tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18926072
Truyện ngắn
06.01.2017
Tchya Đái Đức Tuấn
Tráng Sĩ Không Tên

Tặng Vũ Lang


Lê Vũ chạy đến đấy thì trời vừa tối hẳn.


Ngọn gió heo may vì vèo làm rung động bãi lau xào xạc; vài mảnh lá vàng lạt sạt rụng bay trênbãi cát mờ. Sương thu bắt đầu đã gieo nặng hột, một làn gió tạt qua, rồi một vẻ lạnh lẽo đìu hiu bỗng làm rung động tâm hồn người chạy nạn…


Lê Vũ dùng mình luôn mấy cái, đứng lại, run run… Chàng đưa tầm mắt chõ vào quãng tối mà nhìn, rồi hình như chắc rằng trong cánh đồng bát ngát mênh mông không còn ai đuổi theo mình nữa, chàng định thần ngồi xuống, duỗi chân, nghỉ ở bên đường…


Bốn bề tối đen như mực. Hôm ấy đúng ngày nguyệt kỵ, cuối tháng, trời ban đêm chỉ như một tấm màn mờ. Bãi đồng hoang dưới chân đồi, sao mà tẻ vắng đến thế! Không một người qua lại, không một tiếng mục đồng! Chỉ âm ỉ tiếng trùng dưới cỏ, tiếng bụi lau sạt sạt trên đồi… Lê Vũ giật mình kinh hãi…


Tựa như tưởng tượng có bóng người theo đuổi, chàng hốt nhiên nhỏm dậy, cắm đầu chạy thẳng một hơi. Một chiếc bóng lẻ loi chui vào quãng tối vô hình, vô tận…


Đánh nhau với bóng đen u ám, Lê Vũ vừa đi vừa chập choạng, dần dần mò tới một khu rừng. Đêm trường càng tối vắng, mà mấy bụi cây ven sườn núi, chịu làn gió heo may rung động, càng như than như khóc dì dầm. Chim rừng ăn khuya bỗng lên tiếng rúc kêu ảo não; muôn vàn bóng ma thiêng thú dữ như lượn vòng trong kẽ lá, cành cây… Lê Vũ nhủn người ra, sự sợ hãi của chàng gần lên đến cực điểm. Nhưng quan trọng hơn tai nạn bị ma trêu, cọp bắt, cái nạn bị pháp luật tóm được rồi đày đoạ xử tử, đối với chàng, còn đáng sợ hơn nhiều.


Vậy nên chàng cũng đánh liều, cắm đầu đi thẳng. Trong óc chàng lăn lộn biết bao nhiêu ý tưởng; giữa lúc bàng hoàng kinh khủng, chàng không tài nào quên được cái giờ, mà, vì ghen tức, chàng nhẫn tâm ám sát Tạ Phương Sinh.


Tạ phương Sinh, đối với chàng, là một ân nhân nghĩa hiệp. Bốn năm trường cửu giúp chàng khỏi buổi nghèo túng, chả khác gì Mạnh Thường Quân đối với một người thượng khách trong nhà. Tạ Phương Sinh không kể mình là một cậu “chiêu” con nhà thế phiệt, cũng không nghe lời gièm pha phỉ báng, cứ dung chàng: một người xuất thân đồ điếu, lấy tiếng tăm lừng lẫy là một tay bỡm bãi, gian hùng.


Trong bốn năm, chàng đã tưởng noi theo đường phải, cải tà qui chánh để nên trang hảo hán có phương danh. Nào ngờ trời cao xanh hay thử thách kẻ tà tâm, xui chàng được ngó thấy Quỳnh Anh nhạc nữ !...


Nghĩ đến đây, Lê Vũ thấy tâm thần như hăng hái, chàng rút gươm đứng múa một mình. Lưỡi gươm trong quãng âm u đáng lẽ theo màu trời đất mà đen kịt; chẳng biết tại vì sao nó bỗng lấp la lấp lánh, phản chiếu một ngọn đèn le lói tự quãng đồng xa. Lê Vũ tưởng lầm thanh bảo kiếm tự chiếu hào quang rực rỡ; thanh kiếm đó là một thanh mị hảo, bảo vật mà Phương Sinh đã tặng chàng. Ai ngờ đâu lại chính vì lưỡi gươm kia, Phương Sinh bị ám sát một cách đê hèn, vô lý!


Lê Vũ ngám lại thanh kiếm, thì không thấy hào quang đâu nữa; giơ múa lên, nó lại phản chiếu ánh đèn. Chàng bỗng tưởng tượng như oan hồn Phương Sinh theo chàng báo oán; chàng giật mình sợ hãi, tra gươm vào vỏ, cúi đầu lẳng lặng bước nhanh…


Đêm đã gần khuya, gió thổi mỗi giờ một lạnh. Lê Vũ cứ liều bước tới, thất thểu trên con đường gập ghềnh cao thấp, rẽ gai vạch lá mà đi. Bỗng chàng thấy nẻo xa leo lét ánh đèn, lòng chàng hồi hộp sợ, mừng; chàng tiến lại chỗ có đèn, trong lòng vơ vẩn không có định kiến gì, cứ tựa như một con muỗi lúc đêm khuya, thấy ánh sáng thì bay lại.


Một gian nhà lá kiên cố, rộng rãi, đứng chêng vênh trơ trọi dưới chân đèo. Xung quanh không một ai là láng giềng, hàng xóm, chỉ có khu rừng tiêu điều rậm rạp, và một khóm vầu hiu hắt mọc quanh nhà. Đứng dưới chân núi trông vào, thấy trong khe cửa chiếu ra một ánh đèn vàng lợt; lắng tai nghe kỹ, thì một điệu đàn huyền trầm bổng vẳng ra một cách não nùng.


Lê Vũ đánh bạo hú lên, không dám gọi, sợ có ma rừng ám ảnh. Hú lên ba làn tha thiết, chàng thấy tong nhà hé cửa, một cái đèn lồng chui ngưỡng cửa tiến ra. Lê Vũ đi lại chỗ có đèn; dưới ánh sáng lờ mờ, chàng nhận thấy một người lực sĩ. Người đó mặc áo quần lam lũ, nhưng trông vóc người mạnh mẽ, anh hùng. Hai con mắt sáng ngời phản chiếu ánh đèn lấp lánh.


Tráng sĩ cầm đèn bước tới, soi Lê Vũ từ đầu đến chân, rồi tươi cười, gạn hỏi:


- Quí khách từ đâu đi đến?


-Tiểu sinh là một kẻ chạy nạn lỡ đường, mong tráng sĩ rộng lòng cho tá túc một đêm, xin sẽ đền ơn sâu ấy.


- Chỉ hiềm nhà tranh vách đất, chật hẹp khó coi; nếu quí khách đã có lòng hạ cố, xin vui lòng mời quí khách vào! Có điều gì sơ suất, xin chớ đừng để tâm quở trách nhé!


Nhà tranh vách đất nhưng rộng rãi sạch trơn; rõ ràng theo câu tục ngữ: “Đói cho sạch, rách cho thơm”, trông rất nghiêm trang, thanh khiết. Trên tường, một tấm mộc treo về mé trái; ở giữa thì bàn thờ hương án; bên kia, một chiếc độc huyền nằm duỗi thẳng ở góc nhà. Mé trong chiếc đàn, một cái nỏ, trông rất vững bền, treo trên một đôi kiếm gác chéo lên nhau. Trang hoàng chỉ có thế, rõ ra con nhà võ sĩ. Nhưng khách ngồi lâu một chút, nếu ngoảnh cổ về sau lưng và trông kỹ vào phía trước mặt, ắt nhận rõ ngay, mập mờ trong bóng tối, mấy đôi liễn cổ đã rách nát còn lủng lẳng trên tường như cố giữ lấy di tích củ một thời dĩ vãng. Đến lúc vừng thái dương bắt đầu giọi sáng, khách nếu phải một người đã từng theo đôi nghiên bút, thì sẽ được biết, vì mấy đôi liễn đó, rằng chủ nhân là giọt máu rớt của một gia đình trâm anh, thế phiệt mấy đời đã sinh xuất ra biết bao là võ tướng, văn quan.


Chỉ vì cái sở thích của chủ nhân không ở chỗ ngồi phong lưu giữa chốn vào luồn ra cúi, nên đã thú tâm tuyền tịch mịch đã vội đổi ngay cậu công tử phong nhã, cháu quan Ngự sử, ra một anh chàng lực lưỡng quen thói đêm ngày vật lộn với chim muông.


Lê Vũ càng hiểu rõ dòng dõi và chí khí của tráng sĩ bao nhiêu, bấy nhiêu chàng mừng được một chỗ dung thân thú vị. Ngày ngày chàng thấy tráng sĩ vác đao, nỏ vào rừng săn bắn, rồi đem các vật săn được về nhà tự nấu lấy đồ ăn. Tráng sĩ ở một mình, tuyệt nhiên không vợ, không con, mà cũng không thấy tỏ ý buồn rầu vì một thân trơ trọi. Đêm ngồi rồi lại ôm đàn xuống gảy; như có trăng trong gió mát, thì ra sân tập múa kiếm, hát một mình. Lưỡi gươm lập lòe chiếu ánh sáng lợt xanh trông như muôn vàn mảnh kim cương lấp lánh; những mảnh kim cương ấy dần dần tụ lại, biến ra.


Tạt qua; khi mờ như một tấm màn sương rủ xuống. Chỉ thấy như một đóa bạch vân mập mờ trong bóng tối; giữa từng mây trăng ấy, làm náo hẳn không trung lặng lẽ, bỗng vẳng ra một điệu hùng ca.


Ca rằng:


   Kìa kìa bóng trăng hề, xế ngang đầu,


   Mảnh tình của ta hề, ta ngậm đau…


    Coi chết như về hề, ta vẫn sống


    Để chịu nhục nhã hề, đền ơn sâu.


   Vợ yêu của ta hề, nay đi đâu?


    Ta ngắm trăng xưa hề, lòng rầu rầu.


    Cực khổ cho ta hề, ta, tráng sĩ


    Múa gươm lịng trời hề, mà chịu sầu!


Lê Vũ nghe giọng ca, hùng hồn và ảo não, biết ngay trong linh hồn tráng sĩ, hẳn có sự gì uất ức mà căn nguyên chỉ ở chốn tình trường. Cũng như chàng, tráng sĩ hẳn đeo một mối tình tuyệt vọng; hoá nên nghĩ thân mình lại thương người chung hội; trong những buổi canh tà, gió lạnh, trong những đêm u ám má ngọn lau lạt sạt bên đồi, đối ngọn đèn mờ ngồi bàn chuyện cổ kim, Lê Vũ đã nhiều phen muốn đem tâm sự bấy lâu nay ẩn dật tận đáy lòng, cùng cảnh vật tiêu điều làm rung động tâm hồn tráng sĩ. Nhưng chàng lại thẹn không dám tỏ lòng cho bạn biết, chàng cố gượng gạo bốn năm lần không nói, nhưng một đêm, buồn quá, cầm lòng không đậu nữa, chàng thổn thức rỉ bên tai tráng sĩ duyên cớ bí mật đã xui chàng, một tháng trước, cầm thanh Mị hảo ấn vào cổ Phương Sinh…


- Cái đêm ấy, tôi được thấy Quỳnh Anh nhạc nữ! Ôi!Con người đẹp làm sao, tôi tả như thế nào cho xiết? Đôi bàn tay nàng tựa như làm bằng ngọc trắng, một thứ ngọc mềm mại, trắng hồng, khiến người có mắt biết xem, không tài nào không bị đắm say vì sắc.


“Không những thế, tráng sĩ ấy không những thế mà thôi đâu! Một khuôn mặt tuyệt vời lộ dưới làn tóc lòa xòa, đen nháy. Đôi con mắt sắc, mỗi một lúc liếc nghiêng sang trái, thì thực là một luồng gì, có mãnh lực như nam châm hút sắt, cùng  theo đồng tử lướt qua, kéo luôn gã khách si tình trôi luôn theo nữa. Rồi một cái mồm xinh xắn, ôi!Xiết bao là đẹp, là hồng! Rõ ràng một đóa hoa đào, lúc hàm tiếu lại lúc nở to, trông yêu kiều, mỹ lệ một cách phi thường, tuyệt diệu!Lại còn dáng người mềm mại như con rắn uốn khúc “Vàn hà” não nuột trong ống tiêu ép nhẹ trên môi!...


“Than ôi! Tôi không may không có phúc được làm chủ Quỳnh Anh, thực đã uổng công lo nghĩ! Hồi đó, tôi ở với Tạ Phương Sinh được bốn năm hai tháng. Tạ quân tiếp đãi tôi như một người thượng khách trong nhà. Tôi rầt được việc cho chàng, nên chàng cũng không tiếc gì của quý, tặng cho tôi thanh “Mị hảo” này đây. Lại cho tôi được quyền cai quản trong nhà, kể như thế, đối với tôi cũng là hậu lắm.


“Nhưng từ lúc nhác thấy Quỳnh Anh, lòng tôi bỗng dưng biến đổi; trông Tạ quân âu yếm người nhạc nữ, tôi đâm ra ghen tức kạ thường. Tôi cũng yêu Quỳnh Anh, tôi quá yêu Quỳnh Anh. Quỳnh Anh đã chiếm hẳn tâm hồn và thân thể tôi, tôi chỉ là cái xác biết cử động của một anh si tình ngây dại.


“Ba bốn phen, tôi ngỏ ý muốn cùng Quỳnh Anh kết duyên kim cải, Quỳnh Anh cứ cười không nói, lại mỉa mai tôi một cách rất ỡm ờ :


“-Tiên sinh nếu có phải Tạ quân, thiếp tôi xin thề trọn một đời sủng ái. Nhưng khốn nỗi trên đời chỉ có mỗi một Tạ quân, còn ai bằng Tạ quân nữa? Đẹp như Tạ quân, anh hùnh như Tạ quân, nghĩa hiệp như Tạ quân, tiên sinh thấy được bao người? Thiếp chỉ vì thế ma vứt bỏ chữ trinh, chữ tiết, theo hầu Tạ quân cho không uổng tiếng tài hoa…


“Mỗi một câu nói củ nàng, là một lời khiến tôi phải hầm hầm tức tối. Chả qua Phưong Sinh chỉ là một chàng võ sĩ, nhờ phúc nhà nên giàu có hơn người. Nay người đàn bà kia đã không muốn phụ chàng, chỉ còn cách giết chàng đi, ắt chiếm được tâm người tôi yêu quí.


“Tôi nghĩ thế trong hai tháng mà vẫn vùng vằng không quyết, tôi đội ơn Tạ quân quá nặng; nhất đán giết y đi thì tài nào khỏi mang tiếng bất nhân?


“Số mạng Tạ quân đã hết, nên khiến tôi một hôm, dưới ánh trăng rằm, được thấy tấm thân ngọc ngà của người tuyệt sắc… Quỳnh Anh gặp hôm trời quang trăng sáng, cởi tung xiêm áo, yêu kiều xuống tắm mát bên hồ.Tôi cưỡi ngựa đi qua, trông thấynàng như một cô tiên giáng thế. Làn tóc phất phơ đầu gió, nàng,vươn vai ưỡn ngực, hiến cho không gian một vẻ đẹp ngọc ngà.


“Người tôi bỗng nóng bừng, mắt tôi hoa lên, tôi định lại ôm nàng chạy trốn. Nhưng tôi đã biết trước rằng lòng nàng như sắt đá; nếu Phương Sinh còn sống, tôi không thể nào chiếm được quả tim nàng. Tôi bèn quay ngựa trở về, qua Vọng kiệt lâu đã thấy tắt đèn tối mịt. Vọng kiệt lâu là chỗ Phương Sinh thường nằm nghỉ, tôi buộc ngựa vào gốc liễu, xăm xăm bước nhẹ lên lầu.


“Trên tấm giường gỗ trắc đen, Tạ quân nằm ngủ say như tượng gỗ. Trong một khắc, lòng tôi không nỡ ám sát người quân tử, song nghĩ đến tấm hình hài lộng lẫy của Quỳnh Anh hiện còn ngâm dưới nước, tôi bỗng như mê man, ngây dại, không suy nghĩ nữa, rút ngay bảo kiếm, ấn sâu vào cổ Tạ quân…


“Không một tiếng kêu,không một lời nói. Phương Sinh chưa kịp mở mắt, chỉ nghe ằng ặc một lúc, giẫy giụa một hồi, rồi bóng tối lại êm ả phủ trên cái thây nằm duỗi thẳng trên lầu Vọng kiệt…


“Lúc ấy như một người mất trí, tôi vội vã chạy tuột xuống lầu, tra gươm vào vỏ, phóng ngựa ra hồ sen tìm kiếm Quỳnh Anh. Nàng ngồi hứng gió trên một cồn đá nhỏ. Mau như chớp, tôi xuống ngựa, quì dưới chân người yêu quí kể lể hết nguồn thương nỗi nhớ, tỏ cho nàng biết tôi vì nàng đã giết chết Tạ phuơng Sinh.


“Nàng nhìn tôi, sửng sốt, mặt tái như chàm đổ, lặng đi hồi lâu, rồi bỗng trừng mắt nhìn tôi, xỉa mặt tôi, sỉ mắng:


“- Mày ám sát Tạ quân? Mày đâm chết Tạ quân? Than ôi! Thằng khốn nạn kia, vong ân, bội nghĩa kia! Mày có biết đâu ta bởi yêu Tạ quân, bỏ chồng lần tới chốn này, ta còn mặt mũi nào bỏ Tạ quân mà đi theo mày nữa! Ta yêu Tạ quân đã bán rẻ chữ trinh, chữ tiết, vì Tạ quân đáng là người ta thờ, ta kính ; ta há nào vì mày, đồ tiểu cầu, mà quên bỏ Tạ lang ư? Thôi cút đi, đồ bạc như vôi, ác như sói, mày nỡ nào dúng tay vào máu người đã ra ơn cho mày trong suốt bốn năm trời! Đừng đứng đấy, bẩn chỗ ta ngồi nữa!”.


“ Mắng tôi xong, nàng vẫn còn hầm hầm tức tố; tôi cứ đứng ngây ra như tượng gỗ, không đủ sức lại ôm nàng giữ lại, trong nháy mắt, nàng đã gieo mình nhảy tõm xuống hồ sen! Tôi ngã gục xuống bên đường như người không gân cốt…”


“ Đến sáng mai, thiên hạ đều biết tôi đã làm nên tội lớn, cả một vùng An Thịnh nhao nhao toan bắt tôi xử án lăng trì. Vì ở đấy ai cũng yêu mến và kính phục Phương Sinh, ai cũng muốn vì chàng trả lại mối thù to tát ấy. Tôi túng thế, theo đường rừng chạy trốn tới đây. Tráng sĩ nếu biết cho, xin dung thứ cho một phen trót nhỡ…”.


Tráng sĩ ngồi lắng nghe câu chuyện, chỉ mỉm cười không nói; khi Lê Vũ kể xong, chàng vỗ vai Lê Vũ, nói rất ôn tồn :


- Người đừng sợ, đã có tôi, tôi xin đem người đi trốn.


Ngày hôm sau, khi đã lùng bắt tội nhân trong suốt một hạt An Thịnh, một đội quân trên huyện lỵ bỗng lần mò vào tới nhà tráng sĩ, hỏi dò tin người giết Tạ Phương Sinh. Tráng sĩ giấu kín Lê Vũ ở một nơi, rồi mời quan quân vào khám xét. Khi binh lính đã về yên ổn cả, tráng sĩ thu xếp hành lý, đeo một thanh gươm, giục Lê Vũ kịp lên đường.


Đi mười ngày đến địa hạt Lạng Sơn, giáp với nước Tàu. Hai người vào quán nghỉ chân; tráng sĩ sai làm cỗ rất linh đình, cùng Lê Vũ chén thù chén tạc. Ăn xong, hai người cùng đi sang biên giới.


Còn ba bốn dặm nữa, hai người sẽ tới quan ải. Tráng sĩ đương đi bỗng dừng lại, kéo áo Lê Vũ, rồi nắm chặt lấy tay chàng :


- Tôi tiễn túc hạ đến đây cũng đã là hậu lắm, bây giờ phải xin từ biệt. Nhưng trước khi cùng túc hạ chia tay, tôi phải cùng túc hạ tính toán cho xong công nợ. Không phải tôi dám kể công nuôi nấng túc hạ đâu, túc hạ đừng ngại! Nhưng tôi có một món nợ phải đòi mà túc hạ phải trả.


“Vì…vì tôi là chồng Quỳnh Anh nhạc nữ! Và hơn nữa, vì tôi là người thụ ân rất nặng của Tạ phương Sinh! Tôi là quản gia nhà họ Tạ năm năm về trước. Khi tôi đã ra đi, túc hạ mới đến, vì thế nên túc hạ không được biết rõ văn sinh này. Tôi, trước túc hạ, cũng được chủ yêu, chủ quí, chủ giao cho hết mọi việc trong nhà Tạ quân, vì cảm lòng nghĩa của tôi, cũng tặng một thanh gươm như đã cho túc hạ thanh gươm của túc hạ là thanh Mị hảo, nó là thư kiến, thanh của tôi là một thanh hùng kiếm, mà tên nó là kiệt thân. Đáng lẽ tôi hầu Tạ quân cho tới khi bạc đầu, nhắm mắt, nếu vợ tôi, Quỳnh Anh không vì cảm nghĩa khí và độ lượng của Tạ quân mà theo chàng! Tôi đội ơn Tạ thị quá nhiều, nhất đán không nỡ vì một người đàn bà mà nhẫn tâm giết một người ân chủ. Vì thế, tôi đành ngậm hờn ẩn thân vào nơi rừng xanh núi đỏ, làm lâm tuyền khách để sống cùng hươu vượn cho qua những thời khắc đau buồn…”.


“Nay túc hạ vì si tình đã giết cố chủ và làm chết cựu thê tôi, tôi há nào làm ngơ không trả thù cho được? Tôi không muốn để quan quân bắt được túc hạ, chỉ muốn thấy tay tôi, dùng thanh hùng kiếm ấn sâu gươm vào cổ túc hạ, như túc hạ đã ấn sâu thanh thư kiếm vào cổ họng Tạ ân nhân. Nếu linh hồn tiện nội và Tạ quân có thiêng liêng, ắt thế nào cũng theo đuổi túc hạ để trợ lực cho tôi báo oán”.


“Túc hạ chớ chạy, chạy đi đâu, mà chạy cũng không thoát, tôi là thần công lý kia mà! Nhưng tôi không muốn giết túc hạ một cách ám muội đê hèn, hiếp túc hạ mà trả thù ngay tức khắc. Tôi muốn cùng túc hạ đường hoàng thử sức, cho hai thanh “Thư, Hùng” được một phen xô xát lẫn nhau. Nếu khí vận túc hạ còn dài, nếu trời cao xanh muốn tha lỗi cho túc hạ, thì túc hạ sẽ giết được tôi. Lúc chết, dẫu chết vì tay túc hạ, tôi cũng sẽ tha lỗi cho túc hạ, lại chúc cho túc hạ sống yên vui nốt quãng đời thừa. Kể ra, tôi cũng rất muốn tha cho túc hạ, vì túc hạ đã hối hận mà thú tôi, tội thú rồi cũng giảm bớt đi nhiều. Nhưng bổn phận tôi bắt tôi phải trả thù cho chủ cũ, tôi không thể đẻ túc hạ trốn thoát, Tạ quân ôi! Lão gia có khôn thiêng xin chứng giám lòng thành của kẻ đã vì chịu ơn lão gia mà chịu khổ! Quỳnh Anh em ôi! Anh đã vì em tan hồn nát ruột, nhưng anh cũng vì em báo oán, cho hồn em cùng Tạ quân dưới chín suối được ngậm cười!


“ Nào! Lê túc hạ, xin túc hạ thủ thế, tôi xin cùng thúc hạ sống mãi một cách đường hoàng! Giữa bạch nhật thanh thiên, kẻ tiện tư này xin làm tròn bổn phận! Xin đánh!”.


Hai lưỡi gươm thư hùng sáng lòe, như một vừng bạch quang bay lượn trên cánh đồng bát ngát xanh rờn. Đám mây trên trời vẫn tan hợp vẽ hình vân cẩu…


Tchya Đái Đức Tuấn


Nguồn: Rút từ Tiểu thuyết Thứ Bẩy, 1935.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hai chị em/ Bức chân dung/ Nước mắt/ Bức phù điêu - Văn Biển 10.04.2017
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm - Văn Biển 10.04.2017
Nơi không có mùa đông - Triệu Văn Đồi 16.03.2017
Lẽ sống (Tên ban đầu: Con thằn lằn) - Vũ Hạnh 10.03.2017
Trích từ bản thảo "Que diêm thứ tám" - Văn Biển 09.03.2017
Trăng đầy thuyền và… - Văn Biển 01.03.2017
Chuyện cái bóng của tôi - Văn Biển 01.03.2017
Thằng Mõ - Lại Văn Long 18.02.2017
Chuyện Sủ Nhi - Nguyễn Ngọc Tư 31.01.2017
Bích Xu Ra - Thụy An 25.01.2017
xem thêm »