tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19306723
Tiểu thuyết
14.02.2017
Đặng Nhật Minh
Hồi ký điện ảnh



        Trở về Hà Nội tôi liền bắt tay vào viết kịch bản phim với cái tên đặt ngay từ đầu là Đừng đốt! Trong này đã có lửa (về sau chỉ còn lại Đừng đốt!). Viêt xong tôi cũng chưa biết gửi nó đi đâu. Tôi nay là một đạo diễn đã nghỉ hưu, không thuộc biên chế của một Hãng phim nào kể cả nhà nước lẫn tư nhân. Lại nghe đâu một số Hãng đã phân công các biên kịch, đạo diễn của mình viết kịch bản để chuẩn bị làm phim về cuốn nhật ký này. Có Hãng trong TP Hồ Chí Minh hình như đang liên hệ mời đạo diễn Mỹ Oliver Stone làm đạo diễn cho bộ phim tương lai... Nhưng dầu sao trút ra được trên giấy những suy nghĩ trong đầu, đối với tôi đã là một niềm vui. Tôi định đem kịch bản sang Budapest để con gái đọc góp ý thêm. Đang chuẩn bị lên đường sang Hung thì bỗng nhiên nhận được một cú điện thoại. Đầu giây nói đằng kia là ông Thảnh Cục trưởng Cục điện ảnh. Ông Thảnh cho biết chủ trương của Bộ muốn làm một phim thuộc diện nhà nước đặt hàng về cuốn nhật ký của nữ anh hùng liệt sỹ Đặng Thuỳ Trâm, không biết tôi có quan tâm tới đề tài này không? Tôi trả lời ông Thảnh rằng không những tôi quan tâm mà còn đã viết xong kịch bản. Tôi còn hỏi thêm: Nhưng hình như các Hãng đã phân công người làm rồi thì phải. Ông Thảnh trả lời đúng vậy, hiện đã có một vài kịch bản do các Hãng gủi lên nhưng Hội đồng kịch bản muốn có nhiều sự lựa chọn hơn. Ông đề nghị tôi cứ gửi kịch bản thẳng lên cho Cục. Chừng hai tháng sau ông Thảnh gọi điện thông báo kịch bản của tôi đã được hội đồng kịch bản của Cục duyệt để đưa vào sản xuất. Ông hỏi tôi muốn đưa về Hãng phim nào để Bộ ra quyết định. Thực tình tôi muốn đưa về Hãng phim truyện I nơi đạo diễn Tất Bình làm giám đốc, nhưng Hãng I lại vừa mới làm xong một phim thuộc diện nhà nước đặt hàng có tên là Cầu Ông Tượng (phim về tình hữu nghị Việt- Lào). Ông Thảnh cho biết không thể một Hãng làm liền 2 phim đặt hàng được. Trong lúc chưa biết đưa về đâu thì chị Hồng Ngát gặp tôi đề nghị đưa phim về cho Hãng HODAFILM. Chị vừa thôi chức Cục phó, đến tuổi nghỉ hưu, được ông Trần Luân Kim giao cho quản lý HODAFILM, một hãng phim do tôi thành lập khi đang còn làm Tổng thư ký Hội ĐẢ (tôi đã ghép chữ Hội Điện Ảnh thành HODA rồi đặt tên cho Hãng).Hãng phim này sau khi tôi rời Hội thì cũng ngừng hoạt động, một thời gian dài không làm phim gì.Trước đề nghị khẩn khoản của chị Ngát tôi bèn đồng ý với điều kiện phải đua về cho Hãng 1 tổ chức sản xuất. Hodafilm chỉ đững danh nghĩa mà thôi. Chị Ngát đồng ý với điều kiện đó, vì có muốn ôm cũng không ôm được, cả Hãng chỉ có một mình giám đốc là Chị Ngát cùng một phó giám đốc là Chánh văn phòng của Hội ĐA kiêm nhiệm.


         Phim được nhà nước cấp 11 tỷ để thực hiện, một con số khá lớn so với mặt bằng chung của các phim Việt Nam nhưng không phải là phim có kinh phí cao nhất (trước đây có phim Ký ức Điện biên có kinh phí tới 13 tỷ). Khi đã có tiền rót về, Hãng I nhanh chóng thành lập đoàn làm phim với đầy đủ các bộ môn. Thành phần chủ yếu của phim ngoài tôi còn có anh Vũ Đức Tùng quay phim và Phạm Quốc Trung hoạ sỹ thiết kế, những người đã từng cộng tác với tôi trong nhiều phim trước đây. Việc đầu tiên mà thành phần chủ yếu phải làm là chọn bối cảnh và chọn diễn viên. Địa phương đầu tiên chúng tôi đến là Đức Phổ Quảng Ngãi, nơi có bệnh xá của nữ bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm. Đến được bệnh xá phải đi canô qua một cái hồ rộng, rồi leo núi chừng 2 tiếng đồng hồ. Giữa đường chủ nhiệm phim Tất Bình mặt mày tái mét ngồi bệt xuống đường. Anh quyết định không đi tiếp nữa vì quả mệt, đành ngồi lại chờ anh em khi lộn về. Nhưng các đồng chí địa phương dẫn đường cho biết lúc về sẽ không đi lối cũ nên anh Bình đành cố gắng đi tiếp. Bệnh xá được phục chế đúng như ngày xưa, toàn tranh tre nứa lá và hầm ếch. Đi tiếp chừng nửa tiếng nữa chúng tôi đến nơi bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm hy sinh. Nơi đó bây giờ là một cái hố nông phủ đầy lá rừng với những viên đá hộc được xếp xung quanh. Tôi thắp hương xin chị phù hộ cho bộ phim làm được thuận lợi. Có lẽ lời cầu xin đó đã thấu được tới chị chăng nên suốt những ngày làm phim sau này chúng tôi gặp hết may mắn này đến may mắn khác. Sau những ngày đi chọn cảnh từ nam chí bắc, chúng tôi thấy rằng trong phim này tất cả các bối cảnh đều phải dựng lại, không có cái gì có sẵn và đây là một công việc nặng nề nhất của phim.Ngoài ra chưa kể tới một phần ba phim phải quay trên đất Mỹ. Đương nhiên còn một việc quan trọng hơn, quyết định thành bại của bộ phim là việc chọn diễn viên, nhất là vai Đặng Thuỳ Trâm. Không chọn được người đóng vai này chính xác thì coi như bao nhiêu công sức đều đổ xuống sông xuống biển. Tôi đề ra 3 yêu cầu để tìm người đóng vai này như sau: Thứ nhất: chưa xuất hiện trên phim bao giờ. Thứ hai: Phải biết đóng phim. Thứ ba có vẻ đẹp tự nhiên, trong sáng, giản dị. Sau hai đợt tuyển chọn với gần trăm ứng cử viên vẫn chưa thấy gương mặt Đặng Thuỳ Trâm. Anh Tất Bình gợi ý đăng báo tìm, nhưng tôi từ chối không muốn làm ầm ỹ như các phim khác. Tính tôi không thích khoa trương. Đoàn phim cũng không họp báo trước khi bấm máy, một cái mốt thịnh hành. Chúng tôi lại lẳng lặng làm casting đợt 3. Lần này thì gương mặt Đặng Thuỳ Trâm đã xuất hiện. Đó là Minh Huơng, biên tập viên của Đài truyền hình kỹ thuật số. Cô hội đủ 3 tiêu chuẩn mà tôi đề ra: Chua xuất hiện trên màn ảnh bao giờ, đã học qua một khoá diễn xuất do Đài Truyền hình tổ chức và khuôn mặt trong sáng, tự nhiên, lông mày không kẻ nhỏ như nhiều chị em diễn viên khác. Tuy chưa có kinh nghiệm đóng phim, nhưng với bản chất thông minh cô đã hoàn thành xuất sắc vài diễn của mình. Tôi chưa gặp một diễn viên trẻ nào thông minh như cô.


        Nhưng những thước phim đầu tiên của bộ phim lại được quay không phải tại Việt nam mà tại bang New Jersey tận bên Mỹ. Vì để tranh thủ mùa lá vàng nên chúng tôi đã bố trí lịch quay những cảnh bên Mỹ trước. Hãng phim I đã ký hợp đồng với cô Trần Anh Hoa cùng chồng là Richard Connors đang sống ở New Jersey lo liệu giúp việc chọn diễn viên và cảnh quay ở bên Mỹ.Nhờ có internet nên tôi có thể làm việc với cô Hoa cách nửa vòng trái đất một cách rất dễ dàng, thậm chí đạt năng xuất cao vì khi tôi ngủ thì cô Hoa thức để làm việc và khi cô ngủ thì tôi lại thức để làm việc. Cô Hoa đã đăng báo tuyển diễn viên trên một tờ báo ở New York. Kết quả trong một thời gian ngắn đã có hơn 200 người gửi ảnh đến để xin thử vai. Qua Internet tôi đã chọn những diễn viên thích hợp để cô Hoa cùng chồng quay thử diễn xuất, và cuối cùng đã quyết định được tên của 7 diễn viên để cô Hoa chính thức ký hợp đồng. Cũng bằng cách như vậy qua internet chúng tôi cũng đã xác định được các địa điểm quay ở New Jersey. Ngày 15 tháng 10 năm 2007 các thành phần chủ yếu của đoàn phim lên đường sang Mỹ. Tất cả có 20 người gồm các bộ phận đạo diễn, quay phim, dựng cảnh, đạo cụ, chủ nhiệm v.v…Một Công ty dịch vụ Mỹ sẽ đảm nhiệm cung cấp người cho các bộ phận hoá trang, phục trang, đạo cụ, dựng cảnh, hậu cần v.v…cùng một đội ngũ kỹ thuật viên đông đảo đảm nhiệm khâu chiếu sáng cũng như đường ray cần trục phục vụ cho công tác quay phim (riêng máy quay chúng tôi đem từ Việt Nam sang). Đặc biệt có nhiều anh chị em Việt kiều ở khu vực New York cũng xin tham gia đoàn làm phim. Một đoàn làm phim hỗn hợp Việt - Mỹ -Việt Kiều đã hình thành gồm hơn 60 người chưa kể diễn viên. Một hình ảnh sinh động của sự hội nhập trong lĩnh vực điện ảnh.


   Cảnh quay dầu tiên của phim diễn ra ven hồ trong một khu rừng tại Ocean Grove bang New Jersey. Khi đoàn đến, sương còn giăng kín mặt hồ. Trước khi bấm máy cả đoàn phim gồm người Việt, người Mỹ đã dành một phút mặc niệm nữ bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm. Giây phút im lặng trong khu rừng lá vàng xào xạc ở nơi xa xôi này, làm tôi thực sự xúc động. Đó là kỷ niệm đầu tiên của tôi về việc làm phim mà cho đến giờ tôi vẫn nhớ như in. Do tôi đã gửi kịch bản sang trước nên các diễn viên Mỹ đều đã biết nội dung bộ phim tương lai và những cảnh mình sẽ đóng trong phim. Tất cả đều đã thuộc lời thoại và khi đến gặp tôi người nào cũng cầm trên tay cuốn sách: Last night I dreamed of Peace (Đêm qua tôi mơ thấy Hoà bình) bản dịch tiếng Anh của cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm vùa xuất bản tại Mỹ. Tôi mời tất cả các diễn viên Mỹ cùng ngồi lại để trao đổi.Trước hết tôi hỏi họ cảm tưởng về kịch bản mà họ đã đọc. Tất cả đều cho biết rất thích kịch bản. Tôi hỏi họ có điều gì cần sủa chữa,điều chỉnh không? Họ cho biết không cần phải sửa gì nhiều, chỉ cần chỉnh lý lại một vài đối thoại cho phù hợp với cách ăn nói của người Mỹ. Mọi người đều hào hứng bắt tay vào công việc. Một tuần sau thì Fred Whitehurst đáp máy bay từ North Carolina đến thăm đoàn phim. Anh ở lại với chúng tôi 3 ngày, ăn ở sinh hoạt như anh em trong đoàn phim thậm chí còn tham gia đóng một vai quần chúng để kỷ niệm. Trước khi về anh tâm sự với tôi: Từ ngày nhặt được cuốn nhật ký của chị Thùy (anh vẫn gọi thân mật chị là Thùy) tôi cảm thấy như mọi việc tôi làm đều do Thuỳ sai khiến chỉ bảo. Tôi tin việc anh làm phim này cũng do sự sai khiến của Thuỳ. Tôi có linh cảm rằng bộ phim sẽ thành công. Tiếp xúc với Fred tôi nhận ra anh là một người rất duy tâm (có thể bắt đầu từ khi ở Việt Nam về với cuốn nhật ký của chị Thuỳ chăng). Sau hai tuần quay khẩn trương, ngày nào cũng làm việc từ 9 giờ sáng đến 10 giờ tôi, ăn uống ngay tại hiện trường, chúng tôi đã kết thúc phần quay tại Mỹ. Tôi lưu luyến chia tay với các diễn viên mà sau một thời gian ngắn đã trở nên thân thiết như trong một gia đình. Riêng diễn viên Mark Korse người đóng vai Fred lúc trẻ sẽ sang Việt nam trong một tháng để đóng tiếp những cảnh có liên quan tới giai đoạn phục vụ trong quân ngũ ở chiến trường Miền Nam Việt Nam. Nhưng phải 4 tháng sau công việc làm phim mới được tiếp tục vì còn chờ kinh phí của Bộ Tài chính rót xuống. Đã có lúc tưởng chừng như đoàn phim rã đám. Nhưng rồi tiền đã được rót về và công việc lại tiếp tục. Tháng 4 năm 2008 phim bắt đầu bấm những thước đầu tiên ở Việt Nam. Cảnh quay đầu tiên lại là cảnh cuối phim: Đặng Thuỳ Trâm một mình đạp xe đi trên con đường vắng. Con đường ấy là con đường nhựa trên đường từ Nội bài lên Vĩnh Phú. Ngồi bên monitor nhìn toàn cảnh người con gái mắc áo sơ mi trắng, tóc xoã sau lưng đạp xe đi hút về phía chiều sâu tôi thấy gai gai trong nguời. Trong điện ảnh đôi khi một cảnh đơn giản, không cầu kỳ nhưng lại làm người xem xúc động hơn cả những cảnh bầy biện đông người. Cảnh quay đó sau này là một cảnh kết phim hết sức ấn tượng.


        Những bối cảnh tiếp theo lần lượt được quay theo thứ tự chuẩn bị của bộ phận dựng cảnh. Một làng quê Quảng Ngãi được dựng ngay tại Đồng Mô cách Hà nội 40 km, để đảm bảo tính chân thật hoạ sỹ Pham Quốc Trung phải cho chở những cây dừa từ Thanh hoá ra để trồng trong làng. Bệnh xá của BS Đặng Thuỳ Trâm được dựng trong một cánh rừng thuộc khu K9 (nơi từng bảo quản thi thể chủ tịch Hồ chí Minh ngay sau khi người vừa mất). Căn cứ quân đội Mỹ được dựng ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất. Bãi đáp trực thăng trong cảnh lính Mỹ càn quét vào làng được thực hiện tại một cánh đồng ở Củ Chi cách Thành phố Hô Chí Minh 50 km (mặc dù ngôi làng được dựng ở tận ngoài Bắc). Riêng trường đoạn đi tìm mộ chị Trâm chúng tôi quay ngay tại chính nơi chị đã ngã xuống ở Đức Phổ, Quảng Ngãi...Cứ như vậy hết bối cảnh này đến bối cảnh khác chúng tôi đã thực hiện đúng kế hoạch quay không chệch một ngày. Tất cả anh chị em trong đoàn đều tin rằng có sự phù hộ của chị Đặng Thuỳ Trâm. Quả thật trong khi quay chúng tôi đã gặp những thuận lợi, may mắn hiếm thấy. Có nhiều lúc đang quay trời đổ mưa, tưởng chừng như kế hoạch quay của ngày hôm đó không thực hiện được, cả đoàn chuẩn bị ra về thì trời bỗng nhiên tạnh mưa, hửng nắng.


         Bước vào giai đoạn hậu kỳ, việc quan trọng đầu tiên là lồng tiếng (điện ảnh Việt nam chưa thu tiếng trực tiếp được, tuy vậy phần quay ở bên Mỹ chúng tôi cố gằng thu đồng bộ). Minh Hương tự lồng tiếng cho nhân vật của mình và trong khâu này cô cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cô đã cố gắng tập để tự hát lấy bài Bài ca hy vọng ở cuối phim với giọng hát hết sức mộc mạc, tha thiết. Tôi hoàn toàn không có gì ân hận khi đã chọn Minh Hương vào vai Đặng Thuỳ Trâm. Sự lụa chọn đó là hoàn toàn chính xác và đó là một may mắn lớn nhất của tôi trong phim này. Đã từ lâu tôi mong có dịp được cộng tác với một nhạc sỹ người nước ngoài, phần âm nhạc do một dàn nhạc nước ngoài thể hiện. Lần này tôi quyết tâm thực hiện mong muốn đó. Tôi biên thư trao đổi vói con gái tôi là Đặng Phương Lan đang làm bác sỹ ỏ Budapest (Hungary). Lan hoan nghênh ý định của tôi và hứa sẽ tìm một nhạc sỹ Hung đê giới thiệu với tôi. Thông qua các bệnh nhân quen biết của mình Lan đã nhanh chóng tìm được một nhạc sỹ trẻ có tên là Benedecfi Istvan. Tôi gửi đĩa ghi hình ảnh đã sơ dựng của phim sang cho anh nhạc sỹ xem. Xem xong anh cho biết rất xúc động và sốt sắng nhận lời làm nhạc cho phim. Tôi trao đổi với anh Tất Bình. Anh hoàn toàn ủng hộ việc mời nhạc sỹ nước ngoài, nhưng anh cũng cho biết kinh phí dự trù cho toàn bộ phần âm nhạc của phim này chỉ có hơn 100 triệu (tương đương 6000 USD). Tôi muốn mời ai, thu nhạc ở đâu cũng được… miễn là trong phạm vi 6000 USD. Tôi biết rằng khoản tiền đó chỉ bằng khoản tiền chi cho phần âm nhạc trong một phim ngân sách trung bình ỏ Việt Nam. Mang tiếng phim do Nhà nước đặt hàng, kinh phí 11tỷ, nhưng thực ra mọi khoản cần chi người ta khống chế rất ngặt nghèo. May thay con gái tôi cùng chồng là Đinh Xuân Thọ quyết tâm giúp tôi thực hiện phần âm nhạc của phim này ỏ Hungary. Chúng bỏ tiền riêng mua vé cho tôi sang Hung và sẵn sàng bù thêm tiền cho tôi để thực hiện những cộng việc cần thiết vì chất lượng âm nhạc tốt nhất có thể. Tôi cùng con gái làm việc với hai nhạc sỹ Hung tỉ mỉ từng đoạn nhạc trong phim, cung cấp cho hai anh những đĩa nhạc Việt nam để các anh có khái niệm khi sáng tác. Viết được đến đâu các anh trình diễn trên đàn piano tại nhà con gái tôi để tôi và con gái góp ý kiến (cháu được mẹ dậy piano từ nhỏ nên cảm thụ về âm nhạc rất khá). Có những đoạn nhạc các anh phải viết đi viết lại đến hàng chục lần. Khi đã viết tương đối hoàn chỉnh các anh còn cho thu thử rồi phát nhạc theo hình ảnh xem có thích hợp không, có hiệu quả không, chỉnh lý lại những chỗ chưa ưng ý, thêm bớt các nhạc cụ, rồi sau đó mới chính thức thu. Phần thể hiện tổng phổ được thực hiện bởi dàn nhạc của Trường Đại học Âm nhạc nơi Benedecfi Istvan làm giáo sư piano.Anh đàn piano và em anh Benedecfi Zoltan đàn violon (trước khi là nhạc sỹ sáng tác hai anh em đều là những nhạc công biểu diễn chuyên nghiệp).Con rể tôi là Đinh Xuân Thọ đã mời được một chuyên viên thu thanh giỏi của Hung. Công đoạn hoà âm thực hiện ngay tại Gold Studio của chính anh. Người to béo nên anh ăn rất ít. Anh ngồi vào bàn hoà âm 10 tiếng đồng hồ liền, không cần ăn, chỉ thỉnh thoảng nghỉ uống ngụm nước. Nhạc sỹ Benedecfi Istvan và em là Benedecfi Zoltan đã làm việc hết mình vì bộ phim mà các anh thực sự yêu mến. Có lẽ tình yêu đó là lý do tại sao phần âm nhạc của phim đã đem đến cho người xem những cảm xúc mạnh mẽ. Nhiều người xem kể cả trong nước lẫn bên ngoài đều ngạc nhiên tai sao hai nhạc sỹ người Hung lại cảm thông và đồng điệu với tâm hồn các nhân vât trong phim đến như vậy. Cộng với chất lượng cao của phần thu nhạc nhờ trình độ của người thu thanh và những phương tiện kỹ thuật hiện đại, âm nhạc của phim đã góp phần rất lớn vào hiệu quả chung của bộ phim. Có thể nói đây là lần đầu tiên có sự hợp tác giữa Hungary và Việt nam trong lĩnh vực điện ảnh kể từ thời còn phe XHCN.


             Đêm trước khi đem toàn bộ linh kiện sang Bangkok để hoà âm ra bản đầu, tôi đã chiếu cho Fred Whitehurst cùng vợ xem ở phòng thu trên đĩa hình cùng phần âm thanh phát ra đồng bộ. Cùng xem có chi Đặng Kim Trâm. Cả hai vợ chồng cùng chị Kim hết sức xúc động. Khi phim ra bản đầu hoàn chỉnh đưa từ Bangkok về Cục Điện ảnh đã tổ chức chiếu mời toàn thể gia đình liệt sỹ Đặng Thuỳ Trâm xem đầu tiên.Trong buổi chiếu đó tôi đã bầy tỏ lòng cám ơn của toàn thể anh chị em trong đoàn phim tới gia đình về sự giúp đỡ, động viên hết sức chí tình. Nếu không có sự giúp đỡ đó chúng tôi không thể làm được phim này.


            Ngày 30/4/2009 phim được chiếu ra mắt tại Trung tâm chiếu phim Quốc gia. Nhiều ngưòi xem đã không cầm được nước mắt. Họ không chỉ là những người đứng tuổi, cùng một thế hệ với nữ bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm, mà cả những người trẻ tuổi sinh ra và lớn lên trong hoà bình. Thì ra những phản ánh trên báo chí rằng lớp trẻ bây giờ chỉ thích xem phim hành động, phim có nhiều cảnh “ hot “, không thích phim về đề tài chiến tranh là hoàn toàn sai lệch. Nhiều em sinh viên nói với tôi sau khi xem phim: Chúng cháu rất muốn xem những phim như thế này. Tiếc rằng ở các rạp không có chiếu, nên đành phải đi xem những phim giải trí cho vui thôi. Khi phim vừa hoàn thành đa số các báo đều ủng hộ, trừ một vài tờ báo được coi là đại diện cho tiếng nói của thanh niên, tuổi trẻ. Tôi biết có cô phóng viên của báo nọ xem xong phim ra về vội vàng trong một tiếng đồng hồ viết ngay bài báo phê bình gửi vào TP Hồ chí Minh để kịp đăng vào số báo ra sáng hôm sau. Cô phê bình nhiều chi tiết rất lạ như trong phim không thấy Fred bắn một phát súng nào rồi cho là là phim giả. Có lẽ cô cũng không biết rằng Fred chỉ là một sỹ quan quân báo nên công việc của anh không phải là chiến đấu ngoài mặt trận. Trong lúc báo chí đại diện cho giới trẻ có thái độ như vậy như vậy thì Nhà Văn hoá Thanh niên tại TP HCM đã tổ chức chiếu cho hàng trăm thanh niên của thành phố xem bộ phim này.Các buổi chiếu đều đông kín người. Tôi biết bộ phim đã chiếm được tình cảm của đông đảo khán giả trong nước nhưng hồi hộp không biết sự đón nhận của người xem bên ngoài ra sao.Câu chuyện phim có liên quan đến ký ức, trải nghiệm của người Việt nam mà người nước ngoài hẳn không có.Nhưng sự đón nhận hết sức nhiệt tình của khán giả Nhật là điều làm tôi bất ngờ hơn cả. Tháng 10 năm 2010 tại Liên hoan phim Fukuoka (Nhật Bản) phim đã đựơc khán giả bình chọn là phim ưa thích nhất. Tiếp theo phim được giới thiệu tại một loạt trường đại học ở miền Đông Bắc Hoa kỳ. Ở đâu tôi cũng nhìn thấy những cặp mắt ướt đỏ của nhiều người bước ra khỏi rạp sau khi xem phim. Tuy cũng có lúc ngồi trong rạp xem phim cùng khán giả nhưng cho đến nay tôi cũng không biết đích xác đoạn nào, chi tiết nào trong phim là những chỗ làm họ bật khóc. Không ai có thể lập trình được cho những giọt nước mắt. Nó đến hết sức tự nhiên, đó là điều mà tôi không lường trước được trong khi làm.


        Có lẽ buổi chiếu phim ấn tượng nhất đói với tôi là buổi chiếu phim vào cuối năm 2009 tại một rạp chiếu phim New York. Rạp có chừng 500 chỗ ngồi đã được bán hết vé. Buổi chiếu có sự tham dự của Fred Whitehurst cùng cô cháu gái con ông anh, và tất các diễn viên Mỹ đã từng đóng trong phim này, có người còn đem theo cả bố mẹ, những người thân trong gia đình.


        Sau buổi chiếu là cuộc trao đổi với đoàn làm phim kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ. Ngồi trên sân khấu để giao lưu có tôi cùng cô Trần Anh Hoa và 3 Fred: Fred Whitehurst, diễn viên đóng vai Fred lúc trẻ và diễn viên đóng vai Fred lúc già. Mỗi lần có khán giả đặt câu hỏi cho Fred, thì Fred Whitehurst hỏi lại: Hỏi Fred nào đấy? Fred thật hay Fred trong phim? Làm cử toạ cười ồ vui vẻ. Ngồi ngay ở hàng ghế đầu trước mặt tôi là ông John McAuliff - Chủ tịch Hội Hoà giải Đông dương, một người đã đấu tranh không mệt mỏi cho việc bình thường hoá quan hệ giữa hai nước Mỹ - Việt. Tôi thấy mắt ông đỏ hoe. Ông đưa tay xin phát biểu đầu tiên và khi người ta đưa micro lại, ông nghẹn ngào hồi lâu mới cất được tiếng. Ông cho rằng đây là phim về đề tài chiến tranh Mỹ - Việt cảm động nhất mà ông được xem. Ông nói tất cả người Mỹ cần phảỉ xem phim này và mong muốn nó được phát hành rộng rãi ở Mỹ. Nhiều cựu chiến binh Mỹ cũng cùng ý nghĩ như ông. Có người nhận ra chính mình trong hình ảnh của Fred trên chiến trường. Họ nhận xét rằng không khí chiến tranh trong phim rất chân thật. Nhiều cựu binh Mỹ đã khóc khi nhớ lại những kỹ úc chiến tranh. Một lần chiếu ở Trường Đại học De Anza một thanh niên da ngăm đen phát biểu sau khi xem: Tôi có người anh chết trận ở Việt nam. Tôi thù ghét người Việt Nam từ ngày ấy, nhưng hôm nay xem xong phim tôi thấy không nên giữ mãi thù hận trong lòng. Các diễn viên Mỹ còn được hỏi về cảm tưởng khi làm việc với các đồng nghiệp Việt Nam Họ cho biết không thấy có sự khác biệt nào giữa một đoàn làm phim Việt Nam và một đoàn làm phim quốc tế.


         Để kỷ niệm ngày 30 tháng 4 năm 2010 Đại sứ Việt Nam tại Hungary Nguyễn Quốc Dũng đã quyết định chiếu phim Đừng đốt tại một rap chiếu bóng lớn ở trung tâm thủ đô Budapest thay vì mở tiệc chiêu đãi như mọi năm. Khách mời gồm toàn thể ngoại giao đoàn ở Budapest, các quan chức của Bộ Ngoại giao Hung, những người Hung có quan hệ với Việt Nam từ trước đến nay. Đặc biệt có sự hiện diện của hai anh em nhạc sỹ Hung viết nhạc cho phim này cùng cha mẹ của họ. Con gái Đặng Phương Lan của tôi mặc áo dài đứng dịch cho tôi trên sân khấu. Quả là một kỷ niệm hiếm có đối với hai bố con chúng tôi. Sau buổi chiếu phim là một tiệc cocktail được tổ chức ngay tại tầng hai của rạp chếu bóng. Tôi không ngờ ở Hung có rất nhiều người có quan hệ với Việt Nam đến thế. Họ là những chuyên gia từng sang Việt Nam công tác,rất nhiều người từng làm việc trong Uỷ Hội Quốc tế giám sát đình chiến tại Việt Nam sau năm 1954. Nhiều khách ngoại giao ở Budapest nâng cốc chúc mừng và cám ơn ông Đại sứ về bộ phim mà họ vừa được xem. Ông Dũng ghé tai tôi nói khẽ: “Chỉ 2 tiếng đồng hồ của phim của anh đã làm cho uy tín của tôi được nâng lên rất nhiều trong con mắt của giới ngoại giao. Đúng là không có sức mạnh nào bằng sức mạnh của văn hoá.” Lâu lắm rồi, hoặc có thể là chưa bao giờ người Hung có dịp xem một bộ phim của Việt nam. Do đó buổi chiếu đã để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp. Một tờ báo Hung sau đó đã viết bài khen ngợi, cho rằng trình độ của phim Việt Nam không thua kém gì phim của các nước Châu Âu.


       Trên đường từ Budapest trở về anh Phạm Xuân Sinh Giám đốc Nhà Việt Nam ở Paris đã đề nghị tôi dừng chân tại Pháp trong 2 tuần để giớí thiệu phim. Những buổi chiếu phim tại Nhà Việt nam, đặc biệt buổi chiếu tại Rạp Ciné Le Clef do anh Giao anh Hạc tổ chức có rất đông Việt kiều và các bạn Pháp đến xem. Trước đó trên tờ báo điện tử Diễn đàn của Việt Kiều ở Paris có đăng bài của anh Nguyễn Ngọc Giao viết về bộ phim làm nhiều người lại càng háo hức. Bài báo nhấn mạnh đến tính trung thực của phim và kết luận như sau: Có lẽ chính vì sự trung thực ấy -- trung thành với tâm trí của Đặng Thùy Trâm, và tôn trọng nhân cách của những Fred, Hiếu...., nhất là sự mến phục hai bà mẹ, bà mẹ Việt Nam và bà mẹ Mỹ -- mà Đừng đốt đã chinh phục được lòng người. Nói khác đi, Đặng Nhật Minh đã chọn đúng "góc tiếp cận". Tôi biết anh đồng cảm như thế nào với con người Đặng Thùy Trâm và con người Fred Whitehurst. Và anh đã truyền được sự đồng cảm ấy cho các diễn viên, cũng như đội làm phim, kể cả hai nhạc sĩ Hung phụ trách phần âm nhạc.


       Sau Paris, anh Sinh đích thân đưa tôi xuống các chi hội người Việt ở Lyon và Toulouse để giới thiệu phim. Ở đâu sự đón nhận của bà con đều nhiệt tình và cảm động như nhau.


      Ngoài Giải Khán giả tại Liên hoan phìm Fukuoka (Nhật bản) vào tháng 10 năm 2009, tháng 12 năm 2009 phim Đừng đốt đoạt Giải Bông sen Vàng tại LHP Việt Namlần thứ 16 cùng giải Biên kịch xuất sắc, Giải Báo chí bình chọn. Đến tháng 3 năm 2010 phim được tặng Giải Cánh Diều Vàng của Hội điện ảnh Việt Nam cùng các Giải Đạo diễn, Hoạ sỹ thiết kế, Âm thanh và Giải diễn viên nữ xuất sắc cho diễn viên Minh Hương, một phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực của cô trong vai Đặng Thuỳ Trâm. Đầu năm 2010 phim được Bộ Văn hoá quyết định gửi đi tranh Giải Oscar cho phim nước ngoài tại Hoa kỳ. Phim không đuợc giải và điều này không có gì lạ. Tôi đã lường trước kết quả này vì cánh cửa của nó rất hẹp: mỗi năm chỉ có một Giải Oscar dành cho một phim của tất cả các nước trên thế giới, ngay một nền điện ảnh khổng lồ cạnh ta như điện ảnh Trung Quốc cũng chưa một lần nhận được giải này.


*


Từ Hà Nội đến Hollywood


         Tháng 9 năm 2010 tôi nhận được thông báo của Viện Hàn Lâm điện ảnh Hoa kỳ quyết định mời tôi sang Hollywood để vinh danh tôi như một đạo diễn có công đối với nền điện ảnh Việt Nam. Tôi đón nhận tin này với cảm xúc giống hệt như năm 2008 khi được tin Đài truyền hình CNN của Mỹ bình chọn phim Bao giờ cho đến tháng 10 là một trong 18 phim hay nhất của điện ảnh Châu Á mọi thời đại. Cả hai lần đều hết sức bất ngờ vì trước đó họ không hề thông báo gì về dự định của mình. Vậy là ngày 9 tháng 11 tôi rời Hà nội lên đường sang Mỹ. Trước khi đi, tôi được báo phải chuẩn bị một bài phát biểu ngắn để đọc tại buổi lễ. Bài phát biểu đã được gửi sang trước để Ban tổ chức cho dịch sang tiếng Anh. Và đêm 10 tháng 11 năm 2010 tại nhà hát Samuel Goldwyn của Viện Hàn lâm điện ảnh Hoa kỳ, trước hàng trăm cử toạ tôi đã đọc bài phát biểu của mình với phần chuyển ngữ của đạo diễn trẻ Việt kiều Đỗ Thiện. Bài phát biểu như sau:


        Thưa quý vị


            Khi nhận được thư thông báo của chị Ellen Harrington, tôi ngạc nhiên không hiểu sao mình lại có được cái vinh dự lớn lao này, một vinh dự mà thú thật trong đời làm phim, tôi không bao giờ nghĩ tớ. Tôi hiểu rằng đây là một vinh dự không phải chỉ riêng tôi mà cho cả nền điện ảnh Việt nam.


            Trước hết cho tôi được bầy tỏ lòng cám ơn chân thành tới Viện Hàn lâm điện ảnh Hoa kỳ, tới ông chủ tịch Viện Tom Sherak. Cám ơn ông Phil Robinson- Phó chủ tịch Viện, chị Ellen Harrington, những người tổ chức chính của sự kiện này.


 


           Tôi là đạo diễn của một nền điện ảnh, mỗi năm sản xuất chừng 10- 15 phim truyện nhựa, phim truyền hình thì có nhiều hon, hàng trăm phim mỗi năm. Nền điện ảnh đó nằm trên bán đảo Indochina nhưng nó không Indo mà cũng không China. Trong hơn nửa thế kỷ tồn tại của mình, nó cũng đã hình thành cho mình một bản sắc riêng. Điều đó quý vị có thể nhận thấy qua các phim được giới thiệu trong dịp này tại Los Angeles.


             Một thời gian dài nền điện ảnh của chúng tôi chỉ có một nhà sản xuất duy nhất là Nhà nước và một nhà phát hành duy nhất cũng là Nhà nước. Nhà nước cấp cho chúng tôi kinh phí để làm phim vì những mục đích mà nhà nước thấy cần, hoàn toàn không nghĩ đến lợi nhuận. Tuy vậy trong nền điện ảnh đó vẫn còn một mảnh đất, dù hẹp cho những ai muốn nói lên những thân phận con người trong đời sống đầy biến động ở đất nước chúng tôi. Và trên mảnh đất hẹp đó tôi đã làm những phim của mình.


             Khi tôi bước vào điện ảnh, đó là những năm 70 của thế kỷ trước. Điện ảnh không có khái niệm giải trí. Ngày đó muốn giải trí người ta đi xem xiếc hoặc nghe hoà nhạc. Đi xem phim là để nhận thức thêm một điều gì đó về con người, về xã hội xung quanh mình. Xem phim là để suy ngẫm và tự hoàn thiện mình.


              Nhưng bức tranh của điện ảnh Việt Nam bây giờ đã đổi khác. Sau Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế thị trường và điện ảnh cũng vậy. Nhà nước tuy vẫn còn cấp kinh phí để làm phim nhưng số lượng ngày càng giảm dần. Một khu vực sản xuất phim của tư nhân được hình thành, ngày càng năng động. Hiện nay điện ảnh tư nhân chiếm đến 70% lĩnh vực sản xuất phim nhưa và gần 90% sản xuất phim truyền hình. Trong lĩnh vực phát hành thì gần như 100%. Những người làm phim ngày nay quan tâm đến lợi nhuận và họ bắt đầu nghĩ đến khán giả, những người bỏ tiền ra mua vé để xem phim của họ. Trong chiều hướng này đã có nhiều phim do tư nhân sản xuất đã thu hút được đông đảo người xem, đạt doanh thu cao.


        Thưa quý vị


 


             Tôi ít khi xem lại những phim của mình, bởi vì mỗi lần xem tôi lại nhận ra những khiếm khuyết về nghề nghiệp mà không thể khắc phục được vì phim đã làm xong rồi. Tôi không phải là người có những tìm tòi phát hiện mới mẻ về hình thức và ngôn ngữ điện ảnh. Tôi chỉ là người kể chuyện về đất nước mình. Kể chuyện một cách chân thành. Điều quan tâm duy nhất của tôi là cố gắng làm sao để làm những bộ phim nói lên được tâm tư tình cảm,số phận của những con người Việt nam qua những thăng trầm của lịch sử, qua những biến động của xã hội.


        Phải chăng vì lẽ đó mà tôi được có mặt hôm nay ở đây, để làm một người kể chuyện trong bộ phim mà quý vị sắp xem sau đây.


        Đối với tôi tối nay là một buổi tối đặc biệt và thật có ý nghĩa.


        Xin cám ơn tất cả quý vị khán giả đã có mặt cùng tôi trong đêm nay, tại đây.


        Một lần nữa xin trân trọng cám ơn Viện Hàn lâm điện ảnh Hoa Kỳ.


           Sau phần giao lưu ngắn là buổi chiếu phim Mùa ổi do tôi làm cách đây đã 10 năm. Những người trong Ban tổ chức cho biết họ chọn chiếu phim này vì theo họ đó là phim tiêu biểu cho tòan bộ những sáng tác của tôi. Ngồi xem lại một bộ phim đã làm cách đây 10 năm tôi hồi hộp không biết khán giả Mỹ đón nhận như thế nào? Nhưng lạ thay tất cả mọi người đều hết sức hài lòng. Ông Phil Robisnon người dẫn chương trình cho buổi lễ cùng với vợ đã hết lời khen ngợi bộ phim. Có người đã xem phim này cách đây 10 năm nói với tôi: Bây giờ xem lại vẫn thấy hay, thậm chí còn có ý nghĩa hơn. Như vậy chứng tỏ bộ phim đã không lạc hậu với thời gian. Nhiều người đã đứng lại rất lâu bên ngoài phòng chiếu để trao đổi những cảm xúc của mình với nhau và với tác giả của phim. Mãi đến khi đèn trong rạp tối dần, báo hiệu rạp sắp đóng cửa, mọi người mới kéo nhau ra về.


    Vâng, đêm hôm đó là một đêm thật đặc biệt và có nhiều ý nghĩa đối với tôi. Nữ diễn viên Kiều Chinh, một ngôi sao của điện ảnh Sài gòn trước 75 hiện đang sống và làm việc ở Hollywood xúc động nói với tôi: “ Đây là một ngày lịch sử đối với điện ảnh Việt nam”. Được sống những giây phút như vậy là một hạnh phúc hiếm có đối với một đời người. Tôi chỉ biết cám ơn Trời Phật, cám ơn nhũng người thân đã khuất của mình, những người mà tôi tin chắc luôn lặng lẽ ở bên cạnh tôi để phù hộ cho tôi, những người đã cộng tác với tôi trong các phim mà tôi đã làm. Một vài hình ảnh của lễ tôn vinh đã được Truyền hình Việt nam gửi về trước để phát trong bản tin thời sự, nên khi tôi về tới Hà nội thì mọi nguời đều đã biết. Tôi nhận được những lời chúc mừng của rất nhiều người, kể cả những người không liên quan gì đến điện ảnh như mấy bác xe ôm vẫn thường đưa tôi đi đây đi đó, mấy bà bán nước, bán xôi trên hè phố nơi tôi ở  v.v…và đương nhiên là những người thân trong gia đình tôi ở Hà nội cũng như ở Huế.


          Cách đây hơn 40 năm cha tôi đã ngã xuống trong một trận bom B52 của không quân Mỹ và hôm nay tôi được vinh danh tại kinh đô điện ảnh thế giới ngay trên đất Mỹ. Hai sự kiện này không có mối liên hệ nào. Những người tổ chức sự kiện thứ hai không biết đến sự kiện thứ nhất. Tôi đã đến Mỹ nhiều lần nhưng vẫn chưa định nghĩa được cho mình thế nào là nước Mỹ.Khi đi làm phim Người Mỹ trầm lặng cùng Đạo diễn Phillip Noyce, có lần ông hỏi tôi: Anh nghĩ sao về nguời Mỹ trầm lặng? Tôi đáp: Đối với tôi, viên phi công Mỹ lái chiếc máy bay B52 vào buổi trưa ngày 1 tháng 4 năm 1967 trút bom xuống khu rừng Trường Sơn nơi cha tôi cùng các cộng sự đang nghiên cứu vắc xin chống sốt rét, là người Mỹ trầm lặng…... Và bây giờ tôi có thể nói thêm: Những người Mỹ lặng lẽ theo rõi những công việc làm của tôi từ bao nhiêu năm qua, để đến hôm nay vinh danh những đóng góp của tôi cho điện ảnh Việt Nam cũng là những người Mỹ trầm lặng. Đối với tôi nước Mỹ là thế… người Mỹ là thế.


        Tôi sinh ra trong một gia đình không có mối liên hệ gì với nghệ thuật. Cha tôi là một nhà khoa học. Năm 1936, sau khi tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa tại Hà Nội, ông được giữ lại trường làm công tác giảng dạy. Đến năm 1942 ông được Chính phủ Pháp cử sang tu nghiệp tại Nhật Bản. Sau 7 năm nghiên cứu về Y khoa tại Nhật, ông đã quyết định trở về nước tham gia kháng chiến. Ông đã đáp tàu thủy từ Nhật đến Bangkok tìm bắt liên lạc với Chính phủ ta, rồi từ Thái Lan đi bộ băng qua Lào về đến khu Bốn. Từ Nghệ An - khu Bốn ông lại tiếp tục đi bộ lên Việt Bắc. Suốt chặng đường dài dằng dặc đó, trong hành trang của cha tôi chỉ có hai bộ quần áo kaki, một lọ đựng một thứ nấm có khả năng tiết ra các chất kháng sinh pénicilline mà cha tôi đã phát hiện được trong các phòng thí nghiệm ở Tokyo... và một vật mà đến nay tôi vẫn giữ làm kỷ niệm suốt đời. Đó là chiếc kính hiển vi nho nhỏ bằng một gang tay, nhưng có đủ cả ống kính, gương phản chiếu và bộ phận điều chỉnh tiêu cự. Cái kính hiển vi đó là món quà cha tôi đem về cho tôi, với hoài bão tôi sẽ đi theo con đường khoa học. Vâng, nếu cuộc đời không có những sự bất ngờ thì có lẽ bây giờ tôi đã là một bác sĩ, một nhà nghiên cứu y học nối nghiệp cha tôi.


Cha tôi ra đi cũng như khi trở về nước, hành trang chẳng có gì ngoài những kiến thức y học để cứu chữa những vết thương, những căn bệnh, mang lại sức khoẻ cho con người và một tấm lòng tận tụy của một người trí thức yêu nước. Gia tài ông để lại cho tôi là tình yêu quê hương, sự gắn bó máu thịt với nhân dân mình, đất nước mình, là lòng thương yêu con người, sự cảm thông sâu sắc trước những nỗi khổ đau của con người. Ông không biết rằng những cái đó cũng chính là nền tảng cơ bản cho mọi sự sáng tạo nghệ thuật. Những gì tôi làm được trong điện ảnh cũng chính nhờ đã thừa hưởng được ít nhiều cái di sản tinh thần đó.


Tôi tạm khép lại những trang hồi ký này tại đây vào thời điểm khi sự có mặt của tôi trong điện ảnh Việt Nam vừa tròn 50 năm, trong đó có hơn 30 năm làm sáng tác. Tôi ít khi xem lại các phim mình đã làm. Mỗi lần xem lại, tôi đều cảm thấy day dứt, ân hận về những thiếu sót trong đó. Có cái do sự non kém của bản thân mà đến khi làm xong rồi mới nhận ra, có cái do hoàn cảnh khách quan. Thú thực tôi chưa bao giờ hài lòng hoàn toàn về bất kỳ phim nào của mình. Nhưng tôi hy vọng qua những phim đó, khán giả có thể hiểu được phần nào xã hội Việt Nam, con người Việt Nam cùng những khổ đau, hạnh phúc và những vấn đề mà họ quan tâm.


Nếu không có những ngẫu nhiên tình cờ của số phận có lẽ không bao giờ tôi có mặt ở đây, trong môi trường hoạt động nghệ thuật này. Tôi cảm ơn những người đã giúp đỡ, cộng tác với tôi trong các phim. Tôi cảm thấy mình là người thật may mắn.


Nhưng đôi lúc tôi cũng phải hứng chịu những điều lẽ ra không đáng có chỉ vì những sự hiểu lầm, những thông tin không chính xác.... Tôi cho rằng một trong những bi kịch của con người là sự thiếu thông tin chính xác. Đó là mảnh đất cho sự vu cáo, cái ác hoành hành.Những xung đột, mâu thuẫn, ngộ nhận giũa con người và con người giữa các quốc gia và quốc gia, cũng xuất phát từ đấy mà ra.Nhưng tất cả giờ đây đã ở phía sau, chẳng có gì làm tôi phải bận tâm ngoài việc chuẩn bị cho chặng đường sắp tới với những dự định mới.


Hết.


Nguồn: Hồi ký điện ảnh của Đặng Nhật Minh. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 2005. Tái bản có bổ sung.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »