tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19744965
14.02.2017
Trần Thanh Phương
Nguyên Hồng: Lúc uống rượu, một xúc động nhỏ ông đã khóc!


Nguyễn Quang Sáng kể:

Về rượu, cụ Nguyên Hồng có khác cụ Nguyễn Tuân, cụ dễ uống, dễ ăn… Có một buổi chiều, tôi thấy cụ uống rượu một mình bên bàn làm việc của Văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam (65, Nguyễn Du). Mồi nhậu chỉ có bánh mì khô. Tôi lắc đầu muốn né, ngặt một nỗi, muốn đi về phải đi ngang qua mặt cụ.


- Sáng, một chén!


Cụ vớ lấy cốc uống trà để trên bàn, rót rượu từ một can nhựa - bình dân hết cỡ! Rượu lơ lớ nhàn nhạt, uống hoài được, nhưng say ngầm lúc nào không biết..., được một cái ngồi với cụ thoải mái hơn ngồi với cụ Nguyễn Tuân, có thể nói tào lao khi vui miệng, khỏi phải trả lời những câu hỏi của cụ, mà cụ có hỏi đâu mà trả lời, sướng nhất là nghe cụ nói:


- Mình kể cho Sáng nghe về tác dụng của rượu. Ở cảng Hải Phòng, thủy thủ người Nga vào câu lạc bộ uống rượu, trong câu lạc bộ có mấy cái lồng chim. Họ uống rượu Lúa mới - Lúa mới Việt Nam chẳng kém gì Vodka, có hương vị lạ lại rẻ hơn Vodka, họ vừa uống vừa ngả người nghe tiếng chim hót - Lênh đênh trên biển lâu ngày, làm gì được nghe tiếng chim. Sau một lúc ngất ngây với Lúa mới Việt Nam, rượu lạ của Việt Nam, trước khi ra về họ hỏi mua hai cái lồng chim. Một hồi sau, mấy chàng thủy thủ Nga mang hai cái lồng chim trả lại, hỏi sao, một thủy thủ ngà ngà say nói:


- Chúng tôi muốn đổi hai con chim lấy Lúa mới.


- Sao vậy?


Anh thủy thủ Nga nói:


- Xuống tàu lênh đênh mặt biển, không rượu, tiếng chim nghe buồn lắm, trong rượu có tiếng chim và cả thần tiên.


Nói xong, khoái chí cụ ngửa mặt cười - Lát sau một hớp, cụ tiếp:


- Có nhiều người rượu vào tính khí rất khác thường, vừa la ó, nổi nóng, đánh nhau, xấu tính, còn rượu của nhà văn thì phải khác, rượu của nhà văn thì phải có tiếng chim, có thiên thai, có nhân vật, có cái không gặp, không biết nhưng khi viết ra thì rất thật - Mình có gặp Năm Sài Gòn hồi nào đâu mà Năm Sài Gòn trong Bỉ vỏ vẫn sống.


Buổi chiều rượu tình cờ với cụ Nguyên Hồng thật thú vị đối với tôi.


Sau ngày miền Nam giải phóng, rất nhiều nhà văn cùng bạn bè ở Hà Nội vào Sài Gòn, tôi cứ chờ cụ. Buổi chiều rượu hôm đó cụ bảo, sau này giải phóng miền Nam, cụ sẽ vào Sài Gòn đi tìm Năm Sài Gòn của cụ, chờ năm này qua năm khác, không biết cụ chần chờ chuyện gì mà chưa đi. Hội Nhà văn mở trại sáng tác ở Vũng Tàu mà cụ là người chịu trách nhiệm chính. Vậy là cụ sắp vào, nhưng cụ có kịp vào đâu. Cụ đi rồi, đi về một nơi xa thăm thẳm.


Một chuyện khác, cũng Nguyễn Quang Sáng kể:


Còn nhớ là buổi chiều mùa đông năm 1962 ở Hà Nội, từ trong cuộc họp bước ra, anh Nguyên Hồng bảo tôi: Chiều nay cậu đi chén với tớ!


Được một nhà văn đàn anh mời đi ăn, thật vinh hạnh! Tôi đi ngay. Mỗi người mỗi xe đạp, anh đưa tôi lên đê.


Chết tôi rồi! Từ trên đê nhìn xuống, tôi thấy quán thịt chó. Làm sao thối lui được? Vừa lúc đang băn khoăn, anh Nguyên Hồng đã nắm lấy bắp tay tôi: Tớ biết cậu không ăn thịt chó, nhưng cậu phải nghe tớ. Xuống, xuống đi.


Trước năm 1945, theo tôi biết, trong toàn cõi Nam Bộ không đâu bán thịt chó, làng tôi cũng vậy. Ăn thịt chó người ta ăn lén, ăn để người ta biết thì xấu mặt. Làng tôi, nếu có một cô gái nào đó mà ăn thịt chó, dù có đẹp như tiên cũng không ai dám cưới. Mà cũng lạ, dù ăn lén, người ta biết, vì ăn xong mà ra đường thì chó hai bên đường cứ vồ ra sủa vang trời. Mùi chó chưa tan mà!


Ở Hà Nội những năm ấy, thấy một cô gái đứng bán thịt chó, tôi cứ nghĩ: “Đẹp vậy mà sao bán thịt chó nhỉ?”. Thành kiến sâu đến thế! Nhà văn Tô Hoài thời trẻ có sống ở Sài Gòn. Có lần nói với tôi: “Nam Bộ là đất thuộc địa của Pháp. Thực dân Pháp muốn tạo ra một phong tục tập quán Bắc - Nam càng khác, càng đố kỵ càng tốt. Đó cũng nhằm âm mưu “chia để trị”. Bây giờ Sài Gòn muốn có một bữa thịt chó nấu kiểu Bắc không khó và ăn công khai - đi đường chó không sủa”.


Người ăn thịt chó lại ở sát nhà tôi - ông Hai chủ xe ngựa, đầu hớt trọc.


Một đêm, nhà tôi chỉ có hai cha con. Ông Hai lén rủ hai cha con tôi qua ăn thịt chó. Thịt chó sao mà ngon quá vậy! Cha tôi nói: “Gần năm mươi tuổi, lần đầu tiên cha mới biết mùi thịt chó, con mới hơn mười tuổi mà đã biết mùi thịt chó, vậy là con tiến bộ hơn cha”. Cho đến bây giờ tôi không thể hiểu vì sao cha tôi dùng từ “tiến bộ” trong trường hợp này.


Sau đi bộ đội, đời lính ăn thịt chó là chuyện thường, nhưng thịt chó nấu kiểu Nam Bộ, rất nhiều gia vị, nào là ngũ vị hương, nào sả, nào nước dừa, nào tương...


Thấy thịt chó miền Bắc, tôi sợ!


Anh Nguyên Hồng nói: Mỗi nơi mỗi kiểu, nhưng như vậy còn gì là chó! Cậu nhớ cho tớ là ông bà mình ăn thịt chó hàng trăm hay hàng nghìn năm rồi, đến nay người ta vẫn còn ăn (anh nhấn mạnh) như vậy, có nghĩa là nó có lý do tồn tại, cậu nên ăn để biết cái lý do tồn tại của nó.


Rồi anh dạy tôi ăn. Miếng thịt luộc phải có đủ ba phần: da, mỡ, nạc, ăn với ngò ba lá, riềng thì phải riềng già, mắm tôm phải có ớt, chanh, một vài giọt rượu, mắm tôm phải sủi bọt... và...


Đời sống của con người, cái gì mà đã vào ca dao thì cái đó sống đến muôn đời.


Sống ở trên đời


Không ăn miếng dồi chó


Chết xuống âm phủ không có để mà ăn.


Thế là tôi ăn, miếng đầu tiên tôi ăn là vì cái lý do tồn tại, vì câu ca dao của ông bà để lại.


Anh Nguyên Hồng nhìn tôi ăn, càng ăn càng thấy ngon, anh hỏi:


- Cậu thấy sao?


Tôi cười:


- Anh dạy tôi muộn quá!


Anh Nguyên Hồng khoái chí ngửa mặt cười...


Đã hàng chục năm rồi, gần đây đọc hai câu thơ của Nguyễn Duy trong tập Về (NXB Văn học, 1994), tôi lại nhớ Nguyên Hồng.


Thiền sư theo chợ bỏ chùa


Loay hoay thui chó nửa mùa hết rơm.


Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh, xuân Đinh Sửu, 1997.


Nhà văn Tô Hoài kể lại: Những năm gần đây, Nguyên Hồng đã có tuổi, thỉnh thoảng lại đấm lưng thùm thụp. Nguyên Hồng chữa đau lưng bằng rượu ngâm vỏ quít và cách đấm lưng như thế.


Đã nhiều lần chúng tôi lên nhà anh ở Nhã Nam. Một quả đồi cạnh chân rừng vùng Yên Thế. Đấy là nơi tản cư khi kháng chiến, ở cùng chỗ với gia đình các nhà văn Ngô Tất Tố, Kim Lân, họa sĩ Trần Văn Cẩn… Tất nhiên bữa cơm nào cũng có rượu. Hòa bình, mọi nhà đều về xuôi, một mình nhà văn Nguyên Hồng ở lại rồi thành quê.


Cũng trong sách Những gương mặt chân dung văn học (NXB Tác phẩm mới, 1988), Tô Hoài nhớ về Nguyên Hồng đi uống bia. Tính tôi vốn ưa thầm lặng. Lắm khi, đột ngột, Nguyên Hồng can thiệp ồn ào vui vẻ với xung quanh, mà mình cứ vừa cười vừa ngượng sững người. Cả những khi thong thả đi chơi cũng vậy. Chúng tôi hay uống bia ở một nhà đại lý bia hơi gần phố Huế. Những năm ấy, các quán bia chưa có cốc vại, người Hà Nội mới làm quen với cốc bia pha nước ngọt sirô. Khách biết uống, chúng tôi đã thân ngay với nhà hàng. Mỗi lần xe bia về, người xích lô đẩy những thùng bia xuống đường. Cứ tự nhiên, Nguyên Hồng ra ghé vai vác thùng bia vào. Bà hàng bia béo phục phịch, cũng cứ tự nhiên đứng nhìn, không cười không cảm ơn ông khách tốt bụng. Hì hục vác cả bốn thùng, lại còn cẩn thận kê một thùng lên bậc cửa, đặt vào chỗ cho bà ấy mở chốt rót cốc bia đầu tiên.


Chẳng bao lâu, mỗi lần xe bia đến, thấy chúng tôi, người xích lô đã quen mặt, lại gọi to vào:


- Ông khách ra đỡ một tay nào.


Thế là Nguyên Hồng lại ra khiêng thùng bia tận xe. Người xích lô khỏi phải đạp thùng lăn xuống hè. Sau đó, người xích lô và chúng tôi uống những cốc bia mới nhất vừa rót trong thùng ra, sảng khoái.


Tất nhiên, bà hàng bia người đẫy đà ở cái phố khuất nẻo nọ không bao giờ biết bạn tôi là ông nhà văn. Cũng như năm trước, người đi đường được tiêm phát thuốc ngừa sốt rét và bao nhiêu người khác nữa, đâu biết cái ông dễ tính ấy là ai. Bà hàng bia nghĩ đấy cũng là bác xích lô, hay bác xã viên hợp tác xã nghề mộc, nghề đan lát ở quanh đấy ra uống bia. Có lẽ Nguyên Hồng cũng nghĩ về mình chẳng khác bà hàng bia. Nghề văn, một nghề lương thiện như mọi nghề trong xã hội, có gì mà phải nói.


Tạ Quốc Chương có một bài đăng trên báo An ninh thế giới, số ra tháng 2-2009, kể chuyện đi mua rượu với Nguyên Hồng:


Vào mùa vịt cuối năm 1970, tôi từ biển về, sau khi đã hoàn thành chiến dịch vận tải mang tên VT5, một chiến dịch lớn của đoàn tàu chi viện cho chiến trường. Vượt qua ngã năm, tôi đến thăm anh Vũ Trường Sơn - tác giả tiểu thuyết “Nhận biển” - anh cũng là người động viên giúp đỡ tôi nhiều mỗi khi tôi mang thơ biển về để anh góp ý.


Ở nhà anh, tôi được gặp hai ông bà già, một - dáng cao gầy lịch lãm và một như lão nông, chỉ có đôi mắt và chòm râu, nụ cười ẩn giấu nhiều điều mà khi đó tôi chưa hiểu được. Anh Vũ Trường Sơn giới thiệu và tôi sung sướng được biết đó là nhà văn Nguyên Hồng và nhà thơ Lê Đại Thanh. Anh Sơn vui vẻ tiếp:


- Giới thiệu với hai anh, thằng này là thằng Chương thủy thủ đoàn tàu Giải Phóng, nhóc con thế mà cũng máy trưởng một con tàu, lại còn học đòi làm thơ nữa.


Vỗ vai tôi, anh nói:


- Thôi nhân có anh Nguyên Hồng ở rừng về và anh Lê Đại Thanh cho phép chú mày ngồi hầu rượu.


Nhà văn Nguyên Hồng nhìn tôi:


- Mạch lô[1] đấy ư? Bọ nước đấy ư? Làm thơ nữa à, tốt. Giọng nói của ông độ lượng và ấm áp.


Tôi lúng túng không biết đáp lại thế nào ngoài tiếng “dạ”.


Chị Mão, vợ nhà văn Vũ Trường Sơn, bưng chiếc mâm lên, đặt xuống chiếu, trên mâm có hai đĩa: một đĩa thịt, một đĩa cổ cánh vịt, ít rau thơm và bốn bát tiết canh. Anh Sơn nói với mọi người:


- Một con vịt mà không đánh được bốn bát tiết canh là xoàng, là phí vịt. Thôi, mời hai anh. Chú mày xuống bếp mang nước chấm lên, nhớ xem có đủ chanh, ớt, tỏi không nhé.


Khi đã ngồi quanh mâm, trên một chiếc chiếu cũ, trải trên nền đất, anh Sơn lôi ra một chai rượu Đồng Tháp, chắc đã để lâu. Tôi khép nép rụt rè cầm chén rượu, chủ yếu là lắng nghe chuyện người lớn. Nhà thơ Lê Đại Thanh đọc một bài thơ dài, đến nay tôi còn nhớ bốn câu, tôi thích:


Chết, là về với tinh thể sao trời


Trả trái đất những gì vay mượn trước


Chào mừng khách bộ hành tuổi xanh xuôi ngược


Tôi xuống ga đời, trả về quê hương!


Tôi thấy nhà văn Nguyên Hồng nhấp từng ngụm nhỏ là linh cảm thấy rằng người không “khoái khẩu”. Bỗng cụ đập mạnh vào lưng tôi:


- Ăn đi chứ! Thủy thủ là phải ăn sóng nói gió, đọc nghe thơ biển xem có đáng sai việc không?


Anh Vũ Trường Sơn và nhà thơ Lê Đại Thanh cũng động viên, tôi bèn đọc một câu:


Đường-chân-trời vạch suốt đời người thủy thủ.


- Có thế thôi à! - Nhà văn hỏi.


- Dạ! Có thế thôi ạ.


- Ý hay, được, đọc tiếp bài khác xem nào? Mạnh dạn lên, sóng gió ngang tàng đâu hết rồi?


Tôi liền đọc bài “Mưa biển”:


Từ độ xa Người


Mấy lần mưa biển


Ngọn đèn đong đưa


Vàng nơi thành phố


Mưa đằm thương nhớ


Ào ào xé nát riêng tư


Ngực trần biển mở


Rộng đến sững sờ…


Bỗng nhiên nhà văn Nguyên Hồng đứng dậy, bảo tôi:


- Thằng này thích, thơ được, cho phép được đi mua rượu với bố.


Cũng cùng nội dung câu chuyện trên, lại kể tỉ mỉ hơn:


Nhà văn Nguyên Hồng rất sành chọn rượu. Với ông, mồi nhắm không quan trọng mà rượu ngon mới quan trọng. Chả có thế, mấy năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước, khi còn phụ trách lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ ở Quảng Bá (Quảng An, Hà Nội), lần ấy, chừng đã 10 giờ đêm, nhà văn Nguyễn Đình Thi đến phòng Nguyên Hồng trao đổi công việc của lớp, khi đẩy cửa vào nhà thì bắt gặp nhà văn Nguyên Hồng đang một mình nhắm rượu với… cơm nguội.


Còn về chọn rượu thì nhà văn Nguyên Hồng rất kỹ tính và cực kỳ giỏi. Về chuyện này, anh Tạ Quốc Chương, một cán bộ thủy thủ Hải Phòng kể lại như câu chuyện vừa kể trên: Khoảng cuối năm 1970, Tạ Quốc Chương mới tập làm thơ đến gặp nhà thơ Lê Đại Thanh, lúc đó có cả nhà văn Nguyên Hồng. Sau khi nghe nhà thơ Lê Đại Thanh giới thiệu Tạ Quốc Chương đọc một bài thơ, nhà văn Nguyên Hồng đứng dậy bảo Tạ Quốc Chương:


- Thằng này thích, thơ được, cho phép được đi mua rượu với bố. Cái anh Đồng Tháp này (Rượu Đồng Tháp) ngọt quá, không hợp.


Nói rồi nhà văn Nguyên Hồng sờ vào túi áo ngực nói:


- À, mà còn “bạc vụn” đây chứ!


Dứt lời, nhà văn Nguyên Hồng cầm tay kéo Tạ Quốc Chương ra phố. Mới đầu, Tạ Quốc Chương tưởng đi cùng nhà văn Nguyên Hồng cứ gặp quán rượu là mua. Nhưng mà không, mỗi khi Tạ Quốc Chương chạy trước vào một số quán rượu cầm chai đưa cho Nguyên Hồng, nhà văn đều mở nút lắc nhẹ, ngửi qua rồi lắc đầu đi ngay. Đến ba bốn quán ông chỉ lắc đầu như vậy. Đến quán rượu ở phố Ga - ngã tư Cầu Đất, thấy một ngôi nhà lợp giấy dầu, ông nói với chủ quán:


- Cho tôi nửa lít rượu!


Tạ Quốc Chương thưa luôn:


- Mua cả lít đi bố, con còn tiền mà.


Bà chủ vừa đong rượu vừa nói:


- Vẫn rượu Trương Xá (Hưng Yên) đấy bác ạ! Nhà em không bán loại khác.


Nghe nói đến rượu Trương Xá, nhà văn Nguyên Hồng thận trọng mở nút mượn một cái chén, rót ra lưng chén, một mùi thơm tỏa ra, mắt ông sáng lên, râu ông rung rung. Ông bảo Tạ Quốc Chương:


- Đây mới là rượu thật con ạ, rượu Trương Xá này uống giọt nào ngấm giọt ấy. Rượu cũng như văn chương, không phải thứ bò đàn rơm mục. Rượu phải thật rượu, văn chương cũng phải thật là văn chương.


Dứt lời khen, nhà văn Nguyên Hồng hào hứng hẳn lên, tuyên bố:


- Bây giờ thế này nhé! Ta làm một cuộc rước rượu về nhà, mà rước phải có xe, có lọng chứ! Văn chương thật mới đáng rước, rượu thật mới đáng rước, chứ thân xác hai bố con mình là cái quái gì. Nào ta làm một cuốc xe rước cái tinh túy của trời đất này về.


Tiện có chiếc xe xích lô gần đấy, nhà văn Nguyên Hồng vẫy chủ xe tới. Thế là hai thầy trò cùng ngồi trên xe xích lô “rước” rượu Trương Xá về nhà.


Ngồi trên xe, nhà thơ trẻ Tạ Quốc Chương xuýt xoa: “Thế mới biết rượu Trương Xá có giá thật”.


Theo Lê Hồng Bảo Uyên, báo Đắc Lắc điện tử.


Ngày nhà văn Nguyên Hồng đang viết bộ tiểu thuyết ba tập Núi rừng Yên Thế, ông sinh hoạt ở Hội văn nghệ Hà Bắc. Hôm ấy, nhà văn xuềnh xoàng trong bộ quần áo ta may bằng vải nâu đến Hội đọc lại bản đánh máy tập Thù nhà nợ nước trong bộ tiểu thuyết này. Cầm bản đánh máy, ông ngồi luôn tại chỗ, đọc một mạch chương đầu. Ông ngẩng mặt, ngồi bần thần, vẻ không vừa ý. Gấp lại những trang bản thảo, ông lại nói tiếp: “Các bản đánh máy mình phải tự tay sửa lỗi. Nghề này mà làm ăn ẩu thì thật chẳng ra làm sao”.


Có vẻ khắt khe vậy nhưng nhà văn Nguyên Hồng sống rất chan hòa với mọi người. Khi tác phẩm in ra, ông ngồi một mình trong phòng, nâng niu cuốn sách trong tay ngắm nghía. Sau đó, ông đi gặp từng người. Đem theo chai rượu, ông khao họa sĩ vẽ bìa, khao người sửa bản in. Chén rượu đầy nhất ông dành khao người đánh máy chữ.


Ông thân mật, tình cảm:


- Mọi sự cháu bỏ qua cho bác. Tính bác nó vốn vậy rồi mà!


Mấy hôm sau, trong túi có tiền, nhà văn Nguyên Hồng lại đến trụ sở Hội Văn nghệ Hà Bắc. Gặp mấy nhà văn, nhà thơ trẻ ngồi uống nước suông, tán gẫu, ông kéo mọi người đi và nói:


- Hôm nay bố có tiền, sẽ khao các cậu một chầu bánh mì patê “thả phanh”. Nói rồi, ông đưa các nhà văn, nhà thơ trẻ ra chợ Thương khao bữa bánh mì đến căng bụng. - Theo Bảo Uyên - Cao Đàm.


Có thời gian nhà văn Nguyên Hồng được Hội Nhà văn phân công phụ trách lớp bồi dưỡng các nhà văn trẻ ở Quảng Bá. Anh em viết trẻ gọi đùa nhà văn là ông đốc Hồng. Nhà văn được bố trí một phòng riêng trong khu trại viết. Đã thành nếp, cứ 10 giờ tối là nhà văn không tiếp khách, để có thời giờ viết lách hoặc làm việc riêng.


Theo lời giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, chính bà Nguyên Hồng đã từng nói về nhà văn Nguyên Hồng như sau:


- Ông nhà tôi không bao giờ sướng, mà suốt đời khổ. Khi ông ấy uống rượu, thường trải chiếu ngồi bệt xuống đất, trông giống những anh phu xe, sau buổi chạy xe vất vả, ngồi ngay xuống bờ hè mà uống rượu.


Trong sách Con chữ soi bóng đời, nhà thơ Trần Thị Thắng viết:


Tôi chỉ được biết bác Nguyên Hồng vào ngày 15-9-1970 khi tôi và Đỗ Thị Thanh (tức nhà thơ Hà Phương), Vũ Thị Hồng (bút danh Bắc Hà) bước vào Quảng Bá tham gia lớp học những người viết văn trẻ khóa bốn. Bác Nguyên Hồng gọi:


- Tiếu ơi! Ba đứa con gái của lớp đã đến. Chúng đẹp như tiên sa, mau pha nước chanh cho chúng đi!


Tôi nghe nhà văn gọi mà ngượng, nhưng nhìn lại Hồng và Thanh, hai bạn gái lớp tôi đẹp đấy chứ. Gương mặt người nào cũng hồng hào, khỏe mạnh, niềm vui đang trào lên trên những gương mặt trẻ trung. Ngày mai, cả tuổi trẻ và sức lực kia sẽ xung trận, vậy mà họ vui vẻ không thoái thác nhiệm vụ. Bác Tiếu gái bê ra ba cốc nước chanh, hương vị thơm ngon của cốc nước ngày ấy cứ thi thoảng trở lại trong tôi khi gặp lại những trận sốt sét ở Trường Sơn. Một ông già mặc áo nâu cổ lá sen bước tới đón chúng tôi như đón đứa con ruột sắp đi vào chiến trận:


- Các cháu bằng xương bằng thịt đây rồi, bác đọc danh sách thấy có mấy cháu nữ mà bác thương quá!


Nước mắt ông chảy trên gương mặt già, làm chúng tôi đứng lặng người, chân dung nhà văn Nguyên Hồng hiện ra là vậy.


Vào lớp học, ông chăm chút cho chúng tôi từng bữa ăn, giấc ngủ, từng giờ lên lớp. Sáng sáng, ông đi từng phòng gõ cửa:


- Hồng ơi! Thanh ơi! Dậy tập thể dục đi nào!


Người bạn cùng lớp Nguyễn Hồng hô tập thể dục buổi sáng với chất giọng Nghệ An dõng dạc và vang xa. Sau này, Nguyễn Hồng hy sinh trên chiến trường khu Năm năm 1973. Nhà văn Nguyên Hồng với ống quần lá tọa, râu tóc điểm bạc cùng tập với chúng tôi. Tập xong, chúng tôi đi ăn sáng, bữa thì bánh bao nhân thịt cùng cốc sữa, bữa ăn xôi với thịt kho tàu, ít dưa chuột dầm dấm tỏi. Còn bác Nguyên Hồng của chúng tôi ngồi uống rượu suông, hoặc hôm nào sang thì có vài củ lạc rang. Tôi cũng như các học viên khác, nếu bưng lên chút đồ nhắm rượu, hoặc chiếc bánh bao nóng, ông lập cập bê xuống: Các cháu phải ăn nhiều vào, cả lớp tích cực ăn cho bác Vượng, bác Tiếu, bác Thủy vui, mai này các cháu còn đi đánh giặc!


Nguyên Hồng vốn là người thích uống rượu, nhưng Nguyễn Tuân mỗi lần gặp Nguyên Hồng thì muốn đãi bia, bởi nhà văn lý sự:


- Đãi ông bằng rượu có khi rượu Hà Nội không ngon bằng rượu Yên Thế, không ngon bằng rượu bà Nguyên Hồng nấu, nên tôi đãi ông bằng bia Hà Nội.


Trong những người bạn rượu của Nguyên Hồng có Tô Hoài, Nguyễn Văn Bổng, Kim Lân, Nguyễn Tuân, nhưng có một họa sĩ thích uống rượu với Nguyên Hồng nhất - đó là Nguyễn Sáng quê Bến Tre. Họ có thể uống rượu và nói chuyện rất lâu với nhau về ý định sáng tác, có khi tàn rượu thì nắng đã đổ xiên vào giữa nhà từ lúc nào, bởi Nguyễn Sáng rất ham đọc văn, và Nguyên Hồng rất yêu hội họa.


Nguyên Hồng là người đàn ông rất dễ xúc động. Nhất là khi uống rượu, ông nói chuyện rất to và hào hứng, cười sang sảng, nhưng cũng rất dễ khóc. Ai tiếp xúc với ông đều thấy như thế. Khóc khi nhắc tới nỗi khổ của con người trong xã hội cũ. Khóc khi nghĩ tới công ơn cách mạng. Khóc khi ôn lại những kỷ niệm thắm thiết của mình với bạn bè… Khóc khi nói đến cái chết của nhân vật mình trong tác phẩm. Nhà báo Phạm Nhật Linh kể:


Phàm là nhà văn thường hay đa sầu đa cảm. Song đa sầu đa cảm đến độ chỉ chút xíu là… sa nước mắt như nhà văn Nguyên Hồng - “cha đẻ” của các nhân vật Tám Bính, Năm Sài Gòn - kể cũng là chuyện… lạ. Lạ hơn nữa là không chỉ vui khóc, buồn khóc, mà có những tình huống ngỡ như cũng bình thường, vậy nhưng nhà văn vẫn… khóc. Có lẽ trong ông còn đọng nhiều trắc ẩn mà không phải ai cũng thấu hiểu được? Chỉ biết là, nhiều bạn bè, đồng nghiệp mỗi lần hồi cố về Nguyên Hồng đều không quên ghi lại đặc tính này của ông.


Trong nhật ký ghi ngày 19-8-1946 của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có đoạn: “Cùng Thi và Nguyên Hồng xem phố xá. Tối, tiệc ở Văn hóa Cứu quốc. Vui vẻ. Ngâm thơ, Nguyên Hồng nâng cốc với Thi, nghẹn ngào: Đời nhiều việc quá, thấy không viết được như mình muốn, viết khó quá. Và ứa nước mắt khóc”.


Trong hồi ký “Nhớ lại một thời” (NXB Hội Nhà văn, 2000) nhà thơ Tố Hữu đã kể lại lần gặp Nguyên Hồng ở ấp Đồi Cháy (Bắc Giang) những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Ông còn nhớ rõ khi ông giới thiệu Nguyên Hồng với tư cách tác giả những văn phẩm sáng giá như “Bỉ vỏ” và “Những ngày thơ ấu”, đồng thời gọi Nguyên Hồng là “danh nhân” thì ngay lập tức, Nguyên Hồng chỉ vào ông, hét tướng: “Thế còn anh nhà thơ này thì sao?” và xúc động ngâm to, giọng rung rung 4 câu thơ trong bài “Tâm tư trong tù” của Tố Hữu, vừa ngâm vừa “đỏ kè cả mắt”. Ông khóc!


Nữ sĩ Anh Thơ trong hồi ký “Tiếng chim tu hú” (NXB Văn học, 1996) cũng kể lại kỷ niệm một lần bà đọc thơ cho Nguyên Hồng nghe. Khi thấy trên mặt nhà văn nước mắt chứa chan, bà ngỡ là ông thương cảm cho nhân vật nữ được nhắc tới trong bài thơ của mình, nên đã giải thích thêm: “Chị ấy bây giờ lên huyện, vui lắm rồi”. Nguyên Hồng không để ý đến câu nói này, ông mếu máo khuyên nhủ tác giả: “Tôi chỉ sợ, sợ chị loạn trí… Sốt rét ác tính là ghê gớm lắm. À, mà tôi… tôi phải xin chị cho sửa câu cuối cùng”. Thì ra ông khóc không phải vì lý do như tác giả nghĩ.


Nhà văn Tô Hoài, trong bài chân dung văn học viết về Nguyên Hồng in ở cuốn “Những gương mặt” (NXB Hội Nhà văn, 1995) cũng kể lại chuyện… Nguyên Hồng khóc. Có gì đâu, một lần ông cùng Nguyên Hồng dừng lại bên hồ Hoàn Kiếm, chỗ gần ngõ Bảo Khánh. Ông giới thiệu với Nguyên Hồng: “Nhà chị Vân Đài ngày trước ở đầu phố này trên Hàng Trống. Chị bảo, khi còn nhỏ, Bờ Hồ còn ăn sâu vào tận đây. Nhiều cầu ao các nhà trong phố bắc ra ngoài hồ tắm giặt, vo gạo, rửa rau”. Chỉ mấy câu vậy thôi mà nghe xong, “Nguyên Hồng bỗng sa nước mắt”.


Ôn lại những kỷ niệm văn nghệ thời kháng chiến, nhà thơ Hoàng Cầm cho biết: Chính Nguyên Hồng là người sốt sắng gửi đăng báo bài thơ “Bên kia sông Đuống” trứ danh của ông. Ông kể: Thoạt nghe ông cất giọng oanh vàng đọc 2 câu mở đầu bài thơ: Em ơi, buồn làm chi/ Anh đưa em về bên kia sông Đuống… Nguyên Hồng đã bưng mặt khóc nức nở. Có lẽ không độc giả nào “nhạy” như Nguyên Hồng. Hẳn bài thơ đã gợi trong ông một kỷ niệm rất đỗi buồn thương?


So với Nguyên Hồng, nhà thơ Trần Nhuận Minh thuộc thế hệ hậu sinh. Vậy nên Trần Nhuận Minh đã rất đỗi bất ngờ (và lo ngại) khi được chứng kiến bậc cha chú này khóc tức tưởi như một… cậu bé. Trong bài “Nguyên Hồng mà tôi đã biết” (Sách “Nguyên Hồng: con người, giai thoại” - NXB Giáo dục, 1998) ông kể: Một lần ông cùng người thầy của mình ở trường sư phạm vinh hạnh mời được nhà văn Nguyên Hồng vào một quán phở. Trước khi đụng đũa, người thầy này vừa ngắm nghía Nguyên Hồng vừa xúc động nói: “Em đọc bác Nguyên Hồng đã nhiều, có một số đoạn em thích lắm”. Mới chỉ nghe có vậy, Nguyên Hồng đã bỏ ngay chiếc thìa mà ông mang theo vào cặp lồng, tay dang ra như định phân bua điều gì rồi bất ngờ… bật khóc. Ông khóc tức tưởi, khóc hu hu: “Trời ơi, tôi viết đến quằn cả bút, viết đến quằn cả tóc, viết đến cạn cả máu, mà chỉ có một số đoạn anh thích thôi à?”. Người thầy nọ nghe vậy thì hốt hoảng, biết mình đã… lỡ lời, vội rối rít xin lỗi nhà văn. Còn Nguyên Hồng thì nước mắt lã chã, chảy ướt cả râu.


Về đặc tính này của Nguyên Hồng, nhà văn Kim Lân đã đúc kết bằng mấy dòng vui hóm: “Chỉ một xúc động nhỏ, Nguyên Hồng đã chảy nước mắt khóc rồi. Biết tính anh, nhiều lần anh bắt đầu sụt sịt, bạn bè ngồi quanh đã đưa mắt nhìn nhau tủm tỉm cười. Nguyên Hồng cũng biết thế, nhưng cơn khóc kéo đến không nhịn được. Đã có lần anh phải xin phép mọi người để khóc. Xin phép các anh cho tôi khóc một tí. Thế là nước mắt vắn, nước mắt dài tuôn ra, anh khóc”.


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info







[1] Mạch lô. Đọc trại âm tiếng Pháp: matelot = thủy thủ (Chú thích của Triệu Xuân).




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
Nói có sách (4) - Vũ Bằng 06.06.2017
Người Tây bái phục cách chửi nhau của người Việt! - Nguyễn Công Tiễu 06.06.2017
Nói có sách (3) - Vũ Bằng 06.06.2017
xem thêm »