tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20232541
Thơ
18.01.2017
Nguyễn Việt Chiến
Tổ quốc nhìn từ biển (2)



VỀ KHỔ ĐAU VÀ ĐẠI BÁC


Đại bác nổ và chiến tranh ụp xuống


Những mảnh vườn hôm trước nở đầy hoa


Bên ô cửa là cánh đồng lặng ướt


Tiếng trẻ con và khói những căn nhà


Đại bác nổ và mây đen cũng nổ


Trên ngói trường tan tác gió và chim


Có người lính vừa đi qua thành phố


Thuốc trên môi và trẻ nhỏ bên mình


 


 Đại bác nổ và tiểu liên đốn gục


Những chàng trai vui tính nhất sư đoàn


Trên môi họ nụ cười còn thoáng gặp


Cô gái nào chiều ấy đợi bên sông


 


 Đại bác nổ cuộc chiến tranh thứ nhất


Đất chiến hào cỏ chưa kịp nhú xanh


Thì lựu đạn và lưỡi lê cường tập


Lần thứ hai cỏ lại thấm máu mình


 


 Đại bác nổ giữa đại ngàn trận mạc


Người lính đi thăm thẳm một phương trời


Người vợ ấy đã bao năm thầm lặng


Sống vì anh nuôi đứa trẻ nên người


Đại bác nổ và pháo hoa thắng trận


Không làm cho tóc bạc những mẹ già


Xanh trở lại một thời xưa yên ấm


Tóc bạc người, Tổ quốc, đứa con xa


Họ sinh ra không phải để làm lính


Đứa con nào của mẹ cũng vậy thôi


Bởi sữa mẹ nghìn năm không giọt đắng


Và hoà bình là vú mẹ bên nôi


 


Sau đại bác lửa hoa cương trầm lặng


Cháy trên mồ người chiến sĩ vô danh


Rất có thể các anh là mây trắng


Nước của sông, ngọn gió sớm mai lành


 


Và đại bác xin cúi đầu tưởng nhớ


Những người con bất diệt đã quên mình


Vì xứ sở ngàn đời mây trắng


Vẫn ngàn đời bất diệt giữa cỏ xanh


 


CÁC ÔNG TIẾN SĨ Ở VĂN MIẾU


   Nửa đêm. Trên gác. Khuê Văn


Thoảng. Nghe có tiếng. Thơ ngâm. Lạ thường


   Giọng thơ. Đau đáu. Xót thương


Lại. Nghe có khúc. Đoạn trường. Sẻ chia


 


   Những con rùa. Đá cõng bia


Ngàn ông tiến sĩ. Vinh quy. Chốn này


   Nửa đêm. Ở. Miếu đường. Đây


Hình như. Có tiếng các thầy. Gọi nhau


 


   Mấy ông.Tiến sĩ. Bạc đầu


Lên. Khuê Văn Các. Cùng nhau. Chuyện trò


   Chuyện đất nước. Chuyện văn thơ


Chuyện hưng thịnh. Các triều vua. Xứ này


 


   Ngàn năm. Bao cuộc. Đổi thay


Mà Văn Miếu. Vẫn. Còn đây. Lạ kỳ


   Đêm nay. Vằng vặc. Đá bia


Khói hương. Đón. Các ông về. Dưới trăng


 


   Các ông. Theo trẻ. Dung dăng


Sờ. Đầu rùa đá. Chơi. Dăm ván cờ


   Sang. Nhà Thái học. Đọc thơ


Cả Quốc Tử Giám. Nằm. Mơ. Dưới trời


 


  Nhưng. Rồi lác đác. Sương rơi


Miếu Văn. Bỗng. Vắng bóng người. Lại qua


   Lặng yên. Bia đá. Trăng tà


Các ông. Đợi. Một tiếng gà. Sang canh


 


   Đợi lâu. Mới gặp. Mộng lành


Các ông. Liền hoá thân. Thành đá bia


   Công lao. Dân. Nước. Còn ghi


Ngàn năm. Bia đá. Nói gì. Mỗi đêm


 


TỔ QUỐC NHÌN TỪ BIỂN


Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển


Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa


Ngàn năm trước con theo cha xuống biển


Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa


 


Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc


Các con nằm thao thức phía Trường Sơn


Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả


Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn


 


Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển


Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng


Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa


Trong hồn người có ngọn sóng nào không


 


Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo


Lạc Long cha nay chưa thấy trở về


Lời cha dặn phải giữ từng thước đất


Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi


 


Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể


Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù


Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ


Thương Hòn Mê bão tố phía âm u


 


Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích


Những đau thương trận mạc đã qua rồi


Bao dáng núi còn mang hình goá phụ


Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi


 


Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm hoạ


Đã mười lần giặc đến tự biển Đông


Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử


Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng


 


Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo


Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn


Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy


Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân


 


Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả


Những chàng trai ra đảo đã quên mình


Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước *


Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh


 


Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát


Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời


Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất


Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi


___




* Mới đây người dân huyện đảo Lý Sơn đã tìm thấy một sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 cử dân binh ra canh giữ đảo Hoàng Sa.


 


Trại viết Văn nghệ Quân đội - Hạ Long, 4-2009


(còn tiếp)


Nguồn: Tổ quốc nhìn từ biển. Tập thơ của Nguyễn Việt Chiến. NXB Phụ nữ, 2015.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chùm thơ Phạm Sỹ Sáu - Phạm Sỹ Sáu 22.08.2017
Điểm danh đồng đội - Phạm Sỹ Sáu 21.08.2017
Muôn đời đã vậy, không quên! - Phạm Sỹ Sáu 21.08.2017
Tuyển tập Thơ Hoài Anh (3- tiếp & hết) - Hoài Anh 21.08.2017
Tuyển tập Thơ Hoài Anh (2) - Hoài Anh 21.08.2017
Tuyển tập Thơ Hoài Anh (1) - Hoài Anh 21.08.2017
Thành phố hoa phượng đỏ - Hải Như 17.08.2017
Ba bài thơ Hoàng Kim Vũ - Hoàng Kim Vũ 11.08.2017
Chùa Trấn Quốc - Nguyễn Quyết Thắng 09.08.2017
Tập thơ Kịch đời (3) - Nguyễn Lâm 08.08.2017
xem thêm »