tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21304865
22.01.2017
Trần Thanh Phương
Rượu với văn chương (1)



Người Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới biết cách ủ rượu, nấu rượu và uống rượu từ lâu đời.


Nhiều nhà nghiên cứu khoa học cho rằng, rượu là một phát minh vĩ đại của con người sau lửa. Khi phát minh ra lửa thì con người đã bắt đầu ăn thịt chín. Đến lúc động vật hiếm dần, con người chuyển sang ăn thực vật. Mà một trong những loài thực vật đầu tiên con người cổ xưa tìm ăn là quả nho, loại quả hoang dại mọc ở vùng châu thổ sông Nin. Rồi quả nho cũng trở nên thưa vắng. Với bản tính tư hữu, con người đem nho về cất giấu tại nơi ở của mình. Nho được ủ lại sau mấy ngày đem ăn, họ cảm thấy khỏe hơn, thông minh hơn, yêu đời hơn… Và họ liền đặt cho cái lâng lâng đó một biệt danh là Spirít, nghĩa là linh hồn, ngày nay thuật ngữ ấy là Rượu.


Ngay từ thời đại các vua Hùng, việc ăn mặc của dân tộc ta tuy còn thô sơ, nhưng đã có một trình độ văn hóa nhất định. Sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng:


“…Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ rừng làm muối, cày bằng dao… Đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm…”.


Rồi qua một thời gian dài từ thế kỷ nọ đến thế kỷ kia, trên cơ sở những thực phẩm chính của dân tộc: loại chất bột chủ yếu là gạo, ngô, khoai, sắn; loại prôtít như cá, thịt; loại thực vật như rau, cà; loại chất lỏng như rượu, trà, dân ta đã chế biến và sáng tạo nhiều món ăn của người Việt.


Sách Văn hóa Việt Nam những điều học hỏi (NXB Văn hóa - Thông tin, 2008), Vũ Ngọc Khánh có nhắc: Ta thường hay nói tới bầu rượu, túi thơ, nhưng đã mấy ai nhớ đến bầu. Bầu là cái gì?


Xa xưa lắm, người Việt Nam có những Thần rượu, đã biết ông Lý Thiết Quài và những rượu đế, rượu ngang, rượu tăm, rượu cần, rượu nếp và… rượu quốc lủi. Xét về tên gọi, như thế, rượu của ta “bình dân” hơn, ít mỹ miều nhưng gần gũi với dân lao động hơn so với các quốc gia khác. Sự “bình dân” của rượu nước Nam đúng như câu ca dao cũ: Rượu ngon bất luận be sành.


Những thứ đựng rượu của dân mình bây giờ gọi là “bao bì” dân dã, quê kiểng nhưng thật gần gũi với cuộc sống. Ấy là những bè, nậm, hũ, be, cút, chĩnh, ché, sừng, bầu, bát… bằng gốm sứ, bằng vỏ quả bầu, bằng cả sừng và bằng cả bong bóng con vật rất gần gũi với thôn dân: con trâu. Bên mâm cỗ ngày xuân, ta không có những ly cà phê, cũng chẳng có những chén ngà, chén ngọc. Đồ uống của mình chỉ là dăm ba cái chén Bát Tràng, thứ to có chén vại, thứ nhỏ có chén hạt mít, bỗ bã hơn là tô, là ang. Ấy vậy mà vẫn chén chú, chén anh, chén tạc, chén thù một cách vui vẻ, đậm đà.


Đã nhắc đến bầu rượu thì cũng không nên quên cách uống rượu của người Việt. Cái nếp thanh lịch: “Bán dạ tam bôi tửu” (nửa đêm ba chén rượu) là của các nhà chữ nghĩa, thích an tâm dưỡng khí, chứ người dân ta thì uống bằng cút, bằng be, bằng vò, bằng hũ, bằng bát. Hồi công ty Nam Đồng Ích được nhà nước thực dân cho phép kinh doanh, sản xuất ra một thứ chai đựng rượu, có dán nhãn quảng cáo hình con hưu (hươu), thì được dân chấp nhận ngay, vì lượng rượu của nó vừa phải. Người ta gọi ngay là một hưu rượu. Cũng tương tự giống như khi dùng lon sữa bò để đong gạo, người ta cứ quen là suất ăn mỗi người một (đúng 250 gram)… Rượu ngoại, dân ta không chuộng. Người ta thích rượu của các làng cất lấy, có nồng độ, có chất lượng và nhất là thật hơn. Dân gian thường truyền đi những câu về tứ vật (khuyên tránh không lấy vợ; không chơi bạn; không đánh cờ và không uống rượu ở làng nào đấy), thực ra cũng có ý giới thiệu giá trị của rượu từng địa phương. “Vật ẩm Duy Tịnh tửu” (Đừng uống rượu ở làng Duy Tịnh). Thật ra thì rượu ở đây nổi tiếng khắp miền Thanh nên bị một số người tìm cách đánh tráo, lừa khách qua đường. Nhiều nơi khác, rượu được ưa chuộng như rượu làng Vân chẳng hạn. Vùng miền núi có rượu cần là loại rượu mà truyện cổ tích Mường Thái gọi là “nước thân, nước thương chảy ngược”. Chả là uống rượu không rót ra chén bát mà phải cầm cần hút cho rượu dưới vò chảy ngược lên trên miệng. Rượu cần uống vừa ngọt, vừa đậm, đổ bao nhiêu sừng trâu nước lã vào đấy mà không thấy nhạt, thường rất khó say. Người Mường có câu rất hay:


Ủ gạo làm rượu ngon


Đốt củi bên sưởi ấm.


Từ những hơi men, tạo nên con người. Nhà thơ Nguyễn Bính đã phải dặn đi dặn lại: Rượu cần em uống cho say/ Vui cùng chị một vài giây cuối cùng. Dù là dân gian, Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ của thời đại mới, chứ những nhà thơ, nhà học giả thời trước phải uống rượu có bỏ hoa cúc vào. Rượu cúc, trà sen là rất quen thuộc với các cụ ngày xưa.


Nâng chén rượu, chén trà, các cụ sành ăn uống, các bậc văn sĩ phải biết chất lượng của trà, rượu: ở phần nào là cao hơn. Người ta sẽ bảo nhau: Rượu trên be, chè dưới chén (hay dưới ấm)…


Người xưa dạy “Trà tam rượu tứ” ý nói uống trà chỉ nên ba chén (pha tới lần thứ ba, sau đó thì nước đã nhạt); uống rượu chỉ nên bốn chén (chén mắt trâu, chén hạt mít) vì uống chừng đó còn đủ tỉnh táo, sáng suốt để nói năng.


Chén rượu của các cụ, các văn sĩ đâu phải chỉ là chén rượu bình thường. Có nhiều loại rượu:


Rượu tiễn biệt: Tiễn đưa một chén quan hà.


Rượu bằng hữu: Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.


Rượu thề nguyền: Chén son nguyện với trăng già.


Rượu chiến đấu: Chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí…


Hầu như trong nhiều loại cỗ bàn, dù là giỗ Tết hay hiếu hỷ thì thực phẩm dâng cũng chủ yếu vẫn là hoa quả. Điều ấy mang ý nghĩa tâm linh rất rõ. Tâm linh mà gắn với cội nguồn. Còn trầu, rượu sử dụng trong tất cả mọi trường hợp để tỏ lòng thành kính. Không rượu bất thành lễ. Đối với người bình dân nói chung, văn nghệ sĩ nói riêng, rượu đem lại cho họ nhiều cung bậc trong đời sống vật chất và tinh thần. Còn bảo người Việt ta uống nhiều rượu, đó là một chuyện khác, chúng tôi không bàn ở đây. Sinh thời, trong cuốn sách Nói chuyện với người uống rượu (NXB TP.Hồ Chí Minh, 1981), bác sĩ Trần Hữu Nghiệp dẫn ra một tư liệu đáng tin cậy, rằng “Xã hội Việt Nam thời trước, nhân dân lao động nói chung không hề lạm dụng rượu. Trong quyển sách in năm 1898, nhà bác học, là bác sĩ Can-mét (A. Calmette) ước lượng anh em “cu li” nghèo ở Sài Gòn tiêu thụ mỗi tháng từ 2,5 đến 3 lít rượu đế 36 chữ (độ), tức là trung bình ba ngày uống hết một xị, nghĩa là chỉ một phần tư lít. Không nhiều!”.


Đối với văn sĩ, đây đó, và thời nào họ cũng thường bị oan cho là họ uống nhiều rượu, thậm chí họ uống nhiều không thua những người ở ngành nghề khác, kể cả binh sĩ ngoài trận mạc. Xin nhắc một chuyện có thật bị hiểu lầm về rượu. Trong hồi ký của một vị tướng quân đội ta, tác giả kể rằng: Ở Điện Biên Phủ, sau khi bị ta bắt làm tù binh, tướng Đờ Cát hỏi:


- Có phải trước khi ra trận, các ông cho binh lính uống nhiều rượu mạnh không? Lính các ông nhỏ người, nhưng lúc xông vào sở chỉ huy của tôi, người nào mặt cũng đỏ gay, mắt quắc lên, mạnh mẽ trông thật đáng sợ.


Câu trả lời với tướng bại trận rất đơn giản:


- Không có rượu mạnh nào cả mà chỉ có chí căm thù. Căm thù các ông sang xâm lược nước tôi. Cái đó mạnh hơn rượu rất nhiều. (Sách Nói chuyện với người uống rượu).


Một chuyện khác: Năm 1973, mùa xuân. Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam được ký kết, Nhà nước ta đã mời tiến sĩ Henri Kitxinhgiơ, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ sang thăm thủ đô Hà Nội. Sau khi mời đi thăm phố Khâm Thiên đổ nát, viếng đài tưởng niệm những người dân thường bị bom Mỹ hủy diệt đêm 26 tháng Chạp năm Nhâm Tý (1972), thăm Viện Bảo tàng lịch sử… Chính phủ ta mở tiệc chiêu đãi cố vấn Kitxinhgiơ, với cố vấn đặc biệt của Chính phủ ta Lê Đức Thọ. Sau các cuộc hòa đàm thẳng thắn, nóng bỏng ở Paris, hai vị cố vấn đã hiểu biết lẫn nhau hơn. Những câu chuyện vui nhưng không kém phần thâm ý của hai vị cố vấn giữa giờ giải lao của cuộc họp kéo dài căng thẳng và quyết liệt cũng có phần cởi mở và dễ chịu hơn. Sau những giờ phút lo lắng khi đặt chân đến thủ đô của một dân tộc bất khuất, ngàn năm văn hiến, tiến sĩ Kitxinhgiơ đã thật sự yên tâm. Do đó, khi cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngỏ lời mời tiến sĩ Kitxinhgiơ dự cuộc chiêu đãi trọng thể của Chính phủ ta, ông đã thẳng thắn hỏi:


- Thưa ngài, tôi có thể biết trước thực đơn không?


Cố vấn Lê Đức Thọ nói:


- Đó là các món đặc sản của dân tộc tôi, cơm tám, giò chả.


Người phiên dịch nói xong, tiến sĩ Kitxinhgiơ gật đầu rồi ra hiệu, hỏi tiếp:


- Trong bữa ăn có món rượu được đóng nắp bằng thứ lá chuối khô mà các ngài quen gọi là Quốc lủi không? (từ cuốc lủi ông ta không sao diễn tả hết được).


Cố vấn Lê Đức Thọ trả lời:


- Nếu ngài thích rượu đó.


Cố vấn Kitxinhgiơ nói ngay:


- Tôi nghe người Nga khen thứ rượu đó rất ngon.


Thế là trong bữa tiệc chiêu đãi cố vấn Kitxinhgiơ không thể thiếu rượu ngang. Nhưng không phải là rượu ngang làng Vân hay rượu ngang mua ngoài hàng nước. Đó là thứ rượu được cất bằng nước mưa với nếp quýt hoa vàng của tỉnh Thái Bình. Người nghệ nhân đóng chiếc cối xay thật là kỳ tài! Cả trăm hạt thóc cho vào xay đều vỡ bong thành hai cánh trấu. Như vậy còn chứng tỏ thóc được phơi rất đều nắng. Và sau cùng là khâu nấu cơm nếp, ủ men, cất rượu phải thật đúng quy trình và đúng nhiệt độ. Rượu này, vào ngày Tết, lễ của các nước anh em thuộc Đông Âu cũ, các đồng chí lãnh đạo vẫn gửi biếu các nguyên thủ quốc gia đó. Lần này đãi vị cố vấn đặc biệt Hoa Kỳ, thứ rượu ngon ấy lại được đem ra. Theo yêu cầu của khách, những chai rượu sủi tăm, nút lá chuối khô được bày ngay ngắn trên bàn tiệc. Tiến sĩ Kitxinhgiơ tấm tắc khen êm giọng và thơm đến rạo rực, kỳ diệu của hương gạo nếp. Ông bảo ông đã uống rất nhiều rượu trên thế giới nhưng không một thứ rượu nào nặng, êm giọng và thơm tuyệt vời như cuốc lủi Việt Nam. Và, ông đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ giải thích từ cuốc lủi. Ông Lê Đức Thọ nói đó là thứ rượu Nhà nước cấm tư nhân nấu để tiết kiệm lương thực phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, song các ngày lễ, Tết cổ truyền ở Việt Nam người ta vẫn nấu một vài nồi. Có người dùng không hết đem bán lén ra thị trường, nên gọi là cuốc chui, cuốc lủi. Vị cố vấn tỏ ra khoái trá, cười ầm lên.


Bữa tiệc ấy, tiến sĩ Kitxinhgiơ cảm thấy thật ngon miệng. Ông đã uống rất nhiều và đã rất say!


Cứ nghĩ rằng ông khen xã giao, nhưng trước khi chia tay ông đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ nếu có tặng phẩm cho ông thì cứ cho xin dăm lít cuốc lủi để ông giới thiệu với bạn bè ông ở Mỹ thứ rượu tinh khiết, ngon tuyệt vời được cất ủ bằng một loại lương thực cao cấp của Việt Nam! Ông bảo, đó là một trong vài thứ rượu ngon tuyệt trần của thế giới mà ông có may mắn được thưởng thức. Ông còn hỏi giá thành rượu này có cao không? Cố vấn Lê Đức Thọ nói khoảng 500 đồng (lúc đó) một lít. Tiến sĩ Kitxinhgiơ phiên từ tiền Ngân hàng Việt Nam sang đôla Mỹ và thốt lên:


- Rẻ quá! Rẻ quá! Mà lại rất ngon, rất tuyệt, rất tinh khiết!


Theo sách Văn hóa rượu.


 


Tục ngữ có câu: “Rượu vào lời ra”, ấy là chỉ cái xấu của những người uống rượu nói dai, nhưng đối với người có nợ với văn chương thì rượu là nguồn cảm hứng bao la của bao nhiêu sáng tác văn học rực rỡ như đã thưa ở trên. Đường thi có câu: Đấu tửu thi bách niên - nghĩa là rượu vào hàng trăm bài thơ ra. Uống rượu, có triết lý về rượu, uống trà là có bao nhiêu những ưu tư nghiền ngẫm…


Đọc và chép lại những vần thơ cũ trích dẫn dưới đây, tôi nghĩ thơ cũng giống như rượu: càng lâu năm thì càng quý. Quan hệ mật thiết giữa rượu và thơ là như hình với bóng - cùng nhau trưởng thành già dặn qua thời gian, và tôi rất tán thành về sự so sánh giữa rượu và thơ của Ưng Bình Thúc Giạ Thị:


Rượu có mùi thơm nên uống mãi,


Thơ là thuốc bổ cứ ngâm hoài…


Người xưa cũng có câu:


Nửa đêm ba chung rượu


Sáng sớm giở chén trà


Ngày ngày cứ như thế


Thầy thuốc chẳng đến nhà.


Chúng ta cùng thưởng thức hương vị rượu qua những vần thơ trong văn học Việt Nam xưa.


Đặc điểm nổi bật của thẩm mỹ thời xưa là tính ước lệ. Gần đây, tháng 7-2016, trên báo Giáo dục với thời đại, Túy Phượng cho rằng:


Quan niệm về vẻ đẹp của con người cũng nằm trong mạch chảy đó. Chúng ta không lạ với chân dung người trai tài tử trung đại trong văn học Việt Nam được dựng bằng hình ảnh gắn liền với: cầm, kỳ, thi, tửu. Thành ngữ Cầm kì thi tửu với nội dung diễn tả lối sống tao nhã của nhà nho thời phong kiến. Họ lấy nghệ thuật và hương vị men cay (đánh đàn, chơi cờ, làm thơ, uống rượu) làm tiêu chí sống.


Cầm, kỳ, thi, tửu,


Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay.


Đàn năm cung réo rắt tính tình đây,


Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó.


Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ,


Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà.


Cầm kỳ thi tửu - Nguyễn Công Trứ.


Còn Phạm Xuân Nguyên thì: Tôi cứ nghĩ có hai thứ lửa trên đời. Một thứ lửa của mặt trời là do đất trời thiên nhiên tạo ra cho muôn loài. Một thứ lửa của rượu là do con người tạo ra cho lòng mình. Lửa của mặt trời là lửa. Lửa của rượu là nước. Nhân loại có một thứ ngôn ngữ chung là rượu dù tên gọi của nó ở mỗi quốc gia dân tộc có khác nhau. Khi vui uống rượu mừng vui. Khi buồn uống rượu chia buồn. Lúc đám đông rượu để hòa đồng. Lúc cô đơn rượu để một mình. Rượu đem lại trạng thái say. Cái say nguyên thủy là say rượu, từ đó mới ra các thứ say khác: say người, say tình, say tài… Đây là nói cái say theo nghĩa đẹp, hoặc là nói say dưới góc độ mỹ học. Cái say viết hoa - SAY. Có ai trong đời không một lần say một cái gì không? Nếu có một người như thế thì người đó thật là bất hạnh, bất hạnh cho chính mình và bất hạnh cho đồng loại. Say là cảm giác tuyệt đỉnh, tột cùng. Trong say cảm xúc lên đến đỉnh chon von, châng lâng. Người uống rượu chân chính, đích thực không phải uống để say mà uống để SAY. Ai uống để say để quậy không phải là người uống rượu nữa mà là rượu uống người. Trong tất cả các nền văn hóa, có hơn một kiểu đồ uống mang chất rượu được dùng, các đồ uống được phân loại theo ý nghĩa xã hội của chúng, việc phân loại đồ uống được dùng để xác định thế giới xã hội. Rất ít, nếu không nói là tuyệt đối không có, thứ đồ uống “trung lập về mặt xã hội”. Mọi thứ đồ uống đều mang theo một ý nghĩa tượng trưng, mọi thứ đồ uống đều chuyên chở một thông điệp. Rượu là một phương tiện mang tính tượng trưng để nhận diện, miêu tả, cấu trúc và vận hành các hệ thống văn hóa, các giá trị, các quan hệ liên cá nhân, các chuẩn mực hành vi và các dự tính. Rượu có men, mỗi thứ rượu có một chất men riêng, người uống rượu ngấm men, bốc men, và rượu thì ai cũng uống được dù ít dù nhiều, nhưng uống rượu để men rượu ngấm vào lòng biến thành cái SAY tinh thần, cảm xúc thì chỉ ít người uống được. Lý Bạch nói: “Cổ kim thánh hiền giai tịch mịch. Duy hữu ẩm tửu lưu kỳ danh”, nhưng “kỳ danh” của những ẩm tửu gia lưu lại nhiều nhất là các thi nhân, như chính ông. Vì sao vậy? Vì rượu đã dẫn men nhập hồn thơ thi nhân làm bốc lên ngọn lửa của ý tình, cảm xúc, vần điệu khiến những câu thơ vụt ra đầu ngọn bút như cũng có men nồng gây say cho người đọc. Và chính cái SAY đó đã đưa chân Lý Bạch lội xuống hồ tìm vớt trăng lên. Có ai SAY được như ông Lý thế không.


Một số truyện thơ Nôm khuyết danh chứa đựng những nội dung rất đẹp về rượu:


- Thưởng xuân sinh cũng dạo chơi,


Thơ lưng lưng túi, rượu vơi vơi bầu.


Bích Câu kì ngộ.


- Hề đồng theo bốn năm thằng,


Thơ ninh ních túi, rượu lưng lửng bầu.


Nhị độ mai.


- Chè sen rượu cúc thảnh thơi,


Cóc ngồi chịu chuyện, Bén ngồi ngâm thơ.


Trê cóc.


Trong thơ khuyết danh có một bài khá hay, bài Rượu ngon cứ uống:


Rượu ngon ai chẳng chuộng,


Gặp rượu đây hãy uống một đôi vò


Gối chưa mòn, răng chưa rụng,


                  đầu chưa bạc, vai chưa so


Còn quắc thước dễ hồ ta chịu hẳn.


Xuân tàm đáo tử ti phướng tận


Lạp chúc thành hôi lệ vị can


Giốc nghìn vàng một tiệc cho yên


Như dụng ngã, tam niên thì biết rõ


Cơn chếnh choáng việc tầy trời cũng nhỏ


Dẫu thị phi, phi thị có là chi.


Mặc đời, hãy cứ uống đi…


Sách Cùng một lứa bên trời lận đận, NXB Thanh Niên, 2009.


Còn ca dao thì vô cùng nhiều:


- Đốt than nướng cá cho vàng


Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi.


- Rượu nhạt uống lắm cũng say


Anh nhiều lời nói, em ngây tấm lòng.


- Xưa kia ai biết ai đâu


Vì chung chén rượu mở đầu làm quen.


- Còn trời, còn nước còn non


Còn cô bán rượu, anh còn say sưa.


- Say là say nghĩa say nhân


Say thơ Lý Bạch, say đàn Bá Nha.


- Mang bầu đến quán rượu dâu


Say sưa quên hết những câu ân tình.


- Đố ai nằm võng không đưa


Ru em không hát, anh chừa rượu tăm.


- Tặng em một thúng xôi vò


Hai con lợn béo với vò rượu tăm.


- Làng Mui thì bán củi đồng


Nam Dư mía mật giàu lòng ăn chơi


Thanh Trì buôn bán mọi nơi


Đồng Nhân, Thúy Ái là nơi chăn tằm


Làng Mơ thì bán rượu tăm


Sở Lờ cua ốc quanh năm đủ đời.


Sách Ca dao - Ngạn ngữ Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội, 1972.


- Em là con gái Kẻ Mơ


Em đi bán rượu tình cờ gặp anh


Rượu ngon chẳng quản be sành


Áo rách khéo vá hơn lành vụng may


Rượu lạt uống lắm cũng say


Áo rách có mụn vá may lại lành.


- Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm


Rượu hồng đào chưa nhắm đã say.


- Rượu nằm trong nhạo chờ em


Anh nằm phòng vắng chờ em tối ngày.


- Bắt con cá lóc nướng trui


Làm mâm rượu trắng đãi người phương xa.


- Rượu lạt uống riết cũng say


Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.


- Thương tôi rượu chén trầu cơi


Đến cùng phụ mẫu, đến nơi sinh thành.


Sách Bộ hành với ca dao, Lê Giang sưu tầm, NXB Trẻ, 2004.


Ở Nam Bộ có câu hát ru: Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Khó đi mượn chén ăn cơm/ Mượn ly uống rượu, mượn đờn kéo chơi. Mượn ly uống rượu thì chỉ cần một cái là đủ, để rảnh tay mượn thêm cây đờn kéo chơi nữa chớ!


Đó cũng chỉ là cách nói cà rỡn thôi. Người Nam Bộ có thói quen “trà tam rượu tứ” (hiểu theo cách: uống trà phải ba người và uống rượu thì bốn người) chứ không phải như câu giải thích mà các vị vừa đọc ở trang trước. Cách uống rượu ở Nam Bộ, một là người già trước bữa ăn uống một ly nhỏ rượu thuốc… cho tiêu cơm. Còn cuộc nhậu thì phải có bốn người trở lên mới vui. “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu” thì ở Nam Bộ “trời biểu thôi”, có tri kỷ đến thăm thì phải báo hàng xóm, dòng họ gần đó đến chung vui, chớ hai người “thiên bôi thiểu” thì hàng xóm gọi là “hai ông hiệp sĩ” uống rượu ghiền!


Trong sách Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa, nhà văn Sơn Nam đã sưu tầm được bài vè đám cưới xưa ở vùng đất phương Nam. Theo Sơn Nam, đám cưới ở miền đất mới này tổ chức rất đơn giản về nghi lễ, nặng về ăn uống và có hai thứ không thể thiếu là đờn ca tài tử và rượu. Mở đầu bài vè:


Dạy việc đám cưới chẳng phải là dễ


Che trại ra, mượn ván lót dài


Ngoài phòng trà lại có tay sai


Trong đãi rượu, ngoài trai dọn dẹp


Dĩa quả tử chưng ra coi đẹp


Ba bình bông kết phụng loan xòe


Rượu áp sanh mua lấy mười ve


Hai hũ rượu mâm trầu cho xứng


Bạc tiền hai gói đỏ niêm phong


Trong viên quan uống rượu đánh cờ


Ngoài tài tử đờn ca xướng hát…


Bài vè trên lời lẽ chưa ổn, văn vẻ còn tả chân, chưa  trau chuốt.


Cũng như trong văn học dân gian, trong các tác phẩm văn học Việt Nam xưa, rượu xuất hiện nhiều và không thể thiếu trong các nghi lễ. Trong chiến trận, tướng sĩ thể hiện tinh thần đoàn kết một lòng được Nguyễn Trãi ghi lại trong Bình Ngô đại cáo với chi tiết: Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào. Chén rượu thề thể hiện cho quyết tâm đồng cam cộng khổ cùng sinh tử vì đất nước.


Hoa Tiên truyện của Nguyễn Huy Tự, rượu xuất hiện trong lời thề nguyện:


Tiên thề dù hãi chút lòng,


Trên mồ một chén, rượu trong cũng là.


Dùng rượu thay lời tiễn biệt trong các cuộc biệt ly:


Rót ba chén rượu phụng bồi,


Lễ đưa Đạo Dẫn, một hồi tạm ly.


Ngư Tiều y thuật vấn đáp - Nguyễn Đình Chiểu.


Rượu là hơi men làm cho tình bằng hữu thêm thắm thiết:


Cùng nhau kết bạn đồng tâm,


Khi cờ khi rượu khi cầm khi thi.


Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu.


Rượu trở thành nguồn cảm hứng, là đề tài của thơ ca:


Cùng nhau tả chút tình hoài,


Năm ba chén rượu một vài câu thơ.


Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu.


Trong bài Từ biệt cố nhân, cụ Đồ Chiểu viết:


Vì câu danh nghĩa phải đi xa


Day mũi thuyền nan dạ xót xa


Người dễ muốn chi nương đất khách


Trời đà khiến vậy mến vua ta


Một phương thà tránh đường gai góc


Trăm tuổi cho tròn phận tóc da


Chén rượu ấm lòng xin cạn chén


Nhớ nhau ngày khác biết sao mà.


Khi tướng sĩ thắng trận, vua thường dùng rượu để ban thưởng cho những công lao mà kẻ ở sa trường vừa lập được:


Sở Vương bước xuống kim giai,


Tay bưng chén rượu thưởng tài trạng nguyên.


Rượu có một vai trò rất lớn. Thế nhưng rượu cũng gây những tác hại không nhỏ. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ văn đã cảnh báo rõ những tác hại ghê gớm. Tướng sĩ dưới quyền: có kẻ thích rượu ngon thì khi giặc Mông Thát tràn sang chén rượu ngọt ngon sẽ không đủ làm giặc say chết, và như thế thì nguy cơ mất nước tan nhà đã hiển hiện trước mắt.


Đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Đồ Chiểu cũng chỉ trích nặng nề những kẻ cam tâm làm tay sai cho giặc để được chia rượu lạt gậm bánh mì nghe càng thêm hổ!


Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705, quê ở trấn Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Năm 37 tuổi, bà mới nhận lời lấy Nguyễn Kiều, một tiến sĩ nổi tiếng hay chữ, đã góa vợ. Vừa cưới xong, Nguyễn Kiều lại phải đi sứ Trung Quốc ba năm. Có lẽ trong thời gian xa chồng này, Đoàn Thị Điểm đã dịch ra quốc âm tập Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Năm 1745, Nguyễn Kiều về nước được cử làm tham thị ở Nghệ An. Đoàn Thị Điểm cùng đi với chồng. Trên đường đi, bà bị cảm nặng và mất ở Nghệ An vào ngày 11 tháng 9 âm lịch (năm Mậu Thìn). Chúng tôi xin trích một đoạn trong Chinh phụ ngâm:


Ngòi đầu cầu nước trong như lọc


Đường bên cầu cỏ mọc còn non


Đưa chàng lòng dặc dặc buồn


Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền


 


Nước có chảy lòng phiền khôn rửa


Cỏ có thơm dạ nhớ chẳng khuây


Nhủ rồi, nhủ lại cầm tay


Bước đi một bước, giây giây lại dừng


 


Lòng thiếp tựa bóng trăng theo


Dạ chàng xa, tìm cõi thiên san


Múa gươm, rượu tiễn chưa tàn


Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.


Thi, cầm, kỳ, tửu cũng được nhắc đến trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Đây là khúc ngâm lấy lời người cung nữ bị vua ruồng bỏ, oán than về thân phận mình. Mở đầu là hình ảnh một đêm thu lạnh lẽo, người cung nữ sống cô đơn trong cung cấm đang hồi tưởng về nông nỗi cuộc đời mình. Nàng nhớ lại thuở còn chưa vào cung. Nhan sắc lộng lẫy, tài cầm, kỳ, thi, tửu đều hơn người, tiếng tăm vang lừng khắp trong nước, khiến cho biết bao nhiêu vương tôn, công tử hâm mộ, nhưng nàng vẫn chẳng để ý đến một ai.


… Câu cầm tú đàn anh họ Lý


Nét đan thanh bậc chị chàng Vương


Cờ tiên rượu thánh ai đang


Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm


Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã


Địch lầu thu đường gã Tiêu Lang


Dẫu nghề tay múa miệng xang


Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăng…


Cung oán ngâm khúc


Về sau, những bậc hiền tài, nặng lòng thương dân yêu nước, không bao giờ xem thú tiêu khiển “cầm, kỳ, thi, tửu” là thật hay, thật tốt, trái lại ôn tồn, răn dạy cháu con: Đua chi chén rượu, câu thơ/ Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao (Nguyễn Trãi, Gia huấn ca).


Nhưng ở góc độ thể hiện tâm trạng, từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã để lại những vần thơ đầy cảm xúc:


Chén rượu câu thơ ấy hứng nồng


Ngõ tênh hênh nằm cửa trúc


Say lểu thểu đứng đường thông.


                              Thuật hứng, 16.


Trong Quốc Âm thi tập, Nguyễn Trãi có những vần thơ về rượu:


Túi thơ bầu rượu quẩy xình xoàng


Khỏe dụng đầm hâm mấy dặm trường…


                                          Bài số 8.


hoặc:


- Chén chăng lọ chuốc rượu la phù


Khách đến ngâm chơi miễn có câu


Lòng một tấc son còn nhớ chúa


Tóc hai phần bạc bởi thương thu.


                              Mạn thuật, số 7.


- …Rượu năm ba chén đổi công danh


Ngoài chưng phần ấy cầu đâu nữa


Cầu một ngồi coi đời thái bình.


                              Tự thán, số 10.


- …Công danh lỡ đường vô sự


Non nước ghê chốn hữu tình


Nào của cởi buồn trong thuở ấy


Có thơ đầy túi, rượu đầy bình.


                              Tự thán, số 16.


- Ngủ thì nằm, đói thì ăn


Việc văn ai hỏi áo bô cằn


Tranh trương vách nài chi bức


Đình thưởng sen năng có gian


Vườn quỳnh dầu chim kêu hót


Cõi trần có trúc đứng ngăn


Già (trà) vưỡn lấy rượu làm khỏe


Hoại lại quen lòng khó khăn.


                              Tự thán, số 40.


Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm tiêu diêu trong cảnh nhàn tản, đã hạ bút:


Một mai một cuốc một cần câu


Thơ thẩn dù ai vui thú nào


Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ


Người khôn người đến chốn lao xao


Thu ăn măng trúc đông ăn giá


Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao


Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp


Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao…


                  Bài Nhắp rượu.


Và xem đó như một lẽ sống để tránh xa thói đời.


Mạnh mẽ, quyết liệt như Hồ Xuân Hương cũng có lúc ngao ngán cho phận hồng nhan, mượn men rượu để quên đi thực tế phũ phàng, chua chát. Buồn thay, rượu càng uống càng tỉnh, tỉnh để nhận rõ sự đời ngao ngán:


Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,


Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.


                           Tự tình


Còn bà Huyện Thanh Quan thì:


Bầu giốc giang sơn say chấp rượu


Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.


Tức cảnh chiều thu


Nguyễn Công Trứ thì tỏ thái độ qua những vần thơ ngông ngạo với đời:


- Ai say, ai tỉnh, ai thua được,


Ta mặc ta, mà ai mặc ai.


- Thơ một túi, phẩm đề câu nguyệt lộ,


Rượu ba chung, tiêu sái cuộc yên hà.


- Thơ một túi gieo vần Đỗ, Lý


Rượu lưng bầu rót chén lưu linh.


Cầm kỳ thi tửu, bài 3.


Một bài khác của Nguyễn Công Trứ:


Trời đất cho ta một cái tài,


Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.


Dở duyên với rượu không từ chén,


Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời.


Cờ sẵn bàn sơn, xe ngựa đó,


Đàn còn phím trúc, tính tình dây.


Ai say, ai tỉnh, ai thua được,


Ta mặc ta, mà ai mặc ai.


Bài Cầm kỳ thi tửu.


Và một bài nữa, bài Thú uống rượu của Nguyễn Công Trứ:


Đánh ba chén rượu khoanh tay giấc


Ngâm một câu thơ vỗ bụng cười


Cái công danh là cái nợ đời


Đường thản lý cát nhân chi đã vội


Giắt lòng giang sơn vào nửa túi


Rót nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầu


Cảnh cùng thông ai có bận chi đâu


Mùi tiêu sái trần gian âu mấy nhỉ.


Bởi trót đã khuya sớm với rượu nên nhà thơ ngày đêm vẫn uống cho dù mặc người đời khen hay chê thì cứ bỏ ngoài tai, miễn sao vào vòng cương tỏa chân vẫn không vướng, tới cuộc trần ai, áo cũng chẳng hoen:


Trót đà khuya sớm với ma men,


Mặc kệ người chê, mặc kệ khen.


Ngó lại hàng rào hương cúc lộn,


Trông ra cửa sổ bóng trăng chen.


Vào vòng cương tỏa chân không vướng,


Tới cuộc trần ai áo chẳng hoen.


Cứ những ai hay tình thú ấy,


Có chăng Bành Trạch với Thanh Liên.


Bài Uống rượu tự vịnh của Nguyễn Công Trứ.


Trong bài Cầm kỳ thi tửu của Nguyễn Công Trứ, ta thấy mấy món ăn chơi thanh lịch bổ túc cho nhau:


Tiếng đàn hay, làm cơ sáng nước


Ý thơ vui, vì rượu say nồng.


Thơ túi rượu bầu là hình ảnh của người đã thoát vòng danh lợi và là phần thưởng của kẻ đã trả xong nợ đời.


Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo


Thảnh thơi thơ túi rượu bầu.


Chí làm trai - Nguyễn Công Trứ


và…


Hẹn với lợi danh ba chén rượu


Vui cùng phong nguyệt một bầu thơ.


Thoát vòng danh lợi - Nguyễn Công Trứ


Cùng là “uống rượu tiêu sầu” nhưng ở Cao Bá Quát đã có một phong vị khác thường, nó nói lên con người này không chỉ có chất Lão - Trang “Mảnh hình hài không có có không”, nhàn tản “Trầm tư bách kế bất như nhàn”, mà còn có một cái nhìn bao trùm “cửu hoàn”, “kim cổ” - cái kích thước ấy, không phải chỉ để “nói chí” mà quả là có cái phi thường:


Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy?


Cảnh phù du trông thấy đã nực cười.


Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,


Tiêu khiển một vài chung lếu láo.


Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,


Trầm tư bách kết bất như nhàn.


Dưới thiều quang thấp thoáng bóng Nam San,


Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ.


Khoảng trời đất cổ kim kim cổ,


Mảnh hình hài không có có không.


Lọ là thiên tứ vạn chung.


Và đây là bài “Uống rượu tiêu sầu” thứ hai, cũng trích trong Cao Bá Quát toàn tập, tập I, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, NXB Văn học, 2004.


Thế sự thăng trầm quân mạc vấn,


Yên ba thâm xứ hữu ngư châu.


Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu,


Đem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hết.


Duy giang thượng chi thanh phong,


Dữ sơn gian chi minh nguyệt.


Kho trời chung, mà vô tận của mình riêng.


Cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng,


Ai thành thị, ai vui miền lâm tẩu.


Gõ nhịp lấy, đọc câu “Tương tiến tửu”:


“Quân bất kiến


Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,


Bôn lưu đáo hải bất phục hồi”.


Làm chi cho mệt một đời.


Đối với Cao Bá Quát nhìn hơi men là để nhìn đời, nhìn người:


Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu - (Hễ) quán rượu ở đầu gió có rượu ngon.


Tỉnh giả thường thiểu, túy giả đồng - (Thì) ít người tỉnh mà vô số người say.


Rồi phó mặc cho thế sự:


Thôi công đâu chuốc lấy sự đời


Tiêu khiển một vài chung lếu láo.


Uống rượu tiêu sầu.


Trước khi chúng tôi dành khá nhiều trang để nói về rượu trong Truyện Kiều, xin mời quý bạn đọc lại bài thơ về rượu rất hay của đại thi hào Nguyễn Du. Bài thơ chữ Hán có tựa đề Đối tửu, tạm dịch như sau:


Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ,


                  rượu vào hơi say, mắt lim dim


Vô số cánh hoa rơi trên thềm rêu xanh


Lúc sống, không uống cạn chén rượu


Chết rồi, ai rưới lên mồ cho?


Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi


Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc


Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày


Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.


Sách Tinh tuyển Văn học Việt Nam, Văn học thế kỷ 18, NXB Khoa học xã hội, 2004.


Nhân vật Thúy Kiều chịu cảnh thân lươn bao quản lấm đầu trong kiếp hồng nhan mong manh thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần. Thế nhưng đời nàng cũng có lúc nồng ấm với men tình, men rượu, có lúc đắng cay tủi nhục với những cơn say túy lúy. Lần đầu tiên, rượu đến với Kiều như men tình hạnh phúc cùng chàng Kim Trọng:


Thêm nến giá, nối hương bình,


Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.


Chén quỳnh chứng cho lời minh sơn thệ hải. Nhưng bể dâu biến đổi, Kiều phải thăng trầm trong bước đường lưu lạc. Kiều rơi vào lầu xanh của mụ Tú Bà, chấp nhận cái cảnh Biết bao bướm lả ong lơi/ Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm cho đến:


Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,


Giật mình, mình lại thương mình xót xa.


Truyện Kiều từ trước tới nay vẫn được coi là một tác phẩm văn học cổ điển ưu tú trong lịch sử văn học nước ta, được phổ biến rất rộng rãi trong nhân dân. Dưới rất nhiều hình thức, như: lẩy Kiều, tập Kiều, bói Kiều, đố Kiều… Gần 200 năm từ khi Truyện Kiều ra đời tới nay, nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu là giấy mực để bàn tới nó. Nói chuyện “văn nghệ giữa đời thường”, chúng tôi đã sưu tầm được và biên soạn chữ Tửu trong Truyện Kiều của Hồ Tĩnh Tâm, do kỷ lục gia nghiên cứu truyện Kiều Phan Đan Quế cung cấp đôi nét về THI - TỬU trong Truyện Kiều - Vốn là một đề tài từ trước tới nay hình như rất ít người đề cập.


Cứ như Nguyễn Du miêu tả, thì Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có thể làm xiêu thành đổ quách; nhưng dường như trong số kiếp đã ẩn sẵn “một thiên bạc mệnh”. Chính vì vậy, khi tình yêu giữa nàng và chàng Kim mới vừa chớm nở, họ đã lập tức thành tâm giao tâm đắc, tri kỷ tri âm, cùng vịnh thơ với nhau, nâng bầu mời rượu với nhau. Ưu ái cho tình yêu của đôi trai tài gái sắc, chỉ trong một ngày, Nguyễn Du đã phóng tay, để cho họ được tới hai lần uống rượu với nhau.


Lần thứ nhất vào ban ngày. Nhân cha mẹ và hai em về dự sinh nhật bên ngoại, Thúy Kiều đã tìm đến tận thư phòng của Kim Trọng để tình tự. Kiều vẽ tranh Đạm Thanh. Chàng Kim thảo vài câu thơ vào tranh ấy. Rồi hai người chuốc rượu mời nhau. Xét theo quan điểm “nam nữ thụ thụ bất thân”, việc chỉ có hai người với nhau trong thư phòng vắng vẻ, đã là một điều cấm kỵ; đằng này, cụ Nguyễn còn giải phóng cho họ nâng ly mời nhau, thì… cụ Nguyễn quả là người đi tiên phong đầu tiên trong lĩnh vực giải phóng phụ nữ.


Phải chăng đây là lần đầu Kiều uống rượu:


Đủ điều trung khúc ân cần,


Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.


“Trung khúc” là khúc lòng thầm kín. “Đủ điều trung khúc ân cần” là hai người nói với nhau rất nhiều về nỗi niềm thầm kín của lứa đôi. Đã vậy lại còn thêm chén rượu nồng đưa đẩy, đến mức “lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng”. “Chén xuân” là chén rượu tỏ tình yêu. Càng uống càng thấy “lòng xuân” tràn đầy tình yêu “phơi phới”, đến mức đã “tàng tàng” với nhau, tức cả hai đều đã ngà ngà vì nhau và vì rượu. Không biết cuộc hàn huyên bắt đầu từ bao giờ. Nhưng chắc chắn là nó đã kéo dài tới mức cả hai đều quên cả thời khắc, nên mới giật mình nhận thấy: “Trông ra ác đã ngậm sương non đoài”.


Uống như vậy gọi là uống rượu tình trong buổi đầu bày tỏ. Chỉ có hai người thôi. Cụ Nguyễn thật là khéo. Vậy mà nào đã thôi đâu. Liền đó, cụ Nguyễn đã mạnh bạo đi thêm nước cờ thứ hai, mà tôi dám đoan chắc rằng, toàn bộ giai cấp thống trị phong kiến, và những nhà hủ nho phong kiến, nhất định sẽ phải giãy nảy lên mà la làng. Vì cụ Nguyễn đã cách tân quá thể, khi cụ dám để Thúy Kiều ngay trong đêm hôm đó, khi vừa mới chia tay trở về, đã lập tức quay ngay trở lại, bằng cách “xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình”. Quả là táo bạo tới không tưởng nổi. Thân gái đêm hôm, dám một mình xăm xăm đi tắt tới nhà trai. Vào thời ấy, hẳn chỉ có Nguyễn Du mới dám viết như vậy.


Và cuộc rượu ái tình lần này mới thật là đáng nhớ. Thơ Nguyễn Du dành cho họ, cứ như chảy tràn ra từ đáy cốc; lóng lánh ngời lên tình yêu đôi lứa.


Tóc tơ căn vặn tấc lòng,


Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.


Chén hà sánh giọng quỳnh tương,


Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.


Quả là phong lưu, phong vận, tao nhã và đài các. Không gian hẹp, không gian rộng đều tuyệt cả. Trong phòng thì lửa nến, hương trầm; ngoài trời thì vầng trăng vằng vặc. Không gian ấy, thời gian ấy, cảnh ấy… sinh tình xiết bao. Họ không chỉ nói với nhau lời vàng đá, mà còn thảo ra lời vàng đá, rồi cùng nhau thề thốt đinh ninh “hai mặt một lời” với bầu xanh cao vòi vọi.


Lần đầu gặp nhau “trong tiết tháng ba”, “Vương Quan quen mặt ra chào”, còn “hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa”, ấy vậy mà Kim, Kiều đã đem lòng tương tư. Lần thứ hai gặp nhau nâng chén, hai bên đã lập tức bày tỏ nỗi niềm thầm kín trắc ẩn. Còn lần này thì họ đã vượt lên tất cả lệ luật của đạo giáo và của thời đại. Họ tự xe duyên bằng “tóc tơ căn vặn tấc lòng, trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”. Họ đâu cần ông tơ bà nguyệt. Chất “anh hùng ca” của tình yêu tự “giải phóng” là ở chỗ đó. Thúy Kiều đâu phải là cô gái “ngoan thảo” chịu chấp nhận “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Thúy Kiều là hiện thân của tư tưởng tự giải phóng khỏi ràng buộc lễ nghi phong kiến. Đó chính là tư tưởng của Nguyễn Du, tình yêu của Nguyễn Du, đối với một tầng lớp nhân dân bị đè nén và ràng buộc bởi tư tưởng phong kiến, đạo giáo phong kiến, và lề luật phong kiến, tới mức thống khổ.


Nếu như “tiên tửu” là một cách uống đẹp, thì cuộc rượu “tiên thề” của chàng Kim và nàng Kiều cũng là một cách uống đẹp (tôi gọi là “tình tửu” hay “đôi lứa tửu”) - “Chén hà” là chén ngọc nhuốm ráng chiều, rực lên. “Quỳnh tương” là rượu quý. Chén quý không thể rót rượu xoàng. Rượu quý không thể uống chén xoàng. Chén và rượu phải “sánh giọng” với nhau. “Dải là hương lộn” là những dải lụa ở trong thư phòng đều có tẩm mùi trầm hương bay lộn lên mà thấm vào. “Bình gương bóng lồng”. “Bình” là bức bình phong trong thư phòng. “Gương” là tấm gương soi gắn trên bình phong. “Bình gương bóng lồng” là bóng hai người lồng vào nhau trong tấm gương soi trên bức bình phong. Thiết nghĩ, chỉ với hai câu lục bát, thì không thể nào còn có thể tả hay hơn và đẹp hơn về cảnh đôi lứa nâng ly thề nguyền được nữa!


Hơn 10 năm trước đây, Hồ Tĩnh Tâm cho biết, khi cùng Hoàng Dân viết cuốn Luận về Truyện Kiều (NXB Thanh Niên, 2002), chúng tôi, không hiểu sao lại bỏ qua vấn đề rượu trong Truyện Kiều rất thú vị này?! Nay mới được dịp dư dả thời gian, lại được sự khuyến khích của mấy ông bạn thơ, bạn rượu, chuyên chú vào chỉ một đề tài ấy, chúng tôi mới để tâm đọc kỹ lại Nguyễn Du - Truyện Kiều để cho bài khảo luận này. Tất nhiên thơ cụ Nguyễn Tiên Điền thuộc loại thi ca kinh điển Việt Nam: mênh mông, siêu uẩn, càng đọc càng hay, càng nghĩ càng ngợp, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu. Tài lực chúng tôi chỉ mong manh hạt bụi, nên đành biết đâu nói đấy, bạo gan đánh trống qua cửa nhà sấm, không khỏi khiến các bậc thức giả, các nhà Kiều học, các tửu đồ, thi nhân bốn phương chê cười… thì cũng đành cam chịu tiếng hàm hồ, con oanh học nói… chứ còn biết làm sao cho thỏa tấm lòng yêu kính Tố Như tiên sinh được đây!


Người biên soạn công trình này cho biết: Tổng số câu thơ/ lần trong Truyện Kiều nói về rượu và uống rượu là 28/28 trong tổng số 3254 câu thơ, (khoảng 2,9%); trải dài suốt quá trình phát triển của cốt truyện từ đầu (gia thế - gia biến - lưu lạc - đoàn viên) đến cuối. Nếu so sánh với các truyện Nôm hữu danh và khuyết danh khác, các văn tế, khúc ngâm thời trung đại ở Việt Nam thì Truyện Kiều có tổng số lần/ câu nói về rượu - uống rượu nhiều nhất, phong phú nhất.


Sau đây là thứ tự câu, ngữ cảnh nói đến rượu - uống rượu trong Truyện Kiều và hoàn cảnh xuất hiện (bản của Đào Duy Anh, NXB Văn học, 1979), theo trình tự cốt truyện:


 




















































































































































































Lần thứ



Thứ tự câu



Ngữ cảnh



Hoàn cảnh xuất hiện



1



424



Đủ điều trung khúc ân cần


Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng.


Ngày vui ngắn chẳng đầy gang



Kiều - Kim gặp gỡ tại nhà trọ của Kim.



2



454



Chén hà sánh giọng quỳnh tương


Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng.



Kiều - Kim cùng uống rượu sau lễ thề nguyền dưới trăng.



3



701



Thề hoa chưa ráo chén vàng


Lỗi thề, thôi đã phụ phàng với hoa.



Kiều ngồi một mình trong đêm, sau quyết định bán mình chuộc cha.



4



727



Kể từ khi gặp chàng Kim


Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.



Trong đêm trao duyên.



5



1039



Tưởng người dưới nguyệt chén đồng


Tin sương luống hãy rày trông mai chờ.



Tâm trạng Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.



6



1230



Biết bao bướm lả ong lơi


Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.



Cuộc sống của Kiều sau khi nàng buộc phải nhận tiếp khách.



7



1233



Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,


Giật mình, mình lại thương mình, xót xa!



Kiều một mình trong đêm tàn tại lầu xanh của Tú Bà.



8



1295



Khi gió gác, khi trăng sân,


Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.



Kiều - Thúc tại lầu xanh của Tú Bà.



9



1473



Mảng vui rượu sớm, cờ trưa


Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh.



Cuộc sống Kiều - Thúc tại nhà riêng ở Lâm Tri.



10



1499



Tiễn đưa một chén quan hà


Xuân đình thoắt đã đổi ra Cao đình.



Kiều tiễn Thúc về thăm Hoạn Thư - vợ cả.



11



1504



Cầm tay dài ngắn thở than


Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời.



nt



12



1517



Chén đưa nhớ bữa hôm nay



nt



13



1518



Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau.



nt



14



1571



Tẩy trần vui chén thong dong


Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra.



Hoạn Thư mở tiệc mừng chồng về thăm.



15



1834



Tẩy trần, mượn chén giải phiền đêm thu.



Hoạn Thư - Thúc Sinh uống rượu, Kiều hầu rượu.



16



1835



Vợ chồng chén tạc chén thù



 



17



1836



Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.


Bắt khoan bắt nhặt đến lời


Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.


Sinh càng như dại như ngây.



Thúc Sinh vừa uống vừa khóc.


 



18



1840



Giọt dài giọt ngắn, chén đầy chén vơi


Ngảnh đi, chợt nói chợt cười.



Thúc cáo say, lảng ra.



19



1842



Cáo say, chàng đã tính bài lảng ra.


Tiểu thư vội thét: - Con Hoa!


Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn!


Sinh càng nát ruột tan hồn.



Thúc đành phải cạn chẽn nữa.


Hoạn lại bày tiếp trò chơi.



20



1846



Chén mời phải ngậm bồ hòn, ráo ngay!



 



21



 



Tiểu thư cười nói tỉnh say



 



22



1847


1848



Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.



 



23



2568



Bắt nàng thị yến dưới màn,


Dở say, lại ép cung đàn nhặt tâu



Hồ Tôn Hiến dở say, bắt Kiều đàn.



24



2590



Hạ công chén đã quá say


Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra.



Hồ Tôn Hiến quá say trong tiệc.



25



3061



Tàng tàng chén cúc dở say,


Đứng lên, Vân mới giãi bày một hai.



Tiệc đoàn viên ở nhà họ Vương.



26



3135



Động phòng dìu dặt chén mồi


Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.



Kiều - Kim uống rượu đêm động phòng.



27



3190



Thêm nến giá, nối hương bình


Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.



nt



28



3223



Khi chén rượu, khi cuộc cờ,


Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.



Cuộc sống của Kiều sau đêm đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ.



Cụ thể, trong Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy:


- 18/28 lần tả - kể trực tiếp cảnh uống, say rượu.


- 3/28 lần Kiều hồi ức nhớ lại cảnh uống rượu thề dưới trăng.


- 6/28 lần tả cuộc sống, sinh hoạt của các nhân vật, tả thời gian trôi.


- 3/28 lần tả uống rượu buổi chia ly (Kiều - Thúc).


- 3 lần tả uống rượu đoàn viên (Vân - Kiều - Kim).


- 14/28 lần tả tâm trạng nhân vật khi uống rượu, lúc say, lúc tỉnh.


Trong Truyện Kiều, Kiều uống rượu cùng Kim Trọng tất cả 7 lần. 2 lần trong đoạn đầu: gặp gỡ - thề bồi; 2 lần trong đêm đoàn viên - hội ngộ. Còn 3 lần trong thời gian gia biến - lưu lạc được Nguyễn Du tái hiện trong hồi ức của Kiều chỉ nhớ về lần uống thứ hai. Sau khi cùng chàng Kim quỳ bái dưới trăng: Tóc tơ căn vặn tấc lòng/ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương, thì đến cảnh: Chén hà sánh giọng quỳnh tương/ Giải là hương lộn, bình gương bóng lồng… sống lại trong trí nhớ của Kiều như vừa mới… đêm qua. Như vậy, thực tế Kiều - Kim đối ẩm có 4 lần. Giữa 2 lần đầu và 2 lần cuối cách nhau dằng dặc một khoảng thời gian 15 năm.


Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nguyễn Khuyến với bao tâm trạng khi phải cáo quan về quê nhà sống cuộc đời thanh đạm, cũng mượn rượu để giải khuây đầy vơi tâm sự. Chúng tôi xin dẫn một số đoạn trích và một vài bài thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến.


Trổ tài muốn học ông say,


Thì ba trăm chén dốc ngay cạn bầu.


Khi Dương Khuê mất, tất cả dường như đã chấm dứt với cụ Yên Đổ:


Bác Dương thôi đã thôi rồi


Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta


Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước


Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau


…Có khi từng gác cheo leo


Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang


Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp


Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân


Có khi bàn soạn câu văn


Biết bao đông bích điển phần trước sau


…Ai chẳng biết chán đời là phải


Sao vội vàng đã mải lên tiên


Rượu ngon không có bạn hiền


Không mua không phải không tiền không mua.


 


RƯỢU


 


Trời sinh ăn uống đã thành quen,


Nghi Địch trời con đáng đặt tên!


Nghiêu, Thuấn trước không bài Tửu cáo,


Thương, Chu mới có tiệc Tân diên.


Ví cho men gạo dùng không tốt,


Sao ở văn chương tiếng vẫn truyền?


Nhìn lại bọn ta đâu vắng cả?


Đeo bầu chỉ có lão này tiên!


 


UỐNG RƯỢU MÙA THU


 


Năm gian nhà cỏ thấp le te,


Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.


Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,


Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.


Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,


Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.


Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy,


Độ năm ba chén đã say nhè.


 


UỐNG RƯỢU Ở VƯỜN BÙI


 


Túy ông ý chẳng say về rượu,


Say vì đâu nước thẳm với non cao.


Non lạnh ngắt, nước tuôn ào


Tôi với bác xưa nay cùng thích thế!


Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ,


Có người say rượu tiếng còn nay


Cho nên say, say khướt cả ngày,


Say mà chẳng biết rằng say ngã đùng


Chú Ba Nhân thuở trước sang sông,


Chỉ tỉnh rượu ba ngày không phải ít


Kêu gào thế cười chi cho mệt


Chớ buồn chi nghe tiếng hát làng say


Xin ngươi gắng cạn chén này.


 


CHƠI TÂY HỒ


 


Thuyền lan nhè nhẹ,


Một con chèo đủng đỉnh dạo hồ Tây.


Sóng dập dờn sắc nước lẫn chiều mây


Bát ngát nhẽ, ghẹo người du lãm


Yên thủy mang mang vô hạn cảm,


Ngư long tịch tịch thục đồng tâm.


Rượu lưng bầu mong mỏi bạn tri âm,


Xuân vắng vẻ biết cùng ai ngâm họa?


Gió hây hây nức mùi hương xạ,


Nhác trông lên vách phấn đã đôi bài.


Thơ ai xin họa một bài!


 


ĐẠI LÃO


 


Năm nay tớ đã bảy mươi tư,


Rằng lão, rằng quan tớ cũng ừ.


Lúc hứng, uống thêm dăm chén rượu,


Khi buồn ngâm láo một câu thơ.


Bạn già lớp trước nay còn mấy?


Chuyện cũ mười phần chín chẳng như.


Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,


Thử xem trời mãi thế này ư?


 


SAU KHI SAY


 


Năm chục xuân thu, nửa mẫu ao,


Trước song nằm khểnh thảnh thơi sao.


Bùn sâu, mặt nước sen che kín,


Gió cuốn, ven đường cỏ lướt theo.


Câu vặt chi cần người khác thưởng,


Cảnh nhàn chỉ có rượu thêm hào.


Xuân tàn, mắt lóa trông nào rõ,


Chỉ thấy lơ mơ ánh nắng chiều.


 


CHỪA RƯỢU


 


Những lúc say sưa cũng muốn chừa,


Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.


Hay ưa nên nỗi không chừa được


Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa.


(còn tiếp)


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện nhân thế đời thường, chuyện facebook - Triệu Xuân 04.12.2017
Thăng Long Hà Nội, ngàn năm Văn hiến (1010 – 2010) - Nguyễn Xuân Tư 02.12.2017
Quê mình Hà Nội – Văn viết cho tập Thơ: Kinh thành cổ tích - Nguyễn Nguyên Bẩy 02.12.2017
Về xứ Bốn Ngàn - Nguyễn Hồng Lam 27.11.2017
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
xem thêm »