tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18413163
Lý luận phê bình văn học
03.02.2017
Nhiều tác giả
Về tác phẩm: Đường Thi Quốc Âm cổ bản

“ĐƯỜNG THI QUỐC ÂM CỔ BẢN” - Một cuốn sách quý cần có trong tủ sách của bạn


Trần Mạnh Hảo


Cuốn sách: “Đường thi Quốc âm cổ bản” của TS. Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện và Trần Ngọc Đông ra mắt trong dịp tết Đinh Dậu này, tôi chợt nhớ đến lời của nhà thơ Raxun Gamzatov của nước Dagetxtan: “Nếu ta bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn ta bằng đại bác”.


Qúa khứ làm nên lịch sử dân tộc, lịch sử văn hóa Tổ Quốc ta chính là nền văn hóa Hán Nôm với quốc âm có trên dưới 80% từ Hán Việt, và tiền quốc ngữ là chữ Nôm của ngàn năm độc lập từ Ngô, Đinh, Lý Trần Lê, Nguyễn…


Nếu không có chữ Nôm, dân tộc ta nào có thi ca quốc âm và các kiệt tác thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chinh Phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều, Hoa Tiên, thơ Hồ Xuân Hương…


Nhật Bản, Triều Tiên khởi đầu cũng như ta, nghĩa là phải dùng chữ Hán; sau đó từ chữ Hán, họ chế ra chữ Nôm của Triều của Nhật. Văn hóa Nhật Bản ảnh hưởng văn hóa Hán thông qua văn hóa Triều Tiên. Cũng như ta, âm Hán Triều và âm Hán Nhật vẫn bàng bạc trong tiếng nói của hai nước này. Năm 1972, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã đưa 1800 chữ Hán vào trường học dạy cho học sinh. Tháng 11-1946 Bộ Giáo dục Nhật Bản đưa vào chương trình dạy phổ thông bắt buộc học sinh Nhật phải học 1850 chữ Hán, đến năm 1947 Quốc hội Nhật đã thông qua việc dạy và học chữ Hán trong nhà trường.


Văn hóa Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản tuy khởi nguồn từ văn hóa Hán kết hợp với các yếu tố bản địa nhưng vẫn là những nến văn hóa hoàn toàn độc lập với các bản sắc riêng không lẫn vào đâu được. Chúng ta cần phân biệt văn hóa Hán, chữ Hán với bọn thống trị phong kiến Trung Hoa mấy nghìn năm vẫn hằng xâm lược nước ta, từng đồng hóa dân tộc ta suốt một ngàn năm mất nước là những vấn đề khác nhau. Gần đây, do tâm lý chống Hán hóa, chống bọn xâm lược phương Bắc cực đoan quá, tới mức hễ ai nói đến chữ Hán, chữ Nôm …liền phản ứng tẩy chay !


Vậy xin hỏi “Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi soạn cho Lê Lợi sau 10 năm kháng chiến chống quân Minh viết bằng chữ gì vậy? Chữ Hán đấy! Trong bản tuyên ngôn độc lập bất hủ này, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi dám mắng vào mặt hoàng đế nhà Minh rằng: “Thằng nhãi ranh Tuyên Đức động binh không ngừng”…


Cũng như vậy, Trần Hưng Đạo soạn “hịch tướng sĩ” bằng chữ Hán mà cùng với triều nhà Trần và thần dân Đại Việt ba lần đánh thắng quân Nguyên… Từ Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn Tây Sơn… ông cha ta từng đánh cho quân xâm lược phương Bắc những đòn chí tử mới có giang sơn gấm vóc hôm nay. Cho nên thái độ cực đoan cho rằng học chữ Hán Việt, chữ Nôm của cha ông sẽ bị Hán hóa là những lý giải vô căn cứ.


Không đọc được chữ Hán, chữ Nôm của cha ông nghìn năm trước, các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau có thể còn giữ được bản sắc, tâm hồn dân tộc chăng?


May mắn thay, trong dịp tết Đinh Dậu này, hai học giả Nguyễn Xuân Diện và Trần Ngọc Đông đã mang đến cho chúng ta một món quà quý giá là cuốn: “Đường thi Quốc âm cổ bản” do cha ông chúng ta dịch thơ Đường ra chữ Nôm (Nam) rất hay. Đây là lần đầu tiên bản dịch thơ Đường ra chữ Nôm được công bố với tài dịch xuất chúng của thi hào Tú Xương (dịch 81 bài); ngoài ra các bản dịch thơ Đường ra chữ Nôm còn của các nhà nho Việt Nam như Dương Lâm, Đông Sơn cư sĩ và khuyết danh.


Khi người viết bài này có lần đi du lịch, bay từ Hà Nội sang Bắc kinh, khi qua vùng Thập vạn đại sơn biên giới Việt - Trung và vũng Lĩnh Nam quê hương của người Bách Việt, nhìn xuống sông núi chập chùng bên dưới đã viết câu thơ: “Sông núi Lĩnh Nam chằng chịt chữ tượng hình…”. Dù sách sử Trung Hoa phỏng đoán quê chữ tượng hình, chữ giáp cốt ở đâu, tôi vẫn cứ đinh ninh nó là sản phẩm của văn hóa Bách Việt được người Hán phương Bắc tiếp thu và phát triển.,.


Sài Gòn, Xuân Đinh Dậu.


T.M.H.


Lời bạt Đường thi Quốc âm cổ bản


Ta gặp Tú Xương trong cổ bản này


Hoài Yên


Đường thi quốc âm cổ bản là một tài liệu quý cho những ai yêu thích, học tập và nghiên cứu Đường thi (kể cả nguyên tác chữ Hán và thơ dịch quốc âm).


Một điều đặc biệt thú vị là bản dịch lại là một bản cổ chưa từng được công bố, sau nhiều bản dịch khác sinh sau, đẻ muộn mà đã được nhiều thế hệ thưởng thức. Các dịch giả là những nhà nho thi nhân ở vào giai đoạn cuối của thời kỳ trung cận đại, vẫn chưa có ý định “vứt bút lông, cầm bút sắt”, mặc dầu lúc ấy chữ quốc ngữ đã được dùng khá phổ biến.


Một thú vị nữa, là ở tập sách này, chúng ta được gặp dịch giả Tú Xương.


Trước đây, mọi người mới chỉ biết Tú Xương là một nhà thơ trào phúng vào bậc nhất của Việt Nam. Tú Xương làm thơ trào phúng, châm biếm, viết đến đâu phổ biến đến đấy, không hề ghi chép lưu lại dù chỉ để trong ngăn kéo. Số thơ được công bố hiện nay là do hậu sinh sưu tập và in ấn. Cho đến bây giờ, cũng chưa thấy ai nói tới một bài thơ nào của Tú Xương viết bằng chữ Hán hoặc thơ dịch.


Vậy mà trong thi phẩm này, Tú Xương có tới 81 bài dịch, nhiều nhất trong tất cả (theo thống kê của các soạn giả), mà lại rất độc đáo là Tú Xương chỉ chọn dịch duy nhất một thể thơ ngũ ngôn bát cú ở nguyên bản chữ Hán. Trong số những bài dịch đó, chỉ có 11 bài dịch nguyên thể ngũ ngôn bát cú, còn 70 bài khác dịch theo thể thất ngôn bát cú. Chẳng những thế, về chất lượng thơ dịch của Tú Xương còn đứng đầu trong thi phẩm này.


Đọc các bài thơ dịch, chúng ta càng kính phục sự đa tài của Tú Xương. Xưa nay, mọi người vẫn chỉ phục ông về thơ trào phúng, thậm chí, ông còn có ảnh hưởng lớn đến các thế hệ sau (nhiều nhà thơ đã theo bước ông, đặt những bút danh để tỏ rõ mình là người học trò của ông như: Tú Mỡ, Tú Sụn…). Ở mảng thơ trữ tình, ông cũng là người đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam dùng 2 từ “anh – em” trong thơ tình yêu đôi lứa, mà phải hơn hai mươi năm sau khi ông mất, phong trào “Thơ mới” mới tiếp bước ông và dùng rộng rãi trong thơ tình.


Giọng điệu thơ dịch của Tú Xương rất lưu loát trong trẻo, có nhiều sáng tạo. Mặc dù thơ dịch phải trung thành với nguyên bản, nhưng khi đọc những bài dịch của Tú Xương ta có một cảm giác như những bài thơ được chính ông sáng tác, bằng những ngôn từ rất dễ hiểu của Việt Nam. Xin trích vài dòng ví dụ:


Nguyên bản:


“Kim cổ nhất tương tiếp


Trường ca hoài cựu du”


Đây là hai câu kết trong bài Tạ Công Đình của Lý Bạch có nghĩa là: Xưa nay vẫn tiếp nối / Ngâm nga mãi để nhớ chuyến thăm lần trước – soạn giả dịch nghĩa. Tú Xương dịch thơ như sau:


Gẫm lại trải bao lòng luống tưởng


Thơ nào tả được nỗi xưa sau.


hoặc, nguyên bản:


Tùy phong tiềm nhập dạ,


Nhuận vật tế vô thanh.


Là hai câu thực trong bài Xuân dạ hỷ vũ của Đỗ Phủ nghĩa là: Theo gió hây hẩy thấm vào đêm / Tưới mát muôn vật mà không nghe tiếng – soạn giả dịch nghĩa. Tú Xương dịch thơ như sau:


Đưa nhẹ một cơn bừng giấc thắm


Rây ra từng sợi thấm cành khô.


Tả mưa mùa xuân mà dùng chữ “Rây” thì quả là rất đắt! Dịch rất thoát mà vẫn sát ý. Từ ngữ thông thường dễ hiểu và rất Việt Nam!


Cách dịch từ thơ ngũ ngôn sang thơ thất ngôn cũng là một sự sáng tạo của Tú Xương. Bài thơ có thêm tới 16 từ để ông biểu đạt theo ý muốn, vẫn giữ được ý chính của tác giả mà lại thêm được những nét của riêng mình. Ta hãy đọc bài Cầm Đài của Đỗ Phủ:


Mậu Lăng đa bệnh hậu,


Thượng ái Trác Văn Quân.


Tửu tứ nhân gian thế,


Cầm đài nhật mộ vân.


Dã hoa lưu bảo yếm,


Phương thảo kiến la quần.


Quy Phụng cầu Hoàng ý,


Liêu liêu bất phục văn.


Đỗ Phủ


Tú Xương dịch như sau :


Văn Quân dan díu mấy Tương Như


Cái bệnh phong lưu mãi thế ư


Mấy cuộc đong đưa men phú quý


Năm cung dìu dặt nổi mây mưa


Hoa in vẻ miệng khi tươi lợt


Cỏ nhuốm màu xiêm lúc sớm trưa


Tài sắc xưa nay ai kẻ lọt


Cầu hoàng mảng tiếng đến bây giờ.


Hai câu đầu, ông bỏ cái địa danh Mậu Lăng và nói thẳng đến cuộc dan díu của 2 nhân vật Văn Quân và Tương Như. Trong nguyên bản là tả cái bệnh thật của Tương Như (đa bệnh hậu), ông đã đổi là bệnh yêu đương (bệnh phong lưu). Thật khó mà bắt bẻ được, bởi vì Tương Như chẳng đã mắc bệnh trong những ngày dan díu với Văn Quân đó sao? Hai câu thực, tác giả chỉ cốt tả cái cảnh “Rượu sớm đàn chiều”, nhưng ông dịch thoát hẳn mà vẫn nói được cảnh thực yêu đương “sớm đào tối mận” của đôi trai gái:


Mấy cuộc đong đưa men phú quý


Năm cung dìu dặt nổi mây mưa


Về từ ngữ, trừ mấy danh từ riêng (Văn Quân – Tương Như – Cầu hoàng) vẫn giữ nguyên từ Hán, còn lại là từ thuần Việt 100%. Đặc biệt có những từ dân dã cổ mà nay ta rất ít dùng như: “Mấy” (ở câu I). “Mấy” ở đây không phải là từ chỉ số lượng mà nó đồng nghĩa với từ “với” hoặc “cùng”, mà ngày nay chúng dùng theo đúng nghĩa của nó. Hoặc từ “mảng” ở câu 8 cũng là những từ dân dã cổ, nhưng ông dùng vào câu thơ dịch, cho đến nay, chúng ta đọc vẫn rất sáng nghĩa.


Lại đọc một bài nữa của Lý Bạch:


Tầm Ung tôn sư ẩn cư


Quần tiễu bích ma thiên,


Tiêu dao bất kỷ niên.


Bát vân tầm cổ đạo,


Ỷ thạch thính lưu tuyền.


Hoa noãn thanh ngưu ngọa,


Tùng cao bạch hạc miên.


Ngữ lai giang sắc mộ,


Độc tự há hàn yên.


Lý Bạch


Dịch:


Chon von ngọn núi bóng trời sầm,


Ngày tháng tiêu dao sá kể năm.


Vén dọn rèm mây tìm lối cũ,


Lặng ngồi cỗi bách tiếng khe rầm.


Nghìn tầm hạc trắng cây tùng ngủ,


Chiếc bóng trâu xanh gối nhụy nằm..


Cười nói trông ra trời đã tối,


Một mình trở lại khói sương đầm.


Bài này Tú Xương dịch rất sát nghĩa. Nhưng câu chữ thông thoáng, lưu loát như một bài thơ sáng tác. Riêng 2 câu luận (5&6), ông đã dịch đảo câu trên xuống dưới, câu dưới lên trên. Một cách ứng biến thật thông minh. Trong nguyên bản, tác giả tựa vào khối đá để nghe tiếng suối reo. Ở bài dịch, ông đã cho tác giả tựa vào gốc cây bách. Những tiểu tiết đó khiến người đọc có cảm giác đi trên con đường cổ, đá cây rậm rạp càng được nâng lên.


Vài bài làm ví dụ. Nếu đọc kỹ ta sẽ thấy mỗi bài được ông giải quyết một cách khéo léo, tài hoa, vẫn bám sát ý của nguyên bản mà lại không phụ thuộc quá vào những câu từ của tác giả. Dù dịch của tác giả nào, ta cũng thấy thơ dịch của ông đều có cùng một giọng thơ giống nhau. Đó chính là phong cách thơ dịch của Tú Xương vậy! Cũng như đại thi hào Nguyễn Du, tuy dựa vào Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Hoa, hầu như vẫn giữ nguyên cốt truyện, nhưng về văn chương đã được Việt Nam hóa hoàn toàn và nâng lên đến độ tuyệt hảo.


Hà Đông, ngày 01 tháng 12 năm 2016.


Hoài Yên

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »