tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18994411
14.02.2017
Trần Thanh Phương
Tô Hoài: Món nào cũng chán, chỉ ngon món rượu!


Khai thác cụ “Dế mèn”, tác giả Chuyện cũ Hà Nội thì cơ man chuyện, đầy chit tiết ly kỳ, nhưng riêng “chuyện tình” thì ông giấu cực giỏi. Nhà báo Vi Vi trong Thể thao và Văn hóa xuân Tân Mão viết như vậy. Giới văn chương biết, Tô Hoài không “hiền” chuyện yêu đương. Nhìn các bút danh khác của ông: Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Hồng Hoa… tôi chẳng tin ông không yêu phái đẹp. Ông kể chuyện đi Tây thế này: “Sang Tây, tôi mê rượu, uống Vodka nhiều loại, nặng cũng chơi. Tôi hay đi Liên Xô, bên ấy các cô đẹp thật. Tôi chủ động bảo họ: “Tôi ốm, bị tiêm, phải kiêng…” - “Thật chứ ạ?” - tôi hỏi. “Thật” (kéo dài), rồi ông cười tít, mắt có đuôi.


Tôi hỏi: “Nghĩa Đô, nơi có mối tình đầu của ông. Đọc Giăng thề, mới thấy chuyện tình đầu của tác giả, chẳng phải ai khác?”. Ông trả lời ngay: “Ai thì ai, ông thì ông. Hồi về xóm giếng ngày xưa. Tôi yêu một cô 15 tuổi cùng làng Nghĩa Đô (kém tôi 3 tuổi). Biết chuyện, ông bố đánh một trận nên thân, rồi bắt cô bỏ ra Kẻ Chợ ở với mẹ (đã ly hôn). Bà ấy tái hôn, gả cô đi lấy chồng. Cô ấy bị ốm nặng rồi chết. Được em trai cô báo, ấy là năm 1940, đang viết Dế mèn, cùng Nguyễn Bính, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, chúng tôi đến thăm cô, người đã nằm dưới mồ ở nghĩa trang Thanh Xuân”.


Đời ông những năm đẹp, sôi động nhất, thuộc về quá khứ.


Giờ đây, nhớ lại hồi trẻ, không phải mỹ nhân, chỉ rượu mới làm ông cười hết cỡ, lộ 5 cái răng còn lại hàm trên… Rượu là “người tình” mà Tô Hoài say mê nhất. Đừng mong “quật ngã” ông chỉ bằng một chai vang, dù đó là món quà cắp nách nên đem tặng Tô Hoài, cùng lời chúc thay “lì xì” năm mới.


“Tết xưa đìu hiu lắm, gợn buồn nhiều”. Hoài niệm thường hay buồn, vì ta nhớ đến những người, đến thời đã mất. Ông đi kháng chiến và viết về Tết vùng cao. “Làng nào cũng ăn Tết trong rừng. Các mảnh ruộng chân rừng cạnh ngọn nước đã thấy cắm lên những cây tre thẳng tuột, quấn giấy vàng, trên đầu buộc những vòng tròn. Đấy là cột vòng để trai gái đánh còn, đánh yên. Các cô mặc áo chàm mới, đem ra những quả còn tua đỏ tua vàng vừa khâu xong. Chúng tôi cũng ra chơi còn. Đã ra vẻ Tết thật rồi. Kháng chiến vẫn có Tết như thường”.


Và đây, thật đẹp cảnh Xuân miền núi: “Nhớ năm ấy bao giờ tôi cũng nhớ mùa hoa mơ những ngày áp Tết. Hoa mơ nở trắng các bản làng, trắng đầy cánh đồng và đầu suối. Bạt ngàn, trắng ngần khắp rừng mơ Việt Bắc. Cái rét ngăn ngắt đến cả những cây mai nở trắng ngẩn ngơ…”.


Bức tranh ấn tượng đầy ảo giác này đối chọi thông thường. Tô Hoài hay hồi tưởng và kể thiên về “giải ảo” hơn là “ảo hóa” người thật việc thật. Ông được thưởng thức nhiều phong vị Tết.


Truyện Tây Bắc (1953), Miền Tây (1967), Nhật ký vùng cao (1969) là những kết quả nhiều năm thực tế miền núi. Hỏi ông có nhớ những cái Tết vùng cao không, ông chậm rãi: “Nhớ lắm. Tôi đã ăn hai cái Tết chợ Rã, Ba Bể (Bắc Kạn), lúc là chủ nhiệm báo Cứu quốc Việt Bắc (1947, 1948), phát hành tại Cao-Bắc-Lạng. Hồi ấy có nhà văn Nam Cao, họa sĩ Nguyễn Đình Thọ, nhà báo Nguyễn Tiêu… Ăn Tết cùng người Tày, Dao. Tôi lại thích Tết H’Mông. Hồi ấy còn viết lời Bài ca hang đá, ông Nguyễn Văn Thương làm nhạc phim này. Tôi nhớ những chuyến thực tế Hà Giang. Giờ mà có bát rượu ngô thì hay biết mấy. Tết trên ấy giết lợn, ngựa, bò, ăn nhiều món nướng. Rượu ngô uống tha hồ. Lại còn được xem hoa hậu. Người Pháp tổ chức thi chọn người đẹp Thái, Mường, H’Mông vào mùa xuân”…


Hồi ức của ông cứ miên man, không dứt.


Hàng năm, cứ 20 tháng Chạp là con trai Nguyễn Phương Vũ lại đón ông lên phố ăn Tết, đến hết tháng Hai về Nghĩa Tân với vợ chồng con gái cả. Tô Hoài thủng thẳng: “Tết bây giờ, món gì cũng chán, ngon chỉ món rượu!”. Có bệnh, phải kiêng, ông vẫn khó kiềm chế khi thấy rượu. Nói đến thứ này, Tô Hoài mắt sáng, điệu bộ linh hoạt hẳn.


Năm 2007, Tô Hoài mới rời hẳn chức vụ cuối cùng: Phó Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Á - Phi - Mỹ Latinh, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Hà Nội.


Tết, Tô Hoài toàn ở nhà. Mấy năm liền, phóng viên VTV đưa ô tô đón nhà văn ra hồ Gươm trò chuyện lúc giao thừa. Trở về, ông lì xì con cháu. Mùng một, ai tới là ông lì xì. Ngoài nhà các con, ông không đến ai, ở nhà xem ti vi. Tuổi 90, ông túc tắc hết chai vang, nếu có bạn hợp ý, vui, các ông “bẻ cổ” vài chai là thường.


Ai đến, biếu rượu ngon thì được lòng ông lắm. Nếu Nguyễn Tuân, Văn Cao uống rượu kiểu nhâm nhi, Tô Hoài lại “khét tiếng” về tửu lượng. Nhà báo Nguyễn Phương Vũ (thư ký tòa soạn tuần báo Người Hà Nội), con trai út, gần gũi nhất, nguyên cớ của bút danh “Vũ Đột Kích” của bố, thú nhận: “Tôi từng sống ở Đức, trước uống nhiều, ngay cả lúc uống được nhất cũng không thể bằng ông. Khó ai theo được ông, không phải dung lượng, mà là cách uống: rượu bia gì, ly, chén, to hay nhỏ, ông chỉ làm một hơi. Uống bia, là giải khát, chỉ chạm cốc lần đầu. Rượu, khi uống có thể chạm vài lần/ly. Ông bảo thế mới Tây, mới văn minh, mấy lần nhậu uống bia, ai chạm cốc nhiều, bị ông phê bình ngay “không biết uống”.


Giới văn chương phía Nam hình như chỉ có ba “cụ” chơi thân với Tô Hoài, đó là Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng và Đoàn Minh Tuấn. Hồi còn sinh thời, Nguyễn Quang Sáng nhớ lại:


Tuổi tám mươi lăm, đi có hơi chậm nhưng rượu vẫn đều đều. Tháng 10-2006, tôi với anh cùng làm giám khảo một cuộc thi cho Nhà xuất bản Giáo dục ở hồ Côn Sơn, nơi thờ phụng danh nhân Nguyễn Trãi. Một cái hồ đẹp và yên tĩnh - Hôm đó là ngày mừng 65 năm Dế mèn phiêu lưu ký. Tôi thấy sức viết, sức rượu của cụ còn mạnh.


Cụ uống rượu không khó tính như cụ Nguyễn Tuân, cũng không dễ dãi như cụ Nguyên Hồng. Trong bữa rượu, cụ có thể uống ba thứ: Bia, rượu vang rồi rượu nặng. Rất nhiều người trong bữa rượu chỉ uống được một thứ, uống hai ba thứ rất dễ chết. Với cụ, hai ba loại cũng vậy thôi, không thành vấn đề! Cụ không uống nhâm nhi, cụ uống theo kiểu Nga. Rượu đế, rượu Whisky cụ ực một cái, cạn ly rồi chữa cháy bằng nước lọc - càng uống càng tỉnh, vậy mới lạ, không bao giờ có chuyện “rượu vào lời ra” - Không bao giờ ồn ào - Càng uống giọng càng nhỏ nhẹ, càng tinh tế với nụ cười duyên dáng. Thỉnh thoảng cụ vào Sài Gòn, thường đi với Đoàn Minh Tuấn và tôi - Đời sống có khá hơn, không đế, không quốc lủi - hoặc Conag hoặc Whisky.


Có một buổi chiều, cụ đến thăm người bạn ở Thanh Đa. Bạn mời cụ uống rượu chuối hột - một loại rượu phổ biến của cả miền Tây. Chuối hột là một loại thuốc trị bệnh thận rất hiệu quả. Rượu chuối hột vừa thơm vừa ngọt, thơm của chuối và ngọt của chuối.


Hôm đến gặp tôi, cụ khoe:


- Rượu chuối hột, hôm qua mình thấy mình cường tráng như thằng con trai! Lạ quá. Năm ấy cụ tám mươi tuổi. Thấy vậy, trong nhà tôi có hai bình rượu chuối hột, tôi tặng hết cho cụ.


- Mình mang ra Hà Nội chuyến bay chiều nay - Cụ vui lắm.


Cụ thường lên Tây Bắc, lặn lội với người Mông trên các đỉnh núi cao, cụ ăn mèn mén uống rượu mèn.


Với vốn sống ấy, có lần cụ kể cho tôi nghe truyền thuyết về người đàn bà (không thể viết lại nguyên văn, chỉ kể đại ý thôi). Cụ kể, ngày khai thiên lập địa, trần gian chỉ có đàn ông không có đàn bà, họ sống rất cô đơn. Họ cầu Chúa, Chúa dạy rút một cái be sườn của mình ra, thổi nó, chiếc be sườn biến thành đàn bà. Như vậy người đàn bà là một phần thân thể của người đàn ông. Người Mông thì khác, ban đầu cũng chỉ có đàn ông, cô đơn quá. Một đêm người đàn ông nằm mơ thấy người khác giới, người đàn bà - người đàn bà của giấc mơ biến thành người đàn bà cho đàn ông. Người đàn bà là người của giấc mơ mà thôi. Tuyệt thật - tôi nhớ mãi.


Trong sách Con chữ soi bóng đời, nhà thơ Trần Thị Thắng cho rằng:


Phải nói Tô Hoài và các nhà văn uống bia rất lịch lãm. Các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Bổng, Tô Hoài, Nguyên Hồng hay ngồi uống tại quán bia xưa ở Thủy Tạ, Bờ Hồ hay những quán bình dân ở phố Huế, ga Hàng Cỏ. Các ông có nhu cầu gặp nhau, nói cùng nhau đôi ba chuyện vui buồn, bực cũng có, nhưng đó là những câu chuyện phần lớn của thiên hạ mà các nhà văn nghe thấy với những phản ứng khác nhau: thương xót, giận hờn, bực mình. Các nhà văn vốn là người dễ xúc động, dễ “thương vay khóc mướn” hơn thiên hạ nên cuộc sống thường nhật chạm vào các ông nhạy bén hơn cả. Sau này, về Hà Nội, công tác tại báo Văn nghệ, tôi nhiều lần được làm việc cùng Tô Hoài. Nhân một lần đến phố Đoàn Nhữ Hài đặt bài, ông bà có kể cho tôi nghe về những năm kháng chiến, ông bà đã sinh con trên đất Đan Hà, thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, cách nơi tôi sinh cũng chỉ mấy cây số. Tên các con của ông đặt là Đan Hà, Đan Thanh, Phượng Vũ là những vùng đất ông bà đi kháng chiến. Ông là người đọc văn nhiều. Văn bạn bè, văn nước ngoài, những trang văn mới - ông đọc và thường khoanh lại. Nhưng Tô Hoài chăm đọc báo, sáng nào ông cũng đọc một xếp báo, rồi có thể đi uống bia, về lại ngồi vào bàn viết.


Một lần đi Hải Thịnh, chúng tôi qua vùng ruộng muối của dân đang cào ào ào vào thành đống, người vùng muối cứ gọi: “Thành gió, tránh mưa”. Chiều tối, tôi đã thấy Tô Hoài ghi vào cuốn sổ con, chính vì vậy, văn ông có ngôn từ dày đặc mà không trùng lặp. Nhất là khi viết báo, văn Tô Hoài sáng, ông dẫn dắt thủng thỉnh mà ngôn từ thật đắt, không thừa, không thiếu. Nhân chuyện Trần Hoài Dương tặng Tô Hoài chai rượu Tây, anh bắt chủ hàng ký vào nhãn chai rượu, người bán cũng làm và thề sống chết là rượu thật. Ông chỉ nhấm nháp đã biết rượu giả, Tô Hoài mang lại cửa hàng, hàng rượu đổ thừa đủ thứ: “Ai dám bảo đảm rượu kia ông mang đến là rượu nhà hàng chúng tôi”. Tô Hoài chỉ mủm mỉm ra về và ông đã viết chữ tín trong kinh doanh cho chúng tôi có 800 chữ mà sáng hết vấn đề giả - thật. Cũng lại chuyện ăn uống, ở Hải Thịnh, một bạn trẻ rủ nhà văn “Mời bác đi ăn chân gà nướng với anh em”. Tô Hoài cười dủm dỉm: “Đi mấy trăm cây số để ăn chân gà nướng thì ở Hà Nội ăn ngon hơn”. Ông không ăn và sau đấy, chúng tôi có mời ăn cua biển luộc, ông đi ăn cho vui và nói rất hóm: “Ăn cái đặc sản của vùng ấy mới là ngon, còn đặt không đúng chỗ, thì ăn đâu có ngon”. Tôi nghiệm ra rằng trong thưởng thức hằng ngày cũng như viết, Tô Hoài bao giờ cũng đặt đúng người, đúng chỗ, đúng ngôn ngữ, đúng văn cảnh.


Nhà văn Đoàn Minh Tuấn thuật lại:


Buổi chiều đầy tuyết trắng. Vào đầu xuân Quý Hợi (1983) tôi đi làm phim ở Bratislava về Liên Xô, còn bác Tô Hoài họp hội nghị các nhà văn Á Phi từ Alger về; hai anh em tình cờ gặp nhau ở ga sân bay Mátxcơva, khi bay về Hà Nội.


Trên chuyến bay của hãng hàng không Aerôphơlốt IL86 vừa thử đường bay Nội Bài. Đến Taskent là thủ đô của Udơbêkistan - máy bay “nhõng nhẽo” trục trặc xăng nhớt thế nào chưa cất cánh được, phải nằm chờ kiểm tra lại ngót hai ngày đêm.


Taskent, một sân bay đồ sộ miền Trung Á - cầu hàng không tiếp tế cho Apganistan, cho cả vùng Irắc, Iran và các nước Đông Dương - nhộn nhịp lạ thường, cứ vài ba phút là có máy bay lên xuống, ầm ầm vang động suốt đêm ngày. Chao ôi! Tết nhất sắp qua rồi mà chúng tôi vẫn lang thang “đất khách quê người”. Tôi cũng từng ăn Tết ở Trường Sơn thời chống Mỹ, nhưng đó là nhiệm vụ chiến đấu, còn đây phải ăn chực, nằm chờ ở hải ngoại… Hai anh em vẫn uống Cognac, cụng ly chào Xuân. Các quan chức ngoại giao Tây có, ta có của nhiều nước trên máy bay, các nhà báo, các thương gia… cùng đi trên chuyến máy bay trắc trở này phải phát tức và “ghen”; vì máy bay không cất cánh được mà chúng tôi vẫn cười vui và uống rượu tì tì. Có cậu nhà báo Thổ Nhĩ Kỳ tên là Hanurít nói tiếng Pháp ngồi cạnh tôi ngạc nhiên hỏi:


- Các vị mua vé hạng nhất à?


- Đâu có, bạn mua cho!


- Thế sao ghế các vị có rượu uống?


Tôi đưa chai Ararát ra mời:


- Tết dân tộc của chúng tôi mà, các bạn Nga tặng. Nếu giờ này về nhà rồi thì tưng bừng hơn… xin mời bạn.


Anh bạn Thổ Nhĩ Kỳ hiểu ra, cười vui và chúc mừng Tết của chúng tôi, nhưng anh bạn lại thắc mắc:


- Acmêni - nước cộng hòa của Liên bang Xô Viết - dùng nhãn hiệu Ararát là không ổn đâu. Thấy tôi hơi khó hiểu anh giải thích thêm - vì Ararát là dãy núi biên giới. Chung của hai nước: Thổ Nhĩ Kỳ và Acmêni. Thế mà Acmêni lại dùng cho nhãn rượu của mình là không được đâu!


Một anh bạn Franxoa người Pháp gốc Phi châu xen vào nói đùa vui:


- Vậy cớ sao mặt trăng là của chung của nhân loại, tại sao Turguie (Thổ Nhĩ Kỳ) các anh lại lấy làm biểu trưng trên lá cờ của mình. Bộ các anh muốn “bành trướng” à?


Thế là mọi người ngồi đợi máy bay cất cánh lại cười vui, quên bớt nhọc nhằn.


Tôi đang bí đề tài Tết này cho báo Đại Đoàn Kết, Tết năm Hổ, thì mới đây nhà văn Tô Hoài photo cho tôi một đoạn ghi chép sổ tay ngày trước ở Taskent:


“Vào chỗ đợi ở sân bay - lù lù gặp Đoàn Minh Tuấn. Sự lạ diệu kỳ! IL86 có 300 chỗ ngồi, chỉ có hơn 100 người đi. Bay đúng giờ ở Moscou 5 giờ, tới Taskent 8 giờ tối. Lên nghỉ rồi xuống đi, máy bay bò ra lại lùi vào, báo lại trục trặc không đi được”.


Bữa ấy chúng tôi mang quà Tết về nhà, nên hành lý của Tô Hoài có nặng thêm năm, ba cân. Nếu phải trả thì có đến 50 rúp. Cô Rima và Inia ra tiễn nói thế nào ấy, cô dịch ra là: cô ngồi cân hành lý nói nhà văn thừa vài cân bản thảo, thôi không phải tính thêm cước làm gì! Tô Hoài hôn Rima hai lần, trả ơn việc giảm cước phí. (Đoạn nhật ký ngày Tết ở Taskent trên Tô Hoài ghi chú là tư liệu “bán” cho tôi để viết bài Tết) và ghi chép của Tô Hoài còn ghi:


“Cả đêm ngồi vớ vẩn trên phòng đợi. Hết rượu rồi, mua không có - vì chưa tới giờ bán - Đêm Taskent nhớ lại những chuyến đi trước, xa lắm rồi. Đêm ở nhà khách chính phủ nghe gà gáy phía này. Thế là ở lại sân đợi. Ăn cả hai bữa. Mua được vài trăm gam Vodka - tiêu chuẩn hai người, vì lúc bấy giờ ở Nga cấm rượu. Họ bảo tối nay, 10 giờ 40 bay được. Nhưng rồi phải đến sáng sau”.


Cũng may là Tết xa nhà “tha hương ngộ cố tri” chứ không thì biết làm gì cho hết thời gian chờ đợi. Hành khách đều phản ứng cho nên hãng hàng không phải đưa khách vào thành phố, ai muốn nghỉ khách sạn thì nghỉ, ai muốn tham quan mua sắm thì đi. Bác Tô Hoài đã ở đây rồi, nên chỉ mình tôi thăm thú các thắng cảnh và di tích quanh quẩn gần thủ đô. Đây là một thành phố mới, mới hoàn toàn. Sau trận động đất cách đó vài thâp niên gần như chỉ còn gạch vụn. Cả 15 nước cộng hòa Liên Xô lúc ấy dồn sức người, sức của xây dựng lại. Cho nên nhà cửa, trụ sở, lâu đài đồ sộ hơn, đường sá rộng rãi thẳng tắp đường cây xanh.


Mùa xuân các công viên hoa, cỏ mơn mởn. Tôi dừng lại một cửa hàng bách hóa gần công viên tuyết vẫn mơ màng bít ngập cả lối đi, tranh thủ còn ít đồng rúp mua rượu sâm, phó-mát, nho khô… về làm quà Tết. Mua cho bác Nguyễn Tuân được một chai Ararát - giá tiền bằng mua một chiếc quạt tai voi và một bàn là - Thế là về nhà các bạn nói vui Tết này bác Nguyễn uống một cái quạt nhắm với bàn là Liên Xô no bụng rồi đó.


Đi dạo trên phố Taskent mùa xuân có cảm giác mường tượng như mình đang đi kề miệng núi lửa và các dòng nham thạch chảy ngọ nguậy dưới chân mình. Vẫn có ấn tượng trận động đất mùa xuân năm nào.


Hôm sau lại lên máy bay. Đã có bia và rượu vang, với lại chai rượu sâm dự trữ, nên không lo gì nữa. Những tưởng máy bay sẽ dừng lại ở Carachi (Pakistan) như mọi khi, nào ngờ, về Tân Đêli (New Dhéli) Ấn Độ có lẽ thời tiết, hay ốc vít máy bay trục trặc mà cô nàng tóc bạch kim khổng lồ “ngúng ngoảy” không như dự định của chuyến bay lúc ban đầu.


Ôi, Tết tha phương trên dặm dài, lữ thứ, càng nhớ nước, nhớ nhà như câu thơ của bà Huyện Thanh Quan:


Nhớ nước đau lòng con quốc quốc


Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.


Tôi và bác Tô Hoài lại lai rai và chuyện trò trong cơn ngây ngất mùa xuân, máy bay đến Nội Bài lúc nào không biết… và xa xa phía Bắc Ninh, Đình Bảng tiếng trống đón xuân vọng lại trong cảnh đầm ấm ở quê nhà. - Báo Đại Đoàn Kết, số Xuân Mậu Dần, 1998.


Hôm nhà văn Tô Hoài mất (ngày 6-7-2014), Đoàn Minh Tuấn có bài thương tiếc, nhớ lại những kỷ niệm của tình bạn vong niên. Có lẽ đây là người duy nhất trong số những người bạn già của Tô Hoài còn viết được về ông.


“Nhân sanh tự cổ thùy vô tử” người đời tự xưa không ai là không chết. Biết vậy nhưng tôi vẫn tưởng bác Tô Hoài còn sống mãi mặc dầu bác đã bước qua tuổi 95. Gần một thế kỷ, thượng thọ lắm rồi.


Năm 2012 ra thăm bác, tôi chúc bác tròn trăm, bác còn mắng tôi: Vậy còn 7 năm nữa thôi à? Tôi hỏi bác có còn uống được không? Bác bảo: Chỉ rượu vang thôi. Tôi bỏ vào túi bác một triệu để Phương Vũ mua vang cho bác. Tôi với bác thân nhau từ ngày tôi tập kết ra Bắc, đến mức có thể lấy tiền túi lẫn nhau mà tiêu xài, có thì trả lại không thì thôi!


Với bác tôi có nhiều kỷ niệm trong nước từ Sài Gòn, Hà Nội, Đà Lạt, Vũng Tàu, Kiên Giang… Đi đâu, ở khách sạn bác cũng giới thiệu tôi là Minh Tuấn, bác cố ý thế, vì theo bác gọi Minh Tuấn coi tôi là kép cải lương, như Minh Tơ, Minh Vượng chẳng hạn… Các cô phục vụ ở khách sạn hỏi tôi: Chú ở đoàn nào? Đoàn Minh Tuấn! Thế là các cô xô vào hỏi chuyện các cô đào cải lương như ở đoàn Thanh Nga, đoàn Minh Tơ… Bác có nụ cười đôn hậu và hay đùa vui như thế.


Có lần gặp bác ở Taskent, ở Moscow, ở New Dehli… tôi và bác vẫn uống rượu tì tì. Những lần bác ở Hội nghị Nhà văn Á Phi về gặp lại ở Moscow, tôi và bác phải xếp hàng mua Vodka vì lúc bấy giờ Liên Xô cấm rượu - khách nước ngoài chỉ xếp hàng mua được 100 gam mỗi người. Hồi ấy, những năm 80 của thế kỷ trước, bác cũng khỏe, chỉ vài hơi uống cạn cả ly, tôi thì từ từ, bác hay “ăn gian” uống trội hơn tôi.


Tô Hoài là nhà văn lớn mà từ việc tổ trưởng khu phố, nghị trường Quốc hội, hội thảo nhà văn quốc tế đều phát biểu một cách có trách nhiệm và tỉ mỉ.


Đi đâu bác cũng ghi chép, ngồi tàu hỏa, đi nông thôn, vào xưởng thợ, uống cà phê đều đọc hoặc ghi cẩn thận. Bác là con cua bò ngang nhưng về đến đích sớm. Bác bảo tôi: Khi nào tim ngừng đập thì mới ngừng viết, ngừng đọc. Bác đọc tờ báo, từ quảng cáo đến giá tiền cuối trang báo. Bác đã viết tác phẩm nhiều gần gấp hai lần tuổi đời của mình, trên một trăm tám mươi đầu sách, hàng chục tiểu thuyết, hồi ký đến phê bình văn học, bút ký, truyện ngắn, thể loại nào cũng thành công. Tôi chơi với bác có tính cách “điếu đóm” - tôi cũng nói với Nguyễn Tuân như vậy. Hôm nói chuyện với sinh viên Đại học Sư phạm năm 1997, bác nói lại: Điếu của mình đóm của mình mà cụ Nguyễn Tuân không cho phục vụ, huống hồ Đoàn Minh Tuấn là điếu đóm của cụ mà cụ cho theo là điều hạnh phúc đấy!


Bác Nguyễn Tuân giới thiệu tôi với Tô Hoài từ những năm đầu tôi tập kết ra Hà Nội. Hai cụ là tri âm với nhau, còn tôi là bạn vong niên kém cụ Tuân hai mươi tuổi và thua Tô Hoài mười tuổi.


Mỗi lần ra Hà Nội là Tô Hoài hay mời tôi hầu rượu bác Nguyễn. Bác Nguyễn xách ba toong và cái chai rỗng đến nhà bà Ngọc Trai, quẳng chai không vào cửa sổ, là ngay chiều hôm đó chị Ngọc Trai đong đầy rượu “cuốc lủi” cho cuộc nhậu.


Bây giờ ra Hà Nội, vắng các bậc đại sư ấy thì rất buồn.


Tô Hoài cả đời cầm bút, cả đời lai rai, mà có đến hàng trăm tác phẩm, ông là người lao động cật lực, không mệt mỏi cho đến lúc lìa đời. Chao ôi! Nước ta có những anh hùng như thế - Tôi rất hoan nghênh ý kiến của nhà văn Vũ Tú Nam: Ông cống hiến như vậy xứng đáng là Anh hùng Lao động! Xứng đáng là Đại sư… -  Báo Văn nghệ, 12-7-2014.


Cũng trong số báo trên, nhà văn Phạm Thị Minh Thư cho hay:


…Tôi từng nghe anh Vũ Quần Phương bảo: “Ai thì cũng nói về sự ăn uống tinh tường của Nguyễn Tuân nhưng chả ai biết cái người rất lọc lõi sự này lại là ông Tô Hoài. Có lần ông nói với tôi, cái thời bao cấp, khi các cậu chỉ biết cơm độn mỳ với rau muống thì tớ vẫn nhiều lúc xơi cơm rang bọc lá sen của Cao Lâu. Sự này chả rõ thực hư thế nào. Còn chính tôi, gần đây, đã được ông mời đến nhà hàng 222 Phố Huế, một nhà hàng phục vụ các món ăn kiểu châu Âu và rượu là rượu Tây. Tôi mới hay, ông Khải chủ nhà hàng này ngay những năm bao cấp đã “ngầm” mở Cao Lâu, nhà cửa xuềnh xoàng nhưng cả món ăn lẫn cách phục vụ thì đúng nguyên tắc của khách sạn. Lại hay thêm, ông Tô Hoài là khách quen từ những tháng năm ấy. Từ đó tới giờ ông vẫn là khách quen, khách đặc biệt, có thể ăn, mời khách hẳn hoi mà không cần trả tiền ngay”.


Tôi nghe anh Phương nói thì tin ngay, nhưng vẫn muốn hỏi hộ nhà thơ rất mực cẩn thận này, rằng “cái sự ông ăn cơm rang bọc lá sen Cao Lâu” nó là thế nào?


- Cơm rang bọc lá sen là một món ăn của Tàu. Cô nhớ là người ta rang cơm nóng, cơm mới nấu chứ không phải là cơm nguội nhé. Rang rồi bọc trong lá sen đưa ra, khi mình ăn thì cơm vẫn nóng, vẫn giòn mềm do bọc lá, lại còn thêm hương thơm mùi lá sen nữa…


Cách giải thích kỹ lưỡng đã là lời đáp cho một câu hỏi. Nguyễn Tuân viết ra chữ, ra… miệng, còn Tô Hoài, ông công chức viết văn, có cả trăm tác phẩm, thì lẳng lặng hưởng thụ cái thú ăn sang trọng tao nhã của một người Hà Nội… sành điệu.


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »