tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18106866
22.01.2017
Trần Thanh Phương
Rượu với văn chương (2)



Nguyễn Khuyến là nhà thơ có nhiều duyên nợ với rượu, cả trong đời lẫn trong sáng tác thơ văn. Theo Hồ Tĩnh Tâm, trong thơ Nôm, thơ chữ Hán đã có 53 lần Yên Đổ nói đến rượu - uống rượu. Có rất nhiều bài hay và đoạn thơ hay mà chúng tôi đã giới thiệu một ít bài kể trên, nếu chúng ta muốn biết thêm, đó là các bài: Nếm rượu, Chén rượu Đồ Tô, Rượu Trung Sơn, Ông phỗng đá, Chợ Đồng, Mừng ông nghè mới đỗ, Ngày xuân gửi bạn…


Nhà thơ Tú Xương cũng rất thích rượu. Một buổi sáng nọ, các chai, nậm, trong nhà ông không còn một giọt nào. Người ông bần thần, chân tay rời rạc khiến ông không sao cầm bút viết nổi một chữ. Ông cứ đứng lên ngồi xuống, ra ra vào vào ngóng vợ, y như trẻ con ngóng mẹ.


Bà Tú cắp thúng từ chợ Rồng về đến cửa, ông Tú đã ra đón, gãi đầu gãi tai, nói:


- Tôi mong bà phỏng cả mắt, bà có thấy sốt ruột nóng gan không?


- Có chuyện gì vậy ông? - Bà Tú ngạc nhiên hỏi.


- Hôm nay tôi muốn uống với bà mấy chén rượu, tạo cảm hứng viết một bài thơ tặng bà. Tôi vừa tìm ra tứ…


Bà Tú (tên thật là Phạm Thị Mẫn) vốn cũng thuộc dòng nho gia. Bà rất yêu thích thơ văn. Với văn chương ông Tú, bà là độc giả số một. Vậy nên khi ông hé lộ việc ông sắp viết thơ tặng bà thì bà hưởng ứng ngay, dù bà thừa biết ông làm thơ tặng bà lúc này còn vì muốn được bà chuốc rượu.


Bà Tú đã phỏng đoán không sai: Bà cầm cả mấy cái chai, cái nậm trong góc nhà giơ lên lắc lắc thì chẳng có cái nào phát ra thứ âm thanh chứng tỏ nó còn rượu. Bà vội móc hầu bao sai con chạy ra quán đầu phố Hàng Nâu (Nam Định). Một lúc sau, chai rượu nếp bắc cắm tăm đã được thằng bé mang về. Ông Tú mời bà Tú lên sập gụ ngồi đối diện với ông. Ông rót rượu ra hai cái chén cổ, bưng mời bà một chén với phong độ rất trịnh trọng. Ông nâng chén của mình nhấp một ngụm rồi từ tốn đọc:


Rượu với thơ suông cũng nhạt phèo…


Biết chồng có ý vòi đồ nhắm, bà Tú mau lẹ xuống bếp rán mấy thanh đậu phụ bà mới mua ở chợ về. Trong lúc bà rán đậu dưới bếp thì trên nhà, ông Tú đã “đi” được đôi ba chén, cái đầu lâng lâng, tứ thơ bây giờ mới xuất thần. Bà Tú bưng đồ nhắm lên, gắp một thanh đậu chấm nước mắm bỏ vào bát ông Tú. Ông Tú càng thêm hứng khởi, nói:


- Tôi vừa làm xong bài thơ tặng bà đây… Rồi đọc:


 Một trà, một rượu, một đàn bà


Ba cái lăng nhăng nó quấy ta


Chừa được cái gì hay cái ấy


Có chăng chừa rượu với chừa trà.


Bà Tú bật cười, nói:


- Ông thì chỉ được cái nói mép, chứ có chừa được cái gì! Đấy, như ông bảo chừa rượu sao không chừa đi lại còn vòi vĩnh?


Ông Tú nói giọng hài hước nhưng thật bụng:


- Tôi nói “có chăng” chứ tôi đâu đã dám chắc sẽ chừa! Mà suy cho cùng cũng chỉ bởi vì tôi không chừa được bà cho nên mới không chừa được rượu. Tửu sắc tương liên mà lỵ!


Trong sách giáo khoa Văn học lớp 11 tập I, NXB Giáo dục, 2005, viết về văn thơ Phan Bội Châu: Văn thơ cụ Phan là một thành công rực rỡ của thể loại văn chương tuyên truyền cổ động cách mạng. Ở đây, lý tưởng dân tộc cao cả, tình cảm thương dân, thương nước sâu nặng, phong phú, nhiệt huyết, sôi sục cuồn cuộn đã là cội nguồn cảm hứng sáng tạo và cũng trở thành phong cách nghệ thuật văn chương của cụ. Nhưng ít ai biết báo Tiếng Dân, ngày 9-1-1937, đăng bài nói về rượu với tựa đề “Tình tự với rượu”, khá thâm trầm của cụ:


I


Buồn tẻo, buồn teo, hỡi chị men,


Thôi thời với chị kể nhân duyên.


Non sông nợ cũ đền chưa trắng,


Gió sấm luồng xưa rủi đã đen.


Thân vẫn còn đây trời ngó xuống,


Đời như sáo nữa, đất bùng lên.


Ừ năm ba chén cười hay khóc,


Khóc lại cười ư cũng đảo điên.


 


II


Mưa khéo trêu nhau gió chọc nhau,


Núi sông bó chặt những dây sầu.


Bà đâu vắng ngắt bà cùng chén,


Bạn luống trông hoài bạn với bầu


Khấn nguyện đàn sau chim đỉnh núi


Kêu rêu hồn nước quốc đêm thu


Trời ơi, chớ bảo say là quấy!


Trời nếu như tôi cũng gật gù.


 


III


Muốn tạ thần thơ, thần cứ tiến


Toan đuổi ma sầu, ma lại đến


Có sống thôi đi đỡ với đời


Chẳng say thời cũng chi hơn chén


Văn minh nhảy nhót gái xô trai


Phấn đấu lung tung, vàng lẫn vện


Giốc hồ đạp án nói trời kêu


Nay ta quyết với trời già, kiện.


Khi nói với một trong những nhà khoa bảng có lối hành văn trữ tình hào hoa cuối thế kỷ 19, người ta thường nhắc tới ông nghè Chu Mạnh Trinh (1862-1905). Trước đây và hiện nay, có nhiều người vẫn thuộc lòng một số thơ văn của ông mà tiêu biểu là bài Phong cảnh Hương Sơn.


Tác phẩm Chu Mạnh Trinh để lại không nhiều. Nhà thơ mất sớm, các hậu duệ còn nhỏ nên rất tiếc tập hợp các tác phẩm còn ít. Xin giới thiệu một bài thơ Mừng xuân của ông, do nhà văn Lê Văn Ba sưu tầm in trong cuốn Nhà thơ Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh (NXB Văn hóa dân tộc, 2016). Lê Văn Ba viết:


Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày, có mấy ngày hả hê như giáp Tết năm ấy? Chu Mạnh Trinh để lại thị xã Hưng Yên bao kỷ niệm đẹp. Từ hôm đó ông trở về quê, làm một người bình thường, một người tự do.


Tan một bữa rượu, cụ Cử ra về. Còn lại một mình. Chu Mạnh Trinh ngồi lại trong thư phòng qua bức mành thấy mưa xuân lất phất bay. Những giọt li ti đang rửa sạch bụi bám trên lá cây. Tiếng con chim hót đâu đây như hỏi ông có nhớ ước mộng năm xưa đi chơi chùa Hương, muốn trở thành Lưu Thần, Nguyễn Triệu? Nhà ông cũng có cảnh “Bồng lai xuân sắc mãn giang quan” cơ mà. Chu Mạnh Trinh vớ tay cầm chiếc nậm rót thêm rượu. Chỉ một chén vơi nhưng đã có hoa mai, cây trúc đây cùng say. Ông được nghỉ việc công rồi, được cáo quan về nhà rồi. Sống tùy ý, tùy thích, phải chăng đấy mới là mùa xuân? Thi hứng tràn đầy, sẵn bút, mực còn để trên bàn, Chu Mạnh Trinh lia bút đề ngay lên tường bài thơ xuân. Nét mực đưa tới đâu, tường vội hút chặt ngay lấy như muốn lưu giữ vĩnh viễn chút gì đó của hồn thơ.


MỪNG XUÂN


 


Sớm mưa, rửa sạch bụi trần


Oanh ca trên nước, tan dần chiêm bao


Mừng xuân, hoa liễu đón chào


Tấm lòng non nước gửi vào văn nhân


Cành mai say chén tri âm


Nghe thơ, trúc tỏ tình thân láng giềng


Việc xong, sức khỏe vẹn tuyền


Lâng lâng, thỏa mọi nỗi niềm, ấy xuân.


Trần Lê Văn dịch


Trong An ninh thế giới cuối tháng, số tháng 12-2008, Hoài Nam viết: Cổ nhân có câu: “Dĩ tửu trợ văn, dĩ văn hội hữu” (lấy rượu giúp cho cảm hứng văn chương, lấy văn chương để kết giao bạn bè). Lại có thêm quan niệm: Rượu là sự thăng hoa của ngũ cốc, thơ là sự kết tinh của ngôn từ. Chỉ bằng từng ấy có lẽ đã đủ để nhìn ra một mối liên hệ thật mật thiết giữa rượu, thơ và thi sỹ. Trên thực tế của nhiều trường hợp, đó là cái tam vị đã làm nên sự nhất thể. Tình bạn giữa những con người trong giới bút mực. Tình bạn ấy diễn ra trong đời thường, và cũng có lúc, như một sự ngẫu nhiên thú vị, nó in dấu trong thơ, nó giúp người yêu thơ hiểu thêm về các thi sĩ và tình cảm bằng hữu mà họ dành cho nhau.


Năm 1937, trên báo Đàn bà xuất hiện một bài thơ của Nguyễn Vỹ, có cái tên “Gửi Trương Tửu”. Khi soạn “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã đưa bài thơ này vào sách và cho rằng: Đây “mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ”. Mở đầu bài thơ đã là những câu ngây ngất hơi men: “Nay ta thèm rượu nhớ mong ai/ Một mình nhấm nháp chẳng buồn say/ Trước kia hai thằng hết một nậm/ Trò chuyện dông dài mặt đỏ sậm/ Nay một mình ta một be con/ Cạn rượu rồi thơ mới véo von…”.


Rượu làm sống lại hồi ức của tác giả về người bạn thân thiết Trương Tửu, về những kỷ niệm khi hai người còn gần gũi bên nhau. Và đây là những câu thơ mà nhiều người đã thuộc nằm lòng, có thể nói, những câu thơ “xanh mãi với thời gian” bởi chất kiêu bạc phóng túng của chúng: “Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác/ Mà vẫn coi tiền như cái rác/ Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang/ Rủ nhau chè chén nói huênh hoang/ Xáo lộn văn chương với chả cá/ Chửi Đông, chửi Tây chửi tất cả/ Rồi ngủ một giấc mộng với mê/ Sáng dậy, nhìn nhau cười hê hê”. (Sau này, trong bài viết “Kỷ niệm về Trương Tửu”, Nguyễn Vỹ kể khá chi tiết về việc ông cùng Trương Tửu và Vũ Trang sống với nhau trên gác trọ phố Khâm Thiên - khoảng 1934, 1935. Mỗi sáng về mùa đông, ba người lại trùm ba cái chăn bông ngồi ở phòng khách, uống trà, nói chuyện văn chương. Nhiều tháng họ không có tiền, nhưng có lần Nguyễn Vỹ được 10 đồng nhuận bút, Trương Tửu lấy 4 đồng uống rượu đế ăn thịt cầy, Vũ Trang lấy 4 đồng đi Nam Định để biểu diễn thôi miên. Trong bài viết này, Nguyễn Vỹ cũng tỏ ra rất khâm phục sức đọc sức nghĩ và tài hùng biện của Trương Tửu.


Với “Gửi Trương Tửu”, Nguyễn Vỹ công khai bộc lộ nỗi chán chường cá nhân trước tình cảnh cùng quẫn và sự bế tắc tinh thần của những người sống bằng ngòi bút viết văn, viết báo trong một xã hội Việt Nam thuộc địa và tư sản hóa. Câu thơ được truyền tụng nhiều nhất: “Nhà văn An Nam khổ như chó”! Đó cũng đồng thời là nỗi chán chường trước tình cảnh của hai người bạn: “Anh đi che tàn một lũ ngốc… Còn tôi bưng thúng theo đàn bà”. Nhưng không chỉ có vậy, “Gửi Trương Tửu” còn là sự gửi gắm những ước mơ của hai người bạn Nguyễn Vỹ - Trương Tửu. Trong văn bản bài thơ được in ở “Thi nhân Việt Nam” ước mơ ấy hiện ra khá mờ nhạt: “Tôi làm trạng nguyên, anh tể tướng/ Rồi anh bên võ tôi bên văn/ Múa bút tung gươm hả một phen”. Nó, ước mơ ấy, sẽ thực sự là ước mơ cháy bỏng nếu ta hoàn nguyên 14 câu thơ đã bị chính quyền thực dân kiểm duyệt - theo tư liệu mà gia đình giáo sư Trương Tửu hiện còn lưu giữ: “Cho bõ căm hờn cái xã hội/ Mà anh thường kêu mục, nát, ruỗng/ Cho người cày ruộng kẻ làm công/ Đều được yên vui hớn hở lòng/ Bao giờ chúng mình gạch một chữ/ Làm cho đảo điên pho lịch sử/ Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa/ Hất mồ nhổm dậy cười say sưa/ Để xem hai chàng trai quắc thước/ Quét sạch quân thù trên đất nước/ Để cho toàn thể dân Việt Nam/ Đều được tự do muôn muôn năm/ Để cho muôn muôn đời dân tộc/ Hết đói rét, lầm than, tang tóc…”.


Những câu thơ như vậy, tất nhiên, không cách gì tránh khỏi được nhát kéo kiểm duyệt của chính quyền thực dân. Nhưng quan trọng là, qua những câu thơ đó, Nguyễn Vỹ đã thực sự hiểu, chia sẻ với nguyện vọng và tư tưởng của bạn. Điều này sẽ được chứng minh nếu chúng ta không quên rằng, từ giữa những năm 30, nhà văn - nhà phê bình văn học Trương Tửu đã bắt đầu đọc sách của chủ nghĩa Marx, tiếp cận với báo của Đảng Cộng sản do Trần Huy Liệu phụ trách, rồi tham gia chống việc Bảo Đại vận động tranh cử và vì thế bị chính quyền thực dân kết án. Tinh thần đấu tranh hừng hực - như đoạn thơ 14 câu trên cho thấy - hẳn đã thường trực trong tư tưởng Trương Tửu, và cũng hẳn đã lôi cuốn Nguyễn Vỹ. Nhưng lôi cuốn là một chuyện, cùng đi được với nhau trên một con đường hay không lại là một chuyện khác. Có lẽ chính vì thế mà Nguyễn Vỹ, sau cao trào, đã kết lại bài thơ gửi bạn của mình bằng một thoái trào: “Mẹ cha cái kiếp làm thi sỹ/ Chơi cờ nước cao gặp thế bí/ Rồi đâm ra điên ra vẩn vơ/ Rốt cuộc chỉ còn… mộng vơi mơ”.


Hơi men vẫn còn ngây ngất ướp lấy bài thơ khi tác giả chua thêm ở cuối bài năm chữ: “Viết rồi vẫn còn say”, chính cái hơi men đã tái hiện một tình bạn và góp phần làm nên sức trường tồn của một thi phẩm.


Ưng Bình Thúc Giạ Thị là nhà nho uyên bác, lại tinh thông Tây học, từng làm quan lớn trong triều Nguyễn, nhưng nhà thơ trước sau vẫn giản dị là một con người Việt Nam, yêu dân tộc Việt Nam, yêu Tổ quốc Việt Nam, luôn luôn thiết tha với cảnh vật, con người xứ sở mình. Ông được nhiều tầng lớp người trong xã hội quý mến, kính nể. Chẳng thế mà năm 1951, khi ông tròn 75 tuổi, bạn bè tổ chức lễ điếu sống ông.


Không ít bài thơ viết bằng chữ Hán, cũng như Quốc ngữ, ta bắt gặp tâm trạng cô đơn, nỗi sầu da diết của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, cô đơn ngay cả khi tiệc tùng đàn ca réo rắt, cô đơn ngay cả giữa chốn đông người. Xin dẫn bài: Giáp Tý xuân tam nguyệt nhị thập cửu dạ chiêu ẩm tác thi mệnh cầm đề thi: Mùa xuân năm Giáp Tý - 1924, đêm 29 tháng 3 cùng khách uống rượu làm thơ và nghe đàn.


Dịch thơ: Đông Chi, Mộng Vị mối tình lan/ Chàng bẵng ngâm thơ biếng gảy đàn/ Sầu nhớ thương người vài chén rượu/ Nỗi lòng vằng vặc vạn trùng san/ Quỷ ma ác liệt đầy sòng bạc/ Mặc khách thanh tao thiếu bạn vàng/ Vẳng điệu Hành Vân đàn thập lục/ Rì rào réo rắt hạt mưa tan.


Và đây là bài “Tiễn biệt người tình”, ông sáng tác ở Hội An, 1904:


Ngọn gió ngành xuân thổi phất phơ


Khi đưa, khi đón lại khi chờ


Câu thi tiễn biệt càng ngao ngán


Chén rượu tương phùng luống ngẩn ngơ


Ngoắt bạn, bạn đành chân bước tới


Kêu ai, ai giả bộ làm ngơ.


Thôi thôi đã thế thôi thì thế


Thương cũng xin vâng, ghét cũng nhờ.


 


Theo nhà văn Triệu Xuân, Nguyễn Đình Thi có bài thơ rất độc đáo về rượu. Đó là bài “Không đề”. Triệu Xuân viết: Những năm cuối đời, mỗi khi vô Sài Gòn, nhà văn Nguyễn Đình Thi thường lui tới nhà Triệu Xuân… Sau Tết năm 1999, đến chơi nhà Triệu Xuân (16-3-1999), trong tiệc rượu, nhà thơ Nguyễn Đình Thi có đọc - và chép tặng Triệu Xuân- vài bài thơ. “Không đề” là một trong số bài thơ đó. Khi ông Thi vừa đọc xong, tôi thuộc liền, nhất là câu thơ cuối: “Chén rượu bên đèn nước mắt đầy”, nghe lần đầu đã nổi da gà. Tôi hỏi ông Thi: Sao lạ thế, giống hệt tâm trạng của không ít người (ý nói là của Triệu Xuân)! Ông Thi lặng đi, mãi mới trả lời: "Ý câu ấy, tôi lấy của ông Tuân (Nhà văn Nguyễn Tuân). Một hôm, đến cơ quan Hội rất sớm, mặt mày phờ phạc, ông Tuân nói với tôi: Thi ơi, đêm qua tôi không ngủ được, thức và viết mãi, khi cầm chén rượu uống, thấy mặn chát, thì ra toàn nước mắt, ông ạ!".


Cuộc đời như một áng mây trôi


Gió thu lại thổi suốt đêm dài.


Bạn bè ngày ấy dần xa khuất


Chén rượu bên đèn nước mắt đầy


 


Chép tặng Triệu Xuân. Ký tên Nguyễn Đình Thi


 


Trong Tuyển thơ Nguyễn Đình Thi, bài Không đề được làm năm 1997, nó như sau: Năm mươi năm như một bóng mây/ Gió thu lại thổi suốt đêm dài/ Vẳng nghe khúc hát người năm ấy/ Chén rượu bên đèn nước mắt đầy.


Rõ ràng, bản mà Ông Thi chép tặng Triệu Xuân ngày 16-03-1999, hay hơn! – Rút từ “Triệu Xuân Sống và Viết”.


 


Nhà báo, nhà phê bình văn học Phạm Ngọc Luật cho rằng thi sĩ Vũ Hoàng Chương là lớp hậu sinh thuộc hàng con cháu cụ Tản Đà. Người thơ này nổi tiếng cả trong viết và trong các ngón nghề ăn chơi theo đường Tây học. “Say đi em” là bài thơ bạo liệt nhất của ông chứ gì? Ông giục giã say cho “Lơi lả ánh đèn, cho điên rồ xác thịt”. Ông giục giã uống để quên, quên hết “Rượu, rượu nữa và quên, quên hết/ Ta quá say rồi/ Sắc ngả mầu trôi”. Cảm giác vật chất, gấp gáp và hối thúc như kiểu vũ trường điện tử hôm nay quả là không hiếm gặp trong thơ ông cách đây đã hơn bảy thập kỷ. Ngay cả khi ông thông báo trong bài “Một phút ngừng say” thì tôi vẫn thấy hiện hình cảm giác vật chất của rượu - thơ - say còn sót lại. Công bằng mà nói, sau những câu thơ tốc độ và đậm sắc màu điện tử, có vẻ lạ, có vẻ dễ được một thời vồ vập ấy thì những câu thơ “hậu rượu” - tôi muốn được gọi như thế - của ông là những câu thơ tôi cho là hay nhất, dễ thương nhất. Đã mấy thi sĩ viết được những câu đi qua rượu mà lắng sâu, xa vắng được thế này:


Bấc trĩu hoa đèn nhựa úa nâu


Phai say nằm khóc mộng ban đầu


Bước chân song sóng vòng tay mở


Dạo ấy người ơi xa lắm đâu


…Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không


Mà đây lòng trắng một mùa đông


Tương tư nối đuốc thâu canh đợi


Thoảng gió Trà My động mấy bông.


Cũng như nhiều nhà thơ đương thời, Vũ Hoàng Chương mượn rượu để tiêu sầu, nhưng cái sầu càng sâu đậm thêm. Trong bài Đời vắng em rồi, Vũ Hoàng Chương viết:


Có ai say để quên sầu,


Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn


và…


Em ơi lửa tắt bình khô rượu


Đời vắng em rồi say với ai?


Xin mời đọc lại bài Phương xa của ông:


Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,


Xuôi về đông hay giạt tới phương đoài,


Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,


Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi.


Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bảy đứa,


Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.


Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,


Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.


Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,


Một đôi người u uất nỗi chơ vơ.


Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,


Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.


Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,


Treo buồm cao cùng cao tiếng hò khoan.


Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,


Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.


Thi sĩ Vũ Hoàng Chương nổi tiếng với tập Thơ say (1941). Ông còn mê rượu, thơ, hát cô đầu… cả Quan Họ nữa. Sau Thơ say hai năm, ông cho in tập Mây. Nó từ một mối tình của ông. Nguyên do thế này.


Tháng tư năm Nhâm Ngọ (1942) ông theo thi sĩ Lê Trọng Quỹ sang làng Dương Ổ (Hà Bắc) nghe hát Quan Họ. Bên ấy, Lê Quân có “đệ nhị phòng” là cô Tạ, anh em đùa là Dương Quý Phi của Lê thi sĩ. Tới nơi, cô ta đón tiếp trọng thể, bê lên một mâm rượu rồi đi mời thêm bạn hát. Hoàng và Lê ngồi uống, rồi Hoàng say kê đầu lên cái gối bằng giấy xếp, đánh một giấc. Khi tỉnh dậy thấy có 9-10 người ngồi hát quây quần, trong đám ấy có một thiếu nữ “đẹp như mộng”. Hỏi thầm Lê Quân biết là cô Mây - Hoàng ứng khẩu ngay một bài thơ tứ tuyệt, vừa thôi xao tức thì:


Ánh rượu đào trên má đỏ hây


Tiếng ca tròn với khuôn trăng đầy


Ngọn cau, trăng cũng tròn theo tiếng


Tròn não nùng, như tuổi của Mây.


Mọi người biết ngay thi sĩ phải bùa rồi, và cũng ủng hộ. Nhưng Mây, vừa tuổi trăng rằm, đẹp lắm lại đã có chồng từ ba năm trước. Chồng nàng kém nàng năm tuổi. Giờ nó lên 10, còn chơi khăng đánh đáo. Tục lệ ở làng rất ngặt, nếu cô gái lớn lên có trục trặc gì, nhà gái phải trả nhà trai toàn bộ tổn phí cưới xin trước đó, gọi là trả của. Cuộc tình của Mây với Hoàng khó thành. Vì Mây nhút nhát, nghe cha mẹ. Yêu Hoàng, Mây chỉ biết khóc, mà nói chuyện về hội hè đình đám thì có duyên lắm.


Hoàng, sau nhiều lần từ Hà Nội sang, ngày càng khó xử. Ngặt nỗi nếu Mây thuyết phục được gia đình trả của, nàng cũng không thể theo Hoàng rời làng được, chị em bạn bè nàng cũng vậy. Mà Hoàng lại không thể nhập tịch làng Dương Ổ, vì là con trưởng, cưới vợ, tất dâu trưởng phải lo cúng giỗ ở Nam Định, quê Hoàng.


Sau lần cùng Mạnh Phú Tư sang Dương Ổ, đi xe tay từ Hà Nội lúc chập tối, vào làng đã 10 giờ đêm, dân làng cho rằng Hoàng có thể rủ Mây đi trốn, mà Mây nhẹ dạ dễ theo công tử Hà Thành lắm. Và gia đình Mây đã bắt Mây lập tức phải về nhà chồng, mặc nàng phản đối.


Nhùng nhằng đi lại hết cả mùa hè. Vào thu Hoàng phải xuống Hải Phòng dạy học, thế là ước mộng thành mây khói.


Cuối năm tập thơ Mây của Hoàng đã được bạn bè đón đợi, Huy Cận ứng khẩu:


Đã lâu gặp lại chàng say


Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần.


Nhưng cũng phải đến hết mùa thu năm sau, trời rét, tập Mây mới in xong. Bìa tập, họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ một cái bầu rượu màu nâu, hình thù mập tròn chứa đám mây giang hồ. Căn cứ vào tầm quan trọng của cái bầu rượu lại bởi cái huy hiệu của NXB Đời Nay in nhỏ, khó xem, nên có người xuyên tạc là nhà xuất bản Hồ Lô.


Thật cũng duyên lạ, tỉnh rượu, Vũ Hoàng Chương gặp được người đẹp tên Mây, và tập thơ ra đời từ ấy, lại được ông Vân (Mây) vẽ bìa, bìa lại có hình nậm rượu chứa đám mây. Bánh xe “chuyển xa luân” thế cũng khéo một vòng. Chắc cũng bởi cái họ Vũ (Mưa) mà mối tình dang dở?


Ngoài tập thơ Mây do mối tình này, Vũ Hoàng Chương còn viết kịch thơ Vân Muội, khi diễn ông thủ vai chính. Ông gặp Mây năm 26 tuổi, cứ theo tinh thần hồi ký của ông thì có thể đoán đây là mối tình đầu, nó sâu sắc và lưu dấu không phai trong đời. - Theo sách Văn hóa rượu.


Cùng tầm tuổi, cùng sinh ra ở Nam Định, cùng xếp liền nhau trong Thi nhân Việt Nam, cùng có những năm tháng tiêu tao ngất ngưởng rượu thơ đây đó, nhưng khác với thi sĩ “Tố của Hoàng”, Nguyễn Bính lại là một kênh hoàn toàn khác. Và ông khác ngay ở một mô-típ muôn đời là rượu với thơ.


Đến Lạng Sơn năm 1940, trong tâm hồn ông là cả “một trời quan tái”. Trong chén rượu, đằng trước và đằng sau bước chân thứ lữ giang hồ vẫn chỉ là hình bóng giai nhân:


Chiều lại buồn rồi, em vẫn xa


Lá rừng thu đổ, nắng sông tà


Chênh vênh quán rượu mờ sương khói


Váng vất thôn sâu quạnh tiếng gà.


Rồi cũng không còn nghe thấy tiếng gà và cảm giác váng vất nữa, Nguyễn Bính tuyệt vời trong một đặc tả sức thất tình trong bốn câu thơ rượu kết thúc bài “Một trời quan tái”.


Chiều nay… thương nhớ nhất chiều nay


Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy


Tôi uống cả em và uống cả


Một trời quan tái mấy cho say.


Đến Huế năm 1941, để rồi có bài thơ “Trời mưa ở Huế” - bài thơ là cả cuộc đời ông vần vụ trong nghèo túng mà vẫn không nghèo xót thương và tâm tưởng:


…Cúi mặt soi gương chén rượu đầy


Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ


Đôi lòng hòa một vị chua cay


Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ


Cha mẹ chiều chiều… con nước mây.


Và dễ thường không phải là ông, không phải là Nguyễn Bính đâu dễ có được những câu thơ rượu hay hết nhẽ, hay vì chưa ai nói được cái cảm giác “lạnh ngón tay” của người nâng ly rượu ngày mưa lúc xa nhà, xa mọi thứ:


Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả


Chén ứa men lành lạnh ngón tay.


Nguyễn Vỹ đã viết mấy câu thơ nổi tiếng:


…Mỗi lần cầm bút nói văn chương


Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương


Và nhìn chúng mình hì hục viết


Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết.


Nguyễn Bính không nói bỗ bã như Nguyễn Vỹ, nhưng tâm tư của ông thì cũng như vậy. Và rồi cũng như Nguyễn Vỹ, ông lại dùng rượu để quên buồn phiền.


…Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc


Ly tán vì cơn gió bụi này


Người ơi, buồn lắm mà không khóc


Mà vẫn cười qua chén rượu đầy


 


Vẫn đám tiêu hoang cho đến hết


Ngày mai ra sao rồi hẵng hay


Ngày mai xán lạn màu non nước


Cốt nhất làm sao tự buổi này


 


Ta đi, nhưng biết về đâu chứ?


Đã mấy phong yên lộng bốn trời


Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ


Uống say mà gọi thế nhân ơi!


Bài Hành phương Nam


Lại uống rượu! Nếu có người nào chịu khó đi đếm những lần Nguyễn Bính nhắc đến rượu ở trong thơ sẽ gặp được nhiều lần. Có lẽ cả trăm lần ông dùng từ rượu:


- Chị ơi! Tết đến em mua rượu


Em uống cho say đến não lòng.


Xuân tha hương


- Hôm qua còn sót hơn đồng bạc


Hai đứa bàn nhau uống rượu say.


Giời mưa ở Huế


- Nhưng mộng mà thôi mộng mất thôi


Hoa tàn rượu ế ấy tình tôi.


Hoa với rượu


Nhưng ngồi giữa chợ “để uống say mà gọi thế nhân ơi!” cũng thật là thú vị. Tiếc là Nguyễn Bính không chịu kết lại bài thơ ở đây để ông còn ngồi uống rượu mãi giữa chợ mà ông lại viết thêm một khổ nữa:


Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ


Ta với nhà ngươi cả tiếng cười


Ngươi ơi! Hề! Ngươi ơi!


Người sang bên ấy sao mà lạnh


Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…


Có lẽ như ông đã quá say.


Nói đến thơ Nguyễn Bính, người đời thường ghi nhớ, truyền tụng nhiều bài thơ tình bất hủ của ông: Tương tư, Cô hàng xóm, Cô lái đò, Lỡ bước sang ngang, Chân quê… Có lẽ ít ai biết bài thơ Cho tôi ly nữa. Bài thơ lúc đầu đăng trên Tiểu thuyết thứ 5, sau in trong tập Tâm hồn tôi (NXB Nguyễn Cường, 1940). Đó là sự say của một thi sĩ lớn, một tâm hồn lớn mang nặng nỗi đau đời. Cái hay, cái độc đáo là ở tứ thơ phát triển theo từng cung bậc tâm lý người say sau mỗi chén rượu. Lời thơ cứ nhẹ tênh theo hơi men phảng phất mà sức chuyển tải tư tưởng rất nặng, rất đằm. Bước vào cuộc say thi sĩ còn nói lỡm cô chủ quán rằng đừng nghỉ sớm, trưa, chiều, tối càng có mặt càng mê nàng…


Năm 1934, báo Phong Hóa có đăng bài thơ dài “Minh niên khai bút” của nhà thơ Tú Mỡ chúc Tết cho 15 nhân vật thời ấy mà ông gọi là “Thập ngũ tài tử”, trong đó có hai nhân vật văn học là Tản Đà và Nguyễn Thị Manh Manh, bấy giờ đang trong cuộc đấu tranh giữa thơ mới và thơ cũ.


Nhà thơ Tản Đà mà chúng ta đã quen thuộc, được Tú Mỡ chúc như sau:


Minh niên khai bút, nút khai chai


Vạn sự giai thành, một hóa hai


Còn rượu, còn thơ, còn chếnh choáng


Còn chưa đáng chán cõi trần ai.


Còn bà Nguyễn Thị Manh Manh (tên thật là Nguyễn Thị Kiêm), sinh năm 1914 tại Gò Công - một người nhiệt thành đấu tranh cho thơ mới, đã mấy lần hăng hái diễn thuyết tại Hội Khuyến học Sài Gòn, tranh luận với các đại biểu thơ cũ. Nhà thơ Tú Mỡ đã chúc bà Nguyễn Thị Kiêm như sau:


Minh niên khai mỏ, lại khai môi


Ngoáy “đít cua” rồi thở hết hơi


Kêu rống trong Nam ngoài đất Bắc


Làm cho bành trướng gái tân thời.


Cũng trong số báo Phong Hóa này, Nguyễn Bính còn viết đôi câu đối:


Tết tung túng tắng tiền tiêu Tết


Xuân xiếc xênh xang sắm sửa xuân.


Còn đây là đôi câu đối của bạn đọc ở Hải Dương chúc Tết cho hai kiện tướng của Tự Lực văn đoàn năm 1934:


- Xuân sang, kể chuyện “Đào hoa”, Khái Hưng ru “Hồn bướm vào cõi tiên”, chợt nghĩ đến “Nửa chừng xuân” mà đã lo quãng “Đời mưa gió”.


- Tết đến, đọc văn “Thơ mới”, Thế Lữ ngắm “Đêm trăng ở hang Văn Dú” mới tưởng tới “Lưỡi tầm sét” rồi thấy sợ con “Đường thiên lôi”.


Năm 1933, cụ Tú Mỡ có bài thơ “Tửu đức tụng”. Cụ làm bài thơ này không chủ đích ca ngợi rượu, vì cụ không uống rượu, mặc dù cụ viết:


Anh em hỡi, này ta bảo thật:


Rượu cho nhiều mà sướng nhất trần ai


Ai ơi! Chẳng uống cũng hoài!


Cụ viết bài thơ này vì “hôm rằm tháng bảy 1933 nhà nước bãi độc quyền rượu, để người Nam được nấu rượu Nam”. Các ông Lưu Linh Việt Nam là sung sướng lắm. Vậy Tú Mỡ đặt bài “Tửu đức tụng” này để tặng chung bà con trong làng say, và tặng riêng cho ông chích tiên, thi sĩ kiêm tửu sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.


Một chuyện vui khác: Mồng ba Tết năm 1942, nhà văn Thạch Lam rủ một số bạn văn về quê ông ở Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mừng xuân. Trong số bạn văn ấy có Khái Hưng, Trần Tiêu, Thế Lữ, Song Kim, Huyền Kiêu, Đinh Hùng.


Cuộc rượu diễn ra trong ngôi nhà làm theo kiểu Ánh Sáng, có cửa rộng nhìn ra vườn đầy hoa. Thạch Lam có bà vợ giỏi nấu ăn, thường gọi là chị Lâm, bao giờ cũng làm mâm cỗ rất Hà Nội mỗi khi có giỗ tế. Tác giả “Hà Nội băm sáu phố phường” còn được bạn bè suy tôn là người có “quan niệm siêu đẳng về thực ẩm”.


Mọi người nâng chén và tấm tắc khen rượu ngon: tinh chất hơn Mai Quế Lộ, đằm thắm hơn Thanh Mai, thơm hơn hẳn mọi thứ Cẩm, Cúc…


Tuy khen rượu ngon, ngon đặc biệt, mà vẫn không ai biết là loại rượu gì. Thạch Lam cười và nói vợ mang cả hũ rượu ra. Đó là một hũ sành to có nút lá chuối khô bịt kín, có dán một mảnh giấy hồng điều viết bốn chữ nho làm nhãn “Đào Lê Mỹ Tửu”.


Nhà văn Thạch Lam nghiêm trang giải thích: “Đào Lê Mỹ Tửu là rượu ngon đã đành. Có ngon mới đem thết bạn. Nhưng Đào Lê không phải là quả đào, quả lê đâu nhé. Nói lái là Đề Lao. Cả người nấu và người uống thứ rượu này là dễ bị Tây đoan tống vào đề lao lắm đấy”.


Cả mâm rượu phá lên cười:


- Đào Lê Mỹ Tửu vạn tuế!


Ngày xuân ai chẳng có chút say. Trước cảnh sắc tươi non, trong hương bay ngào ngạt, ai cũng nghĩ cảnh sắc đó, hương thơm ấy là của vũ trụ ban tặng cho riêng mình. “Vì ta sông núi nổi màu xuân” (thơ Đỗ Phủ). Ngập trong lời chúc của thân quyến, bạn bè họ tự thưởng thêm cho mình một chút say.


Các thi sĩ là người sống hết mình, yêu hết mình và cũng say hết mình.


Lưu Trọng Lư có cái say của đấng tao nhân mặc khách. Một sự say thảng đến, chợt đi trên bước giang hồ, lữ thứ. Dưới cây bút tài hoa của Lưu Trọng Lư nó như một tiếng đờn bầu bật lên ngân vọng giữa bao la trời đất:


Ước gì ta có rượu say


Sông kia bên ấy, bên này của ta.


Trời cao đất rộng bao la


Hiu hiu gió sậy, la đà dặm trăng.


Một mai bên quán ngập ngừng


Quẩy theo với rượu một vừng giai nhân…


Ở Lưu Trọng Lư, rượu tượng trưng cho cuộc sống phóng túng của một lãng tử. Đây là bài thơ nổi tiếng mang tên Giang hồ:


 


Mời anh cạn hết chén này,


Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn.


Tiếng gà đã rộn trong thôn,


Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay.


Để lòng với rượu cùng say,


Chừ đây lời nói chua cay lạ thường!


Chừ đây đêm hãy đầy sương,


Con thuyền còn buộc, trăng buông lạnh lùng!


Chừ đây trăng nước não nùng,


Chừ đây hoa cỏ bên sông rũ buồn.


 


Tiếng gà lại rộn trong thôn...


Khoan đừng tơ tưởng vợ con ở nhà


Giờ này còn của đôi ta,


Giang hồ rượu ấy còn pha lệ người,


Ô sao rượu chẳng kề môi,


Lời đâu kiều diễm cho nguôi lòng chàng?


*


Tay em nâng chén hoàng hoa,


Sá gì hớp rượu vì ta bận lòng.


Hãy gượm lắng nghe dòng sông chảy,


Gió đùa trăng trên bãi lạnh lùng.


Sá gì hớp rượu, bận lòng,


Đợi gì môi nhấp rượu nồng mới say?


Hãy nhích lại đưa tay ta nắm


Hãy buông ra đằm thắm nhìn nhau.


Rồi trong những phút giây lâu,


Mắt sầu gợn sóng, lòng đau rộn tình.


 


Phút giây ấy, ta mình ngây ngất,


Bỗng con thuyền buộc chặt, rời cây.


Cho ta khất chén rượu này,


Vì ta em hãy lựa dây đoạn trường.


Khoan để đốt chút hương trầm đã!


Đợi trầm bay rộn rã lời ca...


Nghe xong ta ngắm lời xa,


Dòng sông Ngân đã nhạt mờ từ lâu.


Tiếng gà đã gáy mau trong xóm,


Bình minh đà rạng khóm tre cồn.


Trông nàng môi lạt màu son,


Giật mình ta nhớ vợ con ở nhà,


 


Từ đấy chẳng bao giờ phiêu lãng,


Niềm thê nhi ngày tháng quen dần.


Đôi phen nhớ cảnh phong trần:


Bóng nàng ẩn hiện xa gần đâu đây.


Tưởng nghe tiếng gọi nơi hồ hải,


Mắt lệ mờ ta mải trông theo,


Trong buồng bỗng tiếng con reo,


Vội vàng khép cửa gió heo lạnh lùng.


*


Đêm ấy rượu nàng ta không uống,


Từ sau thề không uống rượu ai.


Đòi phen ngồi ngóng chân trời,


Chẳng bao giờ nghĩ đến đời phiêu lưu.


Ngoan ngoãn như con cừu non dại,


Cỏ quanh vườn cắn mãi còn ngon.


Sau lưng nghe tiếng cười dòn,


Vội vàng ngoảnh lại... thằng con vẫn cười.


Nó đưa ta một chai rượu bé,


Bảo rằng: "Đây, rượu mẹ dâng cha"


Giật mình ta mới nhớ ra:


Là ngày sinh nhật vợ ta đó mà!


Ta uống chẳng hoá ra lỗi hẹn,


Mà từ nan đâu vẹn đạo chồng!


Than ôi! trời giá đêm đông,


Màu du tử thực bên lòng hết sôi?


Chén lại chén kề môi thủ thỉ,


Càng vơi càng tuý luý càng đầy!


 


Lúc tỉnh rượu lặng ngồi bên án,


Trông vào gương, lằn trán có vôi;


Vợ con khúc khích đừng cười,


Còn ta vô ý lệ rơi xuống bàn,


Hết say vẫn bàng hoàng trong mộng


Xót xa thay cái giống giang hồ!


Ngón đàn thêm một đưòng tơ,


Mà người sương gió nghìn thu nhọc nhằn,


*


Thôi rồi ra chốn nước non,


Lồng son lại để sổ con chim trời.


Thú hồ bể quyến mời du tử,


Niềm thê nhi khôn giữ được người.


Biết sao trái được tính trời,


Giang hồ cốt ấy, trọn đời phiêu linh...


 


Hôm nay ngồi rũ canh trường,


Nơi thuyền trọ, rượu quỳnh tương ai mời


Người dâng rượu xa nơi trần giới,


Lạnh lùng thay gió thổi đêm đông!


Tuy người đã khuất non sông,


Mặt hoa lãng đãng như lồng dưới trăng


Mường tượng thấy tung tăng cười nói,


Như tưởng chừng người mới hôm qua!...


Nào hay nghìn cổ cách xa,


Tài tình đến thế mà ra hão huyền!


Hoạ còn chút trong thuyền dấu cũ,


Cây đàn tranh mốc ủ trên phên,


Phím long, dây đã rỉ rền,


Còn nguyên trên gỗ ghi tên họ người.


Nàng xưa vốn một loài trăng gió


Cũng vì vương víu nợ cầm ca


Một đi lìa cửa lìa nhà,


Nắm xương tàn lạnh phương xa gửi nhờ.


Đêm nay hoạ có mình ta,


Đốt hương trầm cũ chờ ma dạo đàn.


Nguồn: Thi nhân Việt Nam. Hoài Thanh, Hoài Chân. NXB Văn học, 2007.


Với nhà thơ Tố Hữu, thì rượu mạnh mẽ hơn, hùng dũng hơn. Trong bài Ly rượu thọ, ông viết năm 1939, có đoạn:


Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ


Ngựa rung đầu hí lạnh giữa tàn quân


…Rồi từ đó, và gươm vàng võ phục


Và cừu hận và lòng sôi rửa nhục


Mãi chôn sâu trong một cõi trời riêng


Buông hồn đau, liễu rủ suối ưu phiền


Cốt oanh liệt đã khoác màu ẩn sĩ


Rượu cứ rót cho say sưa lạc hỉ


Đàn ca lên cho át tiếng đầu rơi


Dưới gươm bay vun vút loáng xanh trời


…Và bàn tay run rẩy đỡ ly ngà


Bỗng quật xuống nền hoa: ly rượu vỡ!


Ly rượu vỡ tan tành. Ôi bỡ ngỡ


Ôi hãi hùng, Mã tướng run toàn thân.


Tháng 8-1964, Tố Hữu sang thăm Cu Ba, ông viết một bài thật tình cảm, hình như gửi tặng một người con gái Cu Ba:


Anh viết cho em, tự đảo này


Cu Ba, hòn đảo lửa, đảo say


Ở đây say thật, say trời đất


Sóng biển say cùng rượu, mật say


 


Mừng bạn ngày vui, chén rượu đầy


Hết buồn, chưa hết nhớ chua cay


Em ơi, mía ngọt từng khi mặn


Máu trộn bùn vun gốc mía này…


Thanh Tịnh là nhà thơ tiền chiến có thể là duy nhất suốt phần đời còn lại chung thủy với màu áo lính. Ông làm thơ từ thuở tuổi đôi mươi nhịp với những nhà thơ mới lớp đầu tiên. Nét riêng của thơ, văn ông là khi thơ văn lãng mạn nghiêng về những tình cảm mới mẻ, thích sử dụng mô típ văn học phương Tây, thì thơ văn của Thanh Tịnh nghiêng về những tình quê hương, nhất là ở xứ Huế của ông. Bài “Kính tặng sư Viên Thành” của ông lại có nói một chút về rượu, hơi lạ?


Một mái am tranh bạn cổ tùng


Bốn mùa sương gió tỏa mông lung


Bên đồi dương vắng, dòng khe vắng


Có kẻ giang hồ thấy nản chân


 


Cửa Phật đây rồi, tôi thấy tôi


Mơ trời cao cả luyến xa xôi


Chuông chùa ngân rã mười phương mộng


Khe biếc say kinh cá hận mồi


 


Ơi đạo sĩ ơi! Tôi đến đây


Van xin chút rượu gội đêm nay


Tôi người mơ mộng ham cùng cá


Coi nhẹ trăm năm hận một ngày!


 


Cảm tấm chân thành đạo sĩ thương


Đón tôi trong cửa mở muôn phương


Nhưng sen hồ lạnh mùa thu dậy


Tôi nhớ hương cây cảm bụi đường


 


Từ biệt anh ngàn tôi lại đi


Lang thang chưa chán bước lưu ly


Quen đời quán chật hồ thu rộng


Chán kiếp bằng ngang sổ thẳng lỳ


 


Đạo sĩ chờ tôi chán hải hồ


Tôi chờ đạo sĩ lãng hư vô


Tôi mơ đêm lạnh lòng sơn tự


Ấp ủ men ngàn đợi áo khô.


Còn Huyền Kiêu thì:


Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề


Ý sầu lên vút tới sao Khuê


Quý thay giây phút gần tương biệt


Vương vấn người đi với kẻ về


 


Ngồi suốt đêm trường không nói năng


Ngậm ngùi chén rượu ánh vầng trăng


Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ?


Có giống như mình lưu luyến chăng?


Trích bài Tương biệt dạ.


Nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: Vị trí nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) đối với thơ mới có cái gì na ná như Thôi Hiệu ở Trung Quốc đối với thơ Đường. Nếu chọn mười nhà thơ Đường lớn nhất chưa chắc đã có Thôi Hiệu. Nhưng nếu chọn mười bài thơ Đường hay nhất không thể không có Hoàng hạc lâu. Vâng, kể tên mười nhà thơ lớn nhất không chắc có Thâm Tâm. Nhưng chọn mười bài thơ mới hay nhất khó có thể bỏ qua Tống biệt hành. Thi phẩm là sự thăng hoa đột xuất của ngòi bút Thâm Tâm.


So với nhiều thi sĩ khác, Thâm Tâm càng uống càng tỉnh, nhìn cuộc đời cái gì cũng có liên quan đến rượu. Ông nhìn mưa bay bằng con mắt ấy:


Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu.


Nhìn cả cuộc đời thoáng qua bằng con mắt ấy:


Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực


Mẹ thà coi như chiếc lá bay


Chị thà coi như là hạt bụi


Em thà coi như hơi rượu say.


Hầu như toàn bộ thơ Thâm Tâm là tinh hoa chắt ra từ “cái sống ngang tàng quen bốc men”. Thơ viết bằng rượu. Rượu làm nên thơ. Còn có vinh dự nào hơn?


Ông có bài thơ dài viết ngày 4-5-1940 với tựa đề Gửi T.T.Kh. Xin trích mấy câu:


Các anh hãy uống thật say


Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im


Giờ hình như quá nửa đêm,


Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa:


Hơi đàn buồn như trời mưa


Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi.


Giờ hình như ở ngoài trời


Tiếng xe đã nghiến rã rời ra đi…


 


…Hãy vui lên, các anh ơi,


Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về


Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe


Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều


Giờ hình như gió thổi nhiều


Những loài hoa máu đã gieo nốt đời.


Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi,


Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh


Sá chi những chuyện tâm tình


Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay!


Có lần, một bạn thơ đến thăm nhà thơ Yến Lan lúc ông nằm trên giường bệnh mấy tháng trước khi qua đời. Ông nói: “Cái sợ nhất của tuổi già là sự tỉnh táo”.


Câu nói không hẳn chỉ là sự chiêm nghiệm của ông khiến tôi lạnh người. Người già thường sợ cô đơn, hoặc sợ lú lẫn làm phiền con cháu. Với ông - một thi sĩ, sự tỉnh táo của tuổi già còn đáng sợ hơn. Cũng lần này, hỏi thăm ông về mấy năm tháng buồn vì tai nạn nghề cầm bút, ông im lặng nói lảng sang chuyện khác. Ôi cái sự tỉnh của ông, sao nghĩ tới thấy buồn thương.


Linh Lân Yến Lan lành hiền và từng chói sáng trên thi đàn với “Nhóm thơ Bình Định” và “Trường thơ loạn”, ít nhất tới giờ mọi người vẫn ngưỡng mộ với Bến My Lăng Bình Định năm 1935. Riêng Bến My Lăng, cái bến thơ đẹp lộng lẫy và kỳ ảo không thể thiếu trong danh mục những bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ XX! Thử đọc lại vài đoạn: “Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách/ Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu/ Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách/ Ông lái buồn để gió lén mơn râu/… Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã/ Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly/ Chàng lái đò, gọi đò như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi/ Ông lão vẫn say trăng nằm gối sách/ Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng/ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng”. Ông đã về với cái bến trăng huyền ảo của ông cách đây đúng 10 năm. Lạ lùng thay lại nhằm vào đêm trăng đẹp nhất trong năm: trung thu. Ông lặng về với trăng trong niềm hân hoan lớn của trẻ nhỏ tùng cắc múa lân, ông, con linh-thú-lân lành hiền đi không làm đau cỏ!


Kỷ niệm sinh nhật thứ 73 của ông, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn tặng ông câu đối: “Nẫm niên dư bắc thượng nam quy tứ hữu thi đàn do lưu văn nghệ sứ. Thất tuần ngoại triêu ngâm mộ vịnh nhứt sinh hoa bút trường thán nguyệt vân thiên”. Một đời ra bắc về nam có mặt với thi đàn, một đời “hoa bút” để rồi “trường thán nguyệt vân thiên”. Sau khi nhận quà tặng, Yến Lan cười buồn nói nhỏ nhẹ: “Ông phê tui!”. Ngửa mặt mà than dài với trăng mây, xét cho cùng cũng là chỗ bấu víu của văn nghệ sĩ mọi thời.


Nhưng cũng chỉ là cách nói có tính chia sẻ. Bằng cách của mình, bằng “sự tỉnh táo” đáng sợ cuối đời, Yến Lan cứ lặng lẽ “nhả” những sợi tinh tơ bằng thơ tứ tuyệt. Có lẽ khi văn học sử ghi nhận Yến Lan thời Thơ Mới thì đến nay, tài thơ tứ tuyệt, nhất là chuỗi thơ mấy chục năm về hưu của ông chưa được nhìn nhận đúng tầm. Tôi xin bắt đầu phần này bằng bài thơ cách ngày ông mất vài tháng (xin lưu ý, hai năm cuối đời, ông chỉ nằm, đọc cho bà Lan, người vợ, người bạn đời của ông ghi lại): “Nghe báo trên trời thiếu một sao/ Đàn chim kinh ngạc hoảng nhìn nhau/ Có người đã thức nhiều đêm trắng/ Tìm mãi không ra trống chỗ nào” (Mất sao). Bài thơ ghi ngày 9-7-1998. Cùng mạch chiêm nghiệm này, xin trích thêm một số nữa: “Vò rối tơ rồi gỡ rối tơ/ Gỡ không ra mối lại đem vò/ Nàng Vân giả dại nàng Vân dại/ Vân dại nên đời cũng ngẩn ngơ” (Chèo); “Tay bưng thuốc đắng nhìn xuyên chén/ Năm tháng còn trên mấy đốt tay” (Hẹn); “Lắc chiếc lọ sành còn rượu nhín/ Vọng lên đỉnh núi cụng vài ly” (Xuân tảo)… Nhiều, nhiều lắm lắm những bài thơ câu thơ tứ tuyệt hay như thế trong hơn 500 bài.


Báo Thanh Niên, 22-9-2008.


Báo Thanh Niên số ra ngày 9-10-1998, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết: Thi sĩ Bùi Giáng, anh là ai? Anh là hư không, là vô thường, là thiên niên kỷ trước, là vô biên mầu nhiệm, là bát quái trận đồ vô ra bế tắc mà rốt cùng vẫn luôn lưu một sự đời miên viễn nói cười hả hê vu vơ khôn cùng. Anh ít dùng rượu để ru mình. Ở cõi đời này, anh đã đến, đã sống và đã rơi vào cơn hôn mê vô tận. Anh nói cười bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ với thế gian, và từ đó sinh ra ngộ nhận, tất nhiên không hẳn vì rượu. Anh đã mắng chửi tôi suốt một đời như một hiền giả đi qua cuộc đời này đã mắng chửi một hòn đá cuội. Tôi đã giác ngộ ra điều đó trong phút anh chia tay với cuộc đời này. Dù sao lý do để tồn tại, tôi nghĩ rằng, với anh cũng chỉ bằng một giây phút lâm chung. Anh đã yên tâm nhắm mắt, nằm nghỉ trong một giấc ngủ dài. Anh không còn bận tâm về một thiên đường hay một địa ngục nào nữa. Bởi vì, nói cho cùng, thiên đường và địa ngục cũng chính là anh trong cõi tịch lặng của bản lai diện mục.


Anh đã sống không buồn vui và cũng đã chết không vui buồn. Anh đã sống như đã chết và bây giờ anh chết chính là thời khắc anh được phục sinh. Trên thập giá hồng anh bước xuống và anh nói rằng: “Tao đã phục sinh. Bạn bè của tôi ơi tôi đã phục sinh và tôi sẽ nói cho các bạn nghe: Có một tình yêu đối với tất cả mọi người, một tình yêu vô tận, vô cùng to lớn đó là tình yêu đối với nỗi đau của tất cả mọi người”.


Bùi Giáng con đường, Bùi Giáng xứ sở, Bùi Giáng đi qua cuộc đời bé nhỏ. Bé nhỏ mà to. To lớn vô cùng. Bùi Giáng hiền hòa. Bùi Giáng hiểm nguy. Bùi Giáng thi sĩ. Bùi Giáng cũng chẳng ra gì. Đôi khi thường quá. Nhiều khi cũng rất phi thường. Phi thường trong cõi vô thường. Bùi Giáng muôn hình vạn trạng. Nói không hết lời - Hết lời là cạn, Bùi Giáng chảy hoài. Chảy đến trăm năm. Chảy bằng nỗi nhớ. Nhớ đời. Nhớ cõi. Nhớ cõi xa xăm. Lên ngôi một bận. Nhớ trời lận đận. Nhớ em vô tận. Nhớ chốn mênh mông. Bùi Giáng không còn. Ai ơi ai nhớ. Bùi Giáng hư vô. Nhớ làm gì nữa. Bùi Giáng ơi ơi nhớ làm gì nữa. Nhớ làm gì nữa Bùi Giáng ơi ơi.


Lời văn của họ Trịnh trên đây rất chi là giống tâm trạng Bùi Giáng thường nhật. Sơn nói Bùi Giáng ít dùng rượu, không hẳn.


Nhà báo Giao Hưởng có bài phỏng vấn Nguyễn Thanh Hoài, người cháu từng sống gần gũi nhất với thi sĩ Bùi Giáng trong những năm cuối đời tại căn nhà nằm trong một đường hẻm, thuộc quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Anh Hoài nhớ rất rõ về sinh hoạt thường ngày mà người trong nhà xem là có phần “bất thường” của Bùi Giáng. Cứ mỗi sáng ông thức dậy rất sớm, khoảng 3-4 giờ, yên lặng ngồi thiền khoảng một tiếng đồng hồ. Sau đó ông bắt đầu lên tiếng, khi thì kể chuyện xưa, chuyện nay một mình, khi thì đọc dăm bài thơ với giọng sang sảng. Đôi lúc ông lại mắng này mắng nọ, to tiếng như để đánh thức cả nhà dậy cùng. Sau này có lần ông nói với tôi rằng ông không muốn mọi người “ngủ nướng”, vì ông cho rằng bầu thanh khí dồn tụ ngẫu nhiên, đậm đặc vào buổi sáng sớm, không dậy mà hưởng thì rất uổng. Ông la hét một thôi một hồi rồi leo rào để đi ra đường. Thường thường nơi đặt chân đầu tiên trong ngày của ông là một quán cà phê “cóc” nào đó. Ông gọi cà phê đen để uống và để nhìn thiên hạ qua lại lúc đèn đường còn sáng cho tới khi mặt trời lên. Đó là thú vui không thay đổi của ông suốt mấy chục năm cuối đời.


Những sáng sớm ấy, ông thường rủ rê con cháu đi theo, nhưng giờ đó còn quá sớm không ai đi được. Vì thế ông đơn độc ra đường, hễ uống xong ly cà phê là ông chuyển qua uống rượu và rong chơi khắp Sài Gòn bất kể mưa nắng. Ông đi bộ là chính, nhiều khi đi suốt ngày - nếu có về nhà cũng chỉ nghỉ chân một lát, sau đó lại tiếp tục ra khỏi nhà, là đà lãng đãng trên đường trong cơn nửa say nửa tỉnh. Khi nào về nhà, ông thường mang quà phân phát cho mấy cháu nhỏ trong nhà, cất những bài thơ đã làm, ăn qua loa vài miếng cơm, rồi… đi nữa! Nếp sinh hoat đó cứ đều đặn lặp đi lặp lại cho đến khuya ông mới chịu dừng bước. Thông thường trước khi đi nghỉ, dầu nhâm nhi rượu trắng suốt ngày ông vẫn ngồi thiền khoảng một tiếng mới ngả lưng xuống giường. Còn như những lúc quá say thì “bạ đâu ông nằm đó”, những lúc ấy gia đình phải ẵm ông vào phòng mới được.


Ông rất thương những người bán ve chai, nên đi tới nơi nào ông cũng ngó quanh ngó quất xem có món nào người ta vứt đi để góp nhặt. Những thứ nào còn xài được, bán được, từ chai xì dầu đến miếng nhựa bên đường, ông đều lượm bỏ vào bao mang về nhà chất đó, đợi đến khi mấy cô mua ve chai đi qua nhà, ông gọi vào trân trọng đem ra tặng mấy cô ấy. Ông nói mấy cô ấy tuy số phận và công việc có cực nhọc, nhưng so với các nữ hoàng, các nàng công chúa, các tài tử xinê nổi tiếng như Marilyn Monroe, hoặc Brigitte Bardot, thì thân xác dung nhan có khác gì nhau? Cái tâm bình đẳng nơi ông không chỉ đối với tài tử giai nhân và những người đẹp ve chai trẻ già bé lớn, mà dường như hết thảy ai ai ông cũng xem như nhau, không phân biệt thành phần, tuổi tác. Đối với ai, ông cũng xem là “ngẫu nhĩ tồn sinh” nhất là khi uống rượu như ông từng hét trước sân nhà: Rồi đây tôi sẽ nhớ nhung/ Cái ly rượu đế vô cùng trần gian. Có người vô tình hỏi ông uống suốt ngày làm chi vậy, ông khoa tay đọc mấy câu: Bấy nay gặp gỡ cười chào/ Con đâu có biết cái đầu tiên ông/ Nghĩa là ông rất phiêu bồng/ Đầu tiên rất mực cuối cùng ông điên…


Giống như Phùng Quán, Bùi Giáng uống rượu thường ghi nợ ở một quán gần nhà (nằm trong con hẻm đường Lê Quang Định), chủ quán là ông Tốt rất “từ bi”, hễ Bùi Giáng uống rượu chịu bao nhiêu vẫn cứ để ghi sổ dài dài, nên cuối năm 1997, giáp Tết Mậu Dần 1998 (năm Bùi Giáng mất), đã viết mấy câu vào sổ nợ: “Bài thơ thân tặng Đại ca/ Kính thưa ông Tốt là cha thằng Bùi khùng”.


Nghe nói ông Tốt đã xin Bùi Giáng đừng gọi ông ta bằng “cha” mà ông ta sẽ bị tổn thọ. Song Bùi Giáng bác bỏ, nói biết đâu kiếp trước, kiếp xưa, kiếp xa “ngài” đã mấy triệu lần làm cha “Bùi” này rồi. Chiều 30 Tết, gia đình ra trả nợ để lấy cuốn sổ ấy về, thay vào cuốn sổ mới, Bùi Giáng lập tức ghi mở hàng: “Trả xong món nợ láng giềng/ Lòng vui phơi phới tháng Giêng Mậu Dần”.


Nhưng chỉ vài giờ sau giao thừa, Bùi Giáng lại xuất hiện trước cửa ông Tốt “đạp đất” để khai bút đầu năm vào sổ, thiếu “một ngàn rưỡi ngày nguyên đán”. Mồng hai, mồng ba cũng vậy, đến: “Hôm nay mồng bốn tháng giêng/ Hai ngàn nợ này - say rượu suốt hoài trăm năm” và kéo dài gần hết tháng giêng: “Sau tết 20 ngày nợ hai ngàn rưỡi” “sau tết 22 ngày/ nợ nơi này hai ngàn rưỡi”… Điều khác người, là tiền nợ ông ghi bằng chữ chứ không ghi bằng số.


Hãy đọc một đoạn trích bài thơ về rượu của Bùi Giáng, bài Rượu và khô đuối:


Anh chỉ biết rằng một hôm khô đuối


Chợt đi về và bảo với riêng anh


Rằng khô mực của xuân xanh xua đuổi


Rất thập thành dễ sợ bóng đi nhanh


 


Đành phải cảm phiền cô rượu đế


Đong cho giùm một xị rưỡi lem nhem


Để có thể giúp máu tim hồng lệ


Đắp đền cho thân thể đang thuồng thèm


 


Anh chỉ biết đành phải tuân mệnh lệnh


Rất tuyệt trù là sự thể tối cao


Của tim máu thể thân đòi hỏi đến


Và bất cần hậu quả sẽ ra sao


 


Em sẽ hỏi rằng thật ra như thế


Hay thật thà chẳng phải thế chăng ru


Anh sẽ đáp rằng dẫu sao thì dẫu


Khô đuối kia vẫn kiều diễm tuyệt trù


 


Còn khô mực đế vương kia quá dễ sợ


Nó đắt tiền quá cỡ túi tiền ta


Chỉ khô đuối thần tiên kia tương trợ


Với túi quần và túi áo lân la


 


Là tâm sự láng giềng thân thiết lắm


Với thôn làng hàng xóm rất bôn ba


Từ bốn biển ngược xuôi từ vô tận


Của thời gian về đày đọa trẻ, già


 


Em sẽ hỏi rằng thật ra sự thật


Thật thà là như thật thế hay sao


Anh chẳng thể đáp thế nào được cả


Vì bản thân anh là Thượng đế chui rào…


Bùi Giáng sinh ngày 17-12-1926 tại Duy Xuyên (Quảng Nam); từ trần lúc 14 giờ ngày 7/10/1998 (ngày 17/8 Mậu Dần) tại Sài Gòn, hưởng thọ 73 tuổi. Ông là một nhà thơ có kiến thức uyên bác đã cho xuất bản hơn 60 cuốn sách gồm: hơn 10 tập thơ, hàng chục dịch phẩm, nhiều tập biên khảo về triết học và thơ. Ông từng “khét tiếng” trên văn đàn miền Nam trước năm 1975 với lối thơ “xiêu đình đổ quán”, mà ông có thể “nhấm bút” cả chục bài liền trong quán rượu hay quán cà phê. Thời ông mắc bệnh điên cũng là thời “phát tiết” ra nhiều tác phẩm nổi tiếng. Ông lấy trời đất làm nhà, lấy chuồn chuồn, châu chấu, lấy rượu làm bạn và làm thơ phiêu bồng phóng dật, tạo ra một lối thơ mà người ta gọi là “Trường phái Bùi Giáng”.


Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 8 tháng 4 năm 2002, Nguyễn Triều kể lại câu chuyện rất vui và cảm động. Dạo đó: Quán Xăng xết ở 107 phố Huế là một quán rượu lạ kỳ. Cái ngách vào chỉ một người đi lọt. Cả quán giỏi được 6m2, chứa được dăm bảy người. Chủ quán là bà cụ Cả, lúc đó đã gần 90 tuổi. Cụ là người Công giáo, hiền hậu và cả nể. Cụ Nguyễn Thế Phương, tác giả Đi bước nữa, hay đến đây. Một dạo cụ bệnh, phải vào Việt-Xô nằm. Sau bữa cơm chiều, cụ thường trốn viện, để nguyên cả bộ quần áo bệnh nhân, đến quán. Cụ mua một cút, gọi thêm một chén, cứ đứng, cụ dốc tuột một hơi, rồi chào mọi người ra về. Chúng tôi bao giờ cũng nài: “Bác ơi, đi bước nữa đi!”. Cụ không từ chối. Chúng tôi lại mời cụ đi thêm bước nữa. Cụ không từ chối. Rồi cụ Cả can, chúng tôi đưa cụ Phương ra phố, gọi xích lô đưa cụ về viện.


Lặng lẽ nhỏ nhẹ nhất là cụ Trọng Hứa. Cụ nói chuyện cứ như sợ ai nghe trộm. Cụ lặng uống rồi đi. Như một cái bóng…


Hữu Nội là một ca sĩ lúc đó đang lên. Anh uống và hút thuốc lào mới khiếp. Sắp lên chương trình rồi mà còn tranh thủ ra quán làm mấy chén, kéo dăm hơi thuốc lào. Thế mà họng không làm sao. Tài thật.


Quán Trúc Viên ở 41 Trần Hưng Đạo, ông chủ là anh Chí Thắng, một thời tập trung nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ. Thậm chí họ còn ra cả một tập thơ riêng về quán này do các tửu sĩ quen viết và xuất bản. Cụ Hoàng Trung Thông cũng cho quán mấy chữ Hán. Chữ Hán của cụ đẹp lắm.


Nhà báo, nhà phê bình văn học Phạm Ngọc Luật, như sách đã dẫn, anh cho biết: Anh rất biết là nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi. Anh làm thơ, yêu thơ và diễn thuyết về thơ đầy tâm huyết như anh xem bóng đá, lại rất “kỵ giơ” với rượu, thế mà anh viết những câu thơ rượu cứ như khẩu khí Lý Bạch vậy:


Ừ thì một chén nữa


Sao đất nghiêng thế này?


Uống cho đất bằng lại


Dễ gì ta đã say.


Đấy là uống rượu có bạn. Còn đây, nhà thơ Quang Khải uống rượu một mình cốt là để có thêm không gian mà suy ngẫm:


Không bạn hữu, chẳng láng giềng


Mình nhâm nhi với nỗi niềm mình thôi.


- Nâng ly!


Đã chếnh choáng rồi


Thì ra tận đáy là nơi thật mình.


Nhà thơ Nguyễn Duy đã có hẳn một du ký về những vùng miền rượu dọc chiều dài đất nước, độc đáo lắm. Khảo sát đó vẫn còn nhiều phần trăm của văn hóa ẩm thực. Còn một khi nổi chất thi nhân, thơ rượu của anh cũng đằm chuyện gia đình vợ con như cụ Yến Lan, ngấm nghía lắm: “Tình như rượu chôn lâu đằm lịm/ Cuối đời đem ra nhấm mới mềm lòng”. Tư chất ấy cho anh cực thân thương gọi “Vợ ơi” trong bài “Mời vợ uống rượu” đầu năm mới:


Mỗi năm Tết có một lần


Mời em ly rượu tay nâng ngang mày


Vợ cười chưa uống đã say


Ngọt bùi thì nổi đắng cay thì chìm.


Nguyễn Duy có bài thơ Ông già sông Hậu rất hay, được dư luận khen, chê một thời:


Ông già giống cha tôi quá thể


Đi làm đồng có xị đế giắt lưng


Đang mùa cày không ngày nào bỏ buổi


Khách tới thăm - tìm chủ ở ngoài đồng


 


Khoanh rắn hổ nướng vàng trên lửa rạ


Thịt rắn xé trắng ngần mâm lá sen xanh non


Rượu trong veo, muối tiêu và ớt đỏ


Chủ khách cụng ly ngay bờ cỏ chân cồn


 


Trôi dạt theo sông về đây cày cấy mướn


Sống giang hồ trên đồng ruộng bao la


Hỏi gia sản một đời người đâu cả


Người chỉ tay vào cái bụng, khà khà


 


“Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng


Ăn hết nhiều, chứ ở hết bao nhiêu


Nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía


Nón áo khỏi lo nhưng nhậu phải đều đều”


 


“Ai nghèo thiếu, qua chia cơm sẻ áo


Bụng người sôi cũng sôi giống bụng ta


Ki cóp một thân làm chi cho cực


Giàu ở lòng còn đẹp ở thịt da…”


 


Chủ giục khách nhậu đi đừng hỏi nữa


Việc bán lúa dư đăng báo chí cho phiền


Dư ít nuôi làng, dư nhiều nuôi nước


Thành tích có gì mà phải nêu tên.


Nhà văn Nguyễn Quang Sáng bình bài thơ trên: Lúc mới ra đời - 1977, bài thơ này rất khó in, vì nó có vẻ ngang ngang không thuận với đường hướng tuyên truyền chính sách lúc bấy giờ. Nhưng con người thì vẫn vốn có cái cốt cách riêng chớ. Ông già đó nhậu đó, mà sản xuất giỏi đó, giàu lòng nhân và trách nhiệm công dân cao cả, thật đúng cách một ông già Nam Bộ.


Trần Nhuận Minh, tuy chưa làm cái việc kiểm toán đời mình như Yến Lan hoặc Nguyễn Duy, nhưng chỉ với hai bài “Bạn hữu” “Tiệc đêm” đã thấy, bằng những câu thơ rượu, anh đã rất thế sự làm cái việc “chạnh”, mà “chạnh” rất dữ dội vào lòng chúng ta: “Ngổn ngang lưng chén rượu/ Sương nắng bạc đời người/ Niềm tin yêu thuở ấy/ Đâu đã thành xa xôi”; và báo động cho một nhỡn tiền chẳng mấy vui: “Anh làm chủ tịch khóa này/ Bước ra trong tiếng vỗ tay vang rền/ Ngà ngà chén rượu sang đêm/ Nỗi vui nghiêng ngửa, bóng đèn đung đưa… Mong sao lúc thất thế rồi/ Trong đây còn có một người đón anh”.


Một bài khác của Trần Nhuận Minh, bài “Bạn thơ mời rượu trên sông Tiền”:


Rắn nướng ngon động trời


Rượu đế say sụt đất


Gặp nhau có dễ đâu


Sông Tiền trôi ngang mặt


 


Ngàn ly dù uống cạn


Một nỗi niềm không vơi


Thế trận cài răng lược


Can qua nửa đời người


Ta thì bảo theo địch


Địch lại rằng theo ta


Thời nào cũng lận đận


Cũng không yên cửa nhà


Hai em trai chết trận


Chiến tranh ở hai đầu


Ảnh thờ mờ sương khói


Vẫn không nhìn mặt nhau


 


Câu thơ như gan ruột


Phơi ra giữa trời mây


Mỗi người một số phận


Ngang qua thế kỷ này…


 


Đất nước liền một dải


Hòa bình luôn bốn mùa


Thế là sướng cái bụng


Kể chi ngày khổ xưa…


 


Miệt vườn không rớt nắng


Lá ẩm tiếng ong bay


Điệu đờn ca lãng tử


Rượu uống hoài chẳng say…


Sóc Trăng - Mỹ Tho, 30-10-1999.


Lưu Quang Vũ có bài thơ dài nói về “Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói chuyện những cuộc chia tay thời chiến tranh”. (nhà báo Nguyễn Lâm & Nghệ sĩ Nhân dân Đào Trọng Khánh). Xin trích:


Nhang tàn lả tả rơi lưng cốc


Nhà lạnh trần cao ngọn nến gầy


Chăn rách chiếu manh quần áo lạ


Chuyện dài đêm vắng rượu buồn say


 


Gió hú ầm ào qua gạch vỡ


Người chết vùi thân dưới hố bom


Kẻ sống vật vờ không chốn ở


Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường


 


Cơ sự làm sao đến nỗi này


Mông lung không đoán được ngày mai


Máu chảy thành sông thây chất núi


Bè bạn tan hoang mình rã rời


 


Thơ Khánh buồn như lòng đất nước


Thơ hay đời loạn chẳng đâu dùng


Vườn cũ cây tàn chim chết cả


Người chơi đàn nguyệt có còn không


 


…Tối đen thành phố đêm lưu lạc


Máy bay giặc rít ở trên đầu


Ba đứa da vàng ngồi uống rượu


Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu


 


Chúng mình không có bom nguyên tử


Chỉ có thuốc lào hút với nhau


Thương nhà thương nước thương cho bạn


Không khóc mà sao cổ nghẹn ngào


 


Thôi nhé mai này tiễn Khánh đi


Đường xa bom phá tàu không về


Lênh đênh ai hát ngoài song cửa


Bài ca thanh bình đêm cũ


“Hoa lá quên giờ tàn


Mây trắng bay tìm đàn”


Ngày xưa yên ấm quá


Trẻ hát đồng dao trên phố


Con trai xách điếu đi cày


Con gái quang liềm gặt lúa


Bao giờ hết loạn người ơi


Cạn cùng nhau chén nữa


Tàn canh là xa xôi


Lòng như vầng trăng nhọn


Chém giữa trời không nguôi.


Nhà thơ giàu chất thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã lộ hết mình trong thơ rượu: “Đắc đạo rượu ngon đắc đạo tình” là đúng anh. Không chệch được. Còn đúng hơn trong một tự họa này: “Vẽ tôi mực rượu giấy trời/ Nửa say nửa tỉnh nửa cười nửa đau”. Con người vừa mới tuyên bố, kích cỡ khẩu khí có vẻ tung có vẻ hoành như Lý Bạch: “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say”, ấy thế rồi cũng lại là người dễ “co” về với cảm thái cô đơn, đổ vỡ:


Tôi còn cái xác không hồn


Cái chai không rượu, tôi còn vỏ chai.


Nhưng có lẽ đúng nhất hay là hay nhất khi anh Tạo cùng bạn bè hòa trong nhau, cưu mang nhau vì rượu:


Đất trời lướt khướt dìu nhau bước


Đắc đạo rượu ngon đắc đạo tình


Bạn bè ở Huế thương nhau thiệt


Một đứa vợ la chục đứa kinh.


Mùa lụt 1983 tôi ghé Huế, tình cờ gặp nhà thơ Thu Bồn đang uống rượu ở nhà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. (Nguyễn Trọng Tạo viết trên tờ Đà Nẵng cuối tuần, chủ nhật, 6-7-2003). Anh đang sướng vì câu nói ngây thơ và rất nên thơ của bé Hoàng Dạ Thi: “Huế vừa đi vừa tím”. Thu Bồn thú nhận rằng, anh đã đến Huế nhiều lần, và cũng bị ám ảnh về “Huế tím”, nhưng không thể nào hình dung ra được “Huế vừa đi vừa tím” rất xuất thần như vậy. Anh bảo thơ ca lạ lùng nhất phát ra từ cặp mắt và tâm hồn trẻ thơ, và khen Hoàng Dạ Thi là một “thi sĩ đại tài thiên bẩm”. Khi rượu đã ngấm men, tình càng thúc gọi, anh rủ tôi đi bộ qua cầu Gia Hội sang Chi Lăng thăm cô gái anh mới quen, cô Châu. Cô Châu mắt to, mũi cao, da ngăm, có dáng thể thao, khỏe mạnh, vui vẻ đón chúng tôi. Ngồi uống nước trước bàn thờ còn đọng ngấn nước sau trận lụt mới vừa lui, Thu Bồn bảo chính ngấn nước ngập bàn thờ ấy đã “xui” anh viết được bài thơ về lụt Huế, rồi anh đọc rất xúc động bài thơ ấy. Tôi nhớ có câu thật ấn tượng: “Một phen cóc nhái nhảy lên bàn thờ”. Nhưng có lẽ bài thơ hay nhất anh viết về Huế lại là bài “Tạm biệt” anh viết sau đó mấy hôm:


Bởi vì em dắt anh lên thăm những ngôi đền cổ


Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu.


Anh thổ lộ với tôi, Em trong bài thơ là một cô gái có thật. Tôi đoán cô Châu. Anh cười hiền.


Người yêu thơ ở Huế không ai không thuộc bài thơ này. Bài thơ có hai câu rất xuất thần về Huế - sông Hương:


Con sông dùng dằng con sông không chảy


Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.


Sau này, anh tục huyền với nghệ sĩ Lý Bạch Huệ, trong các cuộc rượu với Thu Bồn, anh em Huế thường đùa anh, đọc trệch chữ Huế thành chữ Huệ bằng giọng Huế thật dễ thương: “Sông chảy vào lòng nên Huệ rất sâu”. Đến hai câu kết bài thơ “Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng - Anh trở về hóa đá phía bên kia”, anh em lại đùa anh: “Anh trở về hóa đá ở trong bia”. Đá ở đây là nước đá, và bia ở đây là bia anh vẫn hay uống, chứ không phải là “trăm năm bia đá thì mòn”. Điều đó chứng tỏ bài thơ “Tạm biệt” của Thu Bồn đã trở thành bài thơ ngôn truyền hết sức độc đáo.


Nguyễn Trọng Tạo viết tiếp: Năm 1985, vào ngày đổi tiền, tôi và Thu Bồn lang thang trên đường phố Hà Nội, không đồng xu dính túi, mà lại thèm ngồi nhâm nhi chén rượu với nhau. Thu Bồn tháo đồng hồ tay và lấy chiếc mũ cối bộ đội của tôi đi bán cho con phe để lấy tiền uống rượu, nhưng con phe cũng từ chối. Anh quyết định “đẩy” chiếc xe máy Vespa, nhưng người hẹn mua không tới. Liền rủ tôi đến nhà nhà văn Ngô Thảo xúc mấy ký gạo ra chợ Âm Phủ đổi lấy rượu và thịt chó. Thế là bạn bè kéo đến uống rượu, đọc thơ. Tối hôm ấy, tôi và Thu Bồn ngủ trên sân thượng nhà Nguyễn Thụy Kha (cùng ngõ với Ngô Thảo).


Ngủ trên sân thượng thật mát mẻ, phóng khoáng, nhưng quá nửa đêm trời đổ mưa. Sợ phiền vợ chồng Kha, tôi và anh cuốn chiếu xuống hành lang cạnh cầu thang ngủ tiếp. Nào ngờ cản đường chuột chạy. Một con chuột cống đã cắn vào trán Thu Bồn, tóe máu. Sáng ra, vợ Kha hốt hoảng, tìm bông băng lại vết thương cho anh. Ngô Thảo thương quá, tổ chức một tiệc rượu để “chia buồn” với thi sĩ bị chuột cắn.


Cuộc rượu toàn những nhà thơ, nhà văn lính. Bỗng có hai cô gái Hà Nội rất xinh đến thăm “thương binh”, họ ào vào ngồi hai bên tả hữu Thu Bồn mà… rót rượu. Nhà nghiên cứu phê bình Đào Thái Tôn xuất hiện, đòi ngồi cạnh Thu Bồn để “nghiên cứu” vết thương trên trán anh, nhưng hai cô gái quyết cố thủ. Họ Đào thất thế, bỗng xuất thần đọc câu thơ sáu chữ trả miếng hai cô gái:


Anh ngon đến chuột cũng thèm!


Câu thơ xuất thần bất ngờ được vỗ tay tán thưởng, khiến hai cô đỏ mặt, vội nhường chỗ cho họ Đào ngồi bên Thu Bồn để “nghiên cứu” vết thương và rượu Làng Vân.


Sau hôm đó, tôi làm bài thơ “Những nhà thơ lính” để tặng Thu Bồn, có hai câu kết:


Không phải khách ăn theo không phải thợ gặt giùm


Những nhà thơ qua máu lửa chiến trường!


Cũng trong bài báo này, Nguyễn Trọng Tạo nhớ lại: Người ta thường tiếu lâm về cái tính tằn tiện của người Khu Năm, nhưng với Thu Bồn thì khác. Có tiền là anh nghĩ đến việc tổ chức cuộc vui cho bạn bè. Hồi tôi còn ở Huế, Thu Bồn vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh, một dịp đi qua Huế, anh đưa một xe bạn bè vào nhà tôi và tuyên bố với vợ tôi là sẽ bày cuộc nhậu ở đây. Vợ tôi lúng túng vì tôi đang vắng nhà, anh bảo vợ tôi vào bếp nổi lửa lên, còn anh thì mang vào một lồng gà và mấy ký thịt bò mua dọc đường. Và Thu Bồn xắn tay lên làm bếp. Khi tôi về thì đã thấy một bữa tiệc linh đình bày ra trên sàn nhà lát gạch. Anh bảo tôi gọi bạn bè ở Huế đến nhậu. Nhậu xong, anh mang chiếc cát-xét ra bật nhạc lên và… nhảy. Thu Bồn thích nhảy những điệu nhảy Mỹ-Latinh, khiến cả căn phòng nhộn nhịp như một vũ trường.


Năm 1998, tôi từ Hà Nội vào Đà Nẵng dự Hội nghị văn học miền Trung, ở cùng phòng với Thu Bồn. Tôi kiểm tra ví của anh. Anh bảo: “Thu Bồn giờ túi hết tiền, bút hết mực, súng hết đạn rồi. Buồn lắm!”. Tôi thấy thương anh quá, đưa anh ít tiền tiêu vặt. Sáng hôm sau, tôi cùng Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha đến thăm một Tổng biên tập báo, được nhận một số tiền đặt viết bài. Chúng tôi gom lại đưa cho Thu Bồn. Anh cảm động lắm. Nhưng tối hôm đó, anh đã dùng tất cả số tiền ấy mua một chai rượu Tây loại xịn, mở ra mời mọi người cùng uống. Tôi trách anh. Anh nói nhỏ nhẹ với tôi: “Tao thấy chúng nó thèm rượu quá mà chẳng đứa nào chịu chi. Hình như chúng nó cũng chẳng có tiền đâu Tạo ạ!”.


Lại nhớ một lần vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi rủ Thu Bồn đến quán bia 81 Trần Quốc Thảo, nơi anh em văn nghệ vẫn thường lui tới. Tôi gọi một can bia hơi, Thu Bồn ngăn lại. Anh bảo, chỉ gọi hai ly và một đĩa đậu phụng thôi. Tôi ngạc nhiên. Anh bảo: “Ta chỉ gọi cò mồi thôi. Lát nữa chúng nó tới, không đủ sức mà nhậu đâu”. Quả đúng như vậy, một lát sau, anh em văn nghệ tới, người gọi bia, kẻ gọi đồ nhậu cứ tưng bừng như nhà có đám. Trịnh Công Sơn vừa gọi mười lon bia Ken ứng với số tiền trong túi, thì Trần Tiến đã gọi một thùng đặt vào bàn rồi cáo lui vì có việc bận. Không biết trong cuộc nhậu, Thu Bồn đã hẹn hò thế nào mà tối hôm đó, tại nhà Thu Bồn ở số 6 Đặng Thái Thân tụ hội gần 20 người bạn. Bữa tiệc ấy do anh làm đầu bếp cùng với mấy chị rất xinh đẹp đều là vợ của bạn anh. Lại đọc thơ, lại hát. Tôi còn nhớ, Trịnh Công Sơn khen bộ bàn ghế bằng gốc dừa của Thu Bồn thật dễ thương. Thế là sáng hôm sau, anh thuê xe chở cả bộ bàn ghế ấy đến nhà họ Trịnh tặng bạn…


Bỗng Thu Bồn bị tai biến mạch máu não. Tuổi sáu lăm đang phong độ bỗng sụp xuống như một con voi ngã bệnh. Đủ các loại thầy thuốc cứu chữa. Cuối năm 2001, tôi và Nguyễn Thụy Kha vào thăm mộ Trịnh Công Sơn ở chùa Quảng Bình nghĩa trang Gò Dưa, ghé suối Lồ Ồ thăm Thu Bồn. Chúng tôi đến sau một giờ gọi điện thoại. Ô tô vừa đến cổng đã thấy Thu Bồn đứng giữa sân dang hai tay lên trời như muốn ôm chầm lấy cả chiếc ô tô. Nguyễn Đình Toán nhảy khỏi xe chụp ảnh lia lịa về cuộc gặp gỡ này. Thu Bồn đưa chúng tôi đi thăm khắp vườn, lên nhà trên, xuống nhà dưới, vào tận phòng ngủ của hai người. Trên đầu giường vẫn để một khẩu súng ngắn và mấy viên đạn đồng vàng sẫm. Thu Bồn nói rằng, anh chưa bao giờ rời khẩu súng này. Để làm gì? Để nhớ lính, và để ngừa kẻ trộm. Nhưng kẻ trộm đã lén vào nhà khuân đi khá nhiều tranh, tượng quý giá của anh. Biết chúng tôi đến, nhưng Lý Bạch Huệ không kịp về. Chị đang mải đi tặng thơ Thu Bồn vừa xuất bản tận trên Biên Hòa.


Thu Bồn lấy một bình rượu quý bảo tôi rót mời mọi người nâng ly. Thu Bồn cũng nâng ly, nhưng anh chỉ nhấp môi chứ không dám uống. Bệnh tật đã cướp của anh cái thú vui mãn tính. Thu Bồn nhìn chúng tôi uống rượu, chợt cười buồn…


Xe chúng tôi rời cổng nhà anh, anh vẫn đứng giữa sân dang hai tay lên trời. Mái tóc bạc trắng bay tung trong gió. Nụ cười sáng giữa lởm chởm râu bạc.


Kỷ niệm một năm ngày Thu Bồn mất, Tạ Văn Sỹ, người Bình Định, sinh năm 1955, nhỏ hơn Thu Bồn gần hai con giáp, viết một bài thơ “Uống rượu với Thu Bồn”:


- Sỹ ơi, uống nữa cho vơi


Anh em ta kẻ chịu chơi cuối cùng


Đã chơi không được nửa chừng


Đau già buồn trẻ cụng chung ly này.


- Vâng, thưa anh, uống cho say


Rồi ra ta vỗ trắng tay phong trần


Đau anh hồn lớn thi nhân


Buồn tôi là những thăng trầm nhục vinh


Đau anh một cõi tử sinh


Buồn tôi thế thái thân tình thiệt hơn


Đau anh bao mộng chưa tròn


Buồn tôi là những cỏn con chuyện đời…


 


Một ly này nữa, xin mời


Đông tây kim cổ đất trời say chung


Một ly này nữa, xin mừng


Hồn thiêng thiên cổ cụng cùng muôn sau


Một ly này nữa, mời nhau


Đánh đu cùng với bể dâu đã từng…


Sá gì, trong cuộc sầu chung


Ly vui chạm với ly mừng mà say!


Cũng giầu giầu chất thi sĩ như Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Vũ Duy Thông lại có một kiểu cách hay khang khác, anh trầm kín và nồng nàn trong khá nhiều bài thơ có phong vị rượu, hay nói đúng hơn là “mượn” rượu để tỏ tình. “Khau Vai” là bài thơ hay, hay cả bài, kiểu đó. Tám câu cuối bài không giấu được độ “liều” đáng yêu của thi sĩ:


…Uống cho người ấy không yên được


Dẫu đã chồng con đã vẹn bề


Uống cho trăng lên bên kia núi


Bật khóc thương người trong cơn mê


 


Uống cho Khau Vai xa thăm thẳm


Thăm thẳm trời xa thăm thẳm buồn


Mai người xuống núi người ở lại


Cầm chắc chân trời mưa gió tuôn.


Sau Trần Quốc Thực là Trần Thanh Sơn, những người thơ nhiều chất thi sĩ, đã lần lượt không còn. Các anh đã “phiêu” trong thơ rượu nhiều lần. Đây là một lần với Trịnh Thanh Sơn:


Một cộng với một thành hai


Anh cộng cô đơn thành biển


Nắng tắt mà người không đến


Anh ngồi rót biển vào chai.


Không là tất cả nhưng xem ra, một khi cái sức thất tình và đa tình của các nhà thơ càng lớn thì rượu thơ không muốn cũng mò về. Tôi rất tin là thơ rượu với thi nhân đúng là duyên trời định.


Nhà văn Triệu Xuân cho tôi nhiều tư liệu quý, hiếm! Đây là bài thơ Canh rượu của nhà thơ Xuân Sách, tên khai sinh: Ngô Xuân Sách. Sinh ngày 4 tháng 7 năm 1932 tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; mất ngày 2 tháng 6 năm 2008, tại Hà Nội, thọ 66 tuổi. Ông chép tặng Triệu Xuân bài Canh rượu tại Nhà sáng tác Vũng Tàu, ngày 03-10-2005.


 


Cởi giày dép ra ngồi chiếu hoa


Chó thui rơm rạ khói quê nhà


Nào ta nâng chén mừng hội ngộ


Những đứa ở gần những đứa xa


 


Bạn bè một thuở rồi ly tán


Đứa ở trời Tây đứa ở nhờ


Có đứa lập ngôn đứa lập nghiệp


Đứa đi buôn chuyến đứa làm thơ


 


Trái đất quay tròn ta cũng quay


Chạy đâu cũng nắng với mưa này


Cùng nhau đấu hót trong canh rượu


Tỉnh dậy đứa nào cũng trắng tay!


Xuân Sách. Theo bản viết tay do Tác giả chép tặng nhà văn Triệu Xuân tại Nhà sáng tác Vũng Tàu, ngày 03-10-2005. Bài đã post trên www.tyrieuxuan.info ngày 15-9-2008.


 


Cuối cùng, tôi muốn mượn lời của Phạm Xuân Nguyên nói đến rượu và hoa, hoa và rượu với văn sĩ muôn đời:


Rượu với thi nhân, và những ai mang tâm hồn thi nhân khi đến với rượu, vì thế, thường sánh với hoa. Cái nồng của rượu cần cái sắc hương của hoa như một hòa hợp, một nâng đỡ, một dìu dặt, một tương giao. Đối hoa ẩm tửu, người uống không còn là kẻ phàm phu tục tử. Hoa làm cho rượu thêm thơm ngon. Hoa thanh lọc những ô tạp của rượu để còn lại cái thần, cái chất. Hoa là thành tố của một cuộc rượu được nâng lên mức nghệ thuật. Nói không quá, có một thứ văn hóa “rượu hoa”. Nhưng tao nhân mặc khách thuở trước “khi xem hoa nở khi chờ trăng lên” bao giờ cũng nhấn thêm một chút phảng phất của hồn say, vài chén tửu lúc đó thêm phần lung linh, huyền diệu cho cái đẹp.


Vâng, cái ĐẸP là phải được chiêm ngưỡng, phải được SAY. Như Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Rượu và hoa hay cái tình tri âm tri kỷ. “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”[1], mà tri kỷ đây lại là cái Đẹp vốn mong manh, hiếm quý trong đời, một chén này đây mừng có người có ta, một chén này đây say quan hà biên tái, một chén này đây khóc hội ngộ cười chia xa. Rượu độc ẩm là buồn, cực buồn. Nhưng vắng hoa, vắng đẹp, vắng tri âm tri kỷ thì đành, không thể uống một cuộc rượu đầy vơi không biết, mất còn không hay được. Một mình thì một chén cũng là say mà nghìn chén vẫn là tỉnh, như Nguyễn Bính “thoáng thấy em trong cốc rượu đầy” nên “tôi uống cả em và uống cả, một trời quan tái mấy cho say”. Dễ mấy ai trong đời tương hợp được trọn vẹn rượu và hoa!


Rượu là nước có lửa, hoa là lửa có nước. Tưởng tương khắc mà tương sinh. Nghĩ cũng hay và tài tình cho tiếng Việt, rượu và chè là hai thứ đồ uống nhưng ghép lại với nhau thành “rượu chè” là mang nghĩa xấu, là hàm một ý chê. Hoa và rượu là hai thứ, hai phạm trù khác nhau, tưởng đối lập nhau, nhưng đặt bên nhau lại là một tương hợp. Ngắm hoa, ngắm cái đẹp, thưởng thức một điều ưng ý vừa lòng, thiếu đi một nồng độ say, như không cảm được hết, không thấu được sâu, không hiểu được xa cái huyền ảo diệu kỳ bên trong. Nâng chén dốc vào lòng một ngụm say mà trước mắt không có đối tượng để nhìn để ngẫm để suy thì chén rượu ngon lắm lúc hóa thành rượu đắng. Cuộc đời cần có rượu và hoa, cần cả rượu và hoa, như vật chất và tinh thần, như thể và tâm, như động và tĩnh, như phàm nhân và thánh nhân, như hữu và vô. Có nghĩa gì đâu, “hai đứa sống bằng hoa với rượu, sống vào giời đất sống vào nhau”, một cuộc sống giản dị yên lành đến thế đến tận thiên niên kỷ ba vẫn là niềm mong mỏi của số đông nhân loại.


Tôi ước được một lần như một thi sĩ đời Đường kia đem rượu ra uống trước hoa, “cạn dăm ba chén gọi là mua vui”. Đời hiếm lắm những khoảnh khắc thanh thản, thôi thì ta lắng lòng mình lại bằng cái chất nước của con người làm ra sánh với chất lửa của trời đất. Uống cho một thoáng giật mình “Chỉ e hoa biết mỉm cười, Hoa không phải nở cho người già nua”. Nghĩ được như thi gia đó đã là một cao diệu của hoa và rượu rồi vậy!


(còn tiếp)


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info


 







[1] Thơ Âu Dương Tu (Đời Tống, Trung Quốc): Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu/ Thoại bất đầu cơ bán cú đa/ Dao tri hồ thượng nhất tôn tửu/ Năng ức thiên nhai vạn lý nhân (Bài: Xuân nhật Tây Hồ ký tạ pháp Tào Vận). Dịch nghĩa:


Dịch nghĩa: Ngày Xuân ở Tây Hồ, Thơ gửi ông Tư pháp họ Tạ. Uống rượu mà gặp bạn hiểu mình thì ngàn chén cũng là còn ít/ Nói chuyện mà không hợp nhau thì nửa câu cũng là còn nhiều/ Mới biết ở trên hồ nâng một chén rượu/ Hay nhớ đến người đi vạn dặm nơi chân trời xa xôi. Chú thích của Triệu Xuân.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trang Thế Hy: Già rồi, đi chỗ khác chơi! - Trần Thanh Phương 19.02.2017
Văn Cao: Chừng nào tôi bỏ rượu thì bỏ thơ luôn! - Trần Thanh Phương 17.02.2017
Tô Hoài: Món nào cũng chán, chỉ ngon món rượu! - Trần Thanh Phương 14.02.2017
Nguyên Hồng: Lúc uống rượu, một xúc động nhỏ ông đã khóc! - Trần Thanh Phương 14.02.2017
Sài Gòn chuyện đời của phố: Làng Lai Xá, trùm nghề ảnh Sài Gòn/ Dầu dừa tóc mượn... - Phạm Công Luận 06.02.2017
Tứ Bình Làng Việt - Nguyễn Xuân Diện 03.02.2017
Sài Gòn chuyện đời của phố: Nhộn nhịp từ Bonard đến Lê Lợi - Phạm Công Luận 03.02.2017
Sài Gòn chuyện đời của phố - Sách về Sài Gòn xưa - Phạm Công Luận 02.02.2017
Nguyễn Bính, rượu và thơ - Tư liệu 26.01.2017
Nguyễn Tuân “Người cũ về rồi hoa mới nở…” (2) - Nhiều tác giả 25.01.2017
xem thêm »