẻ quạt


Paradisaeidae: chim thiên đường


Corcoracidae: quạ chân đỏ cánh trắng và chim tông đồ


Laniidae: bách thanh


Corvidae: quạ


Corvoidea không chắc chắn (incertae sedis)


Vireolanius: bách thanh-vireo. Thông thường đưa vào họ Vireonidae, có thể là họ đơn loài.


Erpornis: khướu mào bụng trắng. Trước đây nằm trong chi Yuhina (Passerida: Timaliidae); có thể là họ đơn loài hoặc trong họ Vireonidae


Colluricinclidae: bách thanh-hoét. Thường đưa vào họ Pachycephalidae nhưng có lẽ nên công nhận như là phân họ là ít nhất.


Cinclosomatidae: whipbird và đồng minh. Chứa Psophodidae nhưng điều này có thể làm cho nó thành cận ngành. Ít nhất thì một số loài thuộc họ Pachycephalidae nếu Falcunculinae không được coi là họ khác biệt.


Falcunculidae: bách thanh-sẻ đồng và đồng minh. Thường gộp trong họ Pachycephalidae; có thể là họ khác biệt hoặc trộn vào họ Cinclosomatidae hay họ Psophodidae.


"Pitohuidae": pitohui. Thường gộp trong họ Pachycephalidae nhưng dường như gần gũi hơn với họ Oriolidae và tốt nhất nên coi là họ khác biệt, bao gồm Oreoica và có thể các chi khác của họ Pachycephalidae nghĩa rộng (sensu lato).


Melampitta: Hai loài chim rất khó xử với sự phân loại chưa rõ ràng; tính đơn ngành của chi này bị tranh cãi từ lâu. Có thể là nhánh cơ sở của Monarchidae, cũng có thể là họ riêng của chính nó.


Passeri (chủ yếu "Corvida") incertae sedis


Có thể là siêu họ "Ptilonorhynchoidea" – bowerbirds và Australian treecreepers


Climacteridae: trèo cây Australia


Turnagridae: Piopio (tuyệt chủng)


Ptilonorhynchidae: bowerbird


Có thể là siêu họ N.N. (không tên) - logrunner và giả hét cao cẳng


Orthonychidae: logrunner


Pomatostomidae: giả hét cao cẳng


Petroicidae: cổ đỏ Australia


Có thể là siêu họ N.N. (không tên)


Picathartidae: chim hói đầu.


Chaetopidae: rock-jumper. Tách ra gần đây từ Turdidae.


Eupetidae: hét cao cẳng Malaysia. Tách ra gần đây từ Cinclosomatidae.


Có thể là siêu họ đơn loài Reguloidea – tước mào vàng


Regulidae: tước mào vàng


Có thể là siêu họ đơn loài N. N. (không tên)


Họ không tên: Hyliota. Tách ra gần đây từ Sylviidae.


Irenidae: chim lam. Reguloidea? Cơ sở đối với/trong Passeroidea?


Chloropseidae: chim xanh hay chim lá. Reguloidea? Cơ sở đối với/trong Passeroidea?


Cận bộ Passerida


Siêu họ Sylvioidea – chủ yếu là ăn sâu bọ, phân bố với trung tâm tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Một số ít có tại khu vực Australia và ít hơn nữa ở châu Mỹ. Thông thường là các loài chim mỡ màng màu nâu xám, một ít có dị hình lưỡng tính rõ nét.


Alaudidae: sơn ca


Hirundinidae: nhạn


Phylloscopidae: chích lá và đồng minh. Tách ra gần đây từ Sylviidae.


Aegithalidae: bạc má đuôi dài


Cettiidae: chích đất và đồng minh. Tách ra gần đây từ Sylviidae.


Megaluridae: chiền chiện lớn, chích cỏ và đồng minh. Tách ra gần đây từ Sylviidae.


Bernieridae: chích Malagasy. Họ mới tạo ra năm 2010.


Acrocephalidae: chích đầm lầy và chích cây. Tách ra gần đây từ Sylviidae.


Pycnonotidae: chào mào


Cisticolidae: chiền chiện và đồng minh


Sylviidae: "chích thật sự" (lâm oanh) và khướu mỏ dẹt. Có thể hợp nhất với Timaliidae. Tính đơn ngành cần xác nhận. Xem thêm lý do tại sao không gọi là họ Chích tại bài Họ Chích (Acrocephalidae).


Zosteropidae: vành khuyên. Có lẽ thuộc về họ Timaliidae.


Timaliidae: khướu, họa mi (Cựu thế giới). Tính đơn ngành cần xác nhận.


Sylvioidea không chắc chắn (incertae sedis)


"Chích châu Phi": Một nhánh được đề xuất, nhưng tính đơn ngành cần xác nhận. Trước đây thuộc họ Sylviidae.


Donacobius: Donacobius mũ đen. Họ đơn loài? Đặt vào đây không dứt khoát; có thể gần gũi với Megaluridae. Trước đây trong các họ Troglodytidae và Mimidae.


Nicator: Quan hệ chưa được giải quyết, họ đơn chi? Đặt vào đây không dứt khoát; trước đây trong họ Pycnonotidae.


Siêu họ Muscicapoidea – chủ yếu ăn sâu bọ, phân bố gần như toàn cầu với trung tâm ở vùng nhiệt đới Cựu thế giới. Một họ đặc hữu châu Mỹ. Gần như không có (ngoại trừ du nhập) trong khu vực Australia. Thông thường hơi chắc nịch đối với kích thước của chúng, phần lớn có màu rất sẫm hoặc xỉn mặc dù họ Sturnidae nói chung là nhiều màu sắc. Thường không có dị hình lưỡng tính, nhưng đôi khi rõ nét.


Cinclidae: lội suối


Muscicapidae: đớp ruồi Cựu thế giới. Cần xác nhận tính đơn ngành.


Turdidae: hoét và đồng minh. Cần xác nhận tính đơn ngành.


Buphagidae: chim bắt bét bò. Trước đây thường đưa vào họ Sturnidae.


Sturnidae: sáo và có thể cả trèo cây Philippin. Vị trí của trèo cây Philippin trong siêu họ Muscicapoidea dường như là phù hợp, nhưng việc gộp vào họ Sturnidae cần xác nhận; có thể là họ riêng biệt Rhabdornithidae.


Mimidae: chim nhại và họa mi đỏ châu Mỹ


Siêu họ Passeroidea – chủ yếu là ăn cỏ, bao gồm nhiều loài ăn hạt, phân bố gần như toàn cầu với trung tâm ở vùng sinh thái Cổ Bắc cực và châu Mỹ. Bao gồm cả chim biết hót chín lông chính (có lẽ là cận nhánh). Một tỷ lệ cao có màu sặc sỡ và có dị hình lưỡng tính cao.


Passeridae: chim sẻ thật sự


Prunellidae: chích đá


Motacillidae: chìa vôi và chim manh


Urocynchramidae: sẻ Przewalski. Tách ra gần đây từ Fringillidae; đặt vào đây không dứt khoát.


Peucedramidae: chích ô liu


Estrildidae: chim di


Ploceidae: rồng rộc


Viduidae: chim chàm và whydah


Fringillidae: sẻ đồng thật sự và hút mật Hawaii. Có lẽ đa ngành.


Icteridae: sáo đá, chim đen Tân thế giới và vàng anh Tân thế giới


Parulidae: chích Tân thế giới


Thraupidae: tanager và đồng minh


Cardinalidae: chim giáo chủ


Emberizidae: sẻ đất và sẻ châu Mỹ


Passeroidea không chắc chắn (incertae sedis)


Coerebidae: Bananaquit. Họ không hợp lệ hoặc không đơn loài; việc định vị lại vẫn còn chưa được giải quyết.


Passerida không chắc chắn (incertae sedis) - Thay vì là Passerida cơ sở, phần lớn trong chúng dường như tạo thành vài dòng dõi nhỏ nhưng khác biệt và có thể coi là các siêu họ. Phần lớn có ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ.


Panurus: sẻ ngô râu. Quan hệ bí ẩn. Trước đây trong "Paradoxornithidae", có thể gộp trong siêu họ Sylvioidea như là họ đơn loài Panuridae hoặc thậm chí hợp thành siêu họ nhỏ nhất trong bộ Sẻ.


Có thể là siêu họ Paroidea – bạc má, sẻ ngô và đồng minh. Có thể gộp trong siêu họ Sylvioidea.


Paridae: bạc má, sẻ ngô và sẻ đồng


Remizidae: phàn tước. Đôi khi gộp trong họ Paridae.


Stenostiridae: "chích" stenostirid ("sẻ đớp ruồi"). Họ mới tạo lập; đôi khi gộp trong họ Paridae.


Có thể là siêu họ Sittoidea hay Certhioidea – hồng tước và đồng minh. Có thể gộp trong siêu họ Muscicapoidea.


Sittidae: trèo cây


Tichodromadidae: toàn bích tước. Đặt vào đây không dứt khoát.


Certhiidae: đuôi cứng


Salpornithidae: đuôi cứng đốm. Đặt vào đây không dứt khoát; có thể thuộc Certhiidae.


Troglodytidae: hồng tước


Polioptilidae: đớp muỗi


Có thể là siêu họ Bombycilloidea – cánh sáp và đồng minh. Gộp trong Muscicapoidea nếu Sittoidea/Certhioidea được coi là các siêu họ khác biệt.


Bombycillidae: cánh sáp


Dulidae: Palmchat. Đặt vào đây không dứt khoát.


Ptilogonatidae: đớp ruồi lông mượt. Đặt vào đây không dứt khoát.


Hypocoliidae: Hypocolius. Đặt vào đây không dứt khoát.


Có thể là siêu họ "Dicaeoidea" – chim hút mật, chim sâu và trác hoa. Có thể gộp vào Passeroidea.


Nectariniidae: chim hút mật


Dicaeidae: chim sâu, trác hoa


Có thể là siêu họ N.N. (không tên) đơn loài


Promeropidae: chim đường. Có thể gộp vào Passeroidea.


Phát sinh chủng loài


Phát sinh chủng loài của Passeriformes còn sinh tồn dựa theo "Taxonomy in Flux family phylogenetic tree" của John Boyd.


Phát sinh chủng loài của Passeriformes


Thư viện hình ảnh


Sẻ ngô râu (Panurus biarmicus) kỳ dị, có thể là chim dạng sẻ bí ẩn nhất. Nó không có họ hàng gần nào có thể được nhận dạng.


Chim khổng tước Rifleman hay tītitipounamu (Acanthisitta chloris) mái (trái) và trống (phải), một trong hai loài còn sinh tồn của họ Acanthisittidae.


Đuôi cụt cầu vồng (Pitta iris), một loài chim sống trên mặt đất với các mảng màu sáng như phần lớn các loài trong họ Pittidae.


Manakin đầu vàng (Pipra erythrocephala)


 Atrichornis clamosus, một trong số chim nhóm Passeri có các đặc trưng thừa hưởng trước khi có tổ tiên chung gần nhất của phân bộ này.


 Hút mật New Holland (Phylidonyris novaehollandiae)


chim Stitch hay hihi (Notiomystis cincta) đực cho thấy sự hội tụ với chim hút mật.


Gonolek đầu vàng (Laniarius barbarus: Malaconotidae)


Quạ Hawaii hay ʻalala (Corvus hawaiiensis) gần như bị tuyệt chủng; chỉ còn vài chục con sống trong tình trạng nuôi giữ.


Regent Bowerbird (Sericulus chrysocephalus) trống, họ Ptilonorhynchidae.


Chim mào vàng (Regulus regulus) thuộc dòng dõi nhỏ nhưng khác biệt lớn của nhóm Passeri.


Nhạn sọc nhỏ (Cecropis abyssinica), thể hiện một vài đặc trưng cổ nhưng vẫn là dòng dõi tiến hóa cao.


Chích sậy Blyth (Acrocephalus dumetorum) hiện nay được xếp vào họ Acrocephalidae.


 Hoét Hermit (Catharus guttatus), tương tự như nhiều loài chim trong siêu họ Muscicapoidea, một loài chim bí ẩn và to khỏe với sự xướng âm phức tạp.


 Tương tự như sẻ khướu trên đây, chim trống (phải) và chim mái sẻ Gouldia (Erythrura gouldiae) có màu sắc lòe loẹt.


Tanager lục vàng (Tangara schrankii), như nhiều loài chim trong siêu họ Passeroidea, có bộ lông rất lòe loẹt.


Sẻ ngô lam (Cyanistes caeruleus) và các họ hàng của nó đứng tương đối xa với phgần còn lại của siêu họ Sylvioidea nghĩa rộng (sensu lato).


Cánh sáp Bohemia (Bombycilla cedrorum) và các họ hàng của nó dường như gần với siêu bộ Muscicapoidea nghĩa hẹp (sensu stricto) hơn so với các loài chim dạng sẻ còn lại.


Wikipedia


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Mất 3 tiêm kích Su-27 cùng phi công tài hoa, người Nga sốc nặng! - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Giải mật vụ 3 tiêm kích Su-27 rơi ở Cam Ranh - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Cam Ranh trong mắt chuyên gia quân sự nước ngoài - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
4.000 tỷ đồng xây dựng nhà ga Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh - Tư liệu 12.12.2017
Cam Ranh - 'ván cờ địa chính trị' của các siêu cường - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Hai bài về Gobbels (1897–1945), Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Hitler - Tư liệu sưu tầm 10.12.2017
Vài nét về tiểu thuyết nổi tiếng: Bác sỹ Jivago - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago từng “là vũ khí tâm lý chiến”! - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Cộng sản, Bạch vệ và kho báu Sa Hoàng - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Thời báo Hoàn Cầu viết về tình cảm yêu - ghét của Việt Nam với Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 04.12.2017
xem thêm »