tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20175612
25.01.2017
Nhiều tác giả
Nguyễn Tuân “Người cũ về rồi hoa mới nở…” (1)



Trong di cảo của nhà thơ Phạm Tiến Duật, báo Tinh Hoa Việt, số ra ngày 10-11-2016, có đoạn:


Trong số các nhà văn quý trọng sự uống rượu có cụ Nguyễn Tuân. Cụ chơi với rượu như chơi với phở. Nhấm rượu như nhấm đời vậy thôi. Chúng tôi là đám cây bút ranh con làm sao dám đánh đu với Nguyễn Tuân. May mà không bị cụ đuổi khéo lần nào. Về mặt phẩm chất, Nguyễn Tuân là một nhà thơ nhiều hơn là một nhà văn. Cụ là một nhà thơ và nhà báo, có nghề nghiệp của nhà điều tra viên cao cấp. Người đời cứ nghĩ cụ kiêu, nhưng không phải. Chẳng hạn như trường hợp Đỗ Chu khi ấy mới cho ra được dăm cái truyện ngắn nổi tiếng mà Nguyễn Tuân đã bỏ thì giờ thẩm từng câu văn của cậu lính trẻ pháo binh. Ngồi với cụ rất thú, học hỏi được nhiều, nhưng phải chịu lời mắng mỏ của cụ. Nguyễn Tuân mắng: “Thằng này không biết ăn phở. Người ta bỏ ra 10 đồng mua bát phở là bỏ ra 7 đồng để mua nóng, 3 đồng để mua phở. Ăn phở mà ăn chậm là không biết ăn”. Nguyễn Tuân mắng: “Cậu không biết nói chuyện. Nghe người ta kể, chuyện biết rồi cũng phải tỏ ra như người chưa biết mới là người biết nói chuyện”. Nguyễn Tuân mắng: “Chê ai thì chê, đừng chê thẳng thừng thằng có quyền. Phải chê cái thằng na ná như thằng có quyền nó mới tiếp thu được”… Lần ấy, tôi và nhà văn Đỗ Chu, ngẫu nhiên, ngồi với Nguyễn Tuân. Đỗ Chu hấp háy mắt, giơ cái cốc lên, tôi biết là thằng trạng ranh này sắp bịa chuyện. Đỗ Chu không chỉ “xiếc” bạn bè mà dám “xiếc” với cả các ông lớn. Đỗ Chu nói: “Bác nhìn, đáy cốc đỏ như có máu?”. Nhật xét ấy là đúng kênh của Nguyễn Tuân, nhưng cụ già không bị lừa. Nguyễn Tuân nói ngay sang việc khác. Cụ bảo:


- Nhìn và nói phải đúng cái của mình. Bọn phê bình đã bắt bẻ tớ về cách dùng từ “rúm rượu”. Ơ hay, khi ấy tớ ở Sibêri, nước đông thì rượu cũng đông. Rượu đã đông thì không thể ngụm một ngụm, tợp một tợp, mà chỉ có thể bốc một rúm.


Cụ cười khoái trá rồi nói tiếp: Tớ mới ở Hoàng Liên Sơn về. Tớ có mang về một tảng rêu, cho vào hộp để tặng một nhà lý luận văn nghệ. Đó là một tảng rêu đỏ như máu chứ không phải rêu xanh. Để nếu tớ viết thì không bị mắng.


Cụ nói như vui chuyện mà nói, nhưng tôi và Đỗ Chu đều hiểu đấy là thông điệp chúng tôi nghe lúc đầu năm cho chúng tôi và cho xã hội. Phải cầu thị trước đời sống. Sự cầu thị cần cho đời và cần cho văn chương.


Cho đến tận bây giờ, khi các bậc thầy ấy đã không còn nữa, tôi vẫn trăn trở mãi, rằng hình như tâm hồn và suy nghĩ của các vị ấy lớn hơn nhiều so với những gì họ đã viết ra, vẽ ra…


Đương thời, nhà thơ Hoàng Cầm kể:


Cái đêm Nhà xuất bản Hội nhà văn ra mắt các bạn văn nghệ sĩ là một đêm cuối xuân sang hè. Mưa phùn, có lúc man mác, có lúc oi ả. Không khí ẩm, lớp nhớp. Năm ấy là 1957.


Trong Ban giám đốc, tôi được phân công làm người giới thiệu và dẫn dắt chương trình buổi họp mặt, tuy gọi là long trọng nhưng rất có vẻ thân mật “người nhà”. Cũng có ca sĩ hát mới, hát dân ca, có ngâm thơ, đọc thơ rôm rả. Đặc biệt tôi mời được bà Nguyễn Thị Phúc, một danh ca trong nghệ thuật ca trù. Năm ấy, 1957, bà đã quá 40 tuổi, dáng người vẫn thanh tao, đài các, tiếng phách vẫn ròn, tiếng hát vẫn lanh lảnh, có cả bác Ban, nghệ sĩ đàn đáy, từng lắm phen bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay. Tôi lại hẹn trước với anh Ngô Linh Ngọc: “Cậu sẽ cầm chầu thật phong lưu công tử đấy nhé”. Đủ mặt các nhà văn đàn anh: Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Tú Mỡ, Thế Lữ, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, cả Xuân Diệu, Huy Cận, Văn Cao, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư… Tôi thắp hương cắm vào bình đặt dưới ảnh Tản Đà, Ngô Tất Tố và Nam Cao. Mọi người có một phút tưởng niệm rưng rưng - nhớ nhất Nam Cao. Chắc hẳn đêm nay anh ấy cũng ngồi ở góc nào đấy, để xem “thế sự” vui buồn gì chăng?


Đêm đã có vẻ gần khuya. Lúc này nghe ca trù mới hợp cảnh, sinh tình. Bài hát nói Cánh bèo của Tản Đà, mở đầu cho cái nguồn ca trù, vào giờ ấy, thành ra thiêng. Roi chầu của Ngô Linh Ngọc cũng nhiều xao xuyến. Hết bài, không có vỗ tay, vì ai cũng như đang đi vào cõi u tĩnh trang nghiêm. Bác Nguyễn Tuân lặng lẽ rón rén đến rỉ tai tôi:


- Tì bà hành đi!


Tôi bèn trịnh trọng giới thiệu Tì bà hành. Bà Phúc se sẽ hỏi tôi:


- Hát cả hay trích đoạn, anh Hoàng?


Tôi cũng đáp nhỏ nhẹ, gần như nói thầm:


- Tùy sức khỏe của chị, chứ ai chả thích nghe toàn bài.


Trước cái im lặng chờ đợi, trong niềm rung động nghệ thuật, bà Phúc lựa lại cỗ phách, bác Ban so lại dây đàn và tôi mời bác Nguyễn cầm chầu. Nguyễn từ tốn ung dung, bảo nhỏ tôi rót cho bác một ly rượu quê, một thứ rượu chính cống nếp cái hoa vàng tôi đã chuẩn bị từ mấy hôm trước. Chỉ uống một ngụm rượu ấy cũng như uống cả một cánh đồng quê tháng mười. Ba tiếng trống gọi của bác Nguyễn dóng lên, nghe thật đĩnh đạc và ruột gan mình cứ như đang nở ra.


Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách.


Tiếng hát của bà Phúc cất lên, chim kêu, vượt hót nào tày, quyện với nhịp phách như suối reo, thác đổ với ngón đàn đáy bậc thầy dẫn dắt mọi người vào một cơn say văn hóa đồng bằng sông Hồng, mà tiếng trống sành điệu của bác Nguyễn cứ đều đều điểm những dấu chấm son cho một bản tình sử thi buồn xa vời vợi… - Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Xuân Đinh Hợi, 2007.


Nhân dịp tuần 100 ngày (30-10-1987) nhà văn Nguyễn Tuân, nhà văn Đoàn Giỏi nhớ lại chuyến đi biển với nhà văn Nguyễn Tuân cùng nhiều nhà văn khác năm nào. Bài có tựa đề “Bèo gió giang hồ” đăng trên báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 30-10-1987).


Chiều tháng Giêng năm Nhâm Tý (1972) trên chiếc khinh hạm T.152. Ngoài khơi vịnh biển Bắc Bộ trời còn lạnh lắm. Trên đường từ đảo Cô Tô về đảo Vân Hải, trời đã ngớt mưa. Mấy anh em cùng kéo cả lên boong. Đợt gió mùa đông bắc “bổ sung” đã dịu rồi, nhưng biển vẫn không ngớt gầm gào.


Trong bài Huyện Đảo, ghi lại chuyến đi này, Nguyễn Tuân có viết: “Chúng tôi là năm người viết văn xuôi, một nhà điêu khắc và một anh bạn nhiếp ảnh…”. Đó là Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Bổng, Diệp Minh Châu, Phạm Tường Hạnh, Đoàn Minh Tuấn, Duy Đức và tôi. Nằm chịu lắc ngất ngư gần cả ngày trong vỏ sắt dày của hầm tàu sực mùi dầu mỡ, ù tai vì tiếng máy tiếng sóng, buổi chiều tạnh ráo là dịp tất cả chúng tôi kéo nhau lên boong hít thở không khí trong lành và ngắm biển. Không một cánh chim, không một bóng thuyền. Chỉ có bao la trời nước vừa tan hết sương mù. Tia nắng mặt trời chiều vàng vọt, từng lúc hiện ra, từng lúc biến đi, hư ảo chập chờn trên lưng sóng miên man.


Nguyễn Tuân nhắc tẩu thuốc lá ra, nhả khói, nhìn theo làn khói bay hồi lâu và cười, bảo anh em chúng tôi đang đứng tựa lưng vào một khẩu đại bác:


- Bây giờ chúng ta cùng làm chung một bài thơ đi, cho vui. Liền ngâm. Mỗi người hai câu. Một người xướng lên trước, ai nối được ngay vào, cứ nối.


Không biết anh bạn Duy Đức nhiếp ảnh thế nào, chứ nhà điêu khắc Diệp Minh Châu còn sôi nổi hưởng ứng hơn những anh em văn xuôi chúng tôi. Anh cười hà… hà…


- Phải rồi. Làm ngay đi, các cha. Anh Tuân đề xuất, vậy anh xướng trước đi.


Anh Tuân cười - cái cười bằng mắt, gieo vui ấm áp cho tất cả bạn bè xưa nay - thong thả móc chai rượu dẹp bỏ túi, trong áo véttông và chiếc cốc bạc tùy thân ra, đặt xuống sàn tàu, rồi anh ngồi phệt xuống bên cạnh:


- Mời các cha mỗi người làm một cốc cho ấm.


Chai rượu và chiếc cốc bạc, bằng cái hạt mít bên trong mạ vàng vẫn để nguyên đó, chưa ai chạm đến. Mặt người nào coi cũng có dáng vẻ trầm tư. Hồi lâu, anh Tuân lại cười, bảo: “Bây giờ mình xướng đây!”. Tay với cầm chai rượu rót ra cốc, anh đọc chậm rãi đúng âm sắc, rõ từng tiếng một bằng một thứ giọng thổ hơi trầm và kéo dài:


Chút thân bèo gió giang hồ


Vạn Hoa buổi sớm, Cô Tô buổi chiều.


Anh tợp cạn cốc rượu, lại rót đầy: “Xin mời các cha. Nào, xin mời”. Vừa mời uống mà cũng còn có ý mời nối tiếp đây. Tất cả đều im lặng. Không biết các nhà thơ tìm hứng tìm vần sục chữ, mặt mũi thế nào, chứ bọn văn xuôi chúng tôi trông mặt anh nào cũng khó đăm đăm. Kẻ tì tay lên lan can, anh chấp tay sau đít đi tới đi lui. Còn tôi thì đi vòng quanh khẩu đại bác. Lững thững một vòng. Lững thững hai vòng. Có ý rồi mà thiếu chữ, thiếu vần. Tôi nhẩm lại mấy chữ cuối của câu thơ anh… “Cô Tô buổi chiều”. Chiều, liều, triều, miều… không được. Phải lấy vần giảm chế? Èo, vèo, tèo, chèo… Lượn hết vòng thứ ba, tôi reo lên: “Được rồi, tôi xin tiếp vào hai câu trên”. Mọi người ngồi xuống quanh anh. Anh Tuân vuốt ria, nhấp một ngụm rượu rồi ngâm lại:


Chút thân bèo gió giang hồ


Vạn Hoa buổi sớm, Cô Tô buổi chiều.


Mọi cặp mắt đều nhìn vào tôi, chờ đợi. Tôi ngâm tiếp bằng một thứ giọng Huế pha chè, bởi thừa biết giọng Nam Bộ không thể nào hay được. Thơ ngâm giọng Bắc, giọng Huế thơ dở cũng nghe thành hay. Tôi hắng giọng:


Thuyền đời chẳng bến không neo


Ngại chi chuyện chống, chuyện chèo về đâu!


Mọi người lại im lặng. Anh ngồi tréo tay gác lên hai đầu gối, mắt đăm chiêu, thoáng buồn, rồi lại tươi cười, cầm cốc đưa vào tay tôi:


- Dữ! Nhà ngươi đường phiêu bạt còn dữ hơn ta! Số kiếp chú mày rồi đây còn sẽ bồng bềnh, nổi trôi, dạt xô nhiều đấy!


Bầu không khí hào hứng, rôm rả lúc nãy trầm lắng hẳn xuống. Anh em động viên nhắc nhau mãi vẫn không ai nối tiếp: “Đủ rồi! Bốn câu tròn rồi. Phát triển nữa là thừa, đâm nhạt, đâm chán”. Rồi cùng rót rượu chuyền nhau, nói chuyện khác để xua cái buồn lúc nào cũng chực sẵn trong tấm lòng của những con người xa xứ.


Bây giờ thì anh đã nằm xuống rồi. Gót chân phiêu lãng đã dừng lại. Nấm mồ dưới nghĩa trang Văn Điển đã vĩnh viễn khép chặt cánh cửa đen ngòm, giữ lại dưới tầng đất sâu một con người hào sảng, phóng túng lúc nào cũng chực muốn đi.


Bây giờ thì tôi một mình ngồi trong buồng khách của Hội Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Chiều lặng phắc. Nhìn ra bốn hướng trời vần vụ mây đen, nhớ, nghĩ về anh mà bời bời niềm kia nỗi nọ. Tâm sự Lỗ Tấn (trong bài Ai Phạm Quân) cứ chờn vờn như một ám ảnh, càng muốn quên đi thì hai câu thơ buồn đó lại càng xô tới, vây bọc lấy mình:


Cố nhân vân tận tán


Duy ngã đẳng khinh trần!


Bạn bè tan tác mây trôi - Chỉ còn hạt bụi thân tôi sá gì! Mấy tháng vừa đây, ngày 17 tháng 3-1987, trong bức thư gửi thăm anh L, tôi có viết: “Đi đâu? Về đâu? Về Nam nhớ Bắc, ở Bắc nhớ Nam, suốt đời chìm trong nỗi nhớ về một chốn xa nào đó khôn nguôi…”.


Anh Tuân ơi! Anh vậy là xong phận của anh rồi. Còn anh em bạn bè sống chết gắn bó mấy mươi năm, nhất hạng là bọn cùng chuyến đi hãn hữu ngày đó? Biết “Tàn dung còn bạn bên mồ cố nhân” hay rồi đây cũng sẽ nằm xuống tận nơi chân trời góc biển nào? Mỗi người có một số kiếp, hay gọi là số phận cho dễ lọt tai. Lời tiên đoán, gần như phán quyết của anh giữa trùng khơi ngày nọ, giờ quả thấy ứng nghiệm thật. Có điều, chính bởi tự thân tôi hay đó là do mắc chứng lây xê dịch của anh thì chẳng rõ. Mà thôi, ta bận tới chuyện ấy làm gì?


… “Khăn gói xe đưa” chuyến này, trong đám đi có hai anh cũng từng lang bạt kỳ hồ nhiều năm, trước cách mạng tháng Tám.


Diệp Minh Châu từ 14-15 tuổi đã ăn quán ngủ đình, lặn lội theo thầy Hoàng Tuyển học vẽ “phông” cho các gánh hát bội, hát cải lương, đi khắp kẻ chợ thì quê trước khi thi đỗ vào Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội… Phạm Tường Hạnh đã tha phương cầu thực vào Nam, khi làm thợ may, lúc làm công chức tận Pnôm Pênh, tập kết ra Bắc xung phong vào địa đầu giới tuyến Vĩnh Linh làm công tác thông tin văn hóa, thay Rum Bảo Việt vừa được gọi về du học Liên Xô… So với “nghiệp giang hồ của sư phụ Nguyễn Tuân” thì hai anh này hãy còn là “đệ tử” chứ chưa lên được hàng “sư thúc”. Thầy giáo Nguyễn Văn Bổng hãy kha khá, còn lại chúng tôi chỉ là loại tép riu.


Chuyến đi chơi biển này (nói chơi cho sang trọng, chứ là đi thâm nhập thực tế) nếu ví Nguyễn Tuân như con cá Ông, thì phải xem Phạm Tường Hạnh và Đoàn Minh Tuấn là hai con cá đao, phò hai bên, theo huyền thoại biển.


Chiều rồi. Triều xuống. Khinh hạm không cặp gần bờ đảo được. Hạm trưởng Trần Động cho bắn pháo hiệu để trong ấy đưa thuyền ra đón. Pháo hiệu màu phải bắn đến ba chập. Lâu lắm mới thấy thuyền du kích của xã đội chèo ra. Bởi nghe tiếng máy tàu, dân đảo nghi biệt kích Mỹ - Tưởng mò vào như năm ngoái. Ộp oạp lội bùn lên, đảo cát vắng hoe, nhà nhà im ỉm. Vậy mà chốc sau, Tuấn đã chạy tìm liên lạc được với Ủy ban… và Hạnh đã bưng đâu về một rổ cá, tay cầm nắm lá gì màu nâu đỏ trông như lá mèo gà, nói là để nấu ngay một nồi canh chua. Tất nhiên là canh chua cá biển, phải có ít tửu mới ra hương vị. Các gương mặt bèo nhèo, tái xanh đã tỉnh táo, khởi sắc lại, hồng hào cả; và chuyện sẽ đi tới xóm ấp nào, sẽ gặp những ai những ai… lại râm ran.


Ngay từ mồng bốn Tết, trước phút khởi hành, theo lệnh của anh Tuấn, mỗi người phải “trình làng một lít rượu”. Ai không có, không được lên xe! (Thời đó chưa cấm rượu, mà anh nào tửu lượng cũng khá cả).


Xem như thuốc, để dùng khi cần thiết. Vả lại, ở đảo lương thực khó khăn, phải chở gạo từ đất liền ra. Có rượu đấy, mà toàn rượu cất bằng khoai sắn, vừa nghe mùi “cồn” vừa đắng! Anh bảo chúng tôi thế. Chuyến ra đảo này là chuyến đi thứ ba của anh.


Mỗi người lần lượt lôi biđông, chai trong giỏ xách tay của mình ra trình diện. Thấy trong làn mây của anh Tuân còn có một lọ nước mắm cô hạt tiêu, và một hộp cá “xác đin” nhập ngoại.


Anh em đều la: “Trời ơi, chở củi về rừng! Đi biển lại mang theo nước mắm và cá!”.


Anh cười nhẹ nhàng:


- Phòng xa vẫn tốt hơn. Biết đâu chẳng có lúc chúng ta cần!


Ở nhà khách tỉnh, câu lạc bộ thủy thủ Cửa Ông đâu đâu chiêu đãi cũng có rượu mời, và các chai rượu uống dở, chủ đều nhét cả vào làn cho khách, để làm “xăng dầu” đi đường. Mới qua đêm, hôm sau tới huyện đường Cẩm Phả, bi đông của Diệp Minh Châu không còn giọt nào, mà hành trình thì còn những hai tuần lễ nữa.


- Ê, cha nào còn không ta, cho mình cốc coi! Châu cười hà… hà… cầm cốc nhựa tổ bố rà ra theo các làn, túi xách của anh em.


Nguyễn Tuân lại lấy chiếc cốc bạc của anh ra, châm cho Diệp Minh Châu một cốc. Cả hai anh đều là “dân chơi” mà lại là “dân chơi của hai thái cực”. Điều này, nhà thơ Bảo Định Giang nhiều lần nhắc tôi: “Phải học cái tính chu đáo của người miền Bắc. Mà người về mặt giao tế, tiêu biểu là anh Tuân! Nhậu lớn, nhậu nhỏ gì, bao giờ uống xong rượu thỉnh của chủ, anh cũng rút chai dẹp trong túi áo véttông ra, mời người quanh mâm mỗi vị một cốc”.


Lại còn chuyện này. Khi chiến hạm sắp rời căn cứ, có một sĩ quan trẻ chạy đến tỏ ý lấy làm tiếc không được nghe cuộc nói chuyện của bác Nguyễn Tuân đêm qua, và hỏi thăm tên tôi, xưng là Ngô Tám, người cùng quê với tôi. Hóa ra cậu này biết tôi mà tôi không nhớ cậu. Tập kết ra Bắc, cậu còn lứa tuổi thiếu nhi, được gởi ngay sang học ở Ôđếtxa, giờ đang là sĩ quan huấn luyện tại đây. Cậu này là con thứ tám của một gia đình cách mạng nòi: chú, bác, cha, anh đều hy sinh từ Nam Kỳ khởi nghĩa và trong kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi cùng ôm nhau, rưng rưng nước mắt.


Anh Tuân lại cười cười, vẻ cảm động:


- Cửu thư phùng cam võ/ Tha hương ngộ cố tri… Đây là niềm vui lớn thứ hai của người xưa. Vậy hai ông hãy uống với nhau mỗi người một chén! - Anh lại rút chai rượu dẹp và cái cốc hạt mít của anh ra, trao cho chúng tôi. Và sau đó, anh cũng xin chia vui với chúng tôi bằng chính chai rượu và cái cốc đó của anh. Và anh còn kéo cả Ngô Tám xuống tàu, bảo đứng cạnh tôi, cùng chụp chung một tấm ảnh kỷ niệm với anh em.


Nguyễn Duy có may mắn được trò chuyện với cụ Nguyễn nhiều lần, mỗi lần đều nhặt ra được vài ba điều tâm sự cũng độc đáo như cốt cách của cụ. Còn phỏng vấn cụ Nguyễn theo yêu cầu của báo thì chỉ có một lần, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, tôi nhớ đời vì bị cụ đuổi ra cửa, đuổi yêu thôi, nhưng vẫn có nội dung để nhớ.


Đó là mùa thù năm 1983, nhà thơ Nguyễn Duy kể: Tôi ra Hà Nội dự Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ ba, và được cử vào ban phóng viên thường trực Đại hội. Tôi tới thăm cụ Nguyễn, kết hợp làm bài phỏng vấn cụ nhân dịp Đại hội ấy, cùng với nhà thơ Phạm Tiến Duật. Cụ Nguyễn chưa mời ngồi đã phỏng vấn tôi trước:


- Chú mày ra ngoài này lâu chưa?


- Thưa, ba ngày rồi ạ.


- Sao mà mãi hôm nay mới tới tôi?


- Thưa, em bị bắt vào tổ phóng viên, mấy hôm rồi đi làm phỏng vấn các nhà văn từ các nơi về…


- À, ra chú mày tới đây là để phỏng vấn tôi à?


- Dạ, vừa tới thăm anh, vừa kết hợp việc đó.


- Này, thôi nhé. Đi, đi, đi… Đi mà phỏng vấn người khác. Để cho tôi nằm, tôi mệt. Đừng có bắt tôi đụng vào cái đại hội nhà văn nhà veo kỳ này nhé. Định mượn mồm tôi để ca tụng đại hội chứ gì? Đi, đi, đi…


Tôi đưa mắt nhìn Phạm Tiến Duật, lo lắng. Chắc ông già đang có điều giận ai đó, giận cái gì đó, chứ đâu phải giận chúng tôi, càng không phải giận cái đại hội… Tôi trấn tĩnh và quyết định phải liều mạng choảng yêu cụ một đòn:


- Thôi, anh đã đuổi thì bọn em đành phải đi vậy. Nhưng xin phép anh cho in mấy câu anh vừa nói để thay cho bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Tuân.


- Này…. - cụ Nguyễn đang ngả người trên cái ghế nằm bỗng nhỏm dậy - vào đây, vào đây đã… Chú mày định chơi tôi đấy à?


- Thưa, không ạ. Em định làm thật chứ không phải chơi.


- Được đấy! Vào đây, ngồi đây đi… Mời hai ông trẻ ngồi…


Cụ Nguyễn với tay lôi chai rượu trắng từ dưới gầm bàn viết ra, rót ba chén nhỏ và trỏ mời chúng tôi:


- Thôi, hòa nhé. Cứ ngồi chơi với tôi, hết buổi sáng nay cũng được. Ngồi chơi, uống chơi, nói chơi chứ không có làm báo ở đây. Tôi biết các ông cũng muốn hỏi cái gì đó. Cứ hỏi. Tôi sẽ trả lời. Nhưng cấm in lên báo.


Sau kỳ Đại hội Hội Nhà văn năm đó, tôi tới chào cụ Nguyễn để về Nam, cụ cười khì khì:


- Sao, chú mày thất vọng hả? Thôi, đừng nóng ruột. Việc của chú mày là viết, cứ viết đi là tốt nhất. Cái gì tới thì sẽ tới…


Nhân có tuyển tập Nguyễn Tuân vừa được xuất bản, cụ Nguyễn tặng sách cho tôi và tôi thành tâm chúc mừng cụ. Cụ Nguyễn cả cười mà rằng:


- Ông không phỏng vấn tôi nữa à? Rất nên phỏng vấn tôi về cái tuyển tập này, thì các ông lại không làm. Lạ thật.


Tôi lúng túng thật sự. Điều cụ Nguyễn nói đúng quá. Tôi cũng tiếc là báo Văn nghệ đã không làm việc đó. Riêng tôi thì xin hỏi để biết, để nhớ thôi và thầm hứa sẽ làm kỹ cái phỏng vấn nghề văn cụ Nguyễn. Cụ Nguyễn tâm sự:


- Nhiều người chết rồi mà không nhìn thấy tuyển tập của mình đấy, trong đó có người thật là tài, thật là lớn… Còn tôi, đằng sau cái mừng, còn có cái buồn. Nửa thế kỷ làm nghề văn, được chọn lại mấy trăm trang sách. Ít quá. Sách trong bụng thì nhiều hơn gấp mấy, mà bày ra giấy chưa được bao nhiêu. Thời trẻ, tôi phí sức cho cái sự chơi lang bạt quá. Chết đến nơi rồi mới biết tiếc việc thì đã muộn… Đã ít mà lại còn thiếu.


Trầm ngâm một lát, cụ Nguyễn lại cười tủm tỉm:


- Tôi tiếc cái Chùa Đàn quá. Họ cắt cái Chùa Đàn khỏi tuyển tập này cũng giống như là cắt cái lá gan của tôi ra khỏi bụng tôi. Họ sợ nó ung thư hay sao ấy, gan rượu mà. Thực ra, nó là gan lành, nó bị nghi oan. Này, sau này nếu chẳng may có chút quyền hành, thì các ông chớ có đè mấy anh nhà văn ra mà cắt ruột cắt gan nhau đấy nhé… Nào, uống đi, có thể đây là chén rượu cuối cùng tôi cụng với chú mày đây…


Đó là chén rượu cuối cùng của năm 1983 cụ Nguyễn chìa ra cho tôi. Lần đầu tiên tôi nghe cụ Nguyễn dùng cái chữ chén rượu cuối cùng là năm 1982, khi cụ nhận được giấy của Hội Người Việt Nam tại Pháp mời cụ sang Tây chơi một chuyến dối già. Cụ Nguyễn cho tôi xem cái giấy mời sang trọng đó và cười khà khà:


- Lúc còn trẻ, còn ham đi, thì chả có ai mời. Già, hết chơi bời nổi rồi thì người ta lại mời đi. Này, cái sự đời nó oái oăm nhỉ… Thôi chả đi đâu nữa, ở nhà lo chết là vừa. Đi chuyến này, lại trúng năm tuổi, khéo chết ở xứ người mất. Nào, có thể đây là chén rượu cuối cùng tôi cụng với chú mày…


Cụ Nguyễn đã từ chối chuyến đi Tây ấy thật. Nhưng chén rượu cuối cùng thì chưa. Cụ còn chìa cho tôi có tới mười cái chén cuối cùng như vậy. Cụ vẫn uống lai rai và viết lai rai cho tới khi cụ đi thật, là vừa đúng năm năm nữa. - Báo Sài Gòn Giải phóng, 16-8-1987.


Nhà văn Nguyễn Tuân không chỉ nổi tiếng về văn chương, mà còn nổi tiếng là người sành ăn. Báo chí có nhiều bài viết của bạn bè về chuyện sành ăn, sành uống của ông rất phong phú. Đọc thấy còn vài món, vài cách độc đáo của ông chưa ai viết, Nguyễn Quang Sáng muốn bổ sung vài chuyện nho nhỏ cho vui.


Nguyễn Tuân thích trứng vịt bắc thảo với tôm khô củ kiệu như người Sài Gòn, nhưng cách ăn không ai giống ông. Trứng vịt bắc thảo không cắt ra từng miếng bằng dao, cũng không dẽ không dầm be bét ra bằng đũa, mà ông lấy một sợi chỉ, một đầu cắn vào răng, đầu kia là hai ngón tay, tay kia đưa trứng đã lột rồi dùng sợi chỉ cắt từng khoanh, từng khoanh mỏng. Xong ông nhìn từng cái khoanh mỏng trứng bắc thảo để trên một cái dĩa kiểu, ngắm nhìn cái màu sắc một lúc rồi mới khẽ khàng cầm đôi đũa nhón từng miếng nhỏ, nhấm nháp. Rõ ràng là ông muốn thưởng thức đến tận cùng cái ngon của món ăn.


Về trứng, ta thường ăn trứng vịt lộn, ít nghe ăn hột gà lộn. Nguyễn Tuân lại muốn ăn loại trứng lộn khác nữa kìa. Đố bạn đấy? Ông muốn ăn trứng cút lộn, cái trứng cút to lắm cũng bằng đầu ngón tay cái. Nhưng một khi ông đã muốn thì ắt phải có. Chẳng biết làm thế nào mà em gái Trịnh Công Sơn cũng tìm ra một chục. Ông đã rời Sài Gòn rồi, lại phải gửi ra Hà Nội cho ông.


- Trứng cút lộn ông thấy sao?


Ông cười:


- Biết thế.


Có lẽ không thích nên ông không yêu cầu thêm.


Có lần, trong một bữa nhậu, ông nói với tôi, ông muốn mở một cái quán, lấy tên quán Nguyễn Tuân, nghĩa là người vào quán phải ăn và uống theo kiểu Nguyễn Tuân. May mà ông không mở quán, nếu mở, chỉ có sập tiệm!


Sau 30-4-1975, Nguyễn Tuân là người rất sớm vào Sài Gòn và cũng là người rong ruổi về đồng bằng sông Cửu Long sớm hơn rất nhiều văn nghệ sĩ miền Bắc.


Đầu xuân năm 1976, tôi và anh Mai Văn Tạo đưa ông về An Giang quê của hai anh em.


Đường về Mỹ Luông, con đường đá hẹp, xoài chạy dài theo hai bên đường, có đoạn xoài giao cành rợp mát con đường đá. Xoài đầu mùa treo lủng lẳng.


- Ngồi xe, chỉ cần đưa tay ra là có cái ăn rồi. Đúng là đất Nam Bộ.


Nghe ông nói, tôi chợt nhớ trước 1975, lúc còn ở Hà Nội, có lần tôi trả lời ông về con tôm càng. Tôi bảo, ăn xong con tôm, cái càng của nó có thể làm ống đót hút thuốc. Ông nhìn tôi không nói gì. Tôi biết ông chưa hẳn tin, nhưng không có gì làm chứng. “Đợi đấy! Rồi sẽ có một ngày”, tôi thầm nghĩ. Và cái ngày ấy đã đến, tôi hỏi:


- Ông đã ăn con tôm càng chưa?


- Rồi, tao thử đút cái điếu thuốc vào cái càng của nó, không phải vừa mà còn lỏng, khiếp!


Viết đến đây tôi sực nhớ đến chuyện con tôm của Trịnh Công Sơn. Xin mở ngoặc: (Trịnh Công Sơn ở Huế vào, thời còn đi học, trưa ăn cơm dĩa. Một hôm, Sơn gọi:


- Một dĩa cơm tôm.


Cô bán cơm vừa bới cơm cho khách vừa đáp:


- Không có tôm hùm!


Sơn chỉ tay vào dĩa tôm rang:


- Tôm một dĩa sao bảo hết?


Cô bán cơm trừng mắt nhìn Sơn, nói như quát:


- Đó là tép, tôm gì mà tôm?


Trịnh Công Sơn cười, thấy mình quê, nhớ suốt đời cô bán cơm tên Phụng).


Hôm đó, từ Mỹ Luông qua bắc An Hòa qua Long Xuyên, từ Long Xuyên đi thẳng về đến thị xã Châu Đốc thì trời vừa chiều. Anh Mai Văn Tạo đưa hai đứa tôi đến nhà đứa cháu. Lến - chủ nhà bảo:


- Chiều nay, cháu xin đãi bác với chú và cậu (Mai Văn Tạo) một món đặc biệt.


Đặc sản Châu Đốc là mắm: mắm ruốc, mắm thái, mắm cá trèn. Cũng tại Châu Đốc tôi đã ăn mắm ruột, tôm càng nướng, thịt ba rọi, bún với rau sống. Chắc cũng là mắm. Nhưng không! Lến chủ nhà, tuổi độ 40, đặt lên bàn một chai Whisky và một trái sầu riêng. Lạ! Nguyễn Tuân nhìn tôi, tôi nhìn Nguyễn Tuân, rồi cùng nhìn anh Mai Văn Tạo.


- Sầu riêng làm mồi, đặc biệt lắm! - Lến nói. Anh bổ trái sầu riêng, mùi thơm đặc biệt của sầu riêng bừng lên mũi; xong, anh vặn nắp chai Whisky - phải có mùi rệp, không có mùi rệp là giả. Đó là điều dứt khoát. Rượu rót ra bốn ly, Lến lịch sự đưa tay:


- Xin mời.


Một miếng sầu riêng, một hớp rượu Whisky, vị và mùi lạ quá, ngầy ngậy cay cay và tôi không thể tả nổi hai thứ mùi trộn lẫn vào nhau, chỉ biết nói lạ và ngon.


Cạn một ly, nhà văn Nguyễn Tuân hai tay chống lên hông, thẳng lưng, cúi nhìn xuống bàn như tìm kiếm một cái gì rất nhỏ, nhỏ đến độ không nhìn thấy, mà chỉ có thể cảm nhận nó, đó là hương vị của Whisky với sầu riêng.


- Sao ông? - Tôi khẽ hỏi.


Ông không đáp thẳng điều tôi muốn hỏi mà nói:


- Đáng một chuyến đi!


Kể từ đó, sau này có dịp ra Hà Nội, bạn bè kháo với tôi, ở Sài Gòn về, Nguyễn Tuân có một món nhậu vừa độc đáo vừa tuyệt. Hết sẩy! “Món gì?” - tôi hỏi. Bạn bè nói với giọng lắng đọng rằng: “Uống Whisky với sầu riêng! Biết ai không? Cụ Nguyễn nhà ta đó!”. Ông chẳng những đãi bạn quý trong nước, cả bạn nước ngoài. Ông nói với người bạn Pháp “It faut déguster du Whisky avec le durion. Cà vous donnera un gout très originan!”. (Nên thưởng thức Whisky với sầu riêng. Nó sẽ cho anh một hương vị rất đặc sắc).


Tôi cười thấy vui lây.


Tôi với Nguyễn Tuân lại ngồi uống với nhau. Bỗng dưng ông dừng chuyện, nhướng mày hỏi tôi:


- Cậu có biết nhà văn Nguyễn Tuân ăn cắp bản quyền không?


Tôi hơi sững, không biết đó là chuyện gì? Rồi ông như giận, đưa tay xỉ xỉ trước trán tôi:


- Không phải là bản quyền văn chương gì đâu nhá! - Ông đưa tay chỉ trái sầu riêng với chai Whisky - nó đó! Bạn bè Tây cũng như ta ai cũng tưởng Nguyễn Tuân là người phát hiện ra món nhậu này - Mình lờ…


Như để kết thúc câu chuyện, ông đưa tay gặt xuống:


- Biết thế nhá!


Nhà văn Nguyễn Tuân! Kỷ niệm nhỏ tưởng chừng không có ý nghĩa gì, nhưng không thể quên. Mỗi lần uống Whisky với sầu riêng cùng bạn bè, tôi đều nói: “Nhậu theo “gu” của Nguyễn Tuân!”. - Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, số Xuân Đinh Sửu, 1997.


Nguyễn Quang Sáng cho biết tiếp:


Đừng nghĩ anh Nguyễn Tuân là người khó tính - Tôi biết. Một buổi sáng mùa đông năm 1963, anh đến nhà tôi. Nhà tôi ở số 2 đường Cổ Tân Hà Nội, trong sân có bụi tre vàng, ngoài rào trên vỉa hè là quán bia hơi, đối diện với Viện Bảo tàng, nhìn xéo qua Nhà hát lớn.


Anh hỏi:


- Ngày nay cậu đi đâu?


- Dạ ở nhà.


- Vậy thì trưa 12 giờ, còi hụ, cậu đến nhà tôi nhậu.


- Với ai nữa anh?


- Không ai nữa.


Anh chỉ bảo vậy rồi ra về, để cho tôi làm việc. Tôi ngẩn ngơ. Sao chỉ có một mình tôi. Nếu tôi biết chỉ có tôi thì tôi đã nói dối bận đi đâu đó để trốn. Chỉ có một mình mình đối diện với anh trong buổi nhậu, tôi ngán. Ngán, bởi vì, những nhà văn đàn anh lúc bấy giờ, hồi trước người nào cũng nể, cũng sợ anh. Anh chẳng có quyền hành gì, nhưng có cái oai của trời cho, cái oai “vang bóng một thời”, cái oai của văn học. Ngồi với anh, phải biết uống cái gì trước, ăn cái gì sau, ăn cái gì với cái gì, món nào với rượu nào, không thể luông tuồng. Nhưng đã hẹn rồi thì phải đến. Nhà anh căn phòng lầu 2, hẻm 90 đường Trần Hưng Đạo, đi thẳng ra ga Hàng Cỏ.


Đúng là chỉ có một mình tôi với anh. Và tôi cũng không thể không ngạc nhiên vì sao cái bữa cơm lại có thể thịnh soạn và long trọng đến như vậy. Trên mâm có một đĩa lạc rang, rồi nào giò lụa, nào nem, chả quế… cuối cùng là món cháo gà nấu theo kiểu của anh, gà nấu rục.


Trước nhứt anh rót cho tôi một cốc chè pha trong một cái ấm đất chỉ lớn hơn ngón chân cái - độc ẩm. Chè đậm, tôi không quen, nhưng không dám từ chối. Sau đó, tôi luôn để ý, anh gắp món nào tôi gắp món ấy. Chuyện chính của buổi ăn hôm nay là chuyện “Đất lửa”, tiểu thuyết của tôi vừa xuất bản và tôi đã tặng cho anh.


- “Đất lửa” cậu viết được. Nhân vật, được. Nhưng còn cái dòng sông thì đáng nhẽ phải tả gấp đôi gấp ba mới được, phải dữ dội hơn nữa mới cân xứng.


Trong nghề, tả cảnh là điểm yếu của tôi. Khi anh chỉ ra, tôi rất dễ thấy. (Sau này tôi có cố gắng hơn trong Dòng sông thơ ấu). Quyển “Đất lửa” mà tôi tặng cho anh, đến 1972 từ miền Nam trở về Hà Nội, biết tôi không còn quyển nào anh đã tặng lại cho tôi. Cũng buổi trưa hôm đó, anh hỏi tôi nhiều chữ lóng của địa phương Nam Bộ.


- Sao gọi là rượu đế.


- Làm sao gọi là làm phách.


- Làm phách rồi lại làm tàng là sao?


- Treo thế nào là treo tòn teng.


- Nhậu rồi nhẹt, sao lại nhẹt.


- Say sao lại nói là xà quần…


Nhiều nữa, tôi và anh cùng tìm những tiếng của Hà Nội có đủ nghĩa hoặc tương đương với tiếng lóng của miền Nam. Cũng tưởng là bàn chơi, không ngờ anh lấy sổ tay ghi chép cẩn thận. Sau này, qua nhiều chuyến đi với anh, tôi để ý thấy, anh không bỏ qua một tiếng lạ nào của địa phương.


Anh còn hỏi nhiều nữa. Tôi biết là tôi sẽ bí. Phải trốn thôi. Bằng cách nào bây giờ. Tôi rót hai ly đầy, mời anh cạn. Anh chỉ uống nhâm nhi ít khi nào uống cạn. Cạn đến ly thứ ba thì anh ngả ra ghế, mắt lim dim. Còn tôi thì rón rén, bước ra cửa, xuống cầu thang.


Cho đến cuối đời anh vẫn tìm học ngôn ngữ. Mới đây vài tháng, tôi đến thăm anh nhằm lúc nhà tắt điện. Anh thắp đèn dầu.


- Tưởng là vứt nó đi rồi. Bây giờ nó lại quí. Đây gọi là đèn huê kỳ đó, “trỏng” gọi là gì?


- Đèn trứng vịt.


- Ối cha! Đèn trứng vịt! - Anh kêu lên và sướng đến hai con mắt.


- Vì cái bóng của nó tròn và nhỏ như cái trứng vịt.


- Hình tượng đến thế là cùng. Cha… cha… thế mà tôi không biết. Bà ơi bà…


Anh đưa tay chỉ cái bóng đèn. Đèn này là đèn trứng vịt. Từ nay không xài cái tiếng “huê kỳ” nữa - Chị cũng vui lây với anh…


Anh là một nhà văn luôn luôn muốn đi đến tận cùng từng tiếng từng chữ nghĩa của ngôn ngữ Việt Nam.


Anh đã sắp 80 rồi, nhưng vẫn đi nhiều, đọc nhiều, học nhiều, anh trẻ hơn nhiều so với một số trẻ của chúng ta…


Nhà văn, nhà phê bình văn học, Giáo sư Hà Minh Đức thì kể rằng: Khi tôi ở Hàng Ngang, thỉnh thoảng được nhà văn Tô Hoài tạt qua thăm khi ông lên Hội Văn nghệ Hà Nội ở phố Hàng Buồm. Tình cờ một lần, cùng đi có nhà văn Nguyễn Tuân. Số nhà 31 Hàng Ngang vốn tăm tối đi từ ngoài vào trong từ tầng một lên tầng ba gập ghềnh, khúc khuỷu, phải qua nhiều nhà ngổn ngang bên lối đi. Trông thấy ông, tôi cúi chào, ông giơ tay và nói: “Tôi lạc vào Hồng Kông rồi”. Đúng là cái Hồng Kông cũ kỹ mà Nguyễn Tuân đã có dịp biết đến trong chuyến đi quay phim tại Hồng Kông. Nhân gần ngày Tết, Tô Hoài rủ tôi xuống phố, đi về phía Hàng Đào và tạt vào một hiệu rượu. Tôi mua một chai rượu mơ - một chai rượu bình dân - và cầm ở tay. Nguyễn Tuân chỉ vào tôi, bảo: “Ông Đức, ông phải bảo họ bọc lại, trông ông cầm chai rượu không nó thế nào ấy”. Đúng thế, cầm chai rượu không bọc đi giữa phố như thiếu một cái gì, thiếu vỏ bọc, hơn thế nữa, đúng là thiếu văn hóa. Nhà văn Tô Hoài và Nguyễn Tuân đi về phía Bờ Hồ và đến nhà Thủy Tạ. Chúng tôi cùng uống nước và ngắm cảnh hồ quen thuộc. Trong câu chuyện Nguyễn Tuân bảo tôi: “Ông Đức, ông hãy kể về căn nhà của ông ở và cái khu phố cổ này xem như thế nào”. Tô Hoài thường thân tình gọi tôi là Đức, còn Nguyễn Tuân gọi bằng ông, tuy tôi bấy giờ mới ở tuổi ba mươi. Tô Hoài bảo: “Đức có chuyện gì thì kể đi”. Tôi kể vài chuyện trong sinh hoạt của căn nhà như chuyện đổ thùng đêm, chuyện tắc cống, chuyện người Hoa người Việt xô xát vì hiểu nhầm ngôn ngữ, chuyện công an khu phố. Nguyễn Tuân bảo: “Nghe cách ông kể chuyện, ông có thể viết văn được”. Tôi xúc động và cảm ơn: “Thưa bác, tôi cứ thấy sao nói vậy thôi”.


Có người chê Nguyễn Tuân và văn ông phức tạp. Sự vật nhiều khi được lật đi lật lại, soi ngắm kỹ lưỡng đến mức “chẻ tóc làm tám”. Nguyễn Ngọc Thống nghĩ, đúng con người và văn chương Nguyễn phức tạp. Nhưng phức tạp theo nghĩa đó là “dấu hiệu của sự phát triển”, chống lại sự khô cứng, giản đơn, máy móc. Kiên trì theo hướng này Nguyễn Tuân bao giờ cũng tìm cách mô tả đến cùng một cách chính xác, cụ thể, chi tiết những gì ông thấy, ông nghe, ông cầm nắm được. Nguyễn là con người không bao giờ chịu được sự chung chung đại khái từ nội dung đến hình thức. Một con người từng đếm được cầu Hiền Lương có 7 nhịp 894 miếng ván và dài 178 mét, chia đôi mỗi bên 89 thước “nhưng ván cầu thì 450 tấm thuộc về Bắc và như thế là ta hơn mấy tấm” (Cầu ma). Một nhà văn khi viết về một giọt mật ong thấy trong đó là kết quả của 2.700.000 chuyến đi với tổng cộng đường bay là 8.000.000 cây số và thấy trong nửa lít mật ong ngời lên 5 vạn thứ hoa. Một nhà tùy bút đi trên sông Đà, từng đếm được và chép ra 73 cái thác có tên. Nhiều tên khác đọc lên đã thấy rùng mình và dễ viết sai chính tả như thác Hát Nó Kéo, Hát Soong Pút, Hát Soong Mon, Mó nàng, mèo quen… Cũng như khi viết về rừng, ông kể ra rành rọt 94 thứ gỗ (Tình rừng). Và dù chưa đến được Cà Mau, ông vẫn kể ra cặn kẽ 69 tên đất, tên làng nơi “cái gót chân chưa khô bùn vạn dặm” ấy… Một nghệ sĩ như thế làm sao chịu đựng được sự giản đơn trong những trang viết. Và muốn thế, ông không thể không tự trang bị một vốn ngôn từ phong phú để trợ giúp cho ngòi bút đỡ bất lực trước một hiện thực phức tạp như đang ganh đua, tròng ghẹo và thách thức ông. Đọc Truyện Kiều, bên cạnh việc ông phát hiện Kiều đánh đàn 7 lần và 51 lần Nguyễn Du nói tới trăng, ông còn định danh ra 21 kiểu trăng, 21 nội dung - tình thế trăng trong truyện Kiều.


Tiếng Việt có tới hơn 70 từ chỉ cái chết, tuy vậy, Nguyễn Tuân vẫn có hệ thống từ để tạo nên cách nói của riêng mình: Lãng hỏng rồi, cháu nó đi rồi, bỏ một cháu, chẳng được làm người, nỗi buồn bỏ trẻ, ngày tử, việc chết, sắp hết làm người, hết lộc, tắt nghỉ, chưa được nếm mùi đời, sự làm người chưa trọn vẹn, hai năm mươi… Nhìn vào những từ chỉ cái chết của Nguyễn, thấy ít xuất hiện trong từ điển. Khảo sát kỹ ngôn ngữ Nguyễn Tuân các nhà soạn từ điển sẽ bổ sung được một lượng từ đáng kể, các nhà tu từ học có thể phải điều chỉnh vài điểm nào đó trong lý thuyết về phong cách - tu từ học. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ đến việc có thể làm một cuốn sổ tay từ đồng nghĩa Nguyễn Tuân. Ví dụ, ở mục từ, Cái vết chống sào của người lái đò sẽ có: cái khoanh củ nâu, cái vết nghề nghiệp, cái đồng tiền tụ máu, một thứ huân chương lao động… Hoặc xung quanh mục từ Rượu của Nguyễn Tuân sẽ thấy: nước say, cơm men, rượu cất, những chén sủi tăm, tửu, rồi vò rượu, hũ cơm ủ, lứa rượu, mẻ rượu, bữa rượu giỗ, tửu đồ, tửu hậu và đến những từ này thì đúng chỉ có ở Nguyễn Tuân: Huyệt rượu, tửu phần, mả rượu, gò chôn rượu, luỗng tửu phần… (Chùa đàn).


Nguyễn Tuân thật là con người giàu có về ngôn từ nghệ thuật. Cái ‘trữ lượng” khổng lồ ấy quả là khó tính, bởi trong văn Nguyễn Tuân nó không chịu đứng yên. Chúng kết hợp, chuyển đổi, sinh sinh hóa hóa, biến thiên liên tục tạo nên nhiều dáng vẻ, nhiều màu sắc lung linh huyền ảo. Về vốn ngôn từ nghệ thuật, chỉ có thể ví Nguyễn Tuân như một pho từ vị sống phong phú độc đáo.


Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 8, tháng 4-2002, Nguyễn Triều cho biết: Cụ Nguyễn Tuân bàn về rượu cũng khiếp lắm. Kinh hoàng là chuyện ông già đầu ô chỉ uống rượu với một cái đinh. Tợp một hơi, ông lại mút cái đinh một cái. Ấy là rượu mắt ếch, loại rượu tăm nổi tiếng của người Việt. Nặng mà êm. Say mà mềm.


Rượu sang hình như phải như thế mới được.


Trụ sở Báo An ninh thế giới ngày nay ở 100 Yết Kiêu, mấy chục năm trước có quán bánh cuốn của bà Chi, ngay dưới gốc cây dâu da. Bánh cuốn nóng, có cả rượu. Bánh cuốn ngon, rượu cũng khá ngon, tuy đắt. Một dạo, buổi sáng, chừng gần 8 giờ, cụ Nguyễn Tuân lọc cọc khua ba toong từ cái ngõ nhà cụ ở phố Trần Hưng Đạo, đầu phố Yết Kiêu, xuống đây. Lặng lẽ như một cái bóng, cụ Văn Cao từ đầu phố Vũ Lợi cách đó mấy chục mét đến. Hai cụ ngồi vào bàn trên. Tôi và một người bạn nữa ngồi bàn dưới. Các cụ nhấm nháp, thong thả trò chuyện. Lúc đó tôi cứ lạ cho cụ Nguyễn, một người tinh tế như thế trong ẩm thực mà lại uống rượu với bánh cuốn, lại còn bánh cuốn trứng nữa. Nghĩ thế nhưng không dám hỏi. Xong bữa, cụ Nguyễn lấy đầy một cái be con con luôn mang theo bên người rồi lọc cọc đi về phía Hội Nhà văn ở phố Nguyễn Du.


Nhà văn Thiếu Mai có một bài ngắn trên báo Văn nghệ số ra ngày 8-8-1987, về lần gặp cuối cùng với nhà văn Nguyễn Tuân và nhà văn Đặng Thai Mai:


Hôm ấy là ngày 22-3-1984 - 10 giờ sáng. Bác Tuân đến tòa soạn báo Văn nghệ rủ tôi đi thăm bác Mai. Tôi gọi điện báo trước cho bác Đặng Thai Mai. 10 phút sau hai bác cháu chúng tôi đến. Được tin bác Tuân đến chơi, bác Mai rất vui. Bác đã chuẩn bị cái ly con và chai rượu ngoại để đón ông bạn già.


Hai ông già bắt tay thân thiết như đã từ lâu lắm họ chưa gặp lại nhau. Chuyện nở như pháo trong lúc cả hai còn chưa kịp ngồi xuống ghế.


Đặng Thai Mai: Thế nào, độ này ông có khỏe không?


Nguyễn Tuân: Ông tính, làm thế nào mà khỏe được? Phải cố gắng lắm mới khỏe được ông ạ!


Đặng Thai Mai (vừa đi lại tủ lấy chai rượu, vừa nói): À này, hỏi cái này trước kẻo lại quên mất. Ông có viết về trà đạo ở đâu ấy nhỉ? Lâu ngày mình quên mất.


Nguyễn Tuân: Tôi có viết chữ ấy bao giờ đâu! Tôi chỉ viết về cái chuyện uống trà trong Vang bóng một thời, truyện Cái ấm đất.


Đặng Thai Mai: Mình đang viết Hồi ký. Mình có viết một câu về trà đạo, tưởng là chữ ấy của Tuân. Thằng Nhật dịch là livre du thé. Đúng hơn chữ của ông Liên Xô: voie du thé. Nhưng có lẽ phải là doctrine du thé mới đúng, phải không ông?


Nguyễn Tuân (đứng lùi ra, ngắm bức tranh họa sĩ Văn Cao vẽ nhà văn Đặng Thai Mai năm ông thọ 75 tuổi, 1977): Ông Mai ạ, Văn Cao nó vẽ ông được lắm. Đúng là cốt cách của ông. Tôi thích cái gậy và cách chống gậy của ông lắm (cười), cố nhiên là cách chống gậy trong bức tranh này. (quay sang nói với tôi): Này, cô Thiếu Mai này, hôm nào rỗi, tôi với cô lại xuống đây, ta rủ cả thằng cha Hoàng Kim Đáng xuống, chụp lại bức tranh này. Rủ cả cô Ngọc Trai nữa. Tôi với ông Mai, chúng tôi sẽ nói chuyện bằng tiếng Tây cho các cô tập dượt nghe và nói nhé.


Đặng Thai Mai: Tuân này, Trần Hữu Tước chết rồi. Đáng tiếc. Anh ấy thật là một người tốt, và là một con người văn hóa.


Nguyễn Tuân: Tôi không sợ chết ông à. Nhưng tôi sợ là sợ những người cùng với mình có chung những kỷ niệm vui buồn dần dần đi hết. Khi người ta càng sống được một cuộc đời phong phú thì người ta càng ít bận tâm vì sợ mất nó. Nếu ông muốn biết về cái chết, ông nên tìm đọc cuốn La mort của một tay nhà văn Pháp. Một tiểu luận cực hay. Bà xã nhà tôi vẫn hỏi thăm sức khỏe của ông đấy. Cả sức khỏe chị Mai nữa. À, mà chị đi đâu, sao tôi không thấy?


Ông không bận tâm về hoa nở à? (nhìn quanh phòng, không thấy có một bông hoa, một cành lá nào). Ông nên bảo các cháu nó để cho ông một vài chậu hoa nhỏ ở đây (chỉ vào góc phòng).


Đặng Thai Mai: Có, có đấy. Thường tôi vẫn có lọ hoa ở trong góc đi văng (chỉ tay vào góc đi văng giáp tường), nhưng giờ hoa đắt quá. Dix piastres, vingt piastres…


Nguyễn Tuân: Khi nào có cái gì bực bực trong lòng, ông cứ nhìn một bông hoa, thích ông ạ. À, tôi đọc ông nghe mấy câu thơ nhé.


Đặng Thai Mai (cười ngạc nhiên): Thơ của ai? Của Tuân à? Tuân mà cũng làm thơ à? Này, uống một chút đi.


Nguyễn Tuân (nhắp một ngụm rượu nhỏ rồi chậm rãi nói): Có người bạn tặng mình một nhành lan hàm tiếu. Tối hôm đó một bà bạn cũng đến thăm. Bà ấy về rồi mình đi ngủ, một giờ sáng mình thức dậy, độc ẩm, bỗng nhìn thấy hoa lan nở, tức cảnh làm mấy câu thơ. Chỉ có hai câu thôi:


Người cũ về rồi hoa mới nở


Nổi tăm lòng rượu một hương ai


Đặng Thai Mai: Cái gì? Nổi tăm gì? (lòng rượu). Nổi tăm lòng rượu! Nhiều tình nhỉ! (cười dí dỏm).


Nguyễn Tuân: Năm ngoái mình vào Sài Gòn, ở tại khách sạn Bến Nghé. Cuối tháng ba, sang tháng tư, Sài Gòn vẫn mùa xuân. Ông có biết chữ của hoàng phái tả mùa xuân? Chữ của hoàng phái nhiều hình ảnh lắm. Nhức chân không ngủ được, mình làm hai câu, hai câu thơ enjambement phonétique:


Oi oi, xuân Bến Nghé


Nghe mà buồn nhức xương!


Đặng Thai Mai: Thú vị đấy, Nguyễn Tuân cũng làm thơ! Hay! Mấy lâu có viết được gì không?


Nguyễn Tuân: Lâu nay tôi chả bận tâm cái sự viết lách lắm. Chỉ có Tết vừa rồi có viết cho báo Nhân Dân một bài về cái cầu Thăng Long, vì đã trót hẹn với họ. Cái tôi lý thú nhất là họ không thêm bớt một chữ nào. Nhuận bút được 400 đồng với hai chai rượu. Loại rượu chanh ngọt ngọt mình không thích, đưa cho bà xã bán được mỗi chai 50 đồng, vị chi được 500 đồng. Một tuần sau họ lại đưa đến một cái phiếu 100 đồng thưởng cho những bài có chất lượng. Tổng cộng nhuận bút bài ấy được 600 đồng. Bà xã phấn khởi lắm, bảo mình: sao ông không viết nữa đi (cười). Khốn nạn, có phải cái gì cũng viết được đâu!


Đặng Thai Mai: Đúng đấy, bà ấy nói có lý đấy, thiếu gì cái để viết, sao lại không viết được? Viết, vui, không viết thì buồn lắm.


Nguyễn Tuân: Bây giờ mình thích đọc. Mình bày một lúc ba bốn quyển trên bàn, tùy hứng mà đọc, đang đọc quyển này, không thích nữa, vứt xừ nó đi, đọc sang quyển khác. Cách đọc ấy ông thấy được không? Ăn, tôi ăn như thế này: thấy đói, lấy ăn, đủ rồi; đậy lồng bàn lại, để đấy. Ăn suốt ngày. Ai cũng bảo tôi khó nết ăn, nhưng thực tình tôi không quan tâm nhiều đến cái sự ăn.


Đặng Thai Mai (cười): Làm tội bà ấy cung phụng ông cũng khổ. Ăn rồi còn phải uống nữa chứ! Nguyễn Tuân là phải có rượu phải không?


Nguyễn Tuân: À, à, về cái khoản ấy thì thế này. Tôi uống là chính, ăn ít thôi. Tôi ký sổ. Tôi ăn hết ít gạo lắm. Chỗ tôi uống là vào suất gạo của tôi. Tôi uống như người đi tu ấy mà. À, tôi dặn ông, hễ có rượu gì hay hay, rượu ngoại càng tốt, ông nhớ để phần cho tôi nhé.


Đặng Thai Mai: Ừ, hôm nọ mình vừa gửi cho ông chai rượu Tây đấy thôi. Da dẻ ông đẹp lắm (ngắm Nguyễn Tuân, cười).


Nguyễn Tuân: Da mượn của rượu đấy ông ạ.


(Lại lùi ra xa ngắm bức tranh). Văn Cao nó có tài thực đấy ông ạ. Tài quá! Tài quá! Mà nhạc của nó cũng thiệt là hay. Những bài hát của nó thời chống Pháp bây giờ nhớ lại vẫn thấy hay. Câu chuyện ấy… rồi cũng im bặt luôn… (Đột nhiên đứng dậy). Thôi, tôi về.


Đặng Thai Mai: Bận gì mà vội thế! Ngồi thêm ít phút nữa.


Nguyễn Tuân: À, hôm khác tôi lại đến. Đến thăm ông, thấy ông vui, thế là mừng. Tôi gửi lời thăm chị Mai - Bà nhà tôi cũng gửi lời thăm chị Mai, ông nhớ nói hộ nhé.


Trên ô tô về nhà, bác Tuân cứ cười một mình, xúc động thực sự. “Đến thăm ông Mai, nghĩ cứ thương ông anh cả quá. Thỉnh thoảng phải thu xếp thì giờ đến thăm ông ấy mới được. Mình vui mà chắc ông ấy cũng vui”.


Nhưng thật không ngờ, đó là lần đến thăm nhà văn Đặng Thai Mai cuối cùng của nhà văn Nguyễn Tuân.


Nhân tiện nói cụ Nguyễn Tuân làm thơ, gần đây Khuất Bình Nguyên đưa ra một tư liệu khá quý là, lúc sinh thời, Nguyễn Tuân có làm thơ thật. Bình Nguyên cho biết, người bạn vong niên của ông tóc trắng, da đồng - nhà thơ Ngô Thế Oanh có chép tay cho ba bài thơ của ông Nguyễn lên trên mặt sau của mấy tờ lịch cũ. Bài Say Khúc tương tư viết theo thể lục bát đăng trên tờ An Nam tạp chí, số 5 ngày 1-12-1932. Và bài Trăng liềm viết về sự hồi sinh của Điện Biên Phủ theo thể thơ tự do đăng trên báo Văn học, số 22 ngày 25-12-1958. Cách nhau đúng 26 năm! Tôi giật mình sửng sốt vì không nghĩ đó là Nguyễn Tuân. Nếu như ông Nguyễn lấy nghiệp viết thơ làm chính thì không biết có được ngồi gần cùng chiếu với ông Tản Đà để mà nợ men gấp mấy nợ tình, cõi trần ướm hỏi Lưu Linh mấy chàng hay không? Nhưng sự đời lại không bao giờ có chữ “nếu” như thế xảy ra. Cái mệnh của ông Nguyễn là làm thơ trên những dòng văn xuôi chải chuốt vô tiền khoáng hậu mà tôi được thấy.


(còn tiếp)


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »