tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20798438
24.01.2017
Nhiều tác giả
Trời sinh ra bác Tản Đà… (2)



Trương Tửu kể về “Bữa rượu tam đỉnh” độc đáo của Tản Đà như sau: “Chúng tôi uống rượu ở trên căn gác nhà số 417 tại Bạch Mai, chỗ cụ Tản Đà mở phòng xem số Hà Lạc và dạy Hán văn. Thi sĩ rót rượu mời chúng tôi: “Thứ rượu này có ngâm đan sâm và đương quy, uống đậm giọng mà không hại cho sức khỏe. Hai ông cứ uống thật say, không nhức đầu chóng mặt gì đâu mà ngại”. Chúng tôi chưa kịp đáp lời, cụ đã lại rót tiếp: “Để hôm nay tôi xào nấu các thức ăn, hai ông xem. Tôi làm bếp lại có phần giỏi hơn làm văn… (cười và quay lại gọi gia nhân). Này anh Nhỏ, anh đặt cái hỏa lò nhỏ lên bàn này… Được rồi! Anh đặt luôn cái xoong chả dê này lên cái hỏa lò nhỡ kia, thêm tí mỡ vào… Được rồi! Bây giờ anh nhóm lửa cái hỏa lò to kia lên để nấu canh, húp cho giã rượu… Kìa, hai ông xơi rượu tự nhiên đi… Đấy ăn trên lửa có phải ngon không? (cười to). Một bữa rượu, ba cái hỏa lò! Sang thật! Ngày xưa vua chúa dùng ngũ đỉnh, hôm nay ta dùng tam đỉnh chứ thua gì!”… Đáp lại thịnh tình của chủ nhân, bạn tôi, ông Nguyễn Đình Lạp (tác giả Ngoại ô), nghiêng mình thưa: “Chúng tôi được hầu rượu cụ hôm nay, thật lấy làm hân hạnh và vui vẻ lắm”. Tôi tiếp lời bạn, thân mật hơn: “Chúng tôi không ngờ một nhà thơ tài hoa của núi Tản sông Đà lại nấu nướng thức ăn có nghệ thuật đến thế” (Trương Tửu - Uống rượu với Tản Đà).


Năm 1938, Tản Đà 50 tuổi còn nhà thơ Trần Huyền Trân mới 25 tuổi. Vậy mà giữa họ đã có một tình bạn vong niên, cái chất xúc tác cho tình bạn hiếm có ấy chính là… men rượu. Bài thơ Mộng uống rượu với Tản Đà của Trần Huyền Trân đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy (1938) là một sự đồng cảm sâu sắc của một nhà thơ mới với một nhà thơ cũ, sinh bất phùng thời mà chúng tôi đã dẫn ở trên.


Theo nhà thơ Vũ Quần Phương thì “đây là cái nhìn vừa kính trọng vừa thương cảm - kính trọng sự từng trải, sự hiểu đời, cảm thương về những gian lao đã trải và nỗi vất vả lúc tuổi già sức yếu. Đó là tấm lòng rất đáng trân trọng của người viết”.


Trong thi ca Việt Nam, đã có không ít bài thơ viết về rượu hoặc cái sự uống rượu, nhưng để có những câu thơ hay kiểu Trần Huyền Trân, đặc biệt là câu: Rót đau lòng ấy vào đau lòng này, thì cũng chưa thật nhiều lắm.


Không phải ai cũng “hợp gu” với cái kiểu ăn uống của Tản Đà. Tác giả Món ngon Hà Nội[1] tâm sự: “Người như Tản Đà để ở xa mà kính trọng, cảm phục thì được, chứ ở gần thì không thể nào chịu nổi!... Bất cứ ở đâu ông cũng coi như chỗ không người, ăn uống bừa bãi, nói lè nhè ầm ĩ, có khi đương yên lành chẳng làm sao bỗng đổi ra giọng gay gắt với người đối thoại, tuồng như ông chính là đấng trích tiên thật, thiên hạ ai cũng sợ ông…” (Vũ Bằng - Tản Đà uống rượu làm cho tôi say đến bây giờ, NXB Văn học, 1970).


Cụ tú Phan Khôi - người “vinh hạnh” được “quan tòa” Tản Đà lên án đòi chém, cũng đã nhận xét như sau: “Cái lối đánh chén của ông Hiếu kề cà mất thì giờ lắm, tôi chịu không được nên ít khi tôi ngồi trọn bữa rượu với ông. Ông đem hỏa lò để ở bàn mà tự làm lấy món ăn. Có khi mãn một tiệc ăn, người nhà phải thay than trong hỏa lò đến năm sáu bận. Thường thường một mình ông vừa ăn uống lại vừa viết nữa. Ông cho có thế mới là thú (Tôi với Tản Đà thi sĩ, Tao Đàn số 9-10, năm 1939).


Xem thế cũng biết, cả người thích lẫn người không thích uống rượu với Tản Đà đều có ấn tượng thật đậm nét về “thi sĩ tửu đồ”.


Chính Tản Đà cũng đã nhiều lần “định nghĩa” về ẩm thực: “Đồ ăn không ngon thời không ngon. Chỗ ăn không ngon thời không ngon. Không có người cùng ăn cho ngon thời không ngon…”; hoặc: “Ăn là tất cả một nghệ thuật, mà nghệ thuật ăn nhiều khi lại khó hơn nghệ thuật viết văn”. Nói chuyện văn chương ông cũng ví von với chuyện ẩm thực: “Văn chương có giống như mâm gỏi. Đĩa cá lạng, đĩa dấm ngọt thời người thường dễ ăn. Còn miếng mắt, miếng xương phải đợi con nhà gỏi…Văn chương có giống như thịt chim: xào, thuôn nướng, chả thì dễ chín, hấp cách thủy lửa không đến mà nhừ hơn…”.


Một đoạn khác cũng trong loạt bài của nhà báo Hà Đình Nguyên: Tản Đà rời làng quê Khê Thượng, bắt đầu lên đường phiêu bạt giang hồ vào ngày 25 tháng 3 năm Nhâm Tuất (1922), đến ngày trở về quê cũ là 4 tháng 9 năm Giáp Tuất (1934). Tản Đà đã “tổng kết” bước đường ăn chơi của mình bằng bài thơ Thú ăn chơi đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số ra ngày 27-12-1934: “Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có, cửa nhà thời không/ Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông/ Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly/ Túi thơ đeo khắp ba kỳ/ Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng… / Hà tươi của biển Turan[2]/ Long Xuyên chén mắm, Nghệ An đĩa cà/ Sài Gòn nhớ vị cá tra/ Cái xe song mã, chén trà Nhất Thiên/ Đa tình con mắt Phú Yên/ Hữu tình rau bí ông quyền Thuận An/ Cơn ngâm Chợ Lớn chưa tàn/ Tiệc xòe lại có Văn Bàn, Vũ Lao/ Chấn Phòng đất khách cơm Tàu/ Con ca xứ Huế, cô đầu tỉnh Thanh/ Mán Sừng cái bánh chưng xanh/ Huê Kỳ tiệc bánh Tin lành nhớ ai/ Sơn dương, sò huyết Hòn Gai/ Đồng Sành cá đối, Giáp Lai lợn rừng/ Vân quan, Hoành lĩnh xe từng/ Con tàu “ca-nốt” trông chừng Mê Kông/ Tuồng Bình Định, rạp Phú Phong/ Ô Nam nước mắm, tỉnh Đông chè tàu…”.


Ở Thanh Hóa có một ông bạn cũ là nhà tư bản của tỉnh đó, cùng vợ là cô đầu danh ca, bận áo gấm đến nhà quản ca ở ngoài tỉnh hát suốt đêm, thiệt là hay và vui!


Khi đến chơi nhà ông Trịnh Đình Rư làm giáo học ở Hòn Gai, trong một bữa cơm ông thết đãi có cả thịt sơn dương và sò huyết. Một tỉnh mà sơn hào hải vị có đủ chỉ duy Hòn Gai!


Khi tôi ở ấp Đồng Sành của ông Đỗ Đình Đạt, gần huyện Rào, Hải Phòng, hay ăn cá đối, cái đầu nó mềm và ngon. Ngạn ngữ vùng này có câu Bán ruộng đầu cầu để ăn đầu cá đối.


Khi tôi ở chơi nhà bạn là quan Tri châu Thanh Sơn, có đi bắn chim qua Giáp Lai, nhân trời tối, ông Lý trưởng Giáp Lai là con rể quan châu Thanh Sơn, giữ lại ngủ. Hôm ấy là ngày lễ cáo về việc kỵ của họ, có săn được một con lợn rừng cao đến hơn thước tây, làm theo lối “lòng dấm” để cúng tế. Tối hôm trước là cỗ lòng, sáng hôm sau là cỗ thịt, hai bữa cỗ thiệt có giá trị thay!”.


Mấy câu thơ cuối: “Nay về Bất Bạt quê nhà/ Sông to, cá nhớn lại là thứ ngon/ Vắng bạn bè, có vợ con/ Xa xôi xã hội, vuông tròn thất gia/ Trăm năm hai chữ Tản Đà/ Còn sông, còn núi, còn là ăn chơi!”. Ngẫm, cái sự “ăn chơi” của thi sĩ Tản Đà cách đây gần một thế kỷ quả là ghê gớm! (hồi ấy giao thông cách trở chứ không như bây giờ).


Trong bài Tản Đà, một kiếm khách (Tao Đàn 1939), nhà văn Nguyễn Tuân kể rằng: Có một hôm, những người đang tắm biển ở bãi tắm Sầm Sơn bỗng giật mình, vì thấy Tản Đà bơi một mình ra mũi Kẻ Cổ Rùa, nơi chỉ có những người bơi tài và mạo hiểm mới dám ra. Tưởng để làm gì, hóa ra ông cố bơi ra đấy để “nhậu” tại trận. Ngồi trên tảng đá sống trâu, ông tháo bầu rượu dắt ở thắt lưng ra, mở nút và tu ừng ực, rồi lấy mũi dao nhọn nạy những con hàu đang bám vào đá, tợp chúng với rượu một cách ngon lành giữa một vùng đỏ ối bóng tà dương… “Bữa tiệc rượu” vô tiền khoáng hậu này của Tản Đà đã in đậm trong trí Nguyễn Tuân để tác giả Vang bóng một thời kể lại bằng một giọng văn hết sức hào sảng, khoái hoạt…


Trở lại tình bạn của Nguyễn Vỹ và Trương Tửu, xét về tuổi tác giữa hai người, có thể là tình bạn đồng tuế thì tình bạn của hai nhà thơ Tản Đà và Trần Huyền Trân là một tình bạn vong niên (Tản Đà sinh năm 1889, Trần Huyền Trân sinh năm 1913). Thật ra không có tư liệu ghi chép - của Tản Đà, của Trần Huyền Trân hay của những người khác - về tình bạn vong niên này, vì thế chúng ta ngày nay rất khó hình dung về nó một cách cụ thể. Nhà báo Hoài Nam có bài trên báo An ninh cuối tháng, số 89, ra tháng 12-2008, cho rằng: May sao trong di sản thơ ca của nhà thi sĩ có cái bút danh “đượm mùi khăn yếm” Trần Huyền Trân, chúng ta đọc được ba bài thơ cho phép khẳng định sự tồn tại của một tình bạn như vậy: “Mộng uống rượu với Tản Đà”, in trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy năm 1938; “Khi đã về chiều”, in trên Tao Đàn năm 1939 với lời chua ở cuối bài: “Sau lần thăm Tản Đà, Ngã Tư Sở 1938”; “Viếng nhau”, viết năm 1939, sau cái chết của Tản Đà.


Chúng ta không nên quên rằng bài “Mộng uống rượu với Tản Đà”, cũng như bài “Khi đã về chiều”, được Trần Huyền Trân viết trong cùng năm 1938, một năm trước khi Tản Đà qua đời. Trên thực tế, không phải chờ tới lúc này, mà từ cuối những năm 20 Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã mất đi địa vị thi bá của nền thơ Việt. Khi phong trào Thơ Mới trỗi dậy, Tản Đà bị coi là đại diện của trường phái thơ cũ và trở thành cái đích cho những người bênh vực Thơ Mới tha hồ chế giễu, “ngắm bắn”. Những năm cuối đời của ông quả là một nỗi xót xa nếu so với thời kỳ hoàng kim, khi ông một mình làm nên “cơn gió lạ” thổi suốt trong Nam ngoài Bắc “Túi thơ đeo khắp ba kỳ, thiếu gì rừng biển thiếu gì gió trăng”. Ông độ nhật rất vất vả bằng nghề đoán số Hà Lạc và dịch thơ Đường in báo. Chính vì thế, việc một thi sĩ đương thời như Trần Huyền Trân đến với ông, chung chén rượu và chia sẻ nỗi niềm với ông sâu sắc đến thế, thì không đơn giản chỉ là một biểu hiện của lòng trắc ẩn nữa: Đó là một tình bạn. Trong bài “Khi đã về chiều”, người bạn trẻ đã ngậm ngùi vẽ nên cảnh tiêu điều của người bạn già: “Hồn thơ về lánh bụi hồng/ Quyển vàng tóc bạc nằm chung một lều/ Có đàn con trẻ nheo nheo/ Có dăm món nợ eo sèo bên tai/ Chừng lâu rượu chẳng về chai/ Nhện giăng giá bút một vài đường tơ/ Nghiên son lớp lớp bụi mờ/ Mọt ôn tờ lại từng tờ cổ thi”. Nỗi ám ảnh về rượu vẫn xuất hiện ở đây: Tản Đà không thể sống mà thiếu rượu, “chừng lâu rượu chẳng về chai”, nghĩa là trong mắt Trần Huyền Trân, cái nghèo của Tản Đà đã trở nên bi kịch lắm rồi! Dễ hiểu tại sao Trần Huyền Trân lại “nhạy” với cảnh nghèo của người bạn già đến thế nếu ta đọc những câu thơ ông viết về tình cảnh của chính mình: “Đã có lần khói bếp không lên/ Vợ ngược, con xuôi, túi hết tiền/ Chồng gục cả lòng trên giấy mực/ Đen ngòm mặt đất tối như đêm/ Trang lại trang máu lẫn mồ hôi/ Từng dòng tay bút đã buông xuôi/ Giữa khi ông chủ buôn văn ấy/ Tiệc rượu lầu cao ngả ngốn cười” (Đời một nhà văn). Vẫn có rượu ở đây, nhưng là rượu của người giàu, thừa mứa và xấc xược, trái ngược hẳn với bữa rượu của nhà thơ nghèo. Đồng bệnh tương liên, cái nghèo hẳn càng làm xiết chặt thêm tình bằng hữu giữa hai thi sĩ thuộc hai thế hệ.


Rượu, thơ và những tình bạn thi sĩ, đó là cái hằng số xuyên suốt lịch sử thơ ca nhân loại tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Bài viết này chỉ lấy ra hai trường hợp từ làng thơ Việt Nam những năm 30. Còn biết bao trường hợp khác trong cùng thời kỳ ấy? Còn biết bao trường hợp nữa mà chúng ta có thể nói tới trong những giai đoạn trước đó và những giai đoạn sau này? Dù thế nào đi nữa thì có lẽ, đó cũng là một trong những dấu ấn đặc biệt, sâu sắc và thú vị, mà người thơ (thi nhân) để lại trong lòng người yêu thơ.


Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh thi sĩ Tản Đà, trên báo Văn nghệ công an, số ra ngày 18-5-2009, Tường Duy thuật lại đôi mẩu chuyện có nhiều giai thoại trong giới văn nghệ, chuyện lạ nhưng có thật. Cái tính ngang tàng, đôi khi trái tính trái nết nhưng thật ra lại hồn hậu, đáng yêu.


Trong những con vật có cuộc sống gần gũi với con người, thường người ta hay thể hiện tình cảm với những con vật hoặc khôn ngoan, hoặc đẹp mã như: chó, mèo…, hiếm thấy ai lại bày tỏ tình yêu thương, nhất là đến mức độ đắm đuối với một loài như loài… gà. Vậy mà điều ấy lại có ở thi sĩ Tản Đà. Theo như bạn hữu đương thời kể lại thì ông vô cùng phấn khích khi trông thấy cảnh… gà mổ thóc.


Một lần, Tản Đà theo Khái Hưng vào rạp Palace (nay là rạp Công Nhân, ở phố Tràng Tiền, Hà Nội) xem chiếu bóng. Có lẽ vì trước đó hơi quá chén, nên phim mới chiếu được một đoạn, ông đã ngồi… ngáy. Biết tính thi sĩ thích xem gà, đúng đến đoạn phim có hình ảnh một thiếu nữ ném thóc cho gà ăn, Khái Hưng vỗ vai ông:


- Này, tỉnh mà xem gà chứ.


Tức thì Tản Đà choàng mở mắt, và sau vài giây đủ để hiểu, ông thét lên cười, tiếng cười thật sảng khoái. Thế là ông tỉnh ngủ và sau đó chịu khó chăm chú xem nốt bộ phim.


Một lần khác, vẫn là chuyện Khái Hưng với Tản Đà nhưng là tại nhà riêng của Tản Đà ở làng Văn Quán. Cuộc tiệc kéo dài từ 10 giờ sáng tới 3 giờ chiều vẫn chưa dứt. Thi sĩ nhìn ra sân, bảo bạn:


- Tạnh mưa rồi! Ta đi cho gà ăn.


Các khách mời lũ lượt đứng dậy, ra sân, ở góc sân có một chuồng gà bề thế, có hiên, có “cửa sổ” và “cửa ra vào” trông thật thoáng đãng. Thi sĩ đích thân ra mở cửa chuồng. Đàn gà theo nhau nhảy xuống đất, dễ có đến hai chục con, con nào con nấy béo tốt, tròn trĩnh. Thi sĩ ném thóc, ngô cho gà ăn và cười khoái trá, vẻ mãn nguyện hệt như hôm ông ngắm thiếu nữ cho gà ăn trên màn ảnh.


Tản Đà đã từng nhiều lần làm thơ bộc bạch nỗi gian truân, túng bấn của mình. Trong một bài thơ, ông đã nói về việc khất nợ tiền nhà như sau:


Hôm qua chưa có tiền nhà


Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào


Đi ra rồi lại đi vào


Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ.


Tất nhiên, tiền nhà chưa đóng được bởi nhiều lý do. Nhưng chắc chắn còn một lý do nữa, đó là lối tiêu pha bốc đồng của thi sĩ. Người bạn vong niên của ông - nhà văn Ngô Tất Tố từng kể: Thời kỳ ông cùng Tản Đà vào Nam tham gia viết cho tờ Đông Pháp thời báo, lương báo trả cho Ngô Tất Tố là 80 đồng, Tản Đà là 100 đồng, tiền thuê nhà chỉ phải trả 28 đồng, vậy mà, theo như lời nhà văn Ngô Tất Tố: “Không tháng nào ông Tản Đà không phải lật đật về chạy tiền nhà”.


Một hôm, vì chủ nhà thúc giục riết quá, ông Tản Đà, sau khi đã ăn tối phải thân hành đi Sài Gòn vay tiền. Vào khoảng 11 giờ đêm, Tản Đà lật đật trở về với chai rượu rum, con vịt quay và vài món khác. Mới vào tới cửa, ông đã lắc đầu than phiền: “Hỏng cả ông ạ!”.


Ngô Tất Tố ngạc nhiên: “Hỏng, hỏng cái gì?”, thì Tản Đà thản nhiên cắt nghĩa:


- Chỉ vay được hai chục đồng, trả tiền nhà thì vẫn còn thiếu tám đồng, đằng nào cũng vẫn còn nợ, tôi nghĩ, mua ít đồ đánh chén. Tất cả hết hơn mười đồng…


Trời ơi, đi vay rồi lại tiêu như thế này, thì đến bao giờ mới trả hết tiền nhà! Không bận tâm đến nỗi lo lắng của Ngô Tất Tố, Tản Đà gọi người đầy tớ tâm phúc của ông đem con vịt quay ra chặt. Ông thủng thẳng bảo Ngô Tất Tố:


- Cứ chén đã. Tiền nhà rồi ta lại xoay…


Thật là một cách tiêu tiền kỳ lạ.


Trong hồi ký của mình, nhà báo Tế Xuyên viết về thi sĩ Tản Đà những ngày vào đất Nam Kỳ làm báo như sau:


… Một hôm vào năm 1930-1931, tôi ngồi giải khát với hai ông Diệp Văn Kỳ, Bùi Thế Mỹ và anh bạn Như Hoa Nguyễn Văn Đông, người cùng cộng sự trong một tòa soạn với tôi. Đã quen biết trước với Bùi Thế Mỹ, hôm ấy là lần đầu tiên tôi gặp Diệp Quân mà tôi nghe tiếng lúc còn ở Hà Nội.


Tánh tò mò là tánh chung của con nhà làm báo, đã thúc tôi moi chuyện ông chủ nhiệm tờ Đông Pháp Thời báo về sự gặp gỡ giữa ông và ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.


Hồi ấy, tuy báo Thần Chung đã “qua đời” làm cho ông Diệp Văn Kỳ gần như muốn sạt nghiệp, ông vẫn còn tác phong của một kẻ hào hoa phóng túng. Ông mỉm cười, nhỏ nhẹ thuật cho tôi nghe câu chuyện cũ: Sự gặp gỡ chúng tôi thật là chuyện tình cờ, có thể nói là do duyên trời đưa đến. Chiều hôm ấy, vào năm 1926, tôi và một vài bạn làng văn ngồi uống rượu ở nhà hàng Continental, đường Catina (đường Đồng Khởi hiện nay). Chúng tôi ngồi dưới mái hiên, nhìn qua bên kia đường, kẻ đi người lại, trong đám đông, tôi bỗng để ý đến một người bận quốc phục, khăn đen. Anh cử Tùng Lâm như liên cảm với tôi, buột miệng nói: “Thi sĩ Tản Đà đó!”. Vốn dĩ yêu Tản Đà bấy lâu nay, tôi bèn kêu anh bồi bảo theo ông ấy và mời ông đến bàn tôi nói chuyện.


Bấy lâu, mến tài thi sĩ Tản Đà, nay Diệp Văn Kỳ mới thấy con người bằng xương bằng thịt. Hai bên chủ khách, được ông Tùng Lâm giới thiệu, rồi Diệp Văn Kỳ mời ông Tản Đà một ly rượu mạnh. Ông hỏi thăm nhà thơ từ Bắc vào Nam có việc gì? Trong lúc men rượu đã giúp ông mạnh dạn, ông Tản Đà dốc bầu tâm sự như nói với một người bạn đã thân thiết:


“Tôi nghỉ xuất bản An Nam tạp chí rồi mà còn nợ của ông Bùi Bô chừng nghìn rưỡi bạc. Tôi có quen ông Nguyễn Thành Út ở Vĩnh Long, nên vào đây định vay tiền ông ta để trả nợ. Nhưng xuống tới Vĩnh Long lại không gặp ông. Tôi trở lên Sài Gòn thì cũng chẳng nên cơm cháo gì vì ông Út lúc này cũng túng không thể giúp tôi được.


Ông Diệp Văn Kỳ bèn nảy ra một sáng kiến: Nâng đỡ nhân tài. Ông liền đề nghị với Tản Đà để ông tặng nhà thơ số tiền trang trải công nợ. Ông yêu cầu Tản Đà khi hết nợ rồi, vào Nam viết cho tờ Đông Pháp thời báo (Ông chỉ yêu cầu thôi chớ không đặt thành điều kiện). Trong lúc đã cạn ly thứ ba, ông Tản Đà cao hứng nhận lời ngay. Và ông Diệp Văn Kỳ mở bóp ra, lấy hai xấp giấy bạc trao vào tay nhà thơ một cách tự nhiên như hai bạn đã quen biết từ lâu. Ông Tản Đà cầm lấy, cũng không cần ngạc nhiên gì hết. Các văn hữu cùng ngồi uống rượu không cho là việc lạ vì ai cũng biết tánh phóng khoáng của ông chủ nhiệm Đông Pháp thời báo trong sự đối xử với bạn làng văn.


Hai ngàn bạc hồi 35 năm trước, khi mà tách cà phê đen giá có một xu, là một số tiền rất lớn, vậy mà ông Kỳ trao thẳng tay ông Tản Đà không một điều kiện, không một biên lai.


Sau đó, ông Tản Đà hớp một ngụm rượu rồi đứng dậy cáo từ người bạn mới và hẹn khi ra Bắc thu xếp xong công việc ông sẽ vào liền.


Trên đây là những đoạn trích lại trong tuần san Văn Đàn số 5, trang 10 ngày 8-7-1960, xuất bản tại Sài Gòn. Dở chồng báo cũ, thấy trong Tao Đàn số đặc biệt về Tản Đà, xuất bản ngày 1-7-1939, nhà văn Ngô Tất Tố đã viết về Tản Đà ở Xóm Gà, Nam Kỳ với nội dung tương tự.


Một chuyện khác, nhiều khi ông Tản Đà còn đùa cợt với cái chết: Nói như Axtơrốpxki thì “cái quý nhất của con người là đời sống. Đời người chỉ sống có một lần”. Lý do ấy khiến cho sự từ giã của con người khỏi thế giới này bao giờ cũng nặng nề. Nhưng suy cho cùng thì “của trời tham được có ngần ấy thôi”, có ai sống trên đời được mãi? Ý thức được điều ấy nên ngay từ năm 1921, khi mới ngoài ba mươi tuổi, Tản Đà đã nổi hứng viết bài thơ “Còn chơi”. Ông ước tính đời người là “trăm tuổi”, thì nay mình đã đi được một phần ba. Và ông cợt đùa với cái “hai phần ba còn lại”:


Trăm năm còn độ bấy nhiêu thôi


Ngoài cuộc trăm năm tớ dặn đời


Ức triệu nghìn năm đời nhớ tớ


Tớ thôi, tớ cũng hãy còn chơi.


Câu thơ “Tớ cũng hãy còn chơi” thể hiện cái “ngông” của một nhà thơ muốn tiêu du ra ngoài cái hữu hạn của đời người. Sự thực, thời gian sống của Tản Đà không dài -chỉ 51 năm- nhưng “ức triệu nghìn năm đời nhớ tớ”, những áng thơ tuyệt vời của ông sẽ tồn tại chừng nào còn con người trên trái đất này…


Năm 1996, Nhà xuất bản Văn học cho ấn hành bộ “Tuyển tập Tản Đà”. Mặc dù sách in dày dặn, giấy trắng, song rất tiếc là bức hình Tản Đà in đầu sách lại quá… mờ mịt. Đem thắc mắc này hỏi những người làm sách, được biết, để tìm được bức hình Tản Đà, không dễ. Nó vừa quá ít, mà chất lượng cũng không đảm bảo. Câu chuyện sau đây phần nào có thể lý giải cho sự thiếu hụt nói trên:


Một lần, nhà phê bình Lê Thanh xuống xóm Bạch Mai thăm hỏi Tản Đà và vừa xin ông một tấm ảnh để in trong một tập sách.


Nghe nhà phê bình đặt vấn đề, Tản Đà nghiêm nghị trả lời:


- Ngài xin tôi một bức ảnh in vào tập sách ngài viết để nói về thân thế và văn chương tôi. Ngài làm cho tôi giật mình: Mỗi lần có ai muốn giữ một cái gì của tôi để kỷ niệm, tôi lại tưởng tôi sắp chết đến nơi…


Hẳn thấy mình nói vậy có gì hơi sái, Tản Đà chuyển thái độ. Ông cười ha hả:


- Nói là nói cho vui, thực tình chắc ngài cũng biết cho rằng đã lâu lắm tôi không chụp ảnh, mà bây giờ thì ý tôi không muốn chụp. Cho thấy cái thân già yếu của mình, thấy sự thanh bạch (chỉ sự bần hàn) của mình, e mất cảm tình của quốc dân.


Lê Thanh cố tìm cách lay chuyển quan điểm của nhà thi sĩ, rốt cuộc, Tản Đà hứa hôm nào khỏe, ông sẽ khăn áo chỉnh tề đi chụp ảnh… Tiếc thay, ít ngày sau đó, Tản Đà chuyển xuống ngụ tại số nhà 71 Ngã Tư Sở, rồi mất. Ý định của nhà phê bình đành bỏ dở.


Trong sách Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập 2) do NXB Văn học xuất bản năm 1987, nhà thơ Xuân Diệu cho biết:


Bản thân tôi, năm 1938, đã được gặp Tản Đà trong tòa soạn tuần báo Ngày nay; độ ấy Tản Đà dịch thơ Đường cho tờ tuần báo; ông mặc quốc phục, tóc húi ngắn, vẻ mặt đôn hậu, khi cười thì dường như tâm hồn lộ hết cái hồn nhiên. Tập Thơ thơ của tôi, tôi đã đề trên bài “Chiều”, tặng Nguyễn Khắc Hiếu.


Xuân Diệu viết tiếp: Khái quát về Tản Đà, tôi bạo dạn rút ra hai điểm: Tản Đà có bản lĩnh mạnh khi đặt vấn đề cái sầu, và sở trường nói những tâm tình man mác. Tản Đà có bài hát nói vọng gửi đến bầu bạn của mình và đọc giả An Nam tạp chí:


…Nhớ ai ta những lòng man mác


Ta nhớ, mà ai có nhớ ta


Vẳng tai nghe xao xác tiếng gà


Thơ cạn túi, rượu ngà ngà say cạn chén


Đèn cứ cháy, chủ nhân xin tạm biệt


Đêm sau, rồi trò chuyện suốt năm canh


Lại ta với ngọn đèn xanh.


Lòng man mác là trạng thái tâm tình của đương thời Tản Đà. Về sau, khi phong trào thơ mới 1932-1945 chiếm lĩnh thi đàn, thì những tâm tình không ở trạng thái chủ yếu mơ mộng nữa.


Khi Tản Đà mất (17-6-1939) các bài báo, văn thơ, câu đối viếng rất nhiều. Nhiều người nhắc tới rượu với nhà thơ mình yêu thích. Tác giả Quả dưa đỏ, Nguyễn Trọng Thuật nhớ đến bác Ấm Hiếu “một nhà thi sĩ, người bạn ngông”.


Một đời hy sinh cho nghệ thuật


Lánh xa danh lợi cam nghèo túng


Lấy rượu tiêu sầu, thơ khiển muộn


Cười đùa năm tháng với non sông…


Cụ Huỳnh Thúc Kháng phúng điếu một câu đối bằng chữ Hán, cụ Huỳnh tự dịch:


Không sắc một hoa quỳnh, về vuốt râu chơi, tiễn bạn lắm người nên quyến thuộc.


Say ngâm hai mắt trắng, hứng thơ bút múa, giá thi mấy lớp xấp công hầu.


Thi sĩ họ Huỳnh cùng với thi sĩ họ Nguyễn vốn không hay lui tới, cũng không có thư từ qua lại, cũng không “chén thù chén tạc”, niềm giấu kín mãi trong lòng, đến lúc kẻ mất người còn mới thổ lộ! Thật là quý hóa thay!


Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Trương Tửu đã viết hẳn một cuốn sách “phê bình và định giá” về Tản Đà với cái tựa ấn tượng: Uống rượu với Tản Đà…


Các nhà phê bình văn học hiện đại xem Tản Đà như một gạch nối giữa hai trường phái thơ cũ và thơ mới. Thật khó để chọn ra những tác phẩm tiêu biểu của Tản Đà. Để kết thúc phần nói về rượu với Tản Đà, chúng tôi xin trích dẫn hai bài thơ được cho là hai trong những bài thơ hay nhất của Tản Đà: Thề non nước (lục bát, thơ truyền thống) và Tống biệt (trường đoản cú, tạm cho là phá cách, vượt ra ngoài khuôn sáo cũ): “Nước non nặng một lời thề/ Nước đi, đi mãi không về cùng non/ Nhớ lời “nguyện nước thề non”/ Nước đi chưa lại, non còn đứng không/ Non cao những ngóng cùng trông/ Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày…/ Non cao tuổi vẫn chưa già/ Non thời nhớ nước, nước mà quên non/ Dù cho sông cạn đá mòn/ Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa/ Non xanh đã biết hay chưa?/ Nước đi ra bể lại mưa về nguồn/ Nước non hội ngộ còn luôn/ Bảo cho non chớ có buồn làm chi/ Nước kia dù hãy còn đi/ Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui/ Nghìn năm giao ước kết đôi/ Non non, nước nước không nguôi lời thề” (Thề non nước). Bài thơ này được nhiều nhà phê bình cho rằng Tản Đà đã lồng vào đó tinh thần ái quốc một cách kín đáo nhưng tràn đầy tình cảm.


Còn Tống biệt lại biểu trưng cho khuynh hướng lãng mạn của Tản Đà: “Lá đào rơi rắc lối Thiên thai/ Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi/ Nửa năm tiên cảnh/ Một bước trần ai/ Ước cũ duyên thừa có thế thôi/ Đá mòn, rêu nhạt/ Nước chảy huê trôi/ Cái hạc bay lên vút tận trời/ Trời đất từ nay xa cách mãi/ Cửa đông/ Đầu non/ Đường lối cũ/ Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”.


Nhà văn Trương Tửu nhận xét: “Trong nghề thơ có ba điều khó nhất: tả cái vô hình, tả cái bất động, và tả cái tối mù; thì Tản Đà đã làm được hai: tả cái vô hình trong bài Tống biệt, tả cái bất động với bài Thề non nước” (Tao Đàn số 13, năm 1939). Văn tài của Tản Đà còn được Nguyễn Tuân ca ngợi: “Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ súy; trong “Hội tài tình”, Tản Đà xứng đáng ngôi Hội chủ. Mà làng văn, làng báo xứ này ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?” (theo Nguyễn Khắc Xương - Tuyển tập Tản Đà - NXB Văn học, Hà Nội, 1996).


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info







[1] Miếng ngon Hà Nội, tác phẩm của nhà văn Vũ Bằng (1914-1984). Chú thích của Triệu Xuân.




[2] Tức Đà Nẵng. Người Pháp chiếm Đà Nẵng, gọi thành phố này là Tourane (Chú thích của Triệu Xuân).




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
xem thêm »