tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20232279
25.01.2017
Nhiều tác giả
Nguyễn Tuân “Người cũ về rồi hoa mới nở…” (2)



Nhà văn Phong Lan viết một bài ngắn đăng trên báo Hà Nội mới số ra ngày 21-6-2003 với tựa đề “Vang bóng một thời” đã… cứu một “bàn thua” như sau:


Khoảng năm 1980, nhà văn Nguyễn Tuân vào Huế chơi. Đích thân Chủ tịch tỉnh đã giao cho hai nhà văn Tô Nhuận Vỹ và Trần Công Tấn tháp tùng, săn sóc cụ Tuân với lời dặn: “Cụ muốn xơi món gì, cứ y thực đơn bảo nhà khách tỉnh phục vụ chu đáo”. Nhưng cụ Nguyễn lại thích lang thang ghé qua các quán tuềnh toàng như cơm Âm phủ, quán Bún bò dốc Nam Giao, bánh bèo An Cựu, bánh khoái Thượng Tứ… Tính cụ vốn rộng rãi, thường trả tiền bao hết những lần ngồi quán cùng những người tháp tùng. Hai chàng nhà văn trẻ “áy náy” lắm, định bụng sẽ mời nhà văn già một bữa cháo lòng để đáp lễ.


Bữa đó, cả ba người kéo đến quán cháo lòng nổi tiếng ở gần cửa Đông Ba. Tiệc đãi vừa tàn, cụ Nguyễn và hai anh chàng tháp tùng còn đang thưởng thức chén trà ướp sen thì bà chủ quán đã kịp vào mặc chiếc áo dài màu tím “đặc trưng Huế” rồi dắt đầy đủ con cái, dâu rể đến xếp hàng trước mặt khách. Cụ Nguyễn và hai nhà văn trẻ còn chưa kịp ngạc nhiên thì bà chủ quán đã chắp tay, nói:


- Dạ thưa cụ, cả nhà tôi vô cùng vinh dự được xếp hàng cảm ơn cụ đã đoái hoài đến thăm bản quán.


Nhà văn Nguyễn Tuân trố mắt nhìn, vuốt ria hỏi:


- Vậy thì bà nhầm chúng tôi với các quý vị chức sắc nào?


Bà chủ quán xoa tay:


- Thưa cụ… Cả nhà chúng tôi đã bái phục cụ từ lâu rồi. Thưa… cụ chính là cụ Nguyễn “Vang bóng một thời!”.


- Vậy ạ? Nguyễn Tuân vui vẻ cười và cũng chắp tay lễ phép - Thưa bà, tôi cũng xin bái phục bà vì không hiểu do đâu bà lại biết chúng tôi thích ăn những món ấy và khoái dùng loại rượu kia?...


Tô Nhuận Vỹ xin tính tiền. Bà chủ quán nhất nhất không chịu nhận, lại còn rối rít cảm ơn cụ Nguyễn Tuân “đã đoái hoài đến bản quán”. Khỏi phải nói, hai nhà văn trẻ tháp tùng… thở phào nhẹ nhõm và trong lòng thầm biết ơn tấm lòng của người bạn đọc ấy!


Âu cũng là cái duyên tiền định của Hà Nội với Huế, ngày cuối cùng của “Triển lãm Hội họa kết nghĩa Huế - Hà Nội” (trưng bày tranh - thảm của Bửu Chỉ và Hoàng Đăng Nhuận tại 19 phố Hàng Buồm, Hội Nhà văn Hà Nội), sáng ngày 25-7-1987, các tác giả được vinh dự tiếp đón nhà văn Nguyễn Tuân và vợ chồng nhạc sĩ Văn Cao đến thăm phòng tranh mà không hẹn trước.


Đúng 5 giờ chiều ngày chúa nhật 28-7-1987, anh Nguyễn Tuân đến như anh đã hẹn. Chị Ngọc Trai khi ấy đang nấu nướng các thứ ở nhà bếp. Còn tôi với anh ngồi nói chuyện với nhau ở phòng khách. Anh rút từ trong túi ra và đưa cho tôi xem một vỉ thuốc trợ tim. Anh nhìn tôi, cười hóm hỉnh kể, chiều nay đáng lẽ bác sĩ bắt tao phải vào bệnh viện Việt - Xô, nhưng tao xin khất vào sáng thứ hai, tao bảo với họ chiều nay tao phải bận đi “ký hợp đồng” với môt người bạn ở tỉnh xa đến. Anh nheo mắt, kể tiếp, nghe tao bảo đi “ký hợp đồng”, bác sĩ lại càng ngăn cản tợn, lấy lý do là ký hợp đồng thì phải làm việc nhiều rất có hại cho tim, tao bí quá bèn nói đại là ký hợp đồng nhưng chẳng phải làm gì cả… Bỗng nhiên khuôn mặt anh lộ ra đầy vẻ bất bình, anh nhìn tôi và nói, này Chỉ ơi mày nghĩ coi bác sĩ chơi tao có ác không? Nó bảo quả tim của tao có vấn đề, vì vậy phải tránh làm việc nặng và nhất là tránh không được xúc động mạnh. Thế là tao bảo với bác sĩ, nếu các ông cấm không cho tao xúc động, thì chi bằng các ông bắt tao bỏ mẹ cái nghề văn của tao cho rồi!...


Tại bàn tiệc, toàn là “Huế kiều” được cái hân hạnh tiếp anh Nguyễn Tuân. Trong số đó có: tôi, Hoàng Đăng Nhuận, chị Ngọc Trai (chủ nhà), anh Trần Phương Trà; sau đó lại có thêm anh Lê Huy Cận (Tổng thư ký “Hội Những người yêu Huế” ở Pari, vừa mới đến Hà Nội), anh Võ Bạt Tụy (thành viên của Hội). Anh chị Văn Cao đến sau cùng. Lại có mời thêm hai thợ chụp ảnh. Một cách định mệnh, tất cả những hình ảnh sinh hoạt chiều hôm đó đã được ghi lại một cách đầy đủ.


“Thực phẩm trần gian” được bày biện một cách đẹp mắt, và theo lối Huế, lại có cả rượu quý mà anh Cận đã mang từ Pháp về. Anh Tuân mở đầu cuộc vui, nhưng anh vẫn giữ cái thói quen cố hữu là “ăn bằng mắt”, và uống chậm rãi. Anh có cái tư thế chễm chệ của thần Bacchus đang chủ tọa cuộc “Lễ rượu” vậy. Tuy nhiên, có một điều làm cho tôi ngạc nhiên là hôm ấy anh vui đùa một cách khác thường và uống rất nhiều.


 


Hầu như không có bữa tiệc rượu nào, dù với nhiều người hoặc chỉ một vài người, mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không nhớ đến Nguyễn Tuân và Văn Cao. Có khi chỉ nhớ thoáng qua, có khi lòng trầm xuống, nhớ nhiều. Lúc ấy phải tìm ly rót rượu cho hai anh, đốt lên một nén nhang thơm. Làn khói bay luẩn quẩn và biết đâu hồn người không về đâu đó.


Trong một bài báo “Giữa Sài Gòn uống rượu nhớ Nguyễn Tuân và Văn Cao”, Trịnh Công Sơn viết: Tôi có một căn phòng riêng vừa đủ dùng để uống rượu, viết nhạc và vẽ. Ở đây rất nhiều năm tháng anh Nguyễn Tuân và Văn Cao đã nằm, ngồi uống rượu cùng tôi mỗi lần các anh từ Hà Nội vào. Thường xuyên nhất là anh Nguyễn Tuân những năm sau ngày thống nhất. Hình như anh Tuân và tôi ghiền gặp gỡ nhau để vừa uống rượu vừa nói về một thứ chuyện đời hư hư thực thực. Thậm chí có những ngày tôi đang ở Huế, anh vẫn một mình đến căn phòng quen thuộc này, nằm trên chiếc võng, sai bảo em gái tôi lấy rượu và kho một om nhỏ cá bống thệ để anh nhậu một mình. Anh bảo với em gái tôi: Cô Diệu này, mỗi ngày tôi sẽ đến đây nằm võng uống rượu và nhấm cái bầy bống kho trên nệm ớt ấy để nghĩ đến anh cô trong một tiếng rưỡi đồng hồ rồi tôi về. Cái ông Tuân nghịch ngợm này là thế đó, cười bằng con mắt có đuôi, vừa thầm giễu cợt vừa khinh bạc đời.


Đời sống trôi qua êm đềm thế. Những ly rượu lướt qua. Thời gian trôi qua. Những khuôn mặt Nguyễn Tuân, Văn Cao chập chờn qua ở góc này, phố nọ giữa Sài Gòn này. Như chưa hề có 30 năm chiến tranh chia cách người nọ với người kia. Như chưa hề có đớn đau rồi hạnh phúc. Như chưa bao giờ có ly biệt rồi trùng phùng.


Những ngày vui chơi giữa Sài Gòn này cùng các anh tưởng như vô tận mà lại có lúc tận. Rượu thì vô hạn mà đời người thì hữu hạn.


Đã bao nhiêu mùa xuân qua rồi. Bao nhiêu đêm giao thừa tôi ngồi uống rượu và nhớ đến các anh Nguyễn Tuân, Văn Cao. Trầm hương không đủ để làm ấm lại một không gian đã vắng những khuôn mặt người vắng để nhớ. Nhớ như nhớ một vết thương.


Bạn trong đời sống uống rượu đường dài có nhiều nhưng không phải ly rượu nào cùng uống cũng quí và bữa tiệc rượu nào cũng vui.


Những ngày sắp cuối năm dương lịch trời trở lạnh. Cái rét như thế này Sài Gòn thật hiếm khi có. Một thứ trời đất dễ làm những con người cần gặp gỡ nhau và nâng lên cốc rượu. Những ly rượu hôm nay lại nhắc nhở những ly rượu xưa. Những ly rượu cùng anh Tuân ở một quán cóc giữa đêm mưa cạnh một nhà ga ở Huế. Những ly rượu trên một căn gác ở Hà Nội. Và những ly rượu ở Sài Gòn. Thời tiết này mà vắng những người bạn vong niên ấy thật là một điều tệ hại của đời. Đời có những sự, những cách sắp xếp riêng của nó, nhưng thường khi và có lẽ luôn luôn như vậy, không theo kiểu mưa thuận gió hòa. Điều ta cần để lại thì nó lấy đi. Điều ta không cần thì nó để lại. Nếu có thật một bàn tay nào đã sắp xếp cuộc đời này thì đó là bàn tay của ma quỷ.


Khi ta ngồi uống rượu một mình và nhớ đến những người đã khuất thì đó là một điều bất hạnh. Khi ta ngồi uống rượu một mình và không còn nhớ đến ai cả thì đó là một điều bất hạnh gấp đôi.


Mỗi ngày, trong đời sống, khi đã nâng cốc rượu lên thì phải uống. Có thể uống vì rượu ngon, có thể uống vì ly đẹp và trước hết uống vì người cùng uống nhưng trong sâu thẳm là uống để chia sẻ những ngọt bùi đắng cay với chính mình.


Những ngày cuối năm 1998 ở Sài Gòn uống rượu và nhớ anh Tuân, anh Văn. Nhớ các anh như nhớ những tiểu phẩm cuối đời chưa viết xong. Nhớ các anh như nhớ những ly rượu để chênh vênh bên thềm cửa sổ chực ngã xuống lòng đường để vỡ nát.


Bên lề một thế kỷ khác, sắp bước vào. Nỗi nhớ bạn vong niên trầm luân đã khuất. Nỗi nhớ ấy sẽ mang một vóc dáng nào nữa đây và ly rượu này sẽ mang một hình hài nào khác nữa không? - Báo Sài Gòn Tiếp thị, số Xuân 1999.


 


Nhà văn Đoàn Minh Tuấn rất thân Nguyễn Tuân và Tô Hoài. Lần nào ra Hà Nội, anh cũng đến thăm các vị ấy và tất nhiên cùng đi uống rượu. Anh viết:


Lần nào từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, tôi và các anh Tô Hoài, Kim Lân cũng đến quán Huế. Chúng tôi thích ngồi ở góc phòng mà bác Nguyễn Tuân ngồi uống rượu lần cuối cùng.


Hồi ấy chưa mở quán (1987), tháng bảy trời hè, chỉ tuần sau là bác Tuân qua đời - chị Ngọc Trai và các bạn văn nghệ Huế: Bửu Chỉ, Trần Nguyên Vấn mời bác Tuân đến uống ly rượu, đàm đạo chuyện văn, chuyện đời, chuyện Huế đánh Mỹ, chuyện lá cờ Mặt trận dân tôc giải phóng 96m2 thượng lên kỳ đài cao 60 mét từ trong đêm nổi lửa Tổng tấn công. Hôm ấy bác Tuân vui đến tận khuya, hết một chai Henessy mới lững thững đi bộ về nhà.


Hôm nay tôi mời cả giáo sư Xuân Đào - con trai của Nguyễn Tuân; Tổng biên tạp báo Bạn đường, nhà báo Phạm Mạnh đến cái góc phòng mà bác Nguyễn ngồi để uống với Tô Hoài, Kim Lân và hoài niệm về nhà văn lớn Nguyễn Tuân.


Thực đơn quán này rất phong phú và bình dân, theo nhà văn, nhà báo Thái Duy - thì đó là một quán ăn rẻ và ngon, độ 10.000 đồng có thể ngồi ăn bún bò giò heo Huế. Từ món nem nướng, chả Huế, đến món cao cấp hơn như cá hấp, súp, cá bỏ lò, nem chạo tôm, bánh bèo, bánh nậm dân dã đều có. Bác kể với tôi, có lần cha bác cho bác đi ăn cơm tại nhà một bà thập lục đờn nổi danh. Nghe đờn xong thì ăn cơm muối. Chỉ có cơm và muối. Muối rồi lại muối. Trong lòng mâm đồng tam khí bày đủ 12 đĩa muối. Nào muối riềng, muối tỏi, muối ớt, muối tiêu, muối đậu phụng, muối sườn, muối mè, v.v…


Bác Nguyễn Tuân sinh thời rất coi trọng văn hóa ẩm thực, nên bác hay đến nhà chị Ngọc Trai để thưởng thức tay nghề gia chánh của chị. Bởi vậy nhà văn Ngọc Trai đã sưu tầm, chọn tuyển và viết một cuốn sách về Nguyễn Tuân. Mới đây, cách chưa đến tuần lễ, tôi có đến thăm con đường mà thành phố Huế đã đặt tên Nguyễn Tuân ở phường Xuân Phú, và con đường Nguyễn Tuân ở Hà Nội.


Bác Nguyễn Tuân là người rất yêu Huế có những trang tùy bút về Huế rất hay. Sau giải phóng, có lần tôi đưa bác đến thăm Huế (1976), nhà văn Nguyễn Quang Hà cùng bác đứng bên bờ sông Hương, ngay chân cầu Tràng Tiền; bác Nguyễn đã xúc động nói vọng xuống mặt sông: “Sông Hương ơi! Nguyễn Tuân đã về đây!”. Câu chuyện này mấy lần tôi được Nguyễn Quang Hà nhắc lại với lòng tự hào, vì đã đưa nhà văn lớn Nguyễn Tuân đến sông Hương, nhắm rượu với nem chua ở chợ Đông Ba. Mỗi lần vào Huế sau này, bác Nguyễn đều dùng cơm hến, cơm muối ở dưới thuyền lềnh bềnh trên sông.


Quán của nhà văn Ngọc Trai cũng như các quán mà văn nghệ sĩ mở (Thanh Tùng, Trần Tiến, Nguyễn Du, Trịnh, con nhà văn Nguyễn Quang Sáng ở Sài Gòn), tuy chưa phải là tuyệt vời nhưng được cái sạch sẽ, gọn gàng, có văn hóa nên bạn bè, khách khứa tìm một góc tâm tình. Nghe đâu trước nhà số 6 Lý Thường Kiệt cũng có quán Huế, nhưng sau đổi thành cơm Huế. Xứ Huế thơ đẹp, văn vật có những món ăn lạ, nhất là nước chấm hàng chục loại mà bác Nguyễn Tuân đã ngợi ca trong bài bút ký Nhớ Huế khi đất nước còn chia cắt.


Tô Hoài và chúng tôi thết khách hay đưa ra quán này. Có khách nước ngoài sang trọng hơn thì đưa ra Ngự Thiện - phố Phủ Doãn - sinh thời, nếu còn bác Tuân, chắc bác rất vui, nhưng bác sĩ đổi tên là quán “Cơm Vua” từ Ngự Thiện là chỉ dành cho hoàng đế. Nhưng bây giờ “thượng đế” dân dã cũng có thể dùng cơm vua chứ!


Chúng tôi nâng cốc tưởng niệm người bạn vong niên - nhà văn Nguyễn Tuân - nếu còn bác, chắc bác sẽ đến góc quán Huế này mà dùng rượu thuốc và món ăn Huế bình dị, sang trọng và ngon miệng ở đây. Bác đã từng nói bao nhiêu thịt cá yến tiệc cũng không làm sao quên được bữa cơm đạm bạc rất Huế ở nhà bà thập lục đờn để lại lòng bác một dư vị bữa cơm bình dị với “thập nhị sứ quân muối”. Vừa rồi ra họp Đại hội VII Hội Nhà văn Việt Nam, chúng tôi: Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Xuân Đào, Hồ Hải Thụy, Phạm Mạnh lại đến quấy quả nhà văn Ngọc Trai; thắp hương, rót rượu tưởng niệm Nguyễn Tuân.


Cũng Đoàn Minh Tuấn viết:


Năm nào cũng vậy, kể từ những năm chiến tranh leo thang của giặc Mỹ vượt vùng “cán xoong” thập niên 60-70, thường vào giao thừa, tôi hay đến xông đất nhà bác Nguyễn.


Năm 1968, giao thừa của cái năm gây sự kiện chấn động cả nước Mỹ, năm miền Nam tấn công và nổi dậy khắp 120 thị thành làm rung chuyển Nhà Trắng và thế giới!


Năm mà thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang vọng núi sông:


Năm qua thắng lợi vẻ vang


Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.


Tôi và anh Mai Văn Tạo như thường lệ chuẩn bị chai rượu từ ngay chiều 30, hễ nghe pháo giao thừa, người người đi hái lộc quanh hồ Hoàn Kiếm trước nhà tôi thì chúng tôi “xuống đường” đến thăm nhà bác Nguyễn.


Năm ấy chúng tôi đến vào lúc 2 giờ sáng. Hình như giao thừa không năm nào thấy bác Nguyễn ngủ. Bác nằm trên ghế xếp giữa nhà, một bóng điện tròn bé tí có chụp che vừa đủ tỏa sáng, căn phòng nhỏ hơn mười mét vuông, căn phòng giờ bác gái vẫn giữ làm “bảo tàng” cho nhà văn bậc thầy tài hoa và nổi danh từ lâu khắp từ cõi Âu sang Á.


Cái cảnh “gần chùa gọi bụt bằng anh”, chúng tôi đều lếu láo gọi anh Út Cả - từ của anh em nhà văn miền Nam chúng tôi xưng hô với bác - Anh Út Cả mừng vui, không đứng dậy, chỉ ghế cho hai anh em tôi ngồi rồi chậm rãi đến chỗ cái lò sưởi thời Tây, trong cái vòm nhỏ vuông vắn các viên gạch hồng ám khói tạo thành cái tủ rượu, anh lấy một góc chưa đầy một phần năm chai Cô nhắc rót ra 3 ly nhỏ, với 1 miếng phó mát - phó mát Nga xén ra trên đĩa gốm Bát Tràng…


- Mời, chúc gì nhỉ?


- Kính chúc anh vạn hạnh!


Đối với chúng tôi, anh xem như con em trong nhà nên không bao giờ anh nói nhiều, đêm nay anh chỉ nhắc câu thơ của Cụ Hồ:


Bao giờ kháng chiến thành công


Bắc Nam cùng uống một chung rượu đào.


Bây giờ kháng chiến sắp thành công rồi, Bắc Nam sắp thống nhất, giang sơn một dải, cạn chén nhé!


Chúng tôi đứng dậy, cảm động, tay run run cầm ly rượu chát màu nho tím cùng anh uống cạn…


Đêm ấy tôi có mang theo bánh pháo nhỏ, bấy giờ đang là cuộc chiến tranh phá hoại, đến 2 giờ sáng pháo đã thưa thớt, chỉ còn đì đoàng phía bên kia sông Hồng, gió tạt lại mùi nồng lạnh - tôi xin phép anh đốt cho vui, thế là chúng tôi đều ra cái ban công nhà anh rộng chưa đầy hai mét, ba anh em nhìn ra khoảng trời trống đầu ngõ hẻm và đưa pháo ra đốt.


Cũng may là pháo Bình Đà chánh hiệu nên nổ giòn và tỏa khói vào các căn gác hẹp làm ấm áp trời xuân. Chúng tôi vừa nhắm rượu vừa nói chuyện thời cuộc. Năm ấy thấy bác Nguyễn vui, không như mọi năm đầu của thập niên, giao thừa bác thường tắt đèn ngồi trầm ngâm độc ẩm với làn khói mỏng của hương trầm đặc biệt mua ở chùa Quán Sứ!...


Bác nói vui với chúng tôi, Thủ tướng Phạm Văn Đồng vừa công du ở Đông Âu về có gửi cho bác chai rượu Tây ngon lắm, bác chờ ra Giêng hẹn có cả Tô Hoài, cho vui. Hồi ấy rượu Cognac rất quí, phó mát Nga đóng cứng như bánh xà phòng thế mà xem như của lạ.


Và bác lại tếu:


- Sáng nay hai thằng mày - bác gọi chúng tôi thế - có biết Út Cả vui vẻ gì không? Lại có một cha hay theo “giúp đỡ” anh em văn nghệ chúng mình đem rượu và giò lụa đến đây uống với Út Cả. Anh ta bảo: Thưa bác! Cả năm nay bác cháu chúng ta bình yên, chúng cháu lại đến liên hoan cùng bác.


Anh Nguyễn cười hóm:


- Thế hai thằng mày thấy có vui không?


Mà vui thật, năm ấy anh Nguyễn vừa hoàn thành tác phẩm “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” nhạc sĩ, họa sĩ Văn Cao vẽ bìa, ngoài bìa có những chiếc hầm tròn như những vại bia và hơi giống như mắt thần của bộ đội cao xạ nhìn thẳng vào máy bay Mỹ.


- Năm nay vui vì tể tướng có bạn rượu uống và “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” vừa viết xong…


- Và năm nay Mai Văn Tạo phải hoàn thành “Củ Chi đất thép”, còn Đoàn Minh Tuấn phải xong cuốn tiểu thuyết như đã dàn dựng về ông Vua áo vải nhé! Thôi chúng ta cùng uống mừng xuân đại thắng!


Chúng tôi lại hỏi chuyện để níu thời gian giao thừa ở nhà anh lâu hơn.


- Thế khi nào “Mỹ cút, ngụy nhào” bác sẽ vào đâu trước?


- Tất nhiên là Cà Mau rồi! Ta uống mừng đường ta đi mau tới Cà Mau! Bác gái từ nãy giờ cứ ra ra vào vào, xem chừng để châm nước, và cũng vui theo chúng tôi. Lúc đầu bác hơi ngại, mấy năm qua cụ ông đã gặp nhiều điều không vui, nay giao thừa hai thằng miền Nam này lại đến? Nhưng trên thần sắc bác gái đã đỡ lo âu và vui lây. Chúng tôi càng yên tâm, vì sợ bác gái kiêng cữ đầu năm và cả năm dông thì chúng tôi khó ăn khó nói!


Có tiếng gà gáy - con gà trống dưới tầng trệt chuẩn bị đón xuân cất tiếng gáy ò ó o!


Chúng tôi tạm biệt ra về. Bác Nguyễn Tuân tiễn chúng tôi xuống hết cầu thang, tôi lấy ở giỏ xe ra một chai “cuốc lủi” cho vào áo bành tô của bác gọi là quà xuân.


Và ngay sáng hôm ấy Đài Tiếng nói Việt Nam đã vang vang loan tin chiến sĩ thắng lớn Sài Gòn và cả các thị thành phương Nam…


Nhà báo Nguyễn Nguyên rất xúc động khi được một nửa ngày ngồi uống rượu ở nhà Nguyễn Tuân mà anh thuật lại một bài khá dài trên báo Thanh niên, số ra ngày 29-8-1988. Xin trích một vài đoạn:


Bữa rượu ở nhà anh Nguyễn Tuân hôm ấy (25-5-1981) bắt đầu lúc 11 giờ rưỡi trưa và kéo dài cho đến xế chiều.


Rượu thì chai lớn, chai nhỏ, chai đầy, chai lưng lưng, nào thứ ngâm quả dâu tằm, nào ngâm mơ chùa Hương, nào nguyên chất Vân, nhưng giữa cái khoảng thời gian một nửa ngày trôi đi lững thững ấy, có nhiều lúc chén rượu nâng lên, anh Nguyễn thường chỉ nhắp rồi cặp mắt xa xôi lặng lẽ, hoặc chỉ hớp một hớp nhỏ để xấp giọng sau mỗi câu phát biểu về một nhân vật hay một quan niệm, một vấn đề.


“Nếu mặc cảm mà cứ mang nặng thì dù 1000 (một ngàn) lít vẫn cứ mất oan, chẳng giải quyết được gì.


Phải vất bỏ cả tự cao lẫn tự ty, vất bỏ mặc cảm tức là tự chủ, là dân chủ thực sự”.


Anh Nguyễn nhấn từng chữ và câu nói bật ra thật hết sức bất ngờ khiến tôi phải đòi anh nhắc lại cho tôi ghi sổ tay. Của đáng tội, khi đòi ghi chép tôi cũng có hơi chút ngài ngại. Nhưng anh Nguyễn gật gù rồi đọc và đọc, có chấm có phết, y hệt như là thầy giáo đọc chính tả vậy. Đọc rồi diễn giải, rồi lại nói. Rất nhiều câu chuyện không đầu, không cuối. Có câu nghe ngồ ngộ, có câu thấy ngang ngang làm tôi ghi dứt xong một câu, chưa kịp buông bút, chưa kịp gấp cuốn sổ, mà đã lại thấy cần ghi thêm ghi tiếp.


- “Có thứ đọc sách để phá người. Có thứ đọc sách để tu dưỡng, đọc sách để signaler (báo cho biết) cho anh em điều hay, cái gì nên đọc, nếu không sẽ lãng phí.


Lúc trẻ cái gì cũng đọc hết, giống như cái dạ dày trai trẻ, gì cũng ăn, cũng tiêu hết vì cần ăn. Đến lúc đứng tuổi và có tuổi rồi vẫn đọc, đọc cái mới và đọc lại những cái mình đã đọc mấy chục năm trước để xem xem cái gì còn lại được qua những gì mình đã đọc, và đọc lại xem còn giữ được cái gì, và cái gì phải từ chối đi”.


Ấy đại để nhiều câu như vậy. Có câu tự nhiên tôi bỗng nhớ nhập tâm, khỏi cần ghi. Và nhằm lúc anh Nguyễn tạm ngưng, nhắp chén, tôi lại hỏi anh về cô Tú, về Lý Văn, về ông Huấn Cao.


“Về cô Tú, cuộc đời giờ đã hết tất cả sán lạn rồi. Bởi vì đời đã sớm đòi hỏi cô nhiều về bổn phận. Cô nhất định không đi lấy chồng và vui lòng sống vậy cho đến lúc nào cậu Chiêu em đi thi được và làm nên được…


… Cái bây giờ của cô Tú đã là không đáng kể và cô chỉ sống bằng mong chờ về cái mai sau của cậu Chiêu…”.


Tôi nói với anh Nguyễn rằng ở cái tuổi của chúng tôi, mấy chục năm trước đây, trong xã hội cũng không hiếm lắm những cô Tú bằng xương bằng thịt cũng như những cô Tú ở trong nhiều tác phẩm khác nhau của nhiều nhà văn; nhưng cô Tú do ngòi bút của anh Nguyễn tạo ra, người con gái ấy cao hơn hết thảy, nổi bật lên không chỉ riêng về sự hy sinh mà từ ứng xử, từ cái nhìn ra chung quanh, từ cái cách so sánh, xét người, đánh giá một con người. Cô Tú chị của cậu Chiêu, trong văn học chỉ có một, độc đáo.


- Anh Nguyễn ạ, -tôi nói một giọng đầy hào hứng- mấy tổng vùng quê tôi và bên kia sông Ninh Cơ, ngày xưa cũng là đất những tay chơi. Cái “bút chì” ở vùng tôi người ta gọi là cái móng giây. Đám cướp lớn, quân chiến bao giờ cũng đi bộ ba gồm ngọn trường, móng giây và lá chắn. Hồi tuổi hai mươi tôi vẫn còn gặp, ở đây đó trong vùng, những tay chơi nổi tiếng. Bọn họ trước đó, nghe nói lâu lâu tổ chức đi ăn cướp không phải vì đói, vì miếng ăn mà vì có cái láu nghịch ngợm, ăn cướp để chơi thôi. Tôi có dịp gặp gỡ và cũng từng trò chuyện với họ, mặc dầu bọn họ có người tuổi lớn gấp đôi, gấp ba tuổi tôi. Có người trông dáng dấp bề ngoài rất chững chạc phong nhã là khác. Nhưng tôi chưa gặp ai có phong độ và suy nghĩ như ông Lý Văn. “Ngọn bút chì của chú hay đấy. Nhưng cũng còn nặng tay. Chưa được ngọt đòn lắm. Có nhiều khi mình chỉ nên đánh dọa người ta thôi. Nếu không cần đến, thì chớ nên làm tổn hại đến nhân mạng”. Cái ông Lý Văn của anh đúng là một tay chơi có tư cách hơn tất cả những tay chơi đấy anh Nguyễn à.


Anh Nguyễn Tuân nghe rồi cười cười, gật gật. Chén rượu nhắp cạn lại rót tiếp. Câu chuyện cứ việc lan man không bến không bờ. Cùng dự bữa, anh Nguyễn Văn Bổng đã uống rượu ăn cơm rồi đi họp. Khi tan cuộc họp quay trở lại, thấy anh Tuân và tôi vẫn đang la đà, anh Bổng phải đứng sững, ngạc nhiên thốt lên.


- Giỏi quá vậy!


- Ông có muốn uống thêm vài chén nữa thì ngồi xuống đây.


Anh Tuân hấp háy cặp mắt, chìa tay mời, giọng nói vừa thân mật vừa như ra lệnh. Anh Bổng cười xòa. Ba chén rượu rót ra từ cái chai đã uống phân nửa, nhưng bỗng thấy như nồng thêm bởi mấy mẩu thời sự sốt dẻo, bởi một vài màn thay bực đổi ngôi ở ngoài Bắc trong Nam.


Trên căn gác ba của ngôi nhà số 43 đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội, ở buổi chiều một ngày đầu mùa hạ mà vẫn còn được hưởng cái mát dịu của hơi gió xuân lạnh rớt, không khí từng lúc cứ đột ngột sôi nhộn.


Trong cuộc đời, ở một người nào đó, một loại người nào đó, bất chợt chỉ với một nửa ngày, với một ngày nhưng có thể coi như đã sống một năm, hoặc mười năm, hai ba chục năm. Anh Nguyễn Tuân rõ ràng đã sống nhiều ngày như vậy, và bởi đã sống như vậy nên chắc chắn anh sẽ sống, vẫn sống mãi trong tâm tưởng của nhiều người.


Trong sách Con chữ soi bóng người (NXB Hội Nhà văn, 2010, nhà thơ Trần Thị Thắng có một bài “Nguyễn Tuân và nỗi buồn dương thế”, có đoạn:


…Có người biết đem chữ và nghĩa ra chơi, sắp đặt cho đẹp mà ý lại cao. Nhưng ngược lại, ông là một con người luôn cô đơn. Ông thường mời vợ chồng tôi lại chơi nhà, trên sập nhỏ đựng những vỏ chai rượu Tây do bạn bè mang lại. Hay những người trọng văn ông họ đi ra nước ngoài, đọc văn ông thấy gần lại với quê hương thì lại nhớ ông mà mua rượu tặng. Người đọc văn ông là những người, biết thưởng thức văn chương và cũng biết đến rượu ngon nên dành tặng ông. Những lúc như vậy ông vui đấy mà buồn đấy, gọi Lê Quang Trang đến để nhấp chút rượu cho vơi sầu:


- Tôi bị mang tiếng ăn uống khó, thực ra là buồn lắm Trang ạ, ăn uống cũng là để vơi đi nỗi sầu. Nghề của mình đã đơn độc trước trang giấy, có ai viết hộ mình được đâu mà mình phải tìm ra tứ để viết, viết rồi lại không bằng lòng với mình, thế là đã cô đơn lại cô đơn. Còn ăn uống, nếu ăn cho xong thì chỉ mấy phút, ăn uống nó đi với nhau để nguôi đi những cô đơn mà nghề mình tự nó mang lại.


Nói đến đó, ông lại nhấc ly rượu Tây lên nhấp rồi đặt xuống. Tôi mạnh dạn hỏi ông:


- Người ta đồn bác uống cà phê cho thêm một chút nước mắm?


Tôi chưa bao giờ thấy Nguyễn Tuân lại cười hiền lành như thế, cười xong ông trả lời:


- Thiên hạ cứ khoác bừa vào những “chi tiết” thừa cho tôi, nhưng người biết thưởng thức văn Nguyễn thì sẽ biết Nguyễn Tuân không bao giờ uống cà phê như vậy.


Cùng sống và làm việc với Nguyễn Tuân suốt 40 năm ở Hội Nhà văn, nhà thơ Tế Hanh có nhiều kỷ niệm khó quên đối với anh: Kỷ niệm về những chuyến đi thực tế, đi tham quan trong và ngoài nước rồi cùng trao đổi, đọc sách cổ kim Đông Tây và có khi cả những chuyện bất đồng, tranh cãi phê phán nhau, giận nhau rồi lại dàn hòa… Tế Hanh kể lại trên báo Văn nghệ số ra ngày 1-8-1992 một bài rất dài do chị Ngọc Trai ghi lại:


Những chuyến đi công tác, đi nghỉ nước ngoài cho tôi thấy rõ bạn bè văn nghệ nước ngoài quý trọng anh Tuân như thế nào! Tôi nhớ nhất chuyến đi Bungari và Liên Xô cùng anh năm 1973. Hội Nhà văn Bungari mời ba nhà văn Việt Nam sang nghỉ và thăm đất nước Bungari trong ba tháng. Hội cử Nguyễn Tuân, Kim Lân và tôi. Tháng 10-1973 chúng tôi lên đường. Đi máy bay ghé qua Bắc Kinh, qua Mátxcơva rồi mới sang Bungari.


Thời kỳ này trong phe ta đã có những quan điểm bất đồng rồi hiều lầm, đối phó lẫn nhau nên các sứ quán ta ở Bắc Kinh, Mátxcơva và Xôphia rất ngại đón tiếp đoàn nhà văn ta, nhất là trong đó lại có anh Tuân mà mọi người vẫn đồn đại là rất ngang bướng và tự do. Hồi đó anh Lê Tư Vinh đang công tác ở sứ quán ta tại Bắc Kinh, anh vốn đã quen biết với anh em chúng tôi, lại là người hiểu biết khá sâu về Trung Quốc nên đã giúp cho những ngày ghé lại Bắc Kinh của chúng tôi có thêm những hiểu biết thú vị. Hồi này đang là dịp trung thu, anh Lê Tư Vinh có dịp đãi chúng tôi món dưa hấu Tân Cương và rượu Mao Đài. Anh giới thiệu về chè Thiết Quan Âm và chè Long Tỉnh là hai thứ chè đặc sắc của Trung Quốc. Còn qua Liên Xô thì chúng tôi được ở lâu hơn. Vì anh Kim Lân lần đầu tiên ra nước ngoài nên từ nhà đã yêu cầu Hội cho ghé lại thăm Liên Xô một thời gian. Vì vậy lượt sang, chúng tôi phải liên lạc báo trước với Hội Nhà văn Liên Xô để họ chuẩn bị trong lượt về sẽ đón chúng tôi. Nhưng khi đến sân bay Mátxcơva, sứ quán ta hơi ngán đoàn nhà văn chúng tôi nên muốn ta nghỉ tạm ở một khách sạn của sân bay rồi đi luôn. Anh Kim Lân sợ nhỡ mất chuyến thăm Liên Xô nên kêu mệt không thể đi tiếp ngay được. Tôi và anh Tuân đều không vui nhưng cố không tỏ ra mặt mà chỉ yêu cầu đưa về nghỉ ở Sứ quán rồi hãy hay. Sứ quán đành đón chúng tôi về nhưng nhét ba người vào một phòng chỉ có một chiếc giường.


Anh Tuân đùa vui nói châm biếm: “Thế là ta phải cư trú văn nghệ tại đây!”.


Hội Nhà văn Bungari bố trí cho đoàn chúng tôi một ô tô riêng, một phiên dịch và đưa đi thăm khắp đất nước Bungari. Chúng tôi đi bằng đủ mọi phương tiện: ô tô, tàu hỏa, tàu thủy. Đến thăm Biển Đen, chúng tôi ở lại nhà sáng tác của Hội Nhà văn Bungari trên bờ Biển Đen. Bạn tiếp đón chúng tôi rất thân tình. Anh Tuân thích thú và thức suốt đêm uống rượu đến say mèm. Từ đó về Xôphia anh Tuân đề nghị bạn cho chúng tôi đi chơi thuyền dọc sông Đa-nuýp trong nửa ngày. Đến thung lũng Hoa Hồng bạn cho thăm xí nghiệp tinh chế nước hoa. Theo phong tục mến khách của xí nghiệp, bạn vẩy cả một lọ nước hoa lên bộ râu của anh Tuân và tặng chúng tôi nhiều nước hoa. Hội Nhà văn Bungari định mời chúng tôi nghỉ lại ba tháng nhưng chúng tôi chỉ xin ở một tháng. Sau khi đi khắp đất nước, bạn bố trí chúng tôi ở tại nhà sáng tác của Hội xây trên một đỉnh đồi gần thủ đô Xôphia. Nhà xây dựng theo phong cách dân tộc Bun và được bài trí theo một phong vị rất cổ kính. Chỉ có một tháng ở thăm đất nước Hoa Hồng mà chúng tôi có nhiều ấn tượng tốt đẹp về đất nước thơ mộng, cổ kính này. Khi về nước tôi đã làm được một số bài thơ. Sau này khi có dịp tiếp đón các bạn nhà văn, nhà thơ Bungari như Blaga Đimitrôva, những kỷ niệm đẹp về đất nước Bungari ngày đó lại sống dậy trong tôi.


Nhà văn Kim Lân bảo rằng, người ta hay nói nhiều giai thoại về Nguyễn Tuân, nhưng phải là người như thế nào mới có những giai thoại hay chứ? Chỉ riêng Nguyễn Tuân là mới có thể viết được “yêu ngôn”. Bởi vì cuộc sống của ông đã “yêu quái” lắm rồi, mới có được cái “thần bút” ấy! Nguyễn Tuân là người cực kỳ sợ ma. Khi ông cùng Kim Lân sang công tác ở Bulgaria, mỗi người được cấp một căn phòng riêng, nhưng ông sợ ma không dám ngủ một mình. Ông đòi Kim Lân sang ngủ chung một phòng với ông cho bằng được. Nhờ vậy, Kim Lân phát hiện ở Nguyễn Tuân có một thứ bệnh rất lạ: suốt thời gian ở Bulgaria, đêm nào cũng như đêm nào, cứ đến độ một giờ sáng là Nguyễn Tuân thức dậy bật đèn sáng trưng, đi đi lại lại nghĩ ngẫm, giở sách ra đọc. Sau đó, ông lại mở rượu ra uống, vừa uống vừa đọc sách. Rồi lại mở tất cả vali quần áo ra nheo mắt ngắm nghía, xếp đi xếp lại cả chục lần. Mãi gần bốn giờ sáng, vừa tàn bữa rượu thì ông mới chịu đi ngủ. Một giấc ngủ ngon lành mới thật sự đến với nhà văn. Kim Lân bật cười, nhỏ giọng: “Khổ lắm! Lúc mình cần ngủ thì ổng thức, lúc mình thức thì ổng lại ngủ khì. Mà lạ lắm nhé! Nó như thành một thứ bệnh, rất giống như ma ấy, đêm nào cũng như đêm nào. Đấy, huyền thoại đấy, huyền thoại Nguyễn Tuân đấy! Huyền thoại ở ngay chính trong đời sống tâm linh của mỗi con người chứ đâu!”.


Từ Bungari về Liên Xô, anh Tuân muốn đi xe lửa để có dịp ngắm nhìn phong cảnh Đông Âu mùa tuyết phủ nhưng bạn đã mua sẵn vé máy bay, chúng tôi phải đi máy bay. Về Liên Xô, gặp một hội nghị quốc tế lớn, khách sạn không còn chỗ, Hội Nhà văn Liên Xô nhờ sứ quán ta bố trí cho chúng tôi ở tại sứ quán và bạn đài thọ. Lần này chúng tôi được ở đàng hoàng hơn.


Trong thời gian này anh Tố Hữu nhân đi dự Đại hội Đảng anh em cũng ghé lại Liên Xô. Biết tin có đoàn nhà văn chúng tôi đang ở đại sứ quán, anh Tố Hữu yêu cầu tổ chức một buổi liên hoan thân mật tại sứ quán. Buổi liên hoan ấy tôi nhớ có món mực nướng và rượu Tây. Anh Tố Hữu đứng lên nâng cốc rồi chỉ vào Nguyễn Tuân và nói theo giọng Huế: “Ông ni là xét lại, còn tui là giáo điều, chừ ta cạn chén với nhau dàn hòa hè!”, rồi anh ngoặc tay cầm rượu của anh qua tay cầm rượu của Nguyễn Tuân rồi hai người cùng cạn chén, động tác đó là biểu hiện của sự bình đẳng và thân thiện. Anh Tuân uống cạn chén rượu và xúc động rơm rớm nước mắt. Đặc biệt là anh chị em ở sứ quán, họ hết sức ngạc nhiên. Vì đối với họ, anh Tố Hữu là một cán bộ lãnh đạo cao cấp, xưa nay dù anh Tố Hữu và một số cán bộ lãnh đạo khác có tỏ ra thân mật với họ cũng không bao giờ có được thái độ bình đẳng cởi mở thực sự như vậy. Chúng tôi, những văn nghệ sĩ vốn được anh Lành quý mến và luôn luôn đối xử bình đẳng thân tình; lúc này, trước vẻ cởi mở chân tình của anh Lành đối với anh Tuân và đoàn nhà văn, tôi và anh Kim Lân hết sức cảm động.


Năm 1987, trong lần khác tôi được đi nghỉ ở Liên Xô, Marian Tcasốp đến báo cho tôi tin dữ: “Anh Tuân mất”. Marian đặt ảnh thờ, thắp hương cho anh Tuân rồi rơm rớm nước mắt nói: “Cuộc đời cụ Tuân gắn liền với con số 7: sinh tháng 7, mất tháng 7 năm 87 và tròn 77 tuổi. Những người gắn nhiều với số 7 và số 9 thường là những người đặc biệt tài hoa”.


Gần 40 năm cùng sống với anh Tuân ở Hội Nhà văn, chúng tôi khác nhau về tính nết về phong cách, có khi khác nhau về quan điểm nữa nhưng tôi vẫn quý anh Tuân về tài năng và đức độ; và có lẽ anh Tuân cũng quý tôi. Tôi còn nhớ một kỷ niệm ngọt ngào với anh. Có lần chúng tôi tranh luận với nhau về quan điểm, anh Tuân đã nặng lời với tôi. Sau đó khi tôi đi mổ mắt ở Đức anh đã viết thư thăm hỏi chân tình. Khi tôi khỏi bệnh trở về, trong bữa cơm thân mật ở Hội Nhà văn, anh Tuân ngồi cạnh tôi, rồi cứ gắp thức ăn cho tôi và nói: “Mình trông rõ hơn ông, để mình tiếp ông!”. Suốt buổi liên hoan tôi để ý thấy anh Tuân toàn gắp thức ăn cho tôi và các bạn, riêng anh chỉ nhấm nháp cốc rượu suông với một miếng giò nhỏ.


Không chỉ uống rượu, ông còn dùng rượu để ứng xử. Có người kể, một lần ông sang thăm Mátxcơva theo lời mời của Hội Nhà văn Liên Xô. Hội cử một nhân viên tới gặp ông, nói: Ông có một số tiền nhuận bút do sách dịch và xuất bản ở Liên Xô. Có nhu cầu mua những hàng hóa gì, xin ông kê ra giấy, những người bạn Nga sẽ lo chu tất, kể cả việc đóng hòm gửi tàu biển về Hải Phòng. Về nước, ông chỉ việc xuống Hải Phòng nhận hàng.


Vào lúc ấy, đây là một sự ưu ái ghê gớm. Người Việt Nam ta được dịp xuất ngoại (“oách” nhất là đi Đông Đức, thứ nhì là Liên Xô), chẳng ai quên mang theo số lượng nhiều nhất có thể hàng tiêu dùng như quần bò, áo phông, son phấn… để hưởng ứng phong trào “nhà nhà làm thương nghiệp” đã phát triển rộng khắp trên cả nước. Bán được hàng để có đồng “rúp” đã vất vả, mua được hàng mang về còn gian nan gấp bội. Các “nhà buôn” nghiệp dư thích nhất là mua được tủ lạnh, thứ hàng có giá cao, rồi nồi áp suất, bàn là, quạt tai voi… thậm chí cả cái dây maixo cũng được vơ vét. Mua hàng không dễ, vì Liên Xô là một nước mà nền kinh tế có kế hoạch rất chi là đàng hoàng. Không ai sản xuất ra hàng hóa để các ông vơ vét mang ra ngoài biên giới nước người ta. Thế mà ông Nguyễn Tuân được người ta mời mua, lại chỉ cần “phán”, chẳng cần mất một giọt mồ hôi đã có và chắc chắn sẽ có đầy đủ mọi thứ theo yêu cầu. Nhưng người nữ nhân viên của Hội Nhà văn Liên Xô từ sửng sốt này tới ngạc nhiên khác khi nghe nhà văn nói đại ý: Các đồng chí giúp tôi dùng số tiền này tổ chức một tiệc rượu, tôi muốn mời các nhà văn Liên Xô hiện ở Mátxcơva tới dự. Tiền không có nhiều, món ăn có thể tùng tiệm, nhưng rượu nhất định là phải loại rượu ngon nhất. Rượu ngon, nổi tiếng khi ấy chỉ có bán trong các cửa hàng cung cấp (kiểu như Tôn Đản, Nhà Thờ của ta thời bao cấp), Hội Nhà văn cũng không dễ dàng gì để mua được những chai rượu loại ấy. Khá nhiều nhà văn người Nga tới dự đều nói lần đầu tiên được uống thứ rượu “sang” như thế. Giải thích về cách tiêu tiền rất “ngông” này, ông bảo: Mình cũng phải để cho họ hiểu người Việt Nam sang đây không phải chỉ đi xếp hàng mua tủ lạnh với nồi áp suất. Nguyễn đã dùng rượu vớt vát chút vị thế của đất nước, của dân tộc bằng chính những đồng tiền do ngòi bút và tâm huyết của ông làm nên.


Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên có tác phẩm được dịch sang tiếng Nga. Hiện nay, giáo sư Nguyễn Xuân Đào, con trai của nhà văn vẫn giữ cuốn sách Vang bóng một thời được in ở Liên Xô: “Nhuận bút của tác phẩm được dịch không nhỏ, hơn 7.000 rúp, thời đó đồng rúp có giá ngang đồng đô. Thế mà cụ tiêu sạch cho bạn bè Xô Viết, chỉ mang về cái quạt tai voi, mấy thước vải lĩnh, để may quần cho vợ, ít thuốc lá và vài chai rượu. Vợ có trách, ông buông câu: “Của thiên trả địa thôi mà!”. - Báo Tiền Phong, số xuân Bính Thân, 2016.


Cũng tờ báo này cho hay: Tác giả Người lái đò sông Đà là một trong những nhà văn được giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu năm 1996. Toàn bộ số tiền thưởng (25 triệu) đã được gia đình nhà văn lập thành quỹ học bổng Nguyễn Tuân, để ươm mầm những tài năng văn học của Khoa Văn học, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, những thầy, cô giáo dạy văn tương lai. Đến nay, quỹ vẫn hoạt động tốt.


Người ta cũng kể, mỗi lần có dịp đi nước ngoài về, Nguyễn đều lần lượt mời từng người bạn đến nhà mình. Mỗi người đến đều được ông mời một chén trong cái chai rượu “Tây” nhiều khi là duy nhất ông mới mang về. Ông ngồi tiếp bạn nhưng bằng chén rượu “cuốc lủi” quen thuộc. Uống hết, nếu khách có nhu cầu, ông sẽ mời bằng loại rượu dân dã mà ông đang uống. Người cuối cùng được mời bao giờ cũng là người được ông quý trọng nhất, chỉ vì chén rượu cuối cùng thường có dung lượng nhiều hơn chén rượu bình thường. Quả là những chén rượu thấm đẫm tình người. Rượu lúc này là dịp để những người bạn tâm đắc trò chuyện, có thể sẻ chia tất cả những gì muốn nói không phải giữ ý, giữ kẽ vì sự hiện diện của người thứ ba.


Sự có mặt của Nguyễn Tuân trên đời này làm cho người ta thấy nghề viết văn, làm báo cũng sang trọng lắm chứ! Và những người cầm bút có được một đồng nghiệp như ông cũng cảm thấy mình sang trọng lắm chứ. Nhưng Nguyễn Tuân đã nằm xuống rồi! Ông mất ngày 28-7-1987 tại Hà Nội.


Nguyễn Tuân nổi tiếng là người khó tính và cẩn thận khi sử dụng chữ nghĩa. Ông cũng nổi tiếng về những giai thoại về cuộc đời ưa giang hồ và phóng khoáng của ông. Ông có bề ngoài khệnh khạng, khinh bạc, bất cần, nhưng lòng dạ chân thành, hào hiệp trong giao du, chí tình với đồng nghiệp, bạn bè. Người ta có nhiều lời đồn đại về di chúc của ông viết để lại trước khi nằm xuống. Người thì bảo, ông yêu cầu đốt cho ông hình nộm một nhà phê bình, để xuống dưới đó ông sẽ hỏi: Xuống đây rồi, ông đã nói thật chưa? Người lại bảo ông để lại một danh sách: những người nhất thiết không được đến dự lễ tang của ông; những người đến cũng được mà không đến cũng được và cuối cùng là danh sách những người nhất thiết phải có mặt trong tang lễ thì ông mới nhắm mắt được.


Chuyện đến tai Nguyễn Tuân, ông bảo: Mọi lời đồn đại không đúng. Mình di chúc lại thế này: Số tiền các cơ quan, đoàn thể dự định mua vòng hoa và để vào phong bì viếng mình, xin dùng mua một téc bia, mời anh em bạn bè uống, mừng cho Nguyễn Tuân về cõi vĩnh hằng.


Bút tích cuối cùng của nhà văn Nguyễn Tuân là hai bức thư, một gửi Nguyễn Khải và Đoàn Minh Tuấn, một nữa gửi nữ sĩ Mộng Tuyết ở Sài Gòn. Thư viết vào 19 giờ 30 phút ngày 27-7-1987, nghĩa là trước khi nhà văn qua đời một ngày. Thư viết trên giường bệnh, tại khoa Tim mạch bệnh viện Hữu Nghị Việt - Xô. (Thư nhờ ông Nguyễn Đình Thi chuyển về Hội Nhà văn để rồi nhờ người vào Sài Gòn chuyển đến tay người nhận). Hai thư ấy, chữ viết tài hoa, nét khỏe và bay, trình bày có cân nhắc, so le, dụng ý, vẫn loại mực đen. Nội dung phong phú, câu chữ chính xác, chấm, phẩy, văn phong từ ngữ đặc sệt Nguyễn Tuân. Vẫn là chuyện đời, chuyện nghề. Chuyện đời, ông viết: “Trẻ, già ốm chết. Có nhiều cách chết. Đừng ốm lâu”. Về chuyện nghề ông viết: “Nhà văn khuyên nhau đừng nghĩ ngợi gì nhiều. Không nghĩ thì còn viết được gì nữa! Một đời vì mấy đường tơ/ Hành người cho đến bây giờ chưa thôi”.


Cái Tết cuối cùng của Nguyễn Tuân, nữ sĩ Mộng Tuyết nhờ người quen đem ra Hà Nội mấy trái bưởi ổi và mấy cây phát tài. Nguyễn Tuân rất cảm động. Trên giường bệnh, Nguyễn Tuân gửi thư vào cho Mộng Tuyết, thư viết:


“Chị Mộng Tuyết,


Mấy trái bưởi ổi tôi cho khô hóa được một trái, nay nó nhỏ khô, trông khá vui. Còn lũ cây phát tài, tôi cho mỗi cành vào một vỏ chai sâm panh đều tươi tốt khá cả. Chúng trang trí cái ban công mặt tiền nhà người hàn sĩ đỏ này.


Mong dịp Tết này lại được nhiều quả và cây của chị. Mong thư. - Nguyễn Tuân”.


Sau khi viết hai bức thư này, 13 tiếng đồng hồ sau, nhà văn lớn Nguyễn Tuân đã trút hơi thở cuối cùng.


Nữ sĩ Mộng Tuyết đã khóc “người anh cả văn chương” của mình bằng một bài văn thống thiết, bài “Mưa dầm tháng Bảy” viết tại Úc Viên ngày 31-7-1987, đúng ngày cất đám Nguyễn Tuân. Nữ sĩ viết: “Tôi có thói quen yêu quý những nét chữ của người thân, một cánh thiếp hay một phong thư, một chữ ký, tôi hay để rải rác quanh chỗ tôi làm việc. Và lúc nào cũng thấy như người thân có mặt. Chữ “có mặt” này cũng là chữ của anh đã dùng trong một cánh thiệp. Tôi sẽ đặt một chai rượu bên những vật kỷ niệm quý ấy.


Nhà thơ Bảo Định Giang kể lại trên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số ra ngày 7-8-1987: “…Nghe tin anh Nguyễn Tuân mất, tôi thắp hương, rót rượu cúng anh. Tôi bảo đứa cháu nội cùng bà nội lạy cúng ông Tuân. Cháu tôi ngoan ngoãn nghe lời ông bà. Tôi nhìn vợ tôi và cháu tôi đang lạy mà rơm rớm nước mắt. Tôi bắt đầu khóc anh Tuân từ phút cúng ấy.


Anh Tuân ơi, mấy lát giò chả mà vợ tôi mua để kèm theo trên mâm rượu cúng anh chiều nay vô tình làm tôi nhức nhối về một nhà văn hơi chướng, nhiều khi chỉ biết làm theo ý mình, thường gây khó chịu với một số người nào đó, lại là người viết nhiều nhất về công cuộc chống Mỹ, cứu nước ở Hà Nội. “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”, là một trong những tác phẩm của Nguyễn Tuân được nhiều bạn đọc đánh giá cao - là một chứng cứ rành rành ra đó.


Anh Tuân ơi, hôm nay, vợ tôi mua giò chả thật để cúng anh. Chắc là anh không dùng? Anh không dùng, tôi càng nhớ anh, càng thương anh vô cùng về câu nói: “Trước đây mình có nhấm nháp “giò chả” cũng chỉ nhấm nháp trên giấy, thế mà nó cũng tìm đánh!”.


Anh Tuân ơi, bây giờ còn ai dám xúc phạm đến một nhà văn như anh nữa đâu! Anh hãy dùng nắm cơm với mấy lát giò chả và ly rượu của gia đình một đứa em lúc nào cũng thương anh và biết tôn trọng cá tính của anh…”.


(còn tiếp)


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »