tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20773835
Những bài báo
05.02.2017
Tư liệu sưu tầm
Về một số tướng lĩnh quân đội Nhân dân Việt Nam

Tướng ĐẶNG KIM GIANG


Thiếu tướng ĐẶNG KIM GIANG (1910-1983) nguyên là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Nông trường. Ông là đại biểu Quốc hội khoá I, khoá II.


ĐẶNG KIM GIANG tên thật là Đặng Rao, quê tại xã Minh Hưng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.


Năm 1928, ông gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1930 trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: bí thư chi bộ xã, bí thư đảng bộ tổng, Tỉnh ủy viên, Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc kỳ, hoạt động gây dựng phong trào cách mạng tỉnh Thái Bình.


Ông bị thực dân Pháp bắt kết án 12 năm tù giam, chịu đựng đòn tra bảo vệ cơ sở và bị giam tại các nhà lao: Hoả Lò, Hoà Bình, Sơn La. Ông vượt ngục Sơn La, tiếp tục hoạt động xây dựng phong trào cách mạng tỉnh Bắc Ninh.


Trong Cách mạng tháng Tám 1945, ông cùng với ông Đỗ Mười, Lê Trọng Tấn chỉ đạo khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Hà Đông. Sau đó ông trở thành Chủ tịch Ủy ban HCKC tỉnh Hà Đông, Phó Bí thư Tỉnh uỷ.


Trong kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt đảm nhiệm các nhiệm vụ sau: Ủy viên Uỷ ban Hành chính Kháng chiến Khu 2, Phó bí thư khu ủy Khu 2, Thường vụ khu ủy, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu 3, Phó chủ tịch Uỷ ban Hành chính Kháng chiến Liên khu 3.


Sau đó ông chuyển sang quân đội. Năm 1951 ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, tham gia các chiến dịch Thượng Lào, Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Hà Nam Ninh và là Chủ nhiệm cung cấp, một trong bốn thành viên của Bộ chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận Điện Biên, chịu trách nhiệm đảm bảo quân lương, súng đạn cho chiến dịch Điện Biên Phủ.


Năm 1954, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Trung ương.


Ông là 1 trong 4 nhân vật chủ yếu (tướng Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Lê Liêm) chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị và Bác Hồ về chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là người có công lớn trong việc chỉ đạo, vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm đảm bảo cho bộ đội trong điều kiện đường xá, mưa bom hết sức khó khăn..


Năm 1958, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1959 - 1960 ông làm Quyền Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.


Năm 1960 ông được cử làm Ủy viên Ủy ban Kế hoạch Ngân sách của Quốc hội khóa 2.


Năm 1960 Chính phủ tách Bộ Nông lâm thành 4 cơ quan là Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông trường, Bộ Nông nghiệp. Ông về Bộ Nông trường làm Bí thư Đảng đoàn và Thứ trưởng. Ông tham gia đấu tranh cho đổi mới quản lý, giao đất tăng gia, giao nhà ở cho nông trường viên, hợp tác đầu tư với các nước xã hội chủ nghĩa, cho các nông trường liên doanh với các nông trường nước bạn. Tất cả những chủ trương cách tân đó đều bị coi là "xét lại", "đi theo con đường tư bản chủ nghĩa"


Vì những liên quan trong vụ án chính trị năm1967, ông bị tước mọi chức vụ, đảng tịch, quân tịch và bị bắt giam 7 năm tại nhà tù Hỏa Lò Hà Nội và quản thúc 7 năm sau đó tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc (nay là huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh).


Về già, ước mong cuối cùng của Ông trước lúc chết là được đeo trên ngực chiếc huy hiệu kỉ niệm "chiến sĩ Điện Biên."


Ông mất ngày 16 tháng 5 năm 1983. An táng tại Nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội.


Do có nhiều cống hiến trong quá trình cách mạng, ông được tặng thưởng: Huân chương Chiến thắng hạng nhất. Huân chương Kháng chiến.


*Theo bác Trần Kháng Chiến (con trai cố Thiếu tướng Trần Tử Bình):


" Ông Đặng Kim Giang cùng cha tôi tham gia Xứ uỷ, ông phụ trách tỉnh Hà Đông. Những ngày tháng 8 năm 1945, cha tôi và ông luôn bên nhau để bàn bạc, ra những quyết định kịp thời cho cuộc Tổng khởi nghĩa tại Hà Đông vào ngày 20 tháng 8. Trong kháng chiến ông là Phó chủ nhiêm Tổng cục Cung cấp. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ là Chủ nhiệm Hậu cần, ông luôn có mặt trên mọi nẻo đường để kiểm tra, đốc thúc việc bảo đảm lương thực, đạn dược cho bộ đội. Năm 1958 ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Cha tôi luôn khen ông Giang là người ngay thẳng, bộc trực, rất tận tâm trách nhiệm. Khi cha tôi đi làm Đại sứ thì ông về phụ trách Bộ Nông trường...."


" ... Nhân kỷ niệm 10 năm Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 1949-1959, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Lưu Chủ tịch đã mời Hồ Chủ tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp sang dự lễ Quốc khánh. Thiếu tướng Đặng Kim Giang được vinh dự tháp tùng. Cha tôi là Đại sứ nên cũng có mặt tại sân bay trong buổi lễ đón đoàn..."


26 You, Nguyễn Ngọc Chiến, Gia Dien Hoang and 23 others


hang Chien Tran Thang 10.1959 Ho Chu Tich dan dau Doan Dai bieu Viet Nam sang Trung Quốc du Ky Niem 10 nam Thanh lap nuoc CHND Trung Hoa. Thieu tuong Dang Kim Giang nhan nhiem vu Sy Quan tuy tung cua Ho Chu Tich.


Khang Chien Tran Thieu tuong Dang Kim Giang Sy Quan tuy tung Chu Tich nuoc dung ben phai Ho Chu Tich , Ben trai Ho Chu Tich la Dai su Tran Tu Binh. Chu Tich TQ Luu Thieu Ky , cac Pho Chu Tich Tong Khanh Linh, Dong Tat Vu don Ho Chu Tich tai san bay Bac Kinh.


Ngan Kim Em rất cám ơn bác Trần Kháng Chiến (con trai cố Thiếu tướng Trần Tử Bình, nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền nước CHND Trung Hoa), đã chia sẻ một bức ảnh quí về chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân quốc khánh nước CHND Trung Hoa năm 1959. 


Tướng TRẦN VĂN TRÀ.


Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ, tên thật là Nguyễn Chấn, sinh năm 1919, quê xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, sau vào cư ngụ tại Sài Gòn. Ông còn có bí danh là Tư Chi, Tư Nguyễn, Ba Trà. Xuất thân trong một gia đình làm nghề nông.


Năm 1936, ông tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ Huế khi còn đang học tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế; năm 1938 ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông từng bị thực dân Pháp bắt giam hai lần.


Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Ủy viên Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ. Khi chiến tranh Đông Dương nổ ra tại Nam Bộ, ông tham gia công tác quân sự, giữ chức Chi đội trưởng Chi đội (tương đương trung đoàn) 14


Năm 1948, Trần Văn Trà là Tư lệnh khu 8, xứ ủy viên Nam Bộ được dẫn đầu đoàn đại biểu các chiến sĩ miền Nam từ Đồng Tháp Mười vượt đường rừng núi ra tận chiến khu Việt Bắc thăm Bác Hồ, được Bác trao thanh gươm báu để đồng bào Nam Bộ diệt thù và căn dặn về nói với đồng bào rằng: "Lòng Bác, lòng Đảng lúc nào cũng bên cạnh đồng bào. Chúng ta đồng lòng vì nước, nhất định chúng ta thắng!".


Năm 1949 - 1950 là Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Tư lệnh Khu 7; Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ (1951-1954).


Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1955-1962), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958), Giám đốc Học viện quân chính và Chánh án Tòa án quân sự Trung ương (1961).


Từ năm 1963, ông được cử vào Nam làm Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1963-1967) với quân hàm Trung tướng, được Bác Hồ mời cơm thân mật và căn dặn:


- "...Chú đã sang học bên Liên Xô... Cần phải nắm được khoa học quân sự của phe ta... Nhưng cần phải nắm chắc và kết hợp cách đánh giặc của ông cha ta nữa. Chú có biết vì sao nhà Trần ba lần đại thắng quân Nguyên mạnh hơn ta gấp bội không? Đó là lòng dân, sức dân và đại đoàn kết. Đó là chỉ huy chiến sĩ yêu nhau như con một nhà...".


Năm 1968 - 1972: ông là Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Phó Bí thư Quân ủy Quân giải phóng Miền Nam.


Sau Hiệp định Paris 1973, ông làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hiệp đình chiến bốn bên ở Sài Gòn.


Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7.


Từ năm 1978 đến năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.


Năm 1982, ông cho in cuốn " Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm" gồm nhiều tập. Sách mới in đến tập 5 thì bị thu hồi do quan điểm bị coi là không chính thống, nên các tập sau không được xuất bản.


Từ năm 1992 ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.


Ông là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (dự khuyết khóa 3, chính thức khóa 4). Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1959, Thượng tướng năm 1974.


Ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng: 2 Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công (hạng nhất, hạng ba), Huân chương Chiến thắng hạng nhất.


Ông qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông đã cầm tay vợ con dặn dò:


- " Nếu sau này các con có làm được kinh tế khá lên thì hãy giúp những gia đình có công với cách mạng, giúp được phần nào hay phần đó".


Ba người con của Thượng tướng Trần Văn Trà nay đều đã thành đạt, một người là Thạc sĩ, một người là Tiến sĩ, một người là doanh nhân thành đạt. Nhớ lời di nguyện mà cha để lại, nên ngay khi kinh tế bắt đầu lớn mạnh, có của ăn của để, các con của ông đã cùng chung sức đóng góp để xây nhà tình nghĩa cho những gia đình có công với cách mạng. Tính từ năm 2004 đến giờ, gia đình ông đã xây được gần 200 căn nhà tình nghĩa, mỗi căn trị giá 30 triệu đồng. Con trai út của ông bà là doanh nhân Nguyễn Việt Chi kể rằng, có lần khi bàn giao căn nhà cho một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, khi anh kể về ý nguyện của Thượng tướng trước lúc mất, nhiều cựu chiến binh đã ứa nước mắt vì xúc động trước tấm lòng cao cả của ông.


Tướng NGUYỄN VĂN VỊNH


Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh (1918-1978) là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng là Trưởng phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế thi hành hiệp định Geneve tại Sài Gòn, Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ - Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương, Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III.


Trung tướng NGUYỄN VĂN VỊNH sinh ngày 21 tháng 2 năm 1918, quê ở làng Đô Quan, xã Nam Quan (nay là làng Đô Quan,xã Nam Lợi), huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Mồ côi cha từ nhỏ, ông được nuôi lớn bằng sự tần tảo của mẹ (làng Đô Quan nổi tiếng với nghề đan bao tải bằng cỏ lác). Ông cùng với nhà thơ Đoàn Văn Cừ là đôi bạn chí thân từ nhỏ.


Năm 1936, ông tham gia phong trào học sinh yêu nước ở Nam Trực, bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam năm 1937. Sau khi ra tù năm 1940, ông về Hải Phòng sau đó đáp tàu vào Nam Kỳ. Năm 1941, ông đăng lính khố đỏ, làm đến chức đội (tương đương Hạ sĩ). Là một người có tư tưởng yêu nước, tiến bộ, thích thơ văn, ông được các ông Hoàng Văn Thụ (khi đó là trưởng ban binh vận) và ông Trường Chinh trực tiếp vận động tham gia Hội Quân nhân Cứu quốc (một tổ chức con của Mặt trận Việt Minh) và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1942.


Năm 1943, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam lần thứ hai kết án 20 năm tù khổ sai và đày ra Côn Đảo.


Cách mạng tháng 8 thành công, ông được đón về đất liền tiếp tục hoạt động tại Nam Bộ. Từ đó, các đồng chí miền Nam gọi tên thân mật của ông là Hai Vịnh.


Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông chỉ huy đội du kích rồi được bầu làm chính trị viên, sau được phân công giữ chức Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Mỹ Tho.


Từ năm 1946 đến năm 1950, ông lần lượt là Chính ủy Bộ Tư lệnh Chiến khu 8 gồm 7 tỉnh: Tân An (Long An hiện nay), Gò Công, Mỹ Tho (Tiền Giang), Bến Tre, Sa Đéc (Đồng Tháp), Vĩnh Long và Trà Vinh; Bí thư Khu ủy, Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, tham gia chỉ đạo việc xây dựng các căn cứ kháng chiến (trong đó có Chiến khu Đồng Tháp Mười), các cơ sở địch hậu, các đội du kích, trạm quân y, tổ chức hậu cần và hoạch địch chiến lược chiến thuật.


Ông cũng là một trong những người đỡ đầu cho việc hình thành nền điện ảnh khu 8, được xem là cội nguồn của điện ảnh cách mạng Việt Nam.


Năm 1950, ông là Chính ủy Bộ tư lệnh Phân khu miền Tây Nam Bộ.


Đến năm 1952, ông được chuyển sang làm Phó tư lệnh Phân khu miền Đông Nam Bộ.


Năm 1954, ông tập kết ra Bắc.


Sau khi tập kết ra Bắc, ông lại được cử vào Nam để giữ chức vụ Trưởng Phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế thi hành Hiệp định Geneve tại Sài Gòn.


Đầu năm 1957, ông được Trung ương điều ra Bắc giữ chức Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.


Ngày 16 tháng 10 năm đó, ông được chỉ định giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ - Bộ Quốc phòng, Ủy viên Tổng Quân ủy Trung ương, đảm nhiệm quyền Chủ nhiệm thay cho ông Nguyễn Chánh, Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ, vừa mất.


Ngày 22 tháng 4 năm 1958, ông chính thức được cử làm Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ.


Ngày 20 tháng 1 năm 1959, Tổng cục Cán bộ giải thể, chuyển thành Cục Cán bộ thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Tháng 8 năm 1959, ông được phong quân hàm Trung tướng.


Từ năm 1960, ông được cử làm Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa III. Trên cương vị của mình, ông là một trong những người đầu tiên đề xuất và chỉ đạo xây dựng đường Trường Sơn trên bộ và trên biển để chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam; chỉ đạo xây dựng công tác binh, địch vận từ 1960; đề xuất phát động du kích chiến tranh, nhân dân chiến tranh toàn diện và trường kỳ từ 1961; đề xuất chủ trương vừa đánh vừa đàm từ 1965…


Giữa năm 1967, ông được Trung ương cử bí mật vào Nam, thay tướng Nguyễn Chí Thanh vừa mất trước đó 10 ngày, để phổ biến kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân].


Tuy nhiên, vào năm 1969, do liên can đến việc bảo vệ một số người trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, ông bị kỷ luật và buộc thôi giữ các chức vụ, bị hạ quân hàm xuống Thiếu tướng. Tuy nhiên, ông vẫn bình tĩnh, đặt lợi ích của Đảng, cách mạng lên trên hết, vẫn một lòng một dạ trung thành với Đảng, động viên đồng chí của mình yên tâm công tác, chiến đấu nhanh chóng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Trung tướng Đồng Văn Cống đã nói về phản ứng của cấp trên mình khi đó:


"Anh em trong quân đội chúng tôi hoàn toàn không tán thành bản án kỷ luật quá nặng so với sai sót của anh. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói là thái độ chấp hành kỷ luật của anh, một đảng viên trung thành, một tướng lãnh, một cán bộ lãnh đạo gương mẫu-bấy giờ anh đang là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Khi anh em đề nghị anh khiếu nại bản án kỷ luật nặng nề, anh nói: "Chuyện đã như vậy rồi thì thôi. Anh em đừng bàn bạc xôn xao nữa, không hay. Hãy tập trung vào nhiệm vụ cấp bách hiện nay là đoàn kết chống Mỹ ở miền Nam!". (Phan Hoàng- Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam-1999)


Sau năm 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Những năm tháng cuối đời, ông bị bệnh hiểm nghèo và được Nhà nước Việt Nam đưa sang Cộng hòa Dân chủ Đức chữa bệnh và mất tại đây vào năm 1978.


Mãi đến đầu thập niên 2000, tướng Nguyễn Văn Vịnh mới được khôi phục danh dự, khởi đầu với việc xuất bản tập hồi ký chung của nhiều tác giả "Nguyễn Văn Vịnh – như anh còn sống"


Ngoài ra, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng: Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba, Huy hiệu "Thành đồng Tổ quốc"; đến năm 2008 ông mới được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Tuy nhiên, cho đến nay, ông vẫn chưa được khôi phục quân hàm Trung tướng.


Nguyễn Xuân Lộc Nếu NK viết về TT Hoàng Cầm thì chú ý điều này: văn hóa 3/10, bị thương tay phải không viết được, chuyển sang tay trái, chữ "gà bới" nên ông chỉ ra lệnh miệng. Nhưng, bù lại, suốt từ lúc làm trung đoàn trưởng Tây Bắc, đến 312, rồi vào nam sư trưởng sư9, ông toàn ra lệnh tại trận địa! Là vị tướng ra lệnh "miệng" tại công sự khói lửa thắng nhiều trận nhất trong các tướng lĩnh Việt nam (xem Hc-Cuộc chiến 10 ngàn ngày).


Giáo sư-Viện sỹ- Tướng TRẦN ĐẠI NGHĨA.


Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là một kỹ sư quân sự, một nhà khoa học lớn, cũng như một nhà quản lý khoa học kỹ thuật cấp cao, cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam.


Anh hùng lao động (1/5/1952- Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua đầu tiên), Giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên Cục trưởng Cục quân  giới (đầu tiên) (12/1946-5/1954), nguyên Cục trưởng Cục pháo binh (8/1949-11/1951), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần QĐNDVN (8/1966-1/1977). Ông được phong quân hàm Thiếu tướng ngay trong đợt phong quân hàm tướng năm 1948.


Ông còn giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ công nghiệp (9/1950-9/1960), Thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng (9/1960-2/1963), Phó Chủ tịch ủy ban kiến thiết nhà nước (2/1963-3/1972), Chủ nhiệm Ủy ban khoa học nhà nước (10/1965-8/1966), Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam (nay là Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia (1/1977-1/1983), Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các hội khoa học kĩ thuật Việt Nam (1983-1988). Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 2 và 3.


‘"Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa là một đại trí thức, mang một lòng nhiệt thành về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến’’ - (Chủ tịch Hồ Chí Minh)


‘’Ông Phật làm súng’’ (Đại tướng Tổng Tư lệnh, Võ Nguyên Giáp)


Thiếu tướng TRẦN ĐẠI NGHĨA, tên thật Phạm Quang Lễ , sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 trong một gia đình Công giáo nghèo tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Mồ côi cha lúc 6 tuổi, ông được mẹ và chị gái đã tần tảo nuôi dưỡng cho ăn học.


Năm 1926, Phạm Quang Lễ thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho, được nhận học bổng trong 4 năm học (1926 – 1930). Năm 1930, Phạm Quang Lễ thi đỗ vào Trường Petrus Ký (nay là Trường chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM) và được học bổng liên tục 3 năm liền. Bạn đồng học với Lễ tại trường có các học sinh Phạm Văn Thiện (tức Phạm Hùng), Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Tấn Ghi Trọng…là những học trò xuất sắc của khóa học.


Giữa 1933, Phạm Quang Lễ đã thi đỗ đầu hai bằng tú tài: Tú tài Việt và Tú tài Tây. Nhưng vì nhà nghèo, không có tiền đi Hà Nội để học tiếp, Phạm Quang Lễ quyết định đi làm giúp mẹ, giúp chị và nuôi chí vươn lên, chờ thời cơ. Sau 2 năm đi làm ở Tòa sứ Mỹ Tho, Phạm Quang Lễ gặp nhà báo Dương Quang Ngưu (1897-1938) - một Việt kiều Pháp yêu nước làm việc ở Tòa sứ Mỹ Tho. Dương Quang Ngưu biết Lễ có tư chất thông minh hiếm có đã vận động Hội Ái Hữu trường Chasseloup Laubat cấp một năm học bổng đi du học tại Paris. Học bổng này là của Hội Phụ huynh học sinh người Pháp và người Việt có quốc tịch Pháp mới được cấp.


Năm 1935, ông đi du học Pháp và tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học tại các trường: Đại học Bách khoa Paris (École Polytechnique), Đại học Mỏ (École nationale supérieure des mines de Paris), Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris. Sau đó ông ở lại Pháp làm việc tại Trường Quốc gia Hàng không và Vũ trụ (École nationale supérieure de l'aéronautique et de l'espace).


Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay Halle và Viện nghiên cứu vũ khí ở miền Trung nước Đức, sau đó về lại Pháp làm Kỹ sư trưởng ở "Hãng Nghiên cứu chế tạo máy bay Concord". Ông thông thạo 5 ngoại ngữ: Pháp, Đức, Anh, Nga, Trung Quốc.


Tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn đàm phán do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn qua Pháp thương thuyết với Bộ trưởng Thuộc địa Marius Moute. Phạm Quang Lễ nhờ ông Hoàng Xuân Mạn (em của GS Hoàng Xuân Hãn) giới thiệu với ông Phạm Văn Đồng trình bày ý nguyện hồi hương cứu quốc.


Được gặp Bác, Bác hỏi:


- Đời sống ở trong nước còn đang rất khó khăn, chú về nước có chịu nổi không?


Phạm Quang Lễ trả lời:


- Thưa, tôi chịu nổi.


Bác lại hỏi:


- Ở trong nước không có kỹ sư, công nhân về vũ khí, máy móc thiếu, liệu chú có làm việc được không?


Phạm Quang Lễ trả lời:


- Thưa, tôi tin là làm được vì tôi đã chuẩn bị 11 năm ở bên Pháp.


Phạm Quang Lễ từ bỏ chức vụ kỹ sư trưởng ở Hãng nghiên cứu chế tạo máy bay Concord với tiền lương tương đương 22 lạng vàng một tháng lúc ấy để theo Bác Hồ về nước.


Ông cùng với kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước theo Hồ Chủ tịch về nước, tham gia tổ chức, chế tạo vũ khí cho quân đội tại núi rừng Việt Bắc.


Ngày 5/12/1946, Hồ Chủ tịch cho mời kĩ sư Phạm Quang Lễ đến Bắc Bộ Phủ (nay là Nhà khách Chính phủ, 12 Ngô Quyền). Bác thân mật nói:


-“Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú đến để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc”.


Bác nói tiếp:


- “Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay, Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ cho gia đình, bà con chú còn ở trong Nam”.


Bác giải thích rất dí dỏm:


- “Một là họ Trần, không có họ với Bác, đấy là họ của Trần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nước. Đại Nghĩa còn là chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo: “Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chí nhân nhi địch cường bạo”. Chú có ưng bí danh đó không?


Đạn Bazoka


Tháng 11/1946, ông và các đồng nghiệp đã bắt tay nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu Bazoka của Mỹ. Công việc không dễ dàng, thất bại liên tiếp nhưng đã không khiến ông nản chí. Cuối cùng, tháng 2/1947, cuộc thử nghiệm Bazoka thành công. Mức đâm xuyên của đạn vừa chế tạo đạt độ sâu 75 cm trên tường gạch, tương đương đạn Bazoka do Mỹ chế tạo. Vũ khí mới xuất hiện đã khiến quân Pháp hoang mang.


Ngày 3/3/1947 đã trở thành một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam trong việc chế tạo khí tài, khi đạn Bazoka góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của địch ở vùng Chương Mỹ, Quốc Oai (Hà Tây cũ). Trong chiến dịch Thu Đông năm 1947, Bazoka còn bắn chìm cả tàu chiến Pháp trên sông Lô. Sau này, Cục Quân giới tiếp tục sản xuất hàng loạt đạn Bazoka với tầm xa tới 600 m và phạm vi sát thương 50 m.


Súng SKZ


Sau đạn Bazoka, những năm 1948 - 1949, ông Trần Đại Nghĩa và các đồng nghiệp trong Cục Quân giới bắt đầu nghiên cứu và chế tạo loại súng có sức công phá mạnh - súng không giật SKZ. Đây là dòng vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa của Nhật Bản hồi cuối chiến tranh thế giới thứ hai.


SKZ là loại súng hạng nặng có trọng lượng 20 kg, đầu đạn lõm, dùng để bắn vào những pháo đài kiên cố của địch, đầu đạn xuyên thủng bê tông dầy. SKZ Việt Nam xuất trận lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá nhiều lô cốt địch. Năm 1950, tại chiến trường Nam Trung Bộ, trong một đêm, với loại súng không giật này ta đã loại bỏ 5 đồn giặc. Địch hoảng sợ tháo chạy khỏi hàng loạt đồn bốt khác.


Bom bay


Để có thể đánh đòn chí mạng vào các điểm co cụm của địch, Trần Đại nghĩa tiếp tục nghiên cứu chế tạo loại bom bay tương tự loại V1, V2 của Đức. Sau đó ông đã tạo ra loại bom bay được cho là có sức tấn công chẳng kém gì so với V1, V2. Ngoài ra, ông cũng tạo ra thành công loại tên lửa nặng 30 kg có thể đánh phá các mục tiêu ở cách xa 4 km.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trần Đại Nghĩa đã góp phần to lớn trong cuộc chiến chống máy bay B-52 , phá hệ thống thủy lôi của địch và chế tạo những trang thiết bị đặc biệt cho Bộ đội Đặc công.


Năm 1948 Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm Thiếu tướng, Giám đốc Nha nghiên cứu Quân giới (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự), Bộ Tổng tư lệnh Quân đội.


Trong quân đội từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.


Sau đó ông chuyển sang lĩnh vực dân sự giữ chức: Thứ trưởng Bộ Công thương, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Ủy viên Ủy ban Khoa học Nhà nước , Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam (nhiệm kỳ 1983-1988), Đại biểu Quốc hội khoá II, III.


Ông đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lao động (tại đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc đầu tiên năm 1952).


Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (Bazooka, súng không giật, đạn bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954. Các công trình nghiên cứu của ông được quốc tế đánh giá cao, được ứng dụng rộng rãi trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và là nỗi kinh hoàng của quân đội đối phương. Trong tác phẩm Street Without Joy của Bernard B. Fall ở trang 237 có viết về súng SKZ của ông như sau "...and the feared Viet-Minh SKZ recoilless cannon oppened up at minimum range upon the "soft" vehicles...".


Năm 1966, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.


Những năm cuối đời, ông cùng gia đình trở về quê hương miền Nam, sinh sống tại đường Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.


Ông mất vào 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 84 tuổi.


Ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, Trần Đại Nghĩa có ghi vào cuốn sổ tay của mình một câu: "Đã hoàn thành nhiệm vụ!"


Để ghi nhớ công lao to lớn của ông, nhiều công trình tại các đơn vị, địa phương trong cả nước đã được vinh dự mang tên Ông: phố Trần Đại Nghĩa ở Hà Nội, đường Trần Đại Nghĩa tại TP. Đà Nẵng, đường Trần Đại Nghĩa tại TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tên của ông còn được đặt cho một số trường học trên cả nước, trong đó có Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, Trường Đại học Trần Đại Nghĩa ở TP Hồ Chí Minh; Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa ở TP Vĩnh Long và Trường THPT Trần Đại Nghĩa ngay tại quê hương ông (huyện Tam Bình)...


Nguyễn Xuân Lộc Bác Trần Đại Nghĩa có tham gia thành lập Đại học Bách khoa Hà nội và bắn B.52 mười hai ngày đêm 1972.


Ngan Kim Ý em là cải tiến Sam2 thôi. Còn phá nhiễu thì đúng rồi. Vì có nhiễu nên nó bịt mắt được rađa, sam2. Tướng không quân Trần Hanh nói: Thời gian đầu ở Hải phòng có trận bắn đến 50 quả Sam2 mà vẫn không hạ được B52. Sau đó phá nhiễu mới trị được thằng B52. Ý e nói bác Nghĩa cải tiến Sam2 đánh B52 bác Lộc ạ.


Nguyễn Xuân Lộc Không phải 50, 120 NK ạ!


Nguyễn Xuân Lộc Chuyện như đùa: Tên lửa Hồng Kỳ của Trung Quốc (bắt chước SAM-2.) bắn 400 quả, không rơi một máy bay nào?!


 


Ngan Kim Em có một t/ liệu của Bộ QP Mỹ bằng tiếng Anh. Phi công đầu tiên bắn rơl B52 đầu tiên là Vũ Xuân Thiều (nguyên sinh viên ĐH Bách khoa HN) chứ không phải Phạm Tuân. Theo múi giờ (tính chuẩn đến phút) chiếc B52 bị chiếc Mig21 của Bắc Việt (Vũ Xuân Thiều) lao thẳng vào chiếc B52 tạo thành quả đuốc, hạ gục chiếc B52. Trước đó Vũ Xuân Thiều bắn hết đạn xin phép cảm tử nhưng mặt đất không cho, yêu cầu trở về. Nhưng 12 ngày đêm Qc Không Quân chưa hạ gục được B52. Cũng trong đêm đó Phạm Tuân xuất kích cũng hạ được 1 B52. Theo tiết lộ của một vị tướng: Nếu khi đó để cho các phi công VN cảm tử, e rằng VN không còn phi công để chiến đấu. Chính vì thế hơn 10 năm sau Vũ Xuân Thiều mới được tuyên dương AHLLVTND.


Danh sách tướng lĩnh Việt Nam phong từ năm 1945 đến năm 1975


Vũ Trọng Đại, Thái Hà Books, sưu tầm


1946


Thiếu tướng:


1.       Lê Thiết Hùng (Thiếu tướng Tiếp phòng quân)


1948


Đại tướng:


2.       Võ Nguyên Giáp


Trung tướng:


3.       Nguyễn Bình


Thiếu tướng:


4.       Hoàng Văn Thái (Trung tướng năm 1959, Thượng tướng 1974)


5.       Nguyễn Sơn


6.       Chu Văn Tấn (Thượng tướng năm 1959)


7.       Hoàng Sâm


8.       Trần Tử Bình


9.       Văn Tiến Dũng (Thượng tướng năm 1959, Đại tướng 1974)


10.   Lê Hiến Mai (Trung tướng 1974)


11.   Trần Đại Nghĩa


Truy phong Thiếu tướng:


12.   Dương Văn Dương


13.   Huỳnh Phan Hộ


 


1954


Thiếu tướng:


14.   Vương Thừa Vũ (Trung tướng 1974)


1955


Thiếu tướng:


15.   Phan Trọng Tuệ


1958


Thiếu tướng:


16.   Lê Quảng Ba


17.   Đặng Kim Giang


18.   Nguyễn Đôn (Trung tướng 1974)


19.   Trần Độ (Trung tướng 1974)


20.   Trần Quý Hai (Trung tướng 1974)


21.   Chu Huy Mân (Thượng tướng 1974, đại tướng 1980)


1959


Đại tướng:


22.   Nguyễn Chí Thanh


Trung tướng:


23.   Song Hào (Thượng tướng 1974)


24.   Trần Văn Trà (Thượng tướng 1974)


25.   Nguyễn Văn Vịnh


Thiếu tướng:


26.   Trần Văn Quang (Trung tướng 1974)


27.   Lê Quang Đạo (Trung tướng 1974)


28.   Nguyễn Thanh Bình


29.   Trần Sâm (Trung tướng 1974)


30.   Nguyễn Bằng Giang


31.   Nguyễn Trọng Vĩnh


32.   Hoàng Minh Thảo (Trung tướng 1974)


33.   Lê Chưởng


34.   Lê Quang Hòa (Trung tướng 1974)


35.   Lê Đình Thiệp


1961


Trung tướng:


36.   Trần Nam Trung (Thượng tướng 1974)


Thiếu tướng:


37.   Phạm Kiệt (Trung tướng năm 1974)


38.   Tô Ký


39.   Phạm Ngọc Mậu (Trung tướng 1974, thượng tướng 1986)


40.   Lê Trọng Tấn (Trung tướng 1974, thượng tướng 1980, đại tướng 1984)


41.   Tạ Xuân Thu


1974


Trung tướng:


42.   Lê Đức Anh (Thượng tướng 1980, đại tướng 1984)


43.   Đồng Sỹ Nguyên


44.   Đinh Đức Thiện (Thượng tướng 1986)


Thiếu tướng:


45.   Nguyễn Thị Định


46.   Nguyễn Hữu Xuyến (Trung tướng 1986)


47.   Đoàn Khuê (Trung tướng 1980, thượng tướng 1984, đại tướng 1990)


48.   Nguyễn Quyết (Trung tướng 1980, thượng tướng 1986, đại tướng 1990)


49.   Đặng Quốc Bảo


50.   Đào Sơn Tây


51.   Hoàng Minh Thi


52.   Hoàng Thế Thiện


53.   Hoàng Trà


54.   Huỳnh Đắc Hương


55.   Lê Chiêu


56.   Lê Quốc Sản


57.   Nguyễn Bá Phát


58.   Nguyễn Hồng Lâm


59.   Nguyễn Thế Lâm


60.   Nguyễn Văn Nam


61.   Phạm Ngọc Hưng


62.   Thái Dũng


63.   Thanh Quảng


64.   Trần Kinh Chi


65.   Trần Thế Môn


66.   Võ Bẩm


67.   Võ Đông Giang


68.   Vũ Văn Cẩn


69.   Vũ Yên


70.   Bùi Phụng (Trung tướng 1980, thượng tướng 1986)


71.   Đàm Quang Trung (Trung tướng 1980, thượng tướng 1984)


72.   Giáp Văn Cương (Trung tướng 1981)


73.   Hoàng Cầm (Trung tướng 1982, thượng tướng 1987)


74.   Lê Ngọc Hiền (Trung tướng 1980, thượng tướng 1986)


75.   Nguyễn Hữu An (Trung tướng 1980, thượng tướng 1986)


76.   Nguyễn Minh Châu (Trung tướng 1981, thượng tướng 1986)


77.   Phùng Thế Tài (Trung tướng 1980, thượng tướng 1986)


78.   Vũ Lăng (Trung tướng 1980, thượng tướng 1986)


79.   Vũ Lập (Trung tướng 1980, thượng tướng 1984)


80.   Cao Văn Khánh (Trung tướng 1980)


81.   Đặng Kinh (Trung tướng 1982)


82.   Đinh Văn Tuy (Trung tướng 1984)


83.   Đỗ Trình (Trung tướng 1982)


84.   Doãn Tuế (Trung tướng 1984)


85.   Đồng Văn Cống (Trung tướng 1980)


86.   Dương Cự Tẩm (Trung tướng 1984)


87.   Hoàng Phương (Trung tướng 1982)


88.   Hoàng Văn Thái (Trung tướng 1982)


89.   Lê Linh (Trung tướng 1984)


90.   Lê Thùy (Trung tướng 1986)


91.   Lê Tự Đồng (Trung tướng 1982)


92.   Lê Văn Tri (Trung tướng 1982)


93.   Lê Văn Tưởng (Trung tướng 1984)


94.   Lư Giang (Trung tướng 1984)


95.   Nam Long (Trung tướng 1981)


96.   Nguyễn Chánh (Trung tướng 1984)


97.   Nguyễn Hòa (Trung tướng 1980)


98.   Nguyễn Huy Chương (Trung tướng 1986)


99.   Nguyễn Xuân Hoàng (Trung tướng 1986)


     100, Trương Công Cẩn (Trung tướng 1984)


     101, Vũ Xuân Chiêm (Trung tướng 1982)


102. Phạm Hồng Sơn. (Thiếu Tướng 1974, Trung Tướng 1982).


103. -Trần Thọ (Thiếu tướng, phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, năm 1974).


Các tướng mất trong thời kỳ 1945 – 1975, sau đó được truy phong quân hàm:


Hoàng Minh Đạo


Phùng Chí Kiên


Một số trường hợp chưa rõ năm phong tướng:


Thiếu tướng Cao Pha


Thiếu tướng Đinh Phúc Hải


Thiếu tướng Dương Hán


Thiếu tướng Lê Mai Chương


Thiếu tướng Lê Văn


Thiếu tướng Nguyễn Thanh Dương


Thiếu tướng Nguyễn Văn Âu


Thiếu tướng Phạm Gia Triệu


Thiếu tướng Phạm Hoài Chương


Thiếu tướng Trần Chí Cường


Thiếu tướng Trần Công Mân


Thiếu tướng Trần Tiến Cung


Thiếu tướng Vũ Thắng


Trung tướng Chu Tử Di


Trung tướng Đỗ Quang Hưng


Thiếu tướng Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y.


Trung tướng Nguyễn Kiệm


Nguồn: Ngan Kim facebook


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Họ Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 12.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »