tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20224712
24.01.2017
Nhiều tác giả
Trời sinh ra bác Tản Đà… (1)



“Văn chương chữ nghĩa tôi luôn coi là lĩnh vực sang trọng hàng đầu trong những thú chơi nghệ thuật. Nó là cái gốc. Nó thầm lặng nhất. Nó một mình nhất. Và ở nước ta, nó kiếm tiền khó nhất. Có thể nói thêm một cái nhất này nữa: Nó dễ bị đụng chạm và tranh cãi nhất”. Mở đầu cuốn sách Con chữ giữa lòng tay (NXB Hội Nhà văn, 2016).


Phạm Ngọc Luật viết như vậy. Trong cuốn sách giới thiệu những bài thơ và tản văn, anh còn giới thiệu nhiều gương mặt nhà văn, nhà thơ, nhà báo thân quen ở nước ta, trong đó có bài ngòi bút anh để nhiều tình cảm dè dặt với thi nhân Tản Đà. Anh viết:


Quả thật, tôi đã có ý không dám đặt cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu - bậc tiên sinh cao khiết về cả tâm hồn và thơ phú - vào trong bài viết nhỏ này, nhưng mà vẫn phải mượn lời cụ, mượn thơ cụ để tìm một chút men thông tuệ luận bàn chuyện rượu chuyện thơ của các nhà thơ.


Sinh thời, cụ Tản Đà thường nói: “Tửu trung ưng thị thần tiên” (Trong lúc uống rượu chính là lúc thần tiên). Vẫn ý ấy, cụ lại nói khác đi một chút: “Tửu trung tư hữu Thánh hiền” (Trong rượu vốn đã có Thánh hiền). Thế rồi trong thơ, rượu cứ trở đi trở lại như một tri kỷ, tri âm không ranh giới của tâm hồn cụ:


Trăm năm thơ túi rượu vò


Nghìn năm thi sĩ, tửu đồ là ai?


Là cụ. Là các bậc tiền nhân trước cụ. Là bao nhiêu nữa các nhà thơ hậu sinh. Nhưng trước hết cứ phải nói về chính cụ - người vừa là tác giả vừa là đối tượng của những câu thơ rượu đẹp nhất Á Đông: “Trăm năm thơ túi rượu vò”.


Nghe tưởng như có cái gì đó vòng vo, luẩn quẩn, mà không, cụ Tản Đà luận về “Say” và “Chưa say” rành rõ lắm, khỏe khoắn lắm:


…Khi vui, vui lấy kẻo già


Cơn men dốc cả giang hà chưa say


…Khi vui quên cả cái già


Khi say chẳng dốc giang hà cũng say.


Khẩu dạng thơ cụ làm tôi chợt nhớ đến hình ảnh “nhà thơ áp tải” Thanh Tùng của đất cảng Hải Phòng được nhà thơ Trần Nhuận Minh của đất mỏ Quảng Ninh “quay” gần, đặc tả cũng có cái kích cỡ giang hà như cụ:


Chai rượu ngang dốc ngược


Đứng bên trời


Uống chung.


Nghe tưởng như triết lý cù lần, mà không, khẩu dạng này chỉ làm cho cái chất ngông ở cụ và thơ cụ đáng yêu hơn, cá tính hơn:


Say sưa nghĩ cũng hư đời


Hư thời hư vậy, say thời cứ say


Đất say đất cũng lăn quay


Trời say, mặt cũng đỏ gay ai cười?


Nghĩ thế này cũng là đủ và ý nghĩa khi tác giả Thi nhân Việt Nam không bỏ qua tư chất con người cụ; bởi chính điều này được hiểu như là tiền đề cho một thứ tinh hoa được phát tiết ra, trước hết bằng những câu thơ rượu, ấy là “Những nỗi vật chất của đời sống hàng ngày, những cảnh éo le thường phô bày ra trước mắt không từng làm bợn được linh hồn cao khiết của tiên sinh, cái dáng diệu ngang tàng chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không bao giờ có vẻ vay mượn. Cái buồn chán của tiên sinh cũng là cái buồn chán một người trượng phu. Thở than có nhưng không bao giờ rên rỉ”. Như đây, cụ viết:


Bạc tiền gió thoảng, thơ đầy túi


Danh lợi bèo trôi, rượu nặng vai.


là đúng sản phẩm của một tư chất ấy. Và dứt khoát chỉ với tư chất ấy cụ mới viết được những câu thơ rượu đôi khi cũng trầm ngâm, nỗi niềm chứ không phải chỉ có một bề ngông ngông, hài hước:


Có tiền chưa dễ mà tiêu


Ham danh lắm kẻ như diều đứt dây


Thương cho ai bận lòng đây


Cho vơi hũ rượu, cho đầy túi thơ


Cảnh đời gió gió mưa mưa


Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn.


Chắc vì cảm được, bóc tách được chút nỗi niềm của người bạn rượu, bạn thơ mà Trần Huyền Trân từ năm 1938, tại một gác nhỏ ở Ngã Tư Sở đã viết những câu thơ rượu vào loại có hạng, trong bài thơ “Uống rượu với Tản Đà”. Nguyên văn bài thơ như sau:


Cụ hâm rượu nữa đi thôi


Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu


Rồi lên ta uống với nhau


Rót đau lòng ấy vào đau lòng này


Tôi say?


Thưa, trẻ chưa đầy


Cái đau nhân thế thì say nỗi gì?


Đường xa ư cụ?


Quản chi


Đi gần hạnh phúc là đi xa đường


 


Tôi là nắng - Cụ là sương


Tôi bừng dậy sớm, cụ nương bóng chiều


Gió mưa tóc cụ đã nhiều


Lòng còn gánh nặng bao nhiêu khối tình


Huống tôi mái tóc đương xanh


Vâng, tôi trăm thác ngàn ghềnh còn đi


Với đời một thoáng say mê


Còn hơn đi chán về chê suông đời


Rót đi, rót nữa đi thôi


Rót cho tôi cả mấy mươi tuổi đầu


Nguồn đau cứ rót cho nhau


Lời say sưa mới là câu chân tình…


Vũ Bình Lục bình bài thơ trên: Trần Huyền Trân cắp be lên chơi cùng cụ Tản Đà, uống rượu với cụ, ở ngay Ngã Tư Sở vào năm 1938, rồi có thơ. Bài thơ dài có tên “Uống rượu với Tản Đà”, chỉ riêng nói về khúc đầu: Uống rượu!


Cụ hâm rượu nữa đi thôi


Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu


Rồi lên ta uống với nhau


Rót đau lòng ấy vào đau lòng này…


Cuộc đời của đôi bạn vong niên chắc diễn ra vào mùa đông giá lạnh, nên rượu ấy phải mang “hâm” lại cho nóng, rồi mới uống. Be thứ nhất sắp cạn rồi, nên khách mới phải giục chủ nhà “Cụ hâm rượu nữa đi thôi/ Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu”! Rượu hâm xong thì “Rồi lên ta uống với nhau” mà “Rót đau lòng ấy vào đau lòng này”… Đó chính là mấy câu thơ vào loại tuyệt hảo, xuất thần ở câu thứ tư. Ba câu đầu, hình dung thấy hai thi sĩ, một trẻ một già tương giao tương ẩm, đang “thao tác” việc uống rượu, đã hơi chếnh choáng rồi. Rượu thật, chắc là rượu ngon. Câu bốn thì rượu ngon đã chuyển hóa thành rượu ảo, được chưng cất, được nâng cấp thành thứ rượu tâm can tuyệt diệu mà “Rót đau lòng ấy vào đau lòng này”…


Phần tiếp theo, cũng vẫn chỉ là độc thoại của người thơ trẻ, tự vấn, rồi tự trả lời. Rồi so sánh cân đong, về việc cụ thì già, tôi còn trẻ, “Tôi là nắng, cụ là sương/ Tôi bừng dậy sớm, cụ nương bóng chiều”. Đời cụ đã nếm trải quăng quật nhiều rồi, mây trắng đã rủ nhau về đậu trên mái tóc phong sương của cụ, thế mà còn cứ khư khư ôm những “bao nhiêu khối tình”, bao nhiêu giấc mộng! Khối tình Một, chưa đủ, lại Khối tình Hai. Giấc mộng con, chưa đã, lại Giấc mộng lớn… Chỉ rặt những thứ phù phiếm mà nặng như Thái Sơn, cụ chịu sao cho thấu? Còn như với tôi tuổi trẻ, “mái tóc còn xanh”, còn hăng máu lắm đây, nên “Tôi trăm thác ngàn ghềnh còn đi”!


Bốn câu cuối, nhịp điệu thơ dồn dập hơn, có vẻ như hơi men càng ngấm, thi nhân càng say, lời buông ra càng tràn trề. Khách lại gấp gáp giục giã chủ nhà: “Rót đi, rót nữa đi thôi/ Rót cho tôi cả mấy mươi tuổi đầu/ Nguồn đau cứ rót cho nhau”, rồi khẳng định: “Lời say sưa mới là câu chân tình”!


Đối ẩm mà thành ra độc ẩm, thành công đến như Trần Huyền Trân, quả thật, cũng không nhiều. Rót rượu mời nhau, rót tuổi cho nhau, rót đau vào nhau, thốt ra những lời tâm huyết xót xa chân thành, mà không hề bi lụy. Ở đây, nỗi đau đã ngập tràn, đã lớn thành “nguồn đau”, lại không chỉ là nỗi đau của một con người cá thể, vụn vặt. Đó chính là một nỗi đau đời, thương đời, đang manh nha chuyển hóa thành hành động, vì nghĩa lớn, cao cả. Và đó cũng chính là giá trị tư tưởng của bài thơ này!


Những câu thơ hay không thể nghi ngờ nhưng xem ra hơi đậm vẻ sầu thương chưa hẳn đúng với Tản Đà. Chỉ thật là Tản Đà, nghĩa là có thể hình dung phong dạng, hồn cốt một con người luôn sẵn đủ rượu vò thơ túi, có không ít ưu tư thời thế nhưng vẫn thích ngẩng mặt mà đi, vẫn biết khi nào say và chưa say, vẫn biết mỉm cười và cả cười giữa đất trời và thiên hạ… khi ta đọc bài “Ngày xuân thơ rượu” của cụ:


Trời đất sinh ra rượu với thơ


Không thơ không rượu sống như thừa


Công danh hai chữ mùi men nhạt


Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ


Mạch nước sông Đà tim róc rách


Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ


Còn thơ còn rượu còn xuân mãi


Còn mãi xuân, còn rượu với thơ.


Và đây là một bài khác, bài Gặp xuân, ông sáng tác năm 1938:


Gặp xuân ta giữ xuân chơi


Câu thơ chén rượu là nơi đi về


Hết xuân, cạn chén, xuân về


Nghìn thu nét mực thơ đề vẫn xuân!


 


Xuân ơi xuân hỡi!


Vắng xuân lâu ta vẫn đợi, chờ, mong


Trải bao nhiêu ngày tháng hạ, thu, đông


Ròng rã nỗi nhớ nhung, xuân có biết?


 


Khứ tuế xuân quy, sầu cửu biệt


Kim niên xuân đáo, khánh tương phùng


Gặp ta nay xuân chớ lạ lùng


Tóc có khác, trong lòng ta chẳng khác


 


Kể từ thuở biết xuân bốn chín năm về trước


Vẫn rượu thơ non nước thú làm vui


Đến xuân nay ta tuổi đã năm mươi


Tính trăm tuổi, đời người ta có nửa


Còn sau nữa lại bao nhiêu xuân nữa


Mặc trời cho, ta chửa hỏi làm chi


Sẵn rượu đào xuân uống với ta đi


Chỗ quen biết kể gì ai chủ khách


 


Thiên cổ vị văn song Lý Bạch


Nhất niên hà đắc lưỡng Đông quân


 


Dẫu trăm năm gặp gỡ đủ trăm lần


Thơ với rượu cùng xuân, ta cứ thế


Ngoài trăm tuổi, vắng ta trần thế


Xuân nhớ ta chưa dễ biết đâu tìm!


Cùng nhau nay hãy uống thêm!


Tạp chí Văn số 98, xuất bản tại Sài Gòn tháng 10-1969 cũng cho rằng: Đọc qua tác phẩm của Tản Đà, ta thấy rượu đã có một ảnh hưởng lớn về văn nghiệp của ông. Ảnh hưởng về hai phương diện: Sinh hoạt văn nghệ và xu hướng sáng tạo.


Đọc lại những bài thơ cũ, ta rất thông cảm và hiểu nhà thơ Sông Đà Núi Tản trong bài Thơ rượu. Say sưa của thi sĩ có vẻ nên thơ nhiều hơn:


Thương ai cho bận lòng đây?


Cho vơi hũ rượu cho đầy túi thơ!


Cảnh đời gió gió mưa mưa,


Buồn trông, ta phải say sưa đỡ buồn.


Rượu say thơ lại khơi nguồn,


Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình.


Rượu thơ mình lại với mình,


Khi say quên cả cái hình phù du.


Trăm năm thơ túi rượu vò,


Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai?


Rượu đã chi phối sâu rộng đời sống sáng tác của ông. Có rượu thì mới viết văn, làm thơ được, uống rượu vào thì tinh thần thấy khoan khoái óc minh mẫn, thi hứng dồi dào. Hết hơi men là ông buồn bã lạnh nhạt, kể như người bất lực. Khái Hưng nói: Những người nghiện rượu có thể chia làm ba loại:


- Uống say rồi lăn ra ngủ.


- Uống say rồi nổi khùng nói càn.


- Uống say rồi vui vẻ tươi cười, sáng tạo.


Tản Đà thuộc về loại thứ ba. Rượu đối với ông như nước với cá, một thứ thuốc hồi sinh, một kích thích tố luôn luôn ông phải cần đến nó trong đời hoạt động văn nghệ của ông.


Rượu lại đóng một vai trò rất quan trọng về phương diện xu hướng sáng tạo của Tản Đà. Thơ Tản Đà là loại thơ “ngông” mà ngông là vì rượu. Đã ngông lại mỉa mai, bỡn cợt. Thế giới của ông là một thế giới huyền ảo, nhìn qua hơi men. Rượu đã giúp cho lời thơ của Tản Đà có lúc bay bướm có lúc lâm ly bao giờ cũng nhẹ nhàng như giấc mộng.


Theo Hàn Mặc Tử: “Nhìn qua sự thực là mộng, nhìn qua mộng thấy thơ”. Nếu quả như vậy thì rượu đã giúp nhiều cho văn nghiệp của Tản Đà vậy.


Ta có thể nói: Những vò rượu ngâm mơ rượu ngang cất bằng gạo nếp Phủ Hoài, mơ là mơ hái ở rừng Hương Tích. Nhờ những vò rượu ấy mà Tản Đà đã để lại cho hậu thế những vần thơ bất hủ:


Trăm năm thơ túi rượu vò


Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai.


Thơ Tản Đà ngâm vịnh về rượu rất nhiều, nhưng hai câu trên đáng kể là loại thơ ngông kiệt tác.


Trước Tản Đà, số thi sĩ ca tụng rượu không phải là ít. Đứng hàng đầu là Lý Bạch bên Trung Quốc. Gần đây Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến đã nhiều lần tả cái thú uống rượu.


Thi sĩ Bàng Bá Lân nói: Thi sĩ Âu Tây không phải không thích uống rượu. Có lẽ họ uống nhiều hơn nhà văn Việt Nam, nhưng ít khi họ nói đến rượu trong tác phẩm của họ, trái lại về thuốc phiện thì họ còn có khi họ nói tới. Những lời tả cái thú thuốc phiện của De Quercy, Baudelaire, Farrère thật là lâm ly kỳ diệu. Đối với người Á Đông, hút thuốc phiện là một tật xấu, cần phải giấu giếm, còn uống rượu là một tính tốt có thể được phải phô trương.


Cũng trong tạp chí Văn: Nghiện rượu của Tản Đà là một sự kiện mà không ai phủ nhận được. Chúng tôi chỉ bàn về phương diện sau đây:


- Tản Đà đã nghiện rượu đến mức nào, và đã có những biến chứng nào của bịnh nghiện rượu này?


- Tản Đà uống rượu trong bao lâu, bao nhiêu, và những rượu gì?


Ta không có tài liệu nói về Tản Đà bắt đầu uống rượu từ hồi nào nhưng chắc Tản Đà phải uống kể cả chục năm và hầu như ngày nào cũng uống.


Về phần các loại rượu thì có lẽ Tản Đà thích đủ thứ rượu kể cả rượu Tây (theo cụ Nghiêm Vịnh), Tản Đà rất thích rượu Mai Quế Lộ (theo Văn Bình báo Ngày nay, số 147 ngày 28-1-1939), rượu Văn Côi (theo Ngô Bằng Giực) nhưng hai thứ rượu này đắt tiền nên thường thường Tản Đà uống rượu ngang (rượu lậu thuế của người nhà quê cất lấy, còn của chính phủ Bảo hộ bán gọi là rượu Ty (Ty Fontaine). Tản Đà hay uống rượu ngang có ngâm trái mơ. Cứ đến mùa mơ vào tháng hai âm lịch thì Tản Đà mua mơ về ngâm từng vò để uống dần. Bác sĩ Trần Văn Bảng đã được mục kích Tản Đà nửa đêm ngồi uống rượu mơ ở tư thất trong làng Văn Quán, Hà Đông.


Khái Hưng viết: “Tản Đà chỉ có duyên trong khi say. Không hơi men, Tản Đà buồn rầu, lạnh lẽo, còn chua chát nữa. Không mấy khi Tản Đà không say”.


Đêm suông vô số cái suông suông


Suông rượu, suông tình bạn cũng suông


Theo Khái Hưng thì cái “suông rượu” của Tản Đà là cái “suông” nặng nhất.


Cũng trong tạp chí Văn vừa nhắc, cụ Nghiêm Vịnh năm nay đã 74 tuổi (năm 1969) sinh quán ở Ứng Hòa, Hà Đông. Cụ Nghiêm Vịnh hiện ngụ tại đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn. Họ Nghiêm có rất nhiều liên lạc với Tản Đà.


Anh ruột là Nghiêm Hàm đã mở nhà in Nghiêm Hàm ấn quán ở phố Hàng Bông, Hà Nội, nơi mà Tản Đà hay lui tới. Chính cụ Nghiêm Vịnh đã cộng tác với Tản Đà trong số báo Hữu Thanh, cụ đã kể những chi tiết sau đây về Tản Đà:


- Cụ thường gặp Tản Đà ngồi uống rượu ở tiệm Đông Hưng Viên hàng Buồm, Hà Nội. Nhiều khi Tản Đà không tiền nên cụ phải trả giùm.


- Khi Tản Đà vào Sài Gòn, cụ có mời Tản Đà đi nhậu ở tiệm uống La Pointe des Blagueurs bến Chương Dương, Sài Gòn.


- Tản Đà uống đủ các thứ rượu. Rượu Tây như Cognac Martell. Tản Đà cũng thích lắm. Nhưng thường hằng ngày thì uống rượu trắng.


- Tản Đà lại thích uống trà Tàu. Mỗi khi bè bạn, thân hữu đến thăm, trước khi nói chuyện, nhất là chuyện văn chương, thì Tản Đà phải mời khách uống trà đã, chính Tản Đà tự tay đun nước pha trà, và coi việc pha trà là một thích thú, một nghệ thuật. Nguyễn Tuân cũng xác nhận điểm này.


Tạp chí Tao Đàn số 60 đặc biệt, trang 36-37, đăng bài nhà văn Nguyễn Tuân nhan đề “Chén rượu vĩnh biệt”, gặp Tản Đà lần chót, có đoạn:


… Cái ngày ấy gần đây mà tôi (Nguyễn Tuân) trở lại căn nhà 71, Ngã Tư Sở là ngày hai mươi tháng tư, Tây lịch là ngày 7 Juin 1939: Tôi trở lại để không bao giờ gặp ông Tản Đà nữa. Tôi, một kẻ ở, đến ngắm một chủ nhân đã là một người về. Lúc bấy giờ đã quá giờ Ngọ.


Sớm nay (7-6) ở thư viện ra, Vũ Bằng rủ tôi đi uống một cốc rượu mạnh. Dọc đường phố Hàng Bông, người trưởng nam ông Nguyễn Khắc Hiếu mếu máo tin cho tôi biết rằng ông già cậu vừa mất. Thế là từ phút này, làng rượu đất Bắc mất một tửu đồ và tao nhân mất một vị nguyên soái. Và cái bữa rượu bún chả tôi uống hôm đầu tháng ở Cầu Mới với ông Tản Đà là bữa rượu vĩnh biệt một thi nhân mà từ bây giờ chúng ta có quyền gọi sách mé là Tản Đà, là Nguyễn Khắc Hiếu, không cần chữ đệm.


Ngồi ở một tửu điếm Bờ Hồ, tôi vừa quấy cốc rượu Becger cho nổi bọt lên, tôi vừa nghĩ đến một câu mà ông Tản Đà đã gở miệng nói giữa bữa rượu hôm trước:


- Này bác Tuân, làm thế nào mà lúc chết được để mả ở chỗ Hàm Rồng, Thanh Hóa, ngay chỗ bên cầu treo. Ở đấy mát lắm!


Rồi nghĩ đến cái việc trợ cấp năm trăm bạc chỉ một chút nữa là thành sự thực, tôi lại mừng cho cái thơm tho của một thi nhân. Có lẽ ông trời muốn giữ cho thi nhân được trong sạch nên đã sớm gọi ông Tản Đà về. Người trích tiên đánh vỡ cái chén ngọc ở Tiên Cung, đã đến lúc mãn hạn đi đày! “Cái hạc” đã bay lên tận trời! Năm mươi mốt tuổi đầu, thế cũng là đến cõi “của trời, tham được chừng ấy thôi”. Tôi nâng cốc rượu còn đầy, chỉ định nhớ chứ không thương một thi nhân nào vào cõi bất diệt.


Nhưng lúc tôi vào nhà 71 Cầu Mới, lòng tôi thắt lại, ông Tản Đà còn hấp hối. Và đang thở hắt ra. Cứ đều đều, cứ nhẹ thế cho đến hơi thở cuối cùng. Hai môi mím khít lại, ông Tản Đà có nét mặt nhăn nhúm của người chết khó khăn. Phải, chung thân làm một người bất đắc chí, sống đã chẳng được toại lòng người, nằm sóng sượt đây khó mà đi cho nó nhẹ nhõm được. Tôi bắt đầu cảm thấy hơi lạnh. Ở đầu giường người bệnh vẫn cái chồng sách cũ nát, bên cạnh có mấy trang bản thảo. Và lẻ loi ở góc bàn, vẫn cái hũ rượu cáp giời ngày nọ. Tất cả chỉ có thế thôi. Tất cả, chỉ có vậy thôi…


Chúng tôi xin chép in trọn vẹn hai bài thơ về rượu của Tản Đà:


 


THƠ RƯỢU


 


Người đời như giấc chiêm bao,


Nghìn xưa đã mấy ai nào trăm năm?


Một đoàn lao lực lao tâm,


Quí chi chữ “thọ” mà lăm sống nhiều?


Có tiền chưa dễ mà tiêu,


Ham danh lắm kẻ như diều đứt dây?


Thương ai cho bận lòng đây?


Cho vơi hũ rượu, cho đầy túi thơ!


Cảnh đời gió gió mưa mưa,


Buồn trong, ta phải say sưa đỡ buồn.


Rượu say ta lại khơi nguồn,


Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình.


Rượu thơ mình lại với mình,


Khi say quên cả cái hình phù du


Trăm năm thơ túi rượu vò,


Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai?


 


SAY


Mưỡu:


Đêm xuân một trận nô cười.


Dưới đèn chẳng biết rằng người hay hoa.


Khi vui quên cả cái già,


Khi say chẳng rốc giang hà cũng say.


 


Nói:


Kim tịch thị hà tịch?


Mảnh gương nga đã tếch lối non đoài.


Đó kìa ai ba bốn, bốn năm người.


Người đâu tá còn chơi trong mộng thế?


 


Nhãn ngoại trần ai không nhất thế,


Hung trung khối lũy thuộc tiền sinh.


 


Kiếp say sưa đã chấm sổ thiên đình.


Càng đắm sắc mê thinh càng mải miết.


Say lắm vẻ, say mệt, say mê, say nhừ, say tít


Trong làng say ai biết nhất ai say?


Mảnh hình hài quen giả trá xưa nay,


Chúng sinh tướng lúc này coi mới hiện


Thôi xếp cả nguyệt hoa, hoa nguyệt


Cảnh bồng lai trải biết gọi làm duyên.


Tửu trung ưng thị thần tiên.


Trên báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, số ra ngày 28-7-1989, bạn Trần Thị Vĩnh Phúc cho biết: Trong những ngày ở Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, chị may mắn thường xuyên vào “kho sách hạn chế” của nhà trường. Tại đây, chị được đọc một số báo Ngày Nay do nhóm Tự lực Văn đoàn hồi đó chủ trương. Trên tờ báo số 155 ra ngày 27 septembre 1935 có kể lại chuyện nhà thơ Tú Mỡ lên thăm Tản Đà ở Trung Hà (báo chú thích: Trung Hà, một cái bến trên sông Đà, đường Sơn Tây, cách làng Khê Thượng của Tản Đà 8 cây số) và in bài thơ sau đây. Gần đây, được xem Tuyển tập Tản Đà, các tập thơ của Tú Mỡ, chị Trần Thị Vĩnh Phúc không thấy có bài thơ này. Bài thơ có tựa đề: Lại thăm bác Tản Đà.


Hôm qua chơi phiếm Trung Hà


Rẽ qua Bác Hiếu - Tản Đà vào chơi


Tiểu đồng nói: - Bác vừa xuôi


Đi chơi Hà Nội chừng đôi ba ngày


Ra đường gặp gái không may


Hay là Hiếu ấy Hiếu này vô duyên?


Tiếc rằng chẳng gặp Trích Tiên


Cùng nhau ta dạo qua miền núi non


Sẵn gà quay, bánh tây ròn


Sẵn ba chai bổ rượu ngon bồ đào


Ví chăng có bạn thi hào


Chén thù, chén tạc chừng nào là vui


Nhưng mà chẳng gặp thời thôi


Rượu ngon, nhắm tốt, bỏ ôi sao đành


Rầu lòng gửi lại thiếp danh


Anh em chốn ấy cây xanh rườm rà


Ngồi trông núi Tản, sông Đà


Tưởng chừng Bác Ấm như là có đây


Rót đầy cốc rượu nâng tay


Vẳng ai mời vọng đưa cay cùng tình.


Tú Mỡ


Hai số báo sau, tức báo số 157 ra ngày 11 Octobre 1935, lại thấy in bài thơ của Tản Đà - thú vị nhất là có kèm theo những lời “bình luận” của báo Ngày Nay rất dí dỏm. Ví dụ: Tản Đà viết “Nhắn cho con nhạn về Hà” thì được bình luận như sau: “…Ông Tản Đà không dùng trạm dây thép để gửi thư, ông dùng tem cho đỡ tốn tiền…”. Nguyên văn bài thơ của tác giả Thề non nước như sau:


Nhắn cho con nhạn về Hà


Những ai chơi bến sông Đà hôm xưa


Mây xuôi, rồng ngược hững hờ


Đá ngơ ngác núi, nước lờ lờ sông


Khó thay, hai chữ “tương phùng”


Nản lòng ai đến thiệt lòng ai đi


Mong sao hội ngộ có kỳ


Rượu ngon cất chén, ta thì cùng vui


Bây giờ rồng ngược, mây xuôi


Sông vơ vẩn khúc, núi bùi ngùi cây…


Nhà báo Hà Đình Nguyên để ra một công sức khá lớn sưu tầm và viết một loạt bài rất dài đăng nhiều kỳ trên báo Thanh Niên từ ngày 4-5-2010 với tựa đề lớn: “Tản Đà - thơ, rượu và ngông”. Xin lấy ra một đoạn “Trăm năm thi sĩ tửu đồ”:


Bàn về thơ, rượu, Tản Đà ra “tuyên ngôn”: “Trời đất sinh ra thơ với rượu/ Không thơ, không rượu sống như thừa” (Ngày xuân thơ rượu). Ông biện minh cho cái sự say của mình như sau: “Say sưa nghĩ cũng hư đời/ Hư thời hư vậy, say thời cứ say/ Đất say đất cũng lăn quay/ Trời say, mặt cũng đỏ gay ai cười?...” (Lại say), và: “Cảnh gió gió, mưa mưa/ Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn/ Rượu say ta lại khơi nguồn/ Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng tình/ Rượu thơ mình lại với mình/ Khi say quên cả cái hình phù du/ Trăm năm thơ túi, rượu vò/ Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai?” (Thơ rượu). Trong cuốn Văn thi sĩ tiền chiến của mình, nhà văn Nguyễn Vỹ kể: “Sau khi tuần báo Phụ nữ đăng bài thơ Gởi Trương Tửu của tôi, một buổi chiều tôi đến chơi ở tòa báo, bỗng thi sĩ Tản Đà từ bên ngoài bước vào. Một chiếc khăn đóng đã viền mòn, đáng lẽ đội trên đầu ông lại đeo tòn teng trong cánh tay. Vẫn chiếc áo lương thâm cũ mà tôi đã thấy ông mặc năm năm trước. Ông hỏi cô thư ký: “Có ông Nguyễn Vỹ ở đây không?”. Cô bạn cười chỉ tôi: “Thưa ông, Nguyễn Vỹ đây ạ”… Ông đưa tôi lên tàu điện, phố Hàng Bông. Nửa giờ sau đến một gian nhà ở ấp Thái Hà, nhà của ông. Ông lấy chai rượu và hai cái cốc ra. Tôi không biết uống rượu, nhưng vì xã giao không dám nói ra, sợ phật ý thi sĩ có tiếng là “Lưu Linh Việt Nam”. Tôi cứ để mặc ông rót rượu ra cốc… ông bắt đầu hỏi tôi: “Tôi thích bài thơ Gởi Trương Tửu của ông, nên mời ông uống rượu. Trương Tửu là ai?”. “Thưa cụ, bạn cháu ạ”. “Ông ấy có biết uống rượu không?”. “Dạ, anh ấy tên là Trương Tửu, thì cụ khỏi hỏi! Vả lại dòng dõi Trương Phi đấy ạ!”. “Hôm nào rủ ông ấy đến uống rượu với tôi”. “Dạ”. “Nhưng tôi giận ông lắm vì một câu trong bài thơ của ông. Tôi định gặp ông thì tôi bảo”. “Thưa cụ, câu nào ạ?”. “Sao ông lại bảo: Nhà văn An Nam khổ như chó? Ông so sánh nhà văn chúng ta với kiếp chó, mà ông không hổ thẹn ư?”. “Thưa cụ, nếu cháu so sánh nhà văn với chó, thì chó nó thẹn, chớ sao nhà văn lại thẹn?”. Ông Tản Đà làm thinh nốc hết ly rượu, rồi rót luôn một ly nữa. Mặt ông vẫn chưa đỏ. Bỗng dưng ông phì cười, tiếng cười nổ lên đột ngột và kêu to, làm tôi giật mình. Xong, ông nói, không ngó tôi: “Ông làm tôi bượch cười!” (ông Tản Đà hay nói bượch cười). Rồi ông rưng rưng nước mắt… Tự nhiên tôi cũng muốn khóc như ông. Mặt Tản Đà đỏ như quả gấc!


(còn tiếp)


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »