tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18926047
Truyện ngắn
06.01.2017
Tchya Đái Đức Tuấn
Thần trùng

Nếu ông bảo tôi rằng không nên tin những sự dị đoan, tôi sẽ trả lời ông: không ở trong cảnh, không tài nào biết chắc được. Tôi cũng thừa biết văn minh ngày nay xu hướng về vật chất: những điểm chân lý nào mà cách trí loài người chưa tìm ra được nguyên nhân, thiên hạ đều cho là giả cả. Nhân loại chỉ mụốn đem triết lý và khoa học của vũ trụ; vấn đề nào chưa giải quyết được thì vẫn chưa tin là có, mà trái lại, còn muốn cãi, cho là không có nữa.


Cũng như ông. Ông mỉm cười nghe tôi nói đến chuyện ma, ông lắc đầu chê tôi tin bậy. Nếu ông là người Âu Mỹ, tôi không nói. Vì tín ngưỡng của ông là chỉ có cách trí mà thôi. Nhưng ông là người Á Đông, một người Á Đông  như tôi, đã từng học Liêu trai và Truyền kỳ mạn lục, đã từng nghe các cụ già kể những chuyện gớm ghê, đã từng thấy mấy ông đồng bà cốt xuyên chiếc lình dài qua cổ họng.


Ông bà cha mẹ ta để lại cho ta một tín ngưỡng mà cách trí Tây phương không tài  nào phá nổi. Hơn nữa, sự kinh nghiệm của ta cho ta biết ông bà ta không phải vô lý mà tin là có quỉ thần. Nếu ông ở chỗ rừng thiêng nước độc trở về, tôi chắc ông không có bộ mặt hí hởn, dửng dưng làm vậy.


Tôi, mắt tôi đã thấy, tai tôi đã nghe, mũi tôi đã ngửi… Tôi nói cho ông câu chuyên này, không phải tôi không biết gì về tinh thần học; chính đã vì một tờ báo tây, gần đây, kể một câu chuyện ly kỳ về ma quỉ, nên tôi mới dám, xin ông ngày hôm nay, cùng tôi bàn về một vấn đề quan trọng mà bốn năm nay tôi vẫn nghĩ canh cánh bên lòng.


… Độ ấy, tôi hăm mốt tuổi.


Mùa thu; trăng lên tròn vành vạnh, ánh sáng sữa giải lên mặt đất trông êm đềm nhẹ mắt, làm cho tạo hóa, đêm hôm rằm táhng chín đó, có vẻ lãnh đạm, buồn rầu. Ngọn gió heo may vù vù tung đám lá vàng tan tác, nó lướt mạnh trên mặt cỏ xanh thắm như một vị hung thần, đi đến đâu những cành lá non yếu phải cúi đầu chịu phép; những cánh hoa tàn phỉa lìa cây tơi tả bay theo…


Dưới bóng trăng thu, làng Cổ xuyên hình như co ro nằm ngủ, sợ tiết lạnh mới bắt đầu đi lại, đem theo ngọn gió may, mỗi khi tạt đến, làm cho lạnh buốt đến xương. Trăng ngày nay đã mất cái vui của trăng mùa hạ, gió ngày nay cũng không còn vẻ mát mẻ mà dân gian ưa thưởng thức, sau khi cặm cụi làm ăn dưới ánh nắng nồn nàn…


Đêm thu nó buồn làm sao!


Một vài ánh lửa le lói trong quãng không gian tịch mịch mà thỉnh thoảng vài con chó làm náo động, trong khi đứng sủa lên trời. Xào xạc lá rơi, tỉ tê dế khóc. Tiếng trùng dưới cỏ nghe đều như một khúc âm nhạc trầm mà thảm; tiếng trống trong điếm làng, như đàn vạc, xa xa, tỏa ra một dịp gợn làm náo động không trung, rồi dằng dặc hạ dần đi, mất trong bóng tối kẽ cây, hòa cùng ánh trăng, luồng gió…


Im lặng.


Thế mà trong nhà ai, bỗng không, muôn nghìn thứ tiếng inh ỏi, điếc tai, chạy vụt ra, xé tan tấm màn tịch mịch của đêm thu phủ trên giấc ngủ cánh đồng. Trống, phách, kẻng, chuông, lần lượt rủ nhau rung động, rồi tạo hóa tự nhiên như tỉnh dậy, những âm hồn phiêu diêu lẩn trong quãng tối hình như tụ nhau lại, nhởn nhơ đùa dưới bóng trăng rằm…


Bóng trăng vẫn xanh biếc một màu, gió heo vẫn âm thầm đuổi lá; khách qua đường chợt nghe hồi chuông bán dạ, không biết sao, tự nhiên thấy lạnh, phải rùng mình…


Trong một gian phòng rộng rãi, sáng choang, một cảng tượng lạ lùng khiến ta phải hãi hùng khi trông thấy. Cảnh tượng ấy nó không có gì đặc biệt, nó rất tầm thường nhưng lạ mắt, lạ tai. Giữa nhà, trên một chiếc bàn cao, ba chiếc mũ giấy mã to, lóng lánh những mặt kính, giấy trang kim và các bông hoa sặc sỡ. Hai ngọn nến lớn thắp hai bên, trên hai con hạc; ở giữa, một mâm đồng hoa quả đầy tràn. Tầng dưới, vài chiếc mũ con, một mâm xôi, một con gà, lư hương, đỉnh trầm và các đồ thất sự.


Dưới đất, trên một chiếc chiếu, một ông thầy cúng ngồi giữa một cái tráp và môt cái cối đá to. Bên kia chiếu, một anh đạo tràng ngồi ề a và gõ trống chuông inh ỏi. Giữa chiếu, ba tấm vải trắng giải hình chữ =. Trong hai gian phòng hai bên, thiên hạ ngồi xem đông đúc, chả khác gì một đám hội hè.


Tên đạo tràng tay gõ mõ, gõ khánh, mồm đọc bài thỉnh chư vị thánh thần. Giọng đọc “ồi a, ối a”, nghe dài dằng dặc như hôm trời mưa dầm và buồn thỉu buồn thiu như cơm nguội. Chỉ thoáng nghe Gia Cát Khổng Minh, Tề Thiên Đại Thánh, Phật Tổ Như lai, Quan Âm Bồ Tát. Trong lúc đạo tràng thỉnh thánh, pháp sư vẫn điềm nhiên ngồi vụốt râu mép, không nói năng gì. Khi thỉnh xong, ông từ từ đứng dậy, lấy vài nén hương cháy cầm trong tay, rồi bước vào giữa chiếu. Một tay ông bấm bản mệnh, một tay ông cầm bó hương vẽ bùa, ông theo luật bát quái lấy chân đạp các ngôi sao trên tấm vải giải hình chữ =; đi đến đâu ông vẽ bùa khoán đến đấy và mồm ông thì đọc chú lầm rầm.


Khi ông ở giữa chiếu bước ra, một người khăn áo chỉnh tề bỗng bước vào ngồi trên tấm vải giải dọc. Mặt người đó phủ một vuông nhiễu đỏ, tay trái người đó buộc một lá cờ đỏ và một quả chuông. Con đồng ấy vào ngồi chỉnh tề giữa chiếu, mắt nhìn thẳng vào chính giữa bàn thờ. Ông thầy lúc bấy giờ mới ngẩng nhìn con đồng, rồi hai tay ông vờn qua vờn lại trước mặt nó như một con sư tử vờn quả cầu đùa bỡn. Trong lúc ấy, nếu ta nhận kỹ, ta sẽ thấy ông ta tay trái thì cầm bản mệnh mà tay phải thì cầm một bó hương. Bấm bản mệnh nghĩa là tính đốt ngón tay lấy đốt chỉ tuổi con đồng, rồi ngón tay cái phải bấm chặt đốt ấy từ lúc bắt đầu phụ cho tới khi con đồng tỉnh hẳn mới được bỏ ra. Ông thầy nào nhãng ý quên bấm bản mệnh, có khi con đồng thiệt mạng hoặc xảy ra nhiều chuyện bất tường[1].


Pháp sư trợn mắt nhìn người ngồi đồng một cách dữ dội, hình như đem hết nghị lực của tinh thần ra để thôi miên người đó. Trong lúc ấy, ông ta vừa múa vừa đọc bài văn để đánh ngã đồng. Giọng đọc văn như giọng chầu bà chúa thượng ngàn, lơ lớ tiếng Mường, nghe lạ tai và hùng dũng. Mồm tuy đọc văn, nhưng tay thì chỉ vào mặt đồng, pháp sư hết sức chú ý thôi miên, vỗ tay và bắt ấn để bắt đồng phải ngã.


Mùi hương bát ngát, mùi hoa dịu dàng, giọng hát pháp sư lại khi khoan khi nhặt, con đồng bỗng đảo lia đảo lịa, còn ông thầy thì quì hẳn lên, bắt khoán mà hô rằng: “Đánh, đánh nữa! đánh nữa đi!” Một khắc sau, con đồng nằm thẳng cẳng trên chiếu, giẫy một lúc như người giẫy chết, rồi nằm yên như tượng gỗ cứng đờ. Nếu lúc đó, ta lại sờ người hắn, ta sẽ phải lấy làm lạ vì người hắn lạnh buốt và thân thể hắn cứng đét như xác chết đã ba ngày.


Con đồng vừa nằm xuống, pháp sư vội vàng chộp lấy ngực nó, rồi nâng cối đá lên mà cho nắm tay vào. Xong, ông đậy cối đá xuống, lấy hương khoán một đạo bùa lên trên. Trong cối đá, bây giờ, bảy phách của kẻ ngồi đồng bị bắt giam trong đó. Lúc nhốt phách rồi, pháp sư và đạo tràng lấy ba tấm vải hình chữ = bó con đồng lại như liệm người đi chôn. Bó rõ chặt, buộc rõ cứng, thiên hạ đem khiêng người chết giả đó bỏ xuống cái hố đất vuông mới đào, trên có phủ chiếu uốn cong như tùm hum. Thực chả khác gì khâm liệm một cái thây ma rồi đem đi chôn vậy.


Công việc yên ổn, pháp sư vào ngồi chễm chệ, đốt vàng tạ thánh, rồi bắt đầu sai đồng làm việc ở Âm ty. Bác đạo tràng lại phải ề à, ế a, ngồi hát nhăng hát cuội để ru hồn đi cho êm ái.


Con đồng nằm chết đứ đừ trong hố đất, thế mà chả biết tại sao ngọn cờ buộc ở tay nó bắt đầu phe phẩy nhịp nhàng. Đó là hiệu hồn của nó trong lúc đi đường, tìm mộ người mà pháp sư sai đến để hỏi chuyện.


Một tòa nhà to lớn xây giữa một thửa vườn rộng thênh thang bát ngát, nấp dưới mấy rặng cây cổ thụ um tùm. Cụ Tuần Quan an nhàn hưởng thú hoa sớm trăng khuya, kết quả của một cuộc đời bốn mươi năm nổi chìm trong hoạn hải. Ai đi qua làng Cổ Xuyên mà chả trông thấy tòa nhà to lớn đó, mà chả thấy mùi hoa hoàng lan bát ngát trộn với hương sen êm ả, ngọt ngào. Mùi hoa nó dẫu thơm xa cũng chửa thơm bằng danh tiếng cụ tuần lừng lẫy: một nhà trâm anh thế phiệt mà bốn mươi năm đời đã từng sinh xuất ra năm bảy vị đường quan. Mà vị nào cũng thanh liêm cương trực, thờ vua thờ nước hết lòng.


Ai có vào từ đường họ Quan mới thấy vẻ oai nghiêm của dòng họ đó. Trên mỗi một bàn thờ là một hòm sắc đỏ; ngoài ra, còn có tàn hồng, lọng tía, búa bạc, gươm vàng, vô số các kỷ vật mà những vị hoàng đế mấy triều đã ban cho để thưởng công giúp nước. Tuy danh giá thế mà cụ Tuần Quan rất ôn hòa, nhã nhặn; cụ đối dãi với họ hàng làng mạc, tịch không có vẻ gì tỏ là mình lấy tư cách một vị đường quan. Không khinh bỉ ai, không hà hiếp ai, cụ ở trong cảnh trí sĩ mà các quan phủ, huyện xa gần vẫn đến thăm nom, chả khác gì trong lúc còn đương chức.


Dân làng Cổ Xuyên kính trọng cụ lớn Tuần như một vị thánh sống; nghĩ cảnh cụ an nhàn sung sướng, ai mà không ước, không thèm? Thế mà cụ lớn đã mấy tháng nay, nét mặt lộ  vẻ âu sầu lo nghĩ, sứ bất hạnh của cậu Tú cả đã xoay trái hẳn đời cụ, và làm cho trong lúc tuổi già, cụ còn chịu trăm nghìn, muôn nỗi thương tâm! Cậu Tú Cả, húy danh Quan Cẩm Ngọc, biệt hiệu Tống Khanh, là một trang thiếu niên khôi ngô anh tuấn. Người đã đẹp lại thông minh; khi cậu còn tòng học tại trường Albert Sarraut, cậu thường được phần thưởng thứ nhất, cho tới khi cậu đỗ tú tài ban Triết lý, kết quả của hơn mười năm tập luyện chuyên cần.


Cụ tuần đã vui lòng tưởng phen này bông hoa quí của dòng nòi họ Quan sẽ thơm lừng trong làng mạc; cụ sắp muốn cho cậu sang du học bên Pháp để chiếm bằng Tiến sĩ Văn chương. Nào ngờ đâu ông Cao xanh nhiều khi hay ghẹo khách vinh hoa, mà số mệnh chẳng may vội bắt cậu Tú bỏ mặc cuộc trần ai để sớm lánh mình về cõi hạc.


Cụ Tuần Quan tuy lấy một thê năm bảy thiếp, nhưng cụ Tuần bà hiếm hoi chỉ có mỗi cậu Ngọc là con. Mười sáu lần cụ bà sinh đẻ, mười lăm cái thai hữu sinh vô dưỡng đã làm cho đời trai trẻ của cụ chịu nhiều phen khổ sở, đau sầu. Cụ từng nuốt đắng ngậm hờn, mãi đến ngày, sau khi cầu tự hết khắp đền khắp phủ, cụ sinh hạ được cậu Cẩm Ngọc mà ông Nam Tào không nỡ đoạt ngay của Cụ trong khi cậu mới lọt lòng. Nhưng một trai nào đủ nối dõi tông đường, cụ lớn tuần đã hết sức kén hầu mua thiếp. Lũ hấu non đẹp làm sao! Thế mà chúng nó vẫn cứ trơ trơ, chỉ riêng một chị ả Bích Lan, sinh hạ được một thằng em nhỏ. Thế là hết. Mấy cô tỳ thiếp tuy còn hơ hớ như bông hoa vừa tuần trổ nhị, cụ Tuần Quan đã một tuổi một già! Ôi! cái già!nó đem đến biết bao nhiêu nỗi khổ tâm, nhất là cho mộ kẻ mong mỏi một đời cái thú được đầy sân hòe quế! Giàu mà chi, danh giá nữa mà chi, nếu trong cảnh xuân tàn không có vài mụn con yêu để trút lại mối hi vọng của tương lai rực rỡ?


Trời cho cụ Tuần có hai mống con trai đẹp như hai hòn ngọc, cụ cũng vui lòng lạy tạ Hoàng thiên đã không nỡ dứt nồi của cụ; cụ gắng công nuôi cho chúng nó trưởng thành. Số cụ chỉ có bấy nhiêu, dù kén thêm hầu tốt, thiếp xuân cũng chả được ích gì mà thêm hại. Vì thế, cụ an phận nuôi cho hai con khôn lớn nào ngờ đâu nỗi mừng vui chỉ là một cái mồi mà hóa công đem rử cụ, cho cụ ăn rồi bắt cụ phải thương tâm.


Cậu Cẩm Ngọc, đương lúc trai trẻ, khỏe mạnh, bỗng dưng không bệnh tật gì, quay ngã lăn đùng ra chết. Cách hai ba tháng trước, một cô hầu non của cụ lớn, không may bị bệnh thới tiết, chết phải giờ trùng. Một cô hầu, chết thì đem… (mất mấy chữ)


 


*


“Bẩm hai cụ lớn, khi chúng con vào ngồi đồng thì thấy dần dần đầu váng nặng, rồi mê man đi. Hồn bấy giờ phiêu diêu thoát khỏi thân thể, bán âm bán dương, không thấy gì là rõ ràng. Một lúc, thấy mình đứng ở ngõ nhà, rồi có hai ông sứ giả 1 mặc áo vàng, người rất cao to, đẩy vào vai bảo đi. Đi thì biết đi, song không biết mặt ông sứ giả thế nào, chỉ cảm thấy hai ông ấy to lắm, cao lắm; thế mà muốn quay lại xem mặt thì cũng không thấy. Lúc ra đi, nhìn phong cảnh lờ mờ như dưới bóng trăng non, có nhiều người đi lại, gồng gánh ngang đường như ở trên dương thế. Họ đi nhẹ nhàng như chân không bén đất; muốn đứng lại nói chuyện với họ thì hai ông sứ giả cứ đẩy đi, mà muốn nắm lấy họ thì họ lọt tay mình như mây khói, không tài nào nắm được.


Chỉ thoáng xa xa bóng thướt tha, mỹ lệ của mười hai cô nàng rất xinh và ăn mặc rất yêu kiếu. Các cô nàng ăn mặc theo lối thượng du, quần áo sặc sỡ, đủ màu, trông đẹp mắt lắm. Đó là thập nhị tiên nương, đi trước đưa đường. Đạo của pháp sư đây là đạo “ Sơn trang”, thờ thần mường. Vì thế bao giờ cũng có mười hai cô nàng đưa lối.


Đi qua đồng, qua áng, có khi lặn suối, trèo non, có khi qua đền, qua phủ. Qua đền hoặc phủ thì phải đứng lại trình giấy má, một lúc mới được đi. Đi một hồi lâu, đến một nơi như thành thị. Dưới âm trông thấy nhà cửa, nhưng trên trần chính là bãi tha ma. Nhà cửa đó là mả của người chết. Có nhà to, nhà bé, nhà ngói, nhà gianh, có nhà cao to vững vàng, có nhà lụp xụp đổ nát. Nhà nào có vẻ đẹp đó là ngôi mộ ấy được hoặc người đó có con cháu thờ phụng, đốt mã cho luôn. Nhà nào trông tiều tụy, tức là con hồn không có ai thờ tự. Nhà nào lụp xụp vắng vẻ, không có người, tức là vong hồn đã đầu thai. Kẻ kia theo đạo Gia-tô thì thấy mặc toàn đồ trắng.


Bẩm, lúc ấy, con tìm được ngay nhà cô Châu và cậu Tú. Mười hai nàng đưa tới đó bỗng biến đi đâu mất; hai ông sứ giả thì đứng ngoài gọi cửa, đưa giấy xin vào. Đứng ở cửa ngó vào, một quang cảnh đau đớn, hãi hùng bỗng hiện ra trước mắt: cậu Tú, cô Châu đều bị lột trần truồng như nhộng và trói ghì cánh kỷ vào một cái cột lớn ở giữa nhà.


Trên giường, một người mặt mũi hung tợn và có một cái mỏ đỏ như chim. Người ấy thỉng thoảng lấy mỏ mổ vào bụng cậu Tú và cô Châu mà hét lớn:


Khai đi, còn gì nữa thì khai đi! Ngày nay là ngày ta báo thù cái dòng họ nhà ngươi đấy!


Mỗi một cái mổ như thế nghe chừng đau đớn lắm, vì thấy cô Châu khóc sướt mướt, lạy lục xin tha. Nhưng cậu Tú nhất định không khai, cứ hùng dũng bao cô rằng: “Khổ thì khổ, chị đừng khai, đừng làm tuyệt nòi họ Quan, chị phải kiên gan mới được!”


Nói thế thì người hung tợn lại đánh, lại mổ; mhưng sắp tra tấn bỗng sứ giả gọi cửa đưa giấy vào. Người hung tợn vội vàng ra, xem giấy rồi xua tay quát lớn:


Không được, không giấy má gì cả, con Châu và thằng ngọc là đầy tớ của ta, là kẻ thù của ta, ta bắt được thì có bao giờ lại thả! Không cho nói năng, đi lại gì cả với người thân thích nó! Đi về, đi về đi!


Sứ giả nghe nói, ôn tồn đáp rằng:


- Vẫn biết như vậy, nhưng đây là giấy sai của thánh, nếu ông không cho nói chuyện với hai vong hồn đó, thì ông cũng phải cắt nghĩa làm sao ông lại bắt hiếp người ta?


- Hiếp gì, bắt gì? Ta đây là thần trùng Hà quân Lộc! Năm mươi năm về trước, ta vào ăn trộm nhà họ Quan, bị ông tên Ngọc xuống tay cho một nhát đao, nhằm phải giờ tam xa mà chết. Ta chết đã được vào làng trùng, được cất lên làm thượng đẳng thần. Năm mươi năm nay, ta thề, ta nguyện, sẽ báo thù, báo oán, song nhà họ Quan vận còn thịnh lắm, ta chưa làm được như lời. Đã mười lăm phen, ta đầu thai báo hại họ Quan, mãi cho đến ngày nay ta thấy vận họ ấy đã hơi suy, ta mới tiện dịp bắt con thiếp này để làm mồi diệt cả dòng họ đó. Ta lại bắt được thằng Ngọc, chả bao lâu mà phục được tử thù!


Thôi, ông đi về đi, chúng nó là tù của ta, nói năng làm gì vô ích!


Nói xong, thần trùng vểnh mỏ cười ha hả, và xua đuổi sứ giả về, Sứ giả bất đắc dĩ phải thu giấy quay bắt con đi; con vừa sắp bước chân đi chợt nghe cậu ngọc trong nhà khóc hu hu lên mà nhắn với:


- Ông ơi! Ông có là người nhân đức, nói hộ phụ thân tôi kíp diệt lũ ác trùng này! Nếu không, cả họ Quan tôi hỏng mất! Ông làm ơn hộ, còn tôi, tôi quyết không khai!


Cậu Ngọc vừa nói xong, bị thần trùng mổ cho một cái vào bụng. Cậu kêu lên một tiếng rõ to, con sợ quá ù té chạy thì chợt ra bỗng thấy về nhà. Hồn lại nhập vào xác nhưng mệt quá cứ thiếp đi, vả chăng phách còn bị nhốt trong cối đá, không tài nào tỉnh lại được. Mãi lúc pháp sư đem bùa lại khoán, mở cho phách nhập vào thân thể, lúc bấy giờ con mới hồi dương.


“Bẩm lạy hai cụ lớn, thưa các ông các bà, cậu con chẳng may bị vào lưới hung thần, thế nào các cụ lớn cũng phải cúng cho cậu con và cho yểm trừ tà mới được. Đấy câu chuyện như thế, con xin hầu cụ lớn nghe”.


Khi trong nhà đưa ra một cái ảnh chụp toàn gia, bắt người ngối đồng tả hình dung cậu Tú và cô hầu, anh ta tả đều đúng cả; và trong cái ảnh chụp non sáu mươi người, không ngượng ngùng chút gì, anh ta chỉ đúng chỗ cô Châu và cậu Ngọc.


Cả nhà nghe xong khóc như mưa như gió, cụ Tuần lúc bấy giờ cũng tin là có quỉ thần.


Cụ Đề đốc, đẻ ra cụ lớn Tuần Quan, một đêm kia đương nằm đọc sách, bị một tên trộm vào nhà, cạy hòm xiểng lấy những đồ tế nhuyễn. Khi cụ dậy ra bắt nó, nó thấy thế nguy, đưa tay thước ra ngắm đầu cụ đánh xuống. Nhưng không may cho nó, cụ đã thủ sẵn một chiếc kiếm, gạt tay thước ra ngoài, rồi phi bộ lên đưa lưỡi kiếm sang trái, lùi lại một bước cho đủ thế rồi xông thẳng lên và đưa lưỡi kiếm vào giữa ngực quân gian.


Một ánh sáng lóe ra như chớp, tên ăn trộm bị đâm trúng mạng mỡ, quỵ phục xuống, giẫy một hồi, máu tuôn ra đầy nhà, rồi chết. Nó chết đúng giờ tam xa mà tên nó, sau này xét ra, là Hà Quân Lộc.


Chuyện ấy đã năm mươi năm nay, không ai còn nghĩ đến; giá không có quyển gia ký chép lại, ắt thiên hạ đều cho là một chuyện bịa đặt của con đồng. Nhưng xét ra, chuyện có căn nguyên, nên cụ Tuần kíp mượn pháp sư đặt lễ trừ trùng giúp cụ.


… Đã ba ngày hôm nay pháp sư lập đàn giải oan đoạn tuyệt, cầu cho oan hồn Hà Quân Lộc được tĩnh thổ siêu sinh. Nhưng thế cũng chưa đủ, tuy cúng nhưng cũng phải trừ trùng, vì giống thần ấy không phải là một giống biết điều phải trái. Phụ nó lên, nó ăn hết hai ba con gà sống, nó vùng vằng không chịu phép và nếu pháp sư không cao tay thì thế nào nó cũng đánh trả ông thầy. Đền bạc đền vàng nó không chịu lấy; vì thế nên pháp sư phải nghĩ một cách vẹn toàn: nghĩa là trừ nó.


Đêm hôm ấy là đêm 23 tháng chín. Trời tối đen như mực nên pháp sư đã rắp tâm cùng ông thấy Cả (tức là người ngồi đồng) ra bãi tha ma làm phép trừ trùng. Trước khi đi, pháp sư đã chôn sẵn bốn mươi tám đạo âm binh ở xung quanh nhà và ngoài ngõ, để giữ cho ác thần khỏi xâm phạm vào nhà.


Rồi ông thầy Cả và pháp sư, mỗi người phải dắt sẵn trong người một đạo bùa “độc cước”, tức là một đạo bùa gia truyền để phòng thân trong lúc hiểm nghèo. Nếu không có lá bùa ấy, mà không may phạm vào địa thế cúa ác thần, thế nào cũng bị nó vật chết tươi không cứu được nữa.


Có hai đạo bùa phòng thân ấy, pháp sư và ông thầy Cả ra nằm chực ở tha ma. Ông thầy thì phục ở mộ cô Châu mà pháp sư thì ở mộ cậu Tú. Đêm thu dế khóc tỉ tê, trùng kêu não ruột, trên trời không trăng không sao, một màu u ám. Đứng gần không rõ mặt nhau, đêm đã tối mà gió vàng lạnh ngắt, quãng đồng không mông quạnh lại càng ảm đạm, tiêu điều.


Lúc ấy độ gần nửa đêm, đồng hồ nhà thờ làng Cổ Xuyên vừa nặng nề điểm giữa không trung mười hai tiếng ngân nga trong quãng tối thì bỗng thấy trên hai ngôi mộ có lửa sáng lên như đốt bấc, rồi một con chim trắng như con vạc, to như con sếu, ở đường xa bay thẳng lại gần. Ánh sáng lờ mờ khiến trông rõ con chim ấy có mỏ dài và đỏ, lại có chân cũng đỏ như chân gà rừng. Nó bay trên cao một vòng như diều hâu, rồi chiếu thẳng chính giữa đỉnh mộ có vết lửa cháy làm hiệu, thẳng đầu mổ xuống như con bói cá, trong mộ lại có tiếng kêu la:


- Ối trời ôi! ối cha mẹ ôi!


Mổ xong con chim bay vụt lên, lượn vòng tròn rồi mổ xuống nữa. Cứ làm thế đến hai ba trận; pháp sư cùng ông thầy cả nằm đắp chiếu và giải cỏ đất lên trên để che lấp, vẫn nằm yên không động tĩng gì. Đêm vắng lạnh lại giữa bãi tha ma, ai tình cờ đi ngang qua gặp phải cảnh ấy cũng phải rú lên mà chạy.


Thế mà hai ông thầy phù thủy vẫn nằm yên không nhúc nhích, để đến khi chim đương hăng hái mổ mạnh thì hai ông vùng tung chiếu đứng lên. Rồi mỗi người một cái tay thước rõ to, cứ thế đập lấy đập để vào hai ngôi mộ.Vụt một cái, con chim bỗng biến đi đâu mất, mà lửa trên ngôi mộ thì tắt phụt đi ngay, lúc sờ lên chỉ thấy vẫn lạnh mà không nóng. Lúc bấy giờ trong mộ vẳng ra có tiếng cám ơn cứu mạng(!) mà một con chó đen bỗng rú lên một hồi rồi chạy vụt vào quãng tối xa xa…


Pháp sư vội kêu lũ người nhà nấp ở phía bờ đường; gia nhân bên thắp đuốc đèn và đem đồ thuổng cuốc đền. Một khắc sau, hai ngôi mộ bị đào quật lên, nắp quan hòm mở tung ra, để cho bùa vào yểm. Trông cậu Tú với cô Châu vẫn còn tươi như lúc sống, tuy đã chết hơn ba bốn tháng mà thịt chưa bị nát, bị tiêu. Duy một mùi hôi thối xông lên, ngửi vào lên đến tận đầu, không tài nào chịu nổi. Tuy vậy, pháp sư và ông thầy Cả vẫn thản nhiên như không ngửi thấy mùi hôi thối; mỗi người cầm một bó hương cháy khoán một đạo bùa lên hai thây chết trong hòm. Rồi pháp sư cầm một chiếc roi dâu, đánh vào hai tử thi ba cái. Đánh một cái, bỗng có tiếng kêu la rầm rĩ, đánh đến năm roi mới thấy im. Đánh rồi hai ông thầy niệm thần chú lầm rầm, vỗ tay bắt quyết vào mặt tử thi, rồi lần lượt quỳ đặt đầu gối lên sườn áo quan, cúi đầu xuống…


 Mỗi ông thầy mồm ngậm một đạo bùa trừ trùng sát quỉ, hai ông phải gục đầu vào mặt thây chết, lấy mồm mớm lá bùa vào. Vừa cúi xuống, hai thây chết há mồm ra, đớp lấy đạo bùa, rồi dần dần theo hai pháp sư ngồi dậy.Hai ông thầy thổi hai đạo bùa xong, bắt quyết đặt thây ma nằm xuống, rồi đứng dậy nhảy ra ngoài.


Không may cho ông thầy Cả, lúc vừa nhảy ra thì lá bùa hộ thân bị rơi vào thây chết; xác ả Tố châu thấy đạo bùa quí hóa ấy lăn vào môi thì vội đớp lấy nuốt đi. Liền lúc ấy, một con chó mực không biết từ đâu trong đáy mả nhảy ra chồm lên cắn ông thầy Cả. Chỉ trong chớp mắt, ông thầy ngã lăn trên đám cỏ, mồm phọt ra máu, bọt, chan hòa. Pháp sư hốt hoảng chưa kịp khoán gỡ cho trò, lúc cúi xuống chỉ kịp thấy ông thầy Cả thiêm thiếp đưa hồn theo Phật, Thánh. Sờ vào ngực, con tim hết chạy, mà chỉ trong một giây, người ông thầy đã như gỗ đá, cứng đờ.


Thì ra lá bùa hộ thân kia mới rơi ra, ông thầy Cả không kịp khoán để gỡ thân được nữa. Xác chết thấy có bùa cứu vội vàng chộp lấy 1mà ông thầy thì bị yếu thế đi ngay. Thần trùng tuy bị trừ nhưng vẫn còn lẩn quất ở tha ma, nhân được dịp vội báo thù ngay người đã diệt mình mà cứu dòng họ Quan là dòng họ của người cừu địch…


Thế là cụ Tuần Quan từ đấy bớt một điều lo lắng, mà ngoài sự thương cậu Ngọc thiệt đời niên thiếu, cụ không còn phải lo tuyệt giống tuyệt nòi. Cái sung sướng của cụ lớn đã làm cho pháp sư, vì vô ý một chút, mất một người trò giỏi.


…Bây giờ tôi đã kể xong câu chuyện, nếu ông bảo tôi rằng không nên tin những sự dị đoan, tôi sẽ trả lời ông: không được trông thấy đích xác như tôi, chớ nên cãi là không có. Vì câu chuyện này là một câu chuyện thực, những vật liệu tôi dùng để kể lại toàn là đích xác rõ ràng. Mà nếu ông muốn mắt được thấy, tai được nghe, tôi sẽ gần đây, kiếm một dịp cho ông được tỏ tường kinh nghiệm.


Câu chuyện ấy, ông xem, nó đã làm cho tôi, một người có tiếng là bạo gan, táo tợn, tôi sợ đến ba bốn tháng, không đêm nào quá tám giờ, tôi một mình dám bước ra vườn nũa. Nhưng về sau, khi tôi tin là có quỉ thần, tôi lại càng bạo hơn trước, vì tôi biết rằng, nếu ở đời ông cư xử chính đáng, ông đừng làm hại ai, thì dẫu có ác quỉ, ác thần, lương tâm ông trong sáng như gương, ma quỉ cũng không làm gì ông được…


Gốc của nền luân lý, nó ở đấy mà ra ông ạ. 


Tchya


Nguồn: Tiểu thuyết Thứ Bẩy, 1935.


www.trieuxuan.info


 








[1] Có khi quên bấm bản mệnh, hồn con đồng lạc mất, không về nhập vào xác, trong nghề gọi thế là “khê” đồng hay “cháy” đồng. 




1  Trong thôi miên học (Hypnotisme, science méstapsychique), gọi là “les guides”.




1 Chỉ có thây ma chết trùng thì mới hám lấy bùa trừ trùng như vậy; còn xác người chết thường thì không thế.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hai chị em/ Bức chân dung/ Nước mắt/ Bức phù điêu - Văn Biển 10.04.2017
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm - Văn Biển 10.04.2017
Nơi không có mùa đông - Triệu Văn Đồi 16.03.2017
Lẽ sống (Tên ban đầu: Con thằn lằn) - Vũ Hạnh 10.03.2017
Trích từ bản thảo "Que diêm thứ tám" - Văn Biển 09.03.2017
Trăng đầy thuyền và… - Văn Biển 01.03.2017
Chuyện cái bóng của tôi - Văn Biển 01.03.2017
Thằng Mõ - Lại Văn Long 18.02.2017
Chuyện Sủ Nhi - Nguyễn Ngọc Tư 31.01.2017
Bích Xu Ra - Thụy An 25.01.2017
xem thêm »