tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20551289
19.02.2017
Trần Thanh Phương
Trang Thế Hy: Già rồi, đi chỗ khác chơi!



Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết trên báo An ninh thế giới, Xuân Canh Dần, 2010:


Nhà văn Trang Thế Hy, năm nay anh hơn tám mươi, gầy nhom, nhưng rượu vẫn đều - tôi gọi anh bằng anh chứ không bằng cụ. Thời chiến tranh, tôi đã từng gắn bó với anh trên chiến trường miền Tây, nhiều kỷ niệm, viết lai rai rồi, không nhắc. Hơn mười năm trước, anh đã từng tuyên bố trên mặt báo: “Già rồi, đi chỗ khác chơi”. Sau đó, anh rời khỏi Sài Gòn, về Bến Tre quê nhà, sống với vợ con trong mảnh vườn dừa.


Anh vẫn trung thành với rượu đế, nhưng có khác là anh ngâm rễ cây, đặc biệt là rễ và trái của cây nhàu. Rượu nhàu thơm dễ uống, đặc biệt trị đau lưng và huyết áp cao - Chẳng biết có phải vậy không, chỉ nghe nói thôi. Có một lần về Bến Tre trao giải thưởng văn học cho anh Trang Thế Hy trong một khách sạn - Tôi thấy có chai rượu thuộc loại Cognac, anh thích Cognac chứ không thích Whisky, thấy vậy tôi bèn hỏi mua để tặng anh. Khốn khổ, quản lý nhà hàng không biết giá bao nhiêu, đành phải chạy tìm người chủ đã ký gửi cho quán. (Quầy rượu của nhà hàng chỉ có một chai rượu ngoại độc nhất). Tôi thầm nghĩ nếu tôi không mua thì chai đó chỉ để chưng chơi mà thôi.


Về nhà anh, khui chai rượu ấy ra, trời đất, chai rượu giả! Trong lúc đó có một ông, nguyên giám đốc Sở Công an, bực mình quá, anh nói:


- Thôi được, tôi sẽ tìm chai rượu thiệt đền anh.


Cách uống rượu của Trang Thế Hy và Trịnh Công Sơn có khác nhau. Trước khi Sơn uống, ly cốc đều phải rửa sạch. Còn Trang Thế Hy thì không, không rửa, anh bảo rượu nó diệt trùng rồi, rửa làm gì, vả lại rượu nó ngấm vào ly cốc, rượu đậm đà hơn - Với tôi, sao cũng được, tùy!


Có một lần xuống nhà anh, đang uống thì bà chị xách cây chổi, đuổi gà, vừa quơ chổi vừa hùi hùi. Đó là bầy gà hàng xóm qua nhà chị có một bầy gà mái. Anh cất tiếng hỏi:


- Gà bên kia trống hay mái?


Bà chị trả lời:


- Gà trống.


Anh bảo:


- Thôi bà. Nó đi “uống bia ôm” kệ nó.


Tôi bật cười - Anh Tư Trang Thế Hy thật hóm hỉnh.


Nhà văn Trang Thế Hy rất sành rượu, nhất là phân biệt các loại rượu, kể cả rượu ta và rượu Tây. Một lần, ông và nhà văn Trần Thanh Giao tranh luận rất “quyết liệt” về các loại rượu, mặc dù Trần Thanh Giao không phải là dân nhậu. Sau cuộc tranh luận ấy về, Trần Thanh Giao viết một bài với tựa đề Rượu đế và Uýtki. Đọc bài này, anh Tư Sâm, chú Tư Sâm…, tên gọi thân mật nhà văn Trang Thế Hy khen Trần Thanh Giao rất giỏi khi nhớ lại những câu chuyện thú vị mà hai ông đã luận bàn trong… buổi “trà dư” tại tòa nhà của nhiều gia đình nhà văn, 190, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thành phố Hồ Chí Minh hồi năm nào.


Trần Thanh Giao viết: Tôi rất hứng thú theo dõi bài “quốc tửu, quốc hoa” trên Văn nghệ vì nghĩ trong thời buổi “hội nhập”, những vấn đề nêu trong bài báo là rất cần để mọi người Việt Nam tự trang bị cho mình những “hành trang” làm “công dân thế giới”. Nhân tiện, xin có vài suy nghĩ tản mạn nhân buổi “tọa đàm” với nhà văn Trang Thế Hy về rượu.


Chuyện rượu đế ở Nam Bộ, bài báo viết: “…Đế, một loại cây như thứ năn thứ bấc dùng làm nút chai ở ngoài Bắc…”. Không phải vậy. Đế là một loại sậy, nhưng nhỏ và thấp hơn sậy, để dễ nhớ thì đế là sậy. Năn ngoài Bắc cũng là năn trong Nam, còn cỏ bấc ngoài Bắc, trong Nam cũng có loại cỏ giống như vậy gọi là cỏ mồm. Nhưng cả Bắc và Nam không nơi đâu dùng năn và bấc làm… nút chai. Bấc cũng như cỏ mồm, thụt ruột ống cỏ ra được cái lõi to bằng mút đũa, dài chưa đầy gang tay, nhẹ bẫng, xốp xộp, hút nước, dùng làm… bấc đèn. Nút chai trong Nam thường làm bằng rễ bần (còn gọi cặc bần - Sóng vỗ cặc bần quay lảo đảo/ Gió đùa dái mít lắc đong đưa), hoặc nút bằng… lá chuối khô. Bấc đã đi vào thành ngữ: nhẹ như bấc. Thành ngữ còn mãi, nhưng cỏ bấc càng mất dần theo đà đô thị hóa, dăm chục năm sau, bạn trẻ người Việt sẽ không hiểu bấc là cái giống gì mà “nhẹ như bấc”? Và đế là cái giống gì mà gọi “rượu đế”? Tác giả bài báo giải thích rượu đế rất đúng: rượu “lậu”, phải mang ra đám đế để nấu hay để giấu, duy anh chưa sống lâu ở Nam Bộ nên hơi lúng túng với cây đế chút xíu. Cùng một vật, miền Bắc và miền Nam có khi gọi khác nhau, như heo và lợn, bắp và ngô, sắn và mì, v.v… Có người hỏi chơi: Heo và lợn khác nhau chỗ nào? Đáp vui: Khác ở chỗ lợn ăn ngô, còn heo ăn bắp (!). Có người bảo: Heo là từ địa phương. Không phải vậy. Heo là từ Việt cổ. Người Việt miền Bắc bỏ từ heo, thay bằng lợn; trong khi người Việt vào Nam mở cõi vẫn giữ từ heo cho đến giờ. Bằng chứng: thành ngữ “nói toạc móng heo” vẫn còn, và người Bắc thường dùng chứ người Nam ít dùng thành ngữ này. Một vật, hai tên khác nhau song cũng cùng chung một gốc mà ra. Nhưng vẫn có người Nam Bộ hiểu nhầm từ đế, như một nhà văn Nam Bộ, trong sách mình, giải thích thành ngữ “nhát như thỏ đế” là nhát như con thỏ ở trong đám đế. Không phải vậy. Thỏ đế là hoàng đế của thỏ, nghĩa là “chúa nhát”, “siêu nhát”!


Trở lại chuyện rượu đế. Tôi rất thích ý tưởng “quốc tửu” của tác giả bài báo. Phải có thương hiệu quốc tế cho rượu của mình, vì không phải thấy người ăn khoai vác mai đi đào, mà đúng là vì rượu ta ngon đến mức phải đưa nó thành thương hiệu quốc tế. Tôi nói chắc không ai tin vì tôi không hay uống rượu và tửu lượng thì rất kém, nhưng tửu lượng kém không có nghĩa là không phân biệt được rượu ngon, dở. Tôi nói thay những người sành rượu, nhất là các bạn trẻ sành điệu ăn chơi, họ là doanh nhân, có tiền và mỗi dịp lễ tết thường mang rượu ngoại đủ nhãn hiệu cho tôi thưởng thức, để nghe tôi tán dóc như VSOP trên những chai cônhắc là gì (Very Special Old Pale - đẳng cấp rất đặc biệt lâu), hay rượu vang phải để lâu trong thùng gỗ sồi, đặc biệt là gỗ sồi bị sét đánh thì mới là “sành điệu rượu ngon”, hoặc các nhãn hiệu theo đẳng cấp lâu năm đỏ, đen, vàng, xanh lá, xanh dương tương ứng với rượu bao nhiêu năm, v.v… Từ rượu XO (Extra Old) đến coọcđông blơ (nhãn xanh dương) các loại, giá vài triệu đến cả chục triệu đồng một chai hay rượu Brandy (phiên âm ra tiếng Trung Quốc rồi đọc theo âm Hán - Việt là Bạch lan địa), rồi rượu trắng, Vốtka, đựng trong bình nhôm, bình sứ, bình thủy tinh đủ mọi hình dáng, kiểu cọ…, họ đều cho tôi nếm. Và họ nói rất đúng: các thứ rượu này uống khi ăn chả giò hay bún bò, bún ốc hoặc thịt chó, tôm hùm… đều thua xa… rượu đế!


Nhưng rượu đế chẳng phải chỉ ngon khi uống cùng món ăn Việt mà uống khan (uống sec) cũng chẳng thua ai, nếu đúng cuốc lủi Làng Vân hay đế Gò Đen, Bàu Đá… Quả có như vậy! Đến nỗi tôi phải xách “be sành mỹ nghệ” đi mua rượu Làng Vân với mùi thơm cốm đặc trưng ở một quầy bar khách sạn Lotus Sài Gòn để làm quà, chiều ý khách Tây cho ông ta mang về nước uống sec với cái giá bằng với giá rượu ngoại! Trong hai từ cuốc lủi và đế thì chọn đế làm thương hiệu “quốc tửu” là hợp hơn cả. Thương hiệu đế nghe kêu giòn chẳng kém Cônhắc, Uýtxki, hay Vốtka… Đế Làng Vân, Đế Gò Đen, Đế Bàu Đá… nghe kêu chẳng kém Cônhắc Hennessy, Uýtxki Chivas, hay Vốtka Smirnoff… Nếu bây giờ Đế chưa có tên trong chợ rượu quốc tế thì mươi năm nữa… Cái đó tùy các nhà doanh nghiệp giỏi giang của ta. Sao lại không nhỉ? Trong khi chờ đợi, bây giờ “người sành điệu” không “chơi” Hennessy hay Chivas khi nhắm với món ăn Việt nữa, mà “chơi” Đế. Đó mới thật là “sành điệu”! Và đó chính là cách bắc cầu cho Đế đi vào chợ rượu quốc tế!


Nhà văn Trang Thế Hy là người Bến Tre. Quê ông có thương hiệu rượu ngon nổi tiếng khắp vùng Nam Bộ từ rất lâu, đó là rượu Phú Lễ. Phú Lễ là tên xã thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ở đây đất đai trù phú, mênh mông, thuần nông, có ngôi đình gần 200 tuổi, cư dân lập ấp cũng là dân Ngũ Quảng, nổi tiếng với nhiều nghề thủ công. Rượu Phú Lễ thơm ngon là nhờ men bí truyền, nước giếng làng, nếp trồng trên chính vùng đất này và đặc biệt là nhà ủ nếp trong những cái tỉn đã có từ lâu đời.


Nhưng trong mâm rượu, ông thường nhắc tới rượu Xuân Thạnh ở Trà Vinh và rượu Làng Vân. Nghe đâu, rượu Xuân Thạnh được nấu lần đầu vào khoảng năm 1926, do một người họ Hà tại ấp Xuân Thạnh, xã Hòa Thuận, huyện Châu Thành nấu. Nếp được nấu chín, để nguội, nhưng vẫn còn đủ độ ẩm, trộn đều với 14 loại men gia truyền cho vào hũ ủ kín trong ba ngày. Tiếp theo cho nước (nước giếng tại làng Xuân Thạnh, vì khu vực này là đất giồng cát) với hàm lượng vừa đủ vào hũ cơm rượu đã ủ men và ủ tiếp ba ngày nữa, sau đó đem chưng cất. Trong quá trình chưng cất phải cho lửa cháy đều, đều vừa đủ để rượu chưng cất từng giọt đảm bảo nồng độ và hương vị. Rượu Xuân Thạnh hậu ngọt như rượu Gò Đen, nhưng thơm mùi đặc trưng là mùi đậu nành.


Gò Đen thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Gò Đen là tên quận của tỉnh Chợ Lớn cũ, thành lập ngày 4-2-1947. Năm 1957, quận Gò Đen giải thể, một phần đất nhập vào quận Bến Lức (nay thuộc huyện Bến Lức) tỉnh Long An; phần còn lại lập thành quận Bình Chánh, tỉnh Gia Định (nay là huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh).


Nói tới rượu Gò Đen là ám chỉ vùng sản xuất rượu bao gồm ba xã Mỹ Yên, Long Hiệp và Phước Lợi của huyện Bến Lức (Long An). Rượu đế Gò Đen nổi tiếng hơn 100 năm, qua câu thành ngữ “Ăn nem Thủ Đức, uống rượu Bến Lức, Gò Đen”. Nguyên liệu để nấu rượu là nếp thường hoặc nếp than nguyên chất. Nếp Bến Lức hạt tròn, mẩy, có mùi thơm, trắng đục đều. Bài men bí truyền làm nên chất lượng của rượu. Đế Gò Đen trong như nước mưa, khi rót ra ly sẽ có tiếng kêu thánh thót, hương vị cay nồng, hậu ngọt có mùi thơm đặc trưng. Vừa nhấp môi đã nghe ấm cả lồng ngực.


Đặc biệt, cách uống rượu của người Gò Đen vẫn giữ phong vị của người nho sĩ, văn chương. Rượu đựng trong tôn (nhạo bằng sứ, cổ cao), rót ra tước (chén chum nhỏ) chỉ một chén. Tôn trước xoay vòng, không có “chủ xị”, ai rót nấy uống. Không ai bắt bẻ uống nhiều ít.


Trang Thế Hy nói, rượu Làng Vân, gọi là mỹ tửu Làng Vân là ông chuộng nhất. Ông chưa có dịp đến đó, nhưng mỗi lần nghe thấy ai nói Làng Vân là ông muốn tìm về ngõ làng đó bên sông Cầu, hoặc tìm tài liệu đọc cho bằng được về gốc gác thứ rượu nổi tiếng ngon đó. Ông giới thiệu tôi hãy đọc cuốn tạp văn nói về Văn hóa rượu của nhiều tác giả do ông Thái Lương chủ biên (NXB Văn hóa - Thông tin, 1998). Ông nói, sách in chỉ 500 cuốn, hơi khó tìm, nhưng chú mày ráng kiếm đọc, trong đó có nói về rượu Làng Vân, còn gọi là Vân Hương mỹ tửu. Sách ghi:


“Ở cổng làng Vân, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc[1] hiện nay vẫn còn câu đối: Vân Hương mỹ tửu lừng biển Bắc - Chiến công Như Nguyệt rạng trời Nam.


Vân Hương mỹ tửu là tên gọi của rượu Làng Vân ngày xưa. Ngày nay người ta nói năng giản dị hơn: “Rượu Làng Vân”. Cái tem nhãn mới đang dùng trên các chai rượu cũng biến cải đi, từ hình ảnh ông già râu tóc bạc phơ, lưng đeo bầu rượu, tay chống gậy trúc, tay chỉ lên những đám mây (Vạn Vân) thành ông già chỉ tay lên số 450… Cụ Nguyễn Đức Khoai, 70 tuổi, lắc đầu phàn nàn:


- Giá cứ để nguyên tên cũ và nhãn cũ thì hay biết mấy. Đọc cái tên rượu và nhìn cái tem ông cụ bây giờ nó cứ thô thô làm sao ấy.


Ngày xưa bọn thực dân Pháp cấm rất ngặt dân ta nấu rượu. Người ta giết nhau bằng cách bỏ lén bã rượu vào vườn, vào ruộng của nhau, rồi đi báo lính đoan về khám xét, bắt bớ. Ở những nơi khác đã thế thì ở Làng Vân, việc khám xét bắt bớ còn kinh khủng hơn rất nhiều. Nhưng rồi cuối cùng vua Bảo Đại vẫn phải dùng đến rượu Làng Vân để thiết tiệc các quan Tây nên “Vân Hương mỹ tửu” còn được gọi là rượu cung tiến vua. Cũng từ đó xuất hiện thêm một loại tem có in hai hàng văn võ bá quan trong triều ngồi quanh bàn tiệc, trên đặt chai “Vân Hương mỹ tửu”. Chữ “Vân Hương mỹ tửu” do chính cụ Nguyễn Công Quyển người Làng Vân đặt ra. Nhờ có loại rượu này mà cụ Quyển được Bảo Đại thưởng cho chiếc đồng hồ và lương ăn cả đời. Công lao của cụ lớn lắm… Hơn nửa thế kỷ trôi qua, người Pháp vẫn tự hào xứ sở của họ có nhiều hãng rượu nổi tiếng thế giới, ấy thế mà vẫn mê rượu Vân. Kể cũng thần tình đấy chứ. Năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Pháp. Trong tiệc chiêu đãi, chính phủ Pháp dành cho Thủ tướng một điều bất ngờ: mời Thủ tướng uống “Vân Hương mỹ tửu”… Nhờ vận hội này mà sau đó Làng Vân được tiếp tục nghề nấu rượu vừa để dùng trong nước, vừa để xuất khẩu. Mới đây, một phái đoàn Mỹ đến nước ta họ nhờ dân Làng Vân làm giúp vài trăm chai rượu nấu nguyên chất bằng gạo nếp. Làng Vân đã làm 400 chai bằng sứ Hải Dương (theo kiểu cái nậm rượu ngày xưa) với giá một chai chưa tính rượu là 1 đôla… cái mẫu chai mà người Mỹ đặt mua, hiện còn để nhà anh Bảo, phó chủ nhiệm hợp tác xã Làng Vân”. (trang 175, 176).


Nhiều bạn văn ở phương Nam này từng đến về kể lại rằng, trong những con ngõ sâu hun hút với những ngôi nhà cổ, đi bộ thong dong, nhân nha mà hưởng cái mùi thơm thơm thoang thoảng của rượu. Nếu lê la hết nhà này sang nhà khác nếm thử rượu cuốc lủi rồi thế nào cũng sẽ bung biêng, đắm đuối với người Làng Vân cùng giấc mơ quốc tửu… quên đường về.


Sử sách ghi lại, vào năm 1703 (năm Chính Hòa thứ 24) thành hoàng Làng Vân được vua ban sắc phong Thượng đẳng thần. Khi về kinh đô đón nhận sắc phong, các bô lão trong làng không quên mang theo ba bình rượu quý tiến vua. Sau khi nếm thử rượu, nhà vua thấy rượu thơm ngon liền phong cho 4 chữ “Vân hương Mỹ tửu”, từ đó tiếng thơm rượu Làng Vân ngày càng bay xa. Trong vùng Kinh Bắc xưa, những đám dạm hỏi hay lễ cưới không có bình rượu Vân thật lớn coi như đám cỗ chưa to.


Trong số báo Tiền Phong, xuân Tân Mão, 2011, nhà báo Đỗ Sơn đã tìm đến xóm 3, hỏi thăm cụ Tom (tên thật là Nguyễn Thị Mãi) để nếm thứ rượu nức tiếng của cụ. Người ta đồn rằng, cụ Tom là người nấu rượu đến bậc thượng thừa, có thể sờ bên ngoài chum cũng có thể đoán được độ của rượu. Điều đó hư thực thế nào có thể kết luận nhưng rượu cụ Tom Làng Vân ngon thì ít ai dám phủ nhận. Rượu cụ Tom nấu trăm mẻ như cả trăm, rượu sủi tăm lăn tăn mà cứ trong vắt; nâng chén rượu lên hương đã thơm lừng, nhấp một ngụm đã tan trong miệng…


Tôi vào nhà cụ. Cái cổng gỗ chỉ buộc hờ một sợi dây dù nho nhỏ. Anh Ca, con trai út của cụ đi ăn cỗ vắng nhà. Còn lại mình cụ Tom giữa hàng trăm phạng, chum, bình ngâm rượu nếp cái. Cụ Tom đã bước sang tuổi 96 nhưng vẫn nhanh nhẹn, minh mẫn. Cụ cho phép tôi được lấy bất cứ bình rượu thành phẩm nào và tự tay rót và… nếm. Tôi vâng lời cụ, rót rượu ra chén. Chưa nâng chén rượu lên mà hương nếp đã thơm lừng. Tôi nhấp thử một ngụm, rượu chảy vào huyết quản, đi đến đâu biết đến đó. Trời đang rét căm căm mà đã ấm nồng trong bụng, nhấp ngụm thứ hai hơi rượu đã thấy má nong nóng, tê tê, bừng bừng… Tuy không phải là người giỏi thẩm rượu nhưng tôi chắc chắn rằng, thứ rượu này có thể uống say túy lúy mà đầu óc vẫn quang quẻ. Nhiều tao nhân mặc khách hay những tay sành rượu cứ gặp rượu cụ Tom là tấm tắc suốt buổi. Có người uống rượu cụ Tom làng Vân mãi rồi cũng phải mò về Làng Vân, kính cẩn quỳ xuống vái cụ mà rằng: Làm sao mà cụ nấu được cái thứ rượu nó đậm đà đến như vậy!?


Cuộc đời cụ, kể từ khi đi nấu rượu cho người Pháp (15 tuổi) đến nay đã gần tám chục năm gắn bó với men rượu của làng. Cụ Tom có tới 9 người con, trước đây nhà nghèo lắm. “Thấy người ta nấu rượu sắn kiếm được đôi lúc tôi cũng ngả lòng định làm theo” - Cụ tâm sự - “Nhưng mỗi khi như vậy lại nghĩ, cả làng cùng nấu rượu sắn thì Vân hương Mỹ tửu còn đâu?”. Vậy là quyết giữ nghề, dù cho rượu gạo khó bán vì giá thành cao thì cũng cứ phải nấu cho ra dáng rượu “Bắc Hà đệ nhất danh kỳ”. Từ những lúc khốn khó nhất cho đến khi tiếng lành đồn xa, rượu cụ Tom không có đủ mà bán thì cái đạo làm nghề vẫn được cụ giữ trọn. Cả đời người chỉ có cất rượu, cả đời cũng chỉ chọn nếp cái hoa vàng với chất men tự tay mình ủ lấy. Cũng có người đến học cụ, cụ cũng chỉ bảo tận tình nhưng nấu rượu đâu phải nghề nhàn hạ dễ làm. Mỗi khi ủ men là lại phải ngóng trời ngóng đất. Nóng lạnh đều cứ phải dùng tay mà thăm, mà cảm nhận tính toán để che đậy cho hợp lý. Đang đêm mùa đông rét cắt da cắt thịt cũng cứ phải dậy thăm. Nóng quá lạnh quá đều hỏng.


Một lần, tôi và nhà văn Lê Văn Thảo về Bến Tre thăm anh Tư Sâm. Đang giữa buổi nhậu, anh Tư moi từ trong đống báo cũ đưa cho tôi tờ Xuân Nhâm Thìn - 2012, báo Đời sống và pháp luật, nói:


- Ê, chú mày, thằng Phương thích sưu tầm tư liệu, tao tặng mày cái này, trong đó có bài viết về nguồn gốc men rượu cần Tây Nguyên. Lạ lắm. Mang về đọc và cắt để dành. Biết đâu mai kia mốt nọ có người cần.


Trước khi trao cho tôi tờ báo, anh nói như một ông chủ nấu rượu sành sỏi:


- Các chú đã từng uống nhiều thứ rượu, nhưng có biết tựu chung là mấy loại không?


Chúng tôi chưa kịp suy nghĩ ra, anh nói liền: - Có bốn loại: Thứ nhất là rượu thuốc ngâm động vật: hổ cốt, cắc kè, rắn, bìm bịp, hà mã, bao tử nhím… Thứ hai là rượu lên men tự nhiên, chưa chưng cất, đó là rượu nho (vang), lê, táo…, thường dưới 20 độ cồn. Còn bia là lúa mạch và hublông (một loại dây leo) lên men, có độ cồn khác nhau từ 5-12 độ. Thứ ba là chưng cất từ rượu đã lên men là thông dụng nhất. Vật liệu dùng là ngũ cốc: nếp, gạo, ngô, khoai mì… Và cuối cùng là rượu mùi, pha chế từ rượu trắng làm gốc, có thể thêm đường hoặc không và thêm hương liệu có mùi trái cây hay tinh dầu mùi thơm có pha chút màu. Loại rượu này dân nhậu không thích, vì uống hay nhức đầu.


Nhân việc soạn cuốn sách này, tôi nhớ tới anh Tư Trang Thế Hy, tìm lại tờ báo anh tặng năm nào.


Không biết tự bao giờ, rượu cần đã gắn bó mật thiết với đời sống của đồng bào Tây Nguyên. Rượu cần luôn có mặt và chứng kiến mọi lễ tục của cộng đồng, từ lễ cúng thần linh, cúng Giàng, mừng lúa mới, lễ bỏ mả, đến những ngày hội làng, tiếp đãi khách… Có thể nói, không có rượu cần thì không có lễ tục.


Rượu cần được quý bởi nhiều lẽ. Người Tây Nguyên cho rằng, rượu của họ là do Giàng (Trời) bày cho cách làm, vậy nên khi muốn cầu thần linh chứng giám một việc gì đó, bắt buộc phải có rượu cần, phải như thế thì lời cầu nguyện của họ mới linh nghiệm. Chính vì sự thiêng liêng đó, nên tục uống rượu cần của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên từ lâu đã trở thành một nét văn hóa. Và nữa, rượu cần được làm khá công phu, chất liệu là lương thực - thứ sản phẩm nuôi sống con người. Bởi vậy, vào những dịp lễ tết, tất cả mọi người, từ già trẻ, gái trai, không phân biệt chức sắc hay dân thường, ai cũng vin cần mà uống, uống cho say mới thôi.


Bài báo do Nguyễn Tâm viết. Tác giả nói chắc nịch: Nếu cồng chiêng là ngôn ngữ để con người giao tiếp với thiên nhiên, thì rượu cần là điều kiện để con người cởi mở, hòa nhập với nhau. Bảo tồn văn hóa cồng chiêng thôi là chưa đủ, văn hóa rượu cần cũng rất cần được gìn giữ và phát huy, vì nó cũng là một phần tạo nên nét đẹp văn hóa Tây Nguyên.


Để làm được những ghè rượu cần phải trải qua rất nhiều công đoạn: Từ làm men, nấu cơm rượu, ủ rượu. Người làm men rượu cần phải đi bộ cả ngày đường lên rừng sâu thu hái rễ của hơn 20 loại cây thuốc. Trải qua các bước như sơ chế cây thuốc, giã rễ cây, giã gạo tẻ hoặc gạo nếp. Trộn hai thứ đó vào với nhau, pha thành viên và ủ suốt 3 ngày 3 đêm. Sau đó đem phơi khô trên sàn bếp khoảng gần một tuần. Lúc ấy những viên nén này sẽ là men rượu cần truyền thống của cộng đồng Jrai.


Nghệ nhân làm rượu cần phải sử dụng ngũ cốc đặc trưng như gạo tẻ, bo bo, sắn hoặc ngô. Tất cả được nấu chín, sau được trộn đều với men truyền thống rồi mang đi ủ một ngày một đêm sẽ trở thành cơm rượu. Khi đã dậy mùi mới đổ cơm rượu ấy vào ghè. Đáy ghè bao giờ cũng phải được lót một lớp trấu. Sau khi đổ đầy cơm rượu, tiếp tục phủ lên một lớp trấu. Trấu này có tác dụng ngăn cho bã rượu không chạy vào trong cần khi hút (uống). Khi việc làm rượu đã xong, công việc sau cùng của người làm là lấy lá chuối bịt miệng ghè lại để giữ được mùi thơm của rượu. Sau khi đã buộc kín miệng, các ghè rượu sẽ được xếp một dãy dài theo thứ tự lớn nhỏ và để ở một góc nhà. Nếu đem chôn xuống đất thì khi mang lên uống, ghè rượu sẽ ngon hơn rất nhiều, chôn giữ càng lâu uống càng ngon (tùy theo loại ngũ cốc sử dụng).


Một điều đặc biệt, những nghệ nhân làm rượu cần đều là nữ. Theo phong tục từ xa xưa để lại, người ta đã kiêng không cho nam giới làm công việc này, vì công việc này cần một bàn tay khéo léo và hết sức cẩn trọng. Trong suốt 3 ngày 3 đêm ủ men, những nghệ nhân nữ không được gội đầu, không được giặt đồ. Phụ nữ đang mang thai thì tuyệt đối không được đến khu vực đang nấu rượu cần. Trong thời gian ủ men và làm rượu, có một điều bắt buộc ai cũng phải tuân theo là nghệ nhân phải giữ cho thân thể của mình thật sạch sẽ và không được quan hệ tình dục vì đồng bào cho rằng như thế sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, hương vị của men rượu.


Ở Tây Nguyên, hầu hết gia đình nào cũng biết cách làm rượu cần. Tuy nhiên, mỗi gia đình tùy theo kinh nghiệm và sở thích của mình sẽ có một công thức riêng để tạo nên hương vị mà mình muốn thưởng thức. Rượu cần truyền thống theo cộng đồng Jrai, nếu được làm đúng theo phương thức của dân tộc thì ghè rượu càng để lâu trong nhà càng ngon, hương vị đặc trưng. Một ghè rượu có thể làm say cả chục người.


Nhà thơ quê Chợ Gạo, Tiền Giang Trần Hữu Dũng viết về bài thơ cuộc đời và chuyện “Đi chỗ khác chơi” trên báo Văn nghệ công an số tháng 6-2005 như thế này:


Trước năm 1975 ở đô thị Sài Gòn, giới văn nghệ thường gõ muỗng vào thành ly rượu bắt nhịp hát trong quán vắng khi chiều cô đơn, mưa lất phất:


Tóc em chừa bánh bèo


Môi không hồng da mét


………


Em cầm một củ khoai


Gọt vỏ bằng răng rồi chia hai


Thứ khoai sùng lượm mót


Mà sao nó ngọt ơi là ngọt!


………


Hỏi nhau buồn hay vui


Biết đâu, ta cùng hỏi cuộc đời.


Mưa đọng vệt ngoằn ngoèo mặt bàn, giọng ca uất nghẹn, thương cảm cho kiếp nghèo, thấp cổ bé họng. Buồn ơi là buồn, đứt cả ruột gan!


Đó là bài “Quán ven đường” do nhạc sĩ PD phổ nhạc bài thơ của tác giả Vô Danh Thị. Ba chữ “Vô Danh Thị” gây tôi tò mò, thắc mắc khôn tả. Lần theo câu chuyện kể của nhà văn Sơn Nam tôi mới biết, ban đầu bài thơ có tên “Đắng và ngọt”, sau nhà văn Bình Nguyên Lộc đặt tựa là “Cuộc đời”, có tham khảo tác giả, lúc đó ký là Minh Phẩm. Bài thơ này in trên tuần báo Vui sống, năm 1959. Lúc đó ông vào chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, nên phải biến đổi thành “Vô Danh Thị”.


Thật ra, ông có nhiều bút danh như Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Phạm Võ… và rất nhiều bạn đọc biết đến tên ông ký dưới nhiều tập truyện ngắn: Trang Thế Hy. Ông tên thật là Võ Trọng Cảnh, sinh năm 1924, quê ở tỉnh Bến Tre.


Sau năm 1975, ông về công tác ở Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, có chân trong Ủy viên Ban chấp hành hai nhiệm kỳ đầu. Thời kỳ này ông ở chung cư 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, trước nhà lỉnh kỉnh chậu cây kiểng trồng xen các loại rau dùng cải thiện bữa ăn đạm bạc của mình.
Đây cũng là nơi ông gặp gỡ các nhà văn trẻ thành phố như Lý Lan, Ung Ngọc Trí, Trầm Hương, Bùi Chí Vinh, Thanh Nguyên… chuyện trò về nghề viết lách, về cuộc đời. Mỗi câu chuyện của ông là bài học nho nhỏ, thấm thía cho ai quan tâm đến nghề cầm bút. Cứ thong thả kể, nụ cười hóm hỉnh, gương mặt buồn buồn, tất cả quyện vào nhau lôi cuốn vô kể. Tôi là người ham chơi thế mà bận mấy cũng thu xếp tạt qua, ngồi bệt xuống sàn gạch bông xem ông kho cá bằng chiếc nồi đất nhỏ, lôi từ trong tủ lỉnh kỉnh đường, tiêu, bột ngọt, đích thân nêm nếm. Nhiều người nói ông kỹ tính từng chi tiết trong đời sống cũng như viết truyện ngắn, làm thơ. Tôi nhớ hoài câu ông viết trên tường sát với bàn để nước uống và chai rượu: “Khách đang ngồi nếu có tiếng gõ cửa xin để chủ nhà định liệu”. Ông sống ở thành phố mà vẫn giữ phong cách dân dã miệt vườn. Đây là thời kỳ ông viết nhiều truyện ngắn hay, vang động, nức lòng bạn đọc, chỉ cần đọc qua cái tựa đề mà nghe được âm ba xao động cuộc sống: “Mưa ấm”, “Vết thương thứ 13”, “Nợ nước mắt”, “Người bào chế thuốc giảm đau”… Khoảng Tết năm 1988 báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh đăng truyện ngắn “Vết thương thứ 13”, nhà thơ Diệp Minh Tuyền đọc xong, thích quá chiêu đãi anh em văn nghệ một chầu.


Trang Thế Hy là người sống sâu đậm với kỷ niệm và có trí nhớ tuyệt vời, bước qua tuổi 80, ông có thể đọc lại bài thơ tiếng Pháp từ thời còn học ở Collège. Ngoài việc viết lách, ông còn có tài nấu nướng, bắn súng cao su rất cừ, câu cá rô thiện nghệ để làm “mồi” nhậu. Còn nhớ lúc thiên hạ đang xôn xao quyển “Nghệ thuật viết tiểu thuyết” của Milan Kundera do nhà văn Nguyên Ngọc cổ xúy, ông tìm đọc “L’art du roman” của Milan Kundera bằng tiếng Pháp. Theo tinh thần người phương Đông ông cho rằng câu: “Trí nhớ là một vũ khí của người yếu chống lại cường quyền” của Milan Kundera phải chuyển thành “Trí nhớ là sức mạnh của người yếu chống lại cái Ác” mới đúng tính chất khoan dung và nhân ái con người.


Những lúc ngà ngà say ông đọc thơ bằng tiếng Pháp, xong dịch lại bằng tiếng Việt, cặp mắt ánh lên nỗi thống khoái, bàn tay vung ra chém vào khoảng không. Ông kêu tôi lục tìm chai rượu dang dở ở trong tủ hay góc chân bàn, rót cho đầy ly, rồi ngâm nga khe khẽ: “Ôi khi em xua đuổi tôi thật xa. Tôi mới được tự do nhìn ngắm nhan sắc em…” (thơ Tagore).


Không biết dung ruổi sao tôi lại thích thơ Trang Thế Hy một cách kỳ lạ, ở đây trong thơ ông lòng nhân ái sâu đậm, tình yêu như có phép mầu làm người ta yêu cuộc sống hơn. Nhiều lúc tôi lại có cái cảm giác ông quá yêu cô nhân tình nhỏ bé là nàng thơ nên ông gượng nhẹ, nâng niu, bồng bế vào một cõi mộng riêng, có lẽ vì thế ông viết quá ít thơ chăng?


Thử đọc một vài bài thơ lẻ của Trang Thế Hy in trong tập “Tuyển tập 15 nhà thơ đồng bằng sông Cửu Long”, do NXB Mũi Cà Mau & Ban liên lạc Hội Nhà văn Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long in năm 2003.


“CHÀNG thấy NÀNG đẹp rồi chàng mới yêu,


Anh thì ngược lại,


anh yêu em trước rồi sau đó mới biết rằng em đẹp”


Lời nói dối ngược ngạo luật phản xạ của anh chồng


làm ửng hồng đôi má cô vợ trẻ.


(Lời nói dối nhân ái)


Ở bài thơ “Tấm vé số và những thiên đường có sẵn”, ông chỉ muốn tìm thấy một tình yêu khiêm nhường, nhỏ nhoi, thế mà cũng không có được:


Muốn xây tổ ấm khiêm nhường nơi mặt bằng cuộc sống,


cho nên chàng không nhảy, chỉ bò thôi.


Nàng quen nhìn lên, không bao giờ nhìn xuống,


làm sao thấy được chàng trong số những người bò?


Trang Thế Hy tâm sự: “Tôi đang động tâm, động não để nhìn cho thấu bốn chữ “văn chương vô mệnh” mà thi hào Nguyễn Du viết trong bài thơ chữ Hán “Độc Tiểu Thanh Ký” (Văn chương vô mệnh lụy phần). Trong cơn lốc toàn cầu hóa này, liệu văn chương, vốn không có mệnh đã tự tạo cho mình được một cái mệnh hay chưa? Suy nghĩ đầu tiên là: nếu có, e rằng nó cũng mỏng chứ không dày”.


Giờ thì ông lui về quê, thị xã Bến Tre, vui thú điền viên, một mái nhà ngói, quanh là vườn dừa xanh um, sông nước mát rượi và thường ngồi chờ bạn đến cầm ly.


Nhà phê bình Ngô Thảo trong kỳ Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII tháng 4 năm 2005 có nhắc đến Trang Thế Hy xem ông như một nhà văn có nhân cách đáng quý trọng, biết xuất xứ đúng thời, hợp lý, biết “đi chỗ khác chơi” khi biết mình ở tuổi cổ lai hy.


Mỗi lần ghé qua Bến Tre, trên chuyến phà Rạch Miễu, gió thổi lồng lộng, sóng ngầu bọt, tôi lại lẩm nhẩm đọc thơ Trang Thế Hy: “Em thương sợi chỉ quá, nhưng đành phải bứt đứt nó trước bằng chính tay em”.


Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu thì nhớ lại:


Biết chú đã lâu. Đã ba mươi năm có hơn. Đọc chú đã nhiều, nghe về chú không ít, nhưng uống rượu với chú thì thật… khó đếm.


Khó đếm không phải vì nhiều quá, mà vì là những cuộc rượu chẳng thể nào quên. Hồi chú còn ở thành phố, nghĩa là đâu hồi 1991 trở về trước, tôi có dịp vài lần tiếp bạn văn nước ngoài cùng chú ở nhà 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khách mời hạn chế, thức mời cũng hạn chế, còn rượu thì… vô cùng. Vô cùng không phải vì vô số mà mỗi thứ rượu đều là mỗi thứ do chú tinh tuyển.


Từ ngày chú về quê, thi thoảng tôi có ghé thăm chú. Từ hồi chưa có nhà máy nước Hữu Định, Bến Tre, việc nhận ra con đường vào nhà chú là một thách thức không nhỏ đối với người lần đầu ghé thăm.


Quán nhỏ cheo leo, đường lầy trơn trợt, cỏ dại mù trời. Chú vẫn ở đó, ngày ngày đọc sách, nghe đài với những bận tâm riêng. Tuy ở nơi vắng vẻ, nhưng bạn văn mọi miền cũng thường ghé thăm chú, chuyện trò, hỏi han và thế nào cũng uống với nhau vài chung rượu Bến Tre ngâm chùm ruột, ngâm sim…


Từ cuối năm 2013, nhận nhiệm vụ của Nhà xuất bản Trẻ đi thương thảo bản quyền cùng chú. Đi lại nhiều lần, đường vào nhà chú đã thành quen, cộng với việc thị xã lên thành phố, con lộ đất nhà chú trở thành đường vành đai, trải nhựa phẳng lì. Nhưng nói chuyện “mua bán” với chú thật là… khó nói. Chỉ dám xin in lại mấy cuốn sách của chú đã xuất bản và chuyện trò về những tác phẩm lưu lạc của chú thời Sài Gòn trước 1975.


Nhiều lần lên xuống và lần nào cũng dùng với chú vài ly rượu, rồi chú mới nói in thì cứ in chứ có chi đâu mà ngần ngại. Mãi đến khi chú bước vào tuổi 90, tôi mới mạnh dạn bàn bạc với chú về chế độ tác quyền. Lúc đó con lộ vành đai mới mở lấn vào một ít đất nhà, đường lại được tôn cao, nên nền nhà chú thành cái trũng thấp. Chúng tôi đề nghị chú cho phép Nhà xuất bản Trẻ được góp tiền tôn tạo sửa lại cái nền nhà và quét vôi cho ngôi nhà cũ. Chú cũng chẳng có ý kiến gì, chỉ thường nói sách của chú giờ kén người đọc lắm.


Một chuyện khác, sáng chủ nhật tháng 5-2007, một vài anh chị em ở Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và báo Sài Gòn Giải phóng rủ nhau về Bến Tre thăm nhà văn Trang Thế Hy. Bạn bè báo Đồng Khởi dẫn chúng tôi đến nhà chú Tư, anh Tư Sâm.


Đi bộ một đoạn đường giữa mùa hè nóng nực. Vậy mà hóa hay! Đi bộ trên đất Bến Tre, để hiểu người Bến Tre. Nơi đây có Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thị Định, Lê Anh Xuân… Chú Tư, dù được báo trước vẫn quần đùi, áo thun cũ ra cổng nhìn khách từ xa rồi bỗng vội vã quay vào. Mọi người ngạc nhiên. À, nhà đông khách, chú có nhiều khách quen… Lát sau chú Tư thong thả ra bắt tay từng người, cười: “Có phụ nữ nên phải ăn mặc chỉnh tề chút”. Chú Tư vẫn vậy, trầm trầm, hóm hỉnh. Chú đi lại xăng xái pha trà. Tổng biên tập Dương Trọng Dật tặng chú Tư 2 cuốn sách của Báo Sài Gòn Giải phóng mới phát hành và chai rượu Mao Đài, loại rượu nổi danh của Trung Quốc. Chú Tư pha trà xong định mở chai Mao Đài. Anh em nói: “Chú Tư cho uống Phú Lễ Bến Tre, nước mắt quê hương đi!”. Chú Tư đưa ra nhiều chai rượu, can rượu đã lưng, trong đó có rượu mơ chùa Hương chính gốc, bạn bè ngoài Hà Nội biếu, mắt vẫn nhìn xuống. Các bạn Bến Tre nói nhỏ: “Phải đổ vào 3 ly, máy mới chạy”. Quả đúng vậy, có chút cay, chú Tư nói chuyện thật vui và bất ngờ. Ông lấy ra khoe tấm hình anh Đinh Trần Toán chụp mình, tấm hình ông thích nhất: Một lão ông gập cong người trên bàn viết. Nhìn ngược từ phía sau ta có cảm giác đây là bức thư họa cách điệu chữ “Nhẫn”. Nhắc đến bạn hữu trong giới văn hóa nghệ thuật, ông kể chuyện nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, nghệ sĩ nhân dân Phạm Khắc, nhà nghiên cứu văn hóa Đinh Trần Toán đến chơi mấy lần; chuyện nhà văn Trần Thị Thắng biếu chú mấy lọ thuốc bổ sau mấy tháng vượt Trường Sơn vào chiến trường B2 Nam Bộ… Rồi chuyện Diệp Minh Tuyền, Sơn Nam, Lý Văn Sâm, chuyện Bình Nguyên Lộc… Chú Tư có trí nhớ tuyệt vời. Nghe chú nói chuyện, chúng tôi nghĩ chú mê Hemingway, Flaubert, Guy de Maupassant, Lỗ Tấn… Bằng ánh mắt và cách nhìn rất hóm, chú Tư nháy mắt về phía Lê Quang Trang - Trần Thị Thắng, Nguyễn Mạnh Tuấn - Hà Phương… nói: “Nè, có câu văn mình lượm được từ hồi trẻ, ngẫm ra thấy hay: Một gã đàn ông một hôm nhìn trộm vợ mình tại bữa tiệc ở nhà bạn, thấy cô ta đẹp lạ lùng. Ở với nhau bao năm nhưng đâu có nhìn ngắm vợ. Bọn mình cũng lâu lâu phải nhìn trộm vợ ở nhà bạn đó nghe!”. Chúng tôi chạnh lòng và đi vào phía trong thắp nhang lên bàn thờ. Vợ chú Tư - cô Phạm Thị Năm (chị ruột Nghệ sĩ nhân dân Phạm Khắc) - mất năm 2003. Phần mộ của cô Năm được chú Tư xây cao rộng trong vườn, sau nhà. Chú Tư hàng ngày tâm sự với cô. Trong gian nhà ngay nơi làm việc, là bàn thờ ông bà cha mẹ. Phóng viên Kim Ửng lặng lẽ bày hoa trái thắp nhang. Chúng tôi mang chai rượu Mao Đài đặt lên bàn thờ…


Nhà thơ Dương Trọng Dật đọc câu đối Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre tặng nhà văn Trang Thế Hy trong lễ thượng thọ “Vầng Nguyệt Bên Sông Mượt Mà Văn Phụng Mỹ/ Trang Đời Cõi Thế Rạng Rỡ Bút Hy Chi” và hỏi: “Tại sao anh lấy bút danh Trang Thế Hy?”. Chú Tư nhìn ra vườn cây tủm tỉm cười “Hứng lên đặt vậy mà”. Hình như chú Tư giữ bí mật!? Bởi khi hỏi bút danh Văn Phụng Mỹ, ông xởi lởi: “Dân quê viết lách ráng dùng Ngòi bút (Văn) mà Phục vụ (Phụng) cho Cái đẹp (Mỹ)!”.


Nhà văn Trang Thế Hy viết rất chắt lọc và suy nghĩ sâu. Ở tuổi 84 đọc văn người khác ông phát hiện chỗ sai, vô lý. Ông nói: “Vừa rồi Hoài Anh viết hạt sen đắng là không đúng. Tâm sen đắng chứ hạt sen thơm, ngọt thanh”.


Nhà văn Trang Thế Hy là người viết từng chữ và đọc từng chữ. Điều đó bây giờ hiếm lắm và quý biết bao!


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info







[1] Sau khi tách tỉnh, Làng Vân thuộc tỉnh Bắc Giang, chỉ cách thành phố Bắc Ninh con sông Cầu. Từ Bắc Ninh qua Làng Vân, xã Vân Hà có nhiều bến đò như bến Vạn… tính cả thời gian qua sông, chỉ khoảng 20 phút xe hơi. (Chú thích của Triệu Xuân).




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »