tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20550420
Tiểu thuyết
06.01.2017
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay

Báo Trung Bắc tân văn ngày xưa là tờ báo xuất bản hàng ngày tại Hà Nội, được coi là cơ quan tuyên truyền của thực dân Pháp. Nguyễn Văn Vĩnh quen thân với bọn quan cai trị Pháp như Crayssac,Veyrac và nhiều tên nữa, nên tha hồ vùng vẫy và kiếm tiền như hốt rác. Tuy nhiên năm 1915, hắn suýt bị Khải Định chém đầu. Năm ấy, giữa lúc cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914-1918 đang ác liệt, thực dân Pháp thua đậm, cần mộ thêm lính Việt Nam sang Pháp để làm bia đỡ đạn cho chúng. Chúng đưa Khải Định ra Hà Nội để lấy danh nghĩa ông vua Việt Nam khuyến khích nông dân đi lính cho Pháp. Khải Định đi tàu thủy từ Đà Nẵng ra Hải Phòng và từ Hải Phòng đi xe lửa riêng lên Hà Nội. Phải treo hai lá cờ: một lá cờ tam tài và một lá cờ vàng, trên ngọn cờ đính thêm một lá cờ con bé bằng bàn tay biểu trưng Việt Nam thuộc Pháp. Bọn quan Tây ra ga đón đều mặc áo đuôi tôm và mũ cao chỏm (haut de forine) và quần kẻ dọc, kiểu Mỹ và quần áo lễ phục ngày xưa; các mụ đầm đều mặc váy áo trắng, bên trong váy có cái đai to bằng vành đai nia, đầu đội mũ vườn (mũ vành rộng cắm nhiều hoa hồng) đeo chàng mạng trắng trùm mặt và găng tay trắng. Bọn quan lại ta, những anh to có đỗ đại khoa đều mặc phẩm phục: mũ cánh chuồn, áo cân đai, bối trỉ, đi hia, tay cầm hốt, bọn phủ huyện đều mặc áo thụng lam, đội khăn lượt xếp nếp, quần là ống sớ, chân giày ban (một thứ giày người Pháp thường dùng khi dự tiệc nhảy đầm). Nguyễn Văn Vĩnh lấy tư cách là nhà báo, mặc Âu phục, đeo cà vạt như một số phóng viên và chủ báo Pháp. Khi Khải Định vào đến ga, mọi người đứng thành hai dãy gọi là “hàng rào danh dự” chào đón. Khải Định lần lượt bắt tay từng anh tây mụ đầm, bọn quan lại ta thì quỳ sụp xuống đất, chắp hai tay giơ lên khỏi trán lạy chào. Riêng Nguyễn Văn Vĩnh đứng lẫn với bọn Tây nhà báo cũng giơ tay ra để bắt tay Khải Định. Bọn quan tùy tùng Khải Định liền hỏi: “Người này là thế nào?”. Vĩnh đáp: “Nhà báo”. Bọn quan lại hỏi: “Nhà báo là hàng quan phẩm trật thứ mấy?”. Một anh cố đạo bạn với Vĩnh đáp thay: “Nhà báo là dân thường, không phải là quan”. Viên quan tùy tùng bẻ luôn: “Anh là dân thường dám chen lấn vào đây bắt tay vua, như thế là phạm thượng, tội đáng xử tử”. Rồi viên quan ấy đòi giữ Vĩnh lại để đình nghị. Mấy anh Tây bạn với Vĩnh nói: “Nguyễn Văn Vĩnh là người An Nam ở Hà Nội thuộc quyền Pháp, chớ không phải dân bảo hộ”. Viên quan bẻ Vĩnh: “Dù là thuộc quyền Pháp nhưng anh là người An Nam, thấy đức vua phải sụp xuống lạy, chứ sao lại dám bắt tay nhà vua?”. Vĩnh đáp: “Vì đức vua ban ơn cho, chìa tay cho bắt tay nên tôi phải kính cẩn đáp lễ, nếu rụt tay lại là vô lễ”. Có mấy người Pháp giảng giải nên việc lôi thôi chấm dứt, dân Hà Nội đồn đại về việc này rất nhiều. Về sau này Nguyễn Văn Vĩnh viết luôn mấy bài đăng trên mục xã thuyết của Trung Bắc tân văn, chủ trương thuyết trực trị, gây thành cuộc bút chiến với Phạm Quỳnh, chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nam Phong.


Sau Đại chiến Thế giới lần thứ Nhất, Đức bị đại bại, các nước lập một hội gọi là hội Vạn quốc hay hội Quốc liên (Société des Nations) mục đích để ngăn ngừa chiến tranh. Những thuộc địa cũ của Đức đặt dưới quyền ủy nhiệm của hội Quốc liên, hội này giao cho một nước hội viên cai trị. Nhân dịp này hội Quốc liên kiểm soát luôn cả thuộc địa của các nước hội viên. Pháp không thể bưng bít mãi sự áp bức của chúng đối với dân thuộc địa, nên bọn thực dân làm ra vẻ “Dân chủ tượng trưng” để bịp bợm che mắt hội Quốc liên. Chúng cho phép mọi người Việt Nam được ra báo, nhưng với điều kiện là người muốn ra báo phải có nhà in, phải có tư sản và phải xin phép trước. Lúc bấy giờ Sơ-nay-đơ nhường hẳn hoàn toàn nhà in, nhà báo Trung Bắc tân văn, Đông dương tạp chí học báo cho Nguyễn Văn Vĩnh. Vĩnh liền rủ Bùi Xuân Thành bỏ vốn ra kinh doanh nhà in lấy tên là Vĩnh-Thành công ty. Khi biết tin Pháp cho các người khác ra báo, hắn vận động bọn công sứ đứng đầu các tỉnh đều là quen hoặc là bạn thân với hắn lấy tiền quỹ mua báo dài hạn cho công sở và còn bắt tổng lý các làng lấy tiền công quỹ của làng mua báo Trung Bắc tân văn với 16 đồng một năm. Vĩnh còn yêu cầu thực dân Pháp đặt chế độ kiểm duyệt các báo chữ Việt: những bài đăng báo phải dịch ra chữ Pháp đưa trình kiểm duyệt trước rồi mới được in. Mục đích của nó là làm cho những người ra báo phải chịu phí tổn nhiều và phát hành chậm, vì báo Trung Bắc tân văn của Vĩnh chỉ kiểm duyệt chiếu lệ, tuy đưa bài đi kiểm duyệt, nhưng ở nhà cứ in, các bài vở tin tức chỉ dịch tóm tắt ra chữ Pháp, không cần dịch đúng nguyên văn. Có một số tin hay bài không đưa kiểm duyệt, cứ đăng. Phòng kiểm duyệt đối với báo Trung Bắc tân văn chỉ xem lướt qua không xóa không bỏ câu nào chữ nào. Đối với các báo khác, nhân viên kiểm duyệt đọc rất kỹ, hay xóa mỗi chỗ một vài chữ hoặc cả câu cả dòng, có khi xóa cả từ cái ngoặc kép, ví dụ : “quan” toàn quyền Đông Dương, kiểm duyệt xóa hai dấu ngoặc kép ở chữ quan, và chữ Đông Dương chữa thành Đông Pháp. Khi bị kiểm duyệt xóa chữ nào dòng nào, nhà báo phải dồn cho kín không được để trắng[1]. Công việc này làm cho các tờ báo hàng ngày bị kiểm duyệt bỏ lam nham từng câu, từng chữ, từng dòng, có khi cả bài phải mất thì giờ, lên khuôn chậm, phát hành chậm. Riêng Trung Bắc tân văn không bị kiểm duyệt xóa bỏ bao giờ, dù có xóa bỏ, họ cứ in, ngày hôm sau, Vĩnh ra nói với anh Tây đầu tòa kiểm duyệt một câu là xong, chẳng lôi thôi gì. Còn các báo khác khi bị kiểm duyệt bỏ, nhà báo không bỏ hoặc bỏ sót là phòng kiểm duỵệt gửi công văn đến cảnh cáo, nhiều lần bị cảnh cáo, báo bị cấm xuất bản mấy ngày hay một vài tháng. Báo Trung Bắc tân văn tuy được nâng đỡ về đủ mọi phương diện, nhưng số lượng bán lẻ trong thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định không chạy, vì người mua lẻ họ ghét Vĩnh là anh thân Tây, nịnh Tây, hót Tây và đặt cho cái tên đặc biệt là “Nguyễn bán nước”.


Năm 1920, một bọn tư sản gồm Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu, Bùi Huy Tín, Trần Văn Quang, Phạm Châu Hưng, Mai Du Lân và một số người nữa lập ra một công ty kinh doanh buôn bán gọi là công ty thực nghiệm và mua máy in, chữ in, đá in bên Pháp mở một nhà in vừa in chữ chì, vừa in màu bằng đá. Nhân đó họ xin phép thực dân Pháp xuất bản một tờ báo hàng ngày lấy tên là Thực nghiệp dân báo. Nguyễn Hữu Thu đứng tên chủ nhiệm, Mai Du Lân làm quản lý, Trần Văn Quang (một anh Tây học) làm chủ bút, chỉ chuyên dịch tin chữ Pháp của hãng Reuter và các báo Pháp ra chữ Việt, không viết được xã thuyết. Những bài dịch của anh ta phải do cụ cử Mai Đăng Đệ xem lại, sửa chữa câu văn chữ Việt cho chính xác. Cụ cử Đệ là chú ruột ông Mai Du Lân được mời từ Thái Bình lên làm phó chủ bút chuyên viết xã thuyết, duyệt lại các bài của người khác viết và đọc các báo Trung Quốc xem có tin tức bài vở gì hay tài liệu gì hay thì dịch ra Việt văn. Hồi bấy giờ tin Trung Quốc thường phải dịch từ các báo chí Trung Quốc ra. Một mình cụ cử Đệ làm việc không xuể, sau mời được ông Nguyễn Nhân Trì, biệt hiệu Thu Sơn, con trai thứ ba cụ Nguyễn Tấn Cảnh và là cháu nội cụ Nguyễn Tư Giản, phụ thêm việc dịch tin Trung Hoa. Ông biết chữ Nho và chữ Pháp, nên khớp tin tức của hai loại chữ dịch ra chữ Việt, đỡ được việc cho cụ cử Đệ và ông Trần Văn Quang. Những tên người tên đất Trung Quốc, Pháp dịch âm ra theo tiếng Pháp, ông Thu Sơn phải đối chiếu với báo Trung Quốc dịch ra chữ Việt: Tôn Dật Tiên, Pháp dịch là Sun-yert-sen; Thượng Hải, Pháp dịch là Changhai và nhiều tên người tên đất khác, nếu không đối chiếu hai thứ chữ sẽ không hiểu gì, để nguyên chữ Pháp người đọc càng khó hiểu.


Bọn Nguyễn Hữu Thu chỉ muốn ra tờ báo để quảng cáo cho hãng tàu thủy của chúng và chủ trương về phương diện thực nghiệp, ít chú trọng đến tin tức, vì thế báo ra mấy tháng lỗ vốn phải nhường cả nhà in nhà báo cho ông Mai Du Lân. Ông Mai Du Lân nguyên là cán sự chuyên môn (Agent technique) tại sở công chính từ chức về làm quản lý tờ Thực nghiệp dân báo. Khi được Hội Thực nghiệp nhường nhà in nhà báo cho ông bằng cách hoàn vốn dần, ông liền chỉnh đốn lại tờ báo. Ông mời ông chú ruột là cụ cử Mai Đăng Đệ làm chủ bút, ông Thu Sơn chuyên việc dịch tin thế giới và tin Trung Hoa. Hồi bấy giờ nhân dân ta, nhất là dân Hà Nội vẫn trọng các bậc khoa bảng: cụ nghè, cụ bảng, cụ cử, cụ tú v.v… được nhiều người quý mến, ai cũng cho rằng tờ báo do các bậc nho học đứng chủ trương tòa soạn là tờ báo có văn chương có nghĩa lý, đọc báo còn học được nhiều điều hay. Do đó khi nghe tin cụ Mai Đăng Đệ đứng chủ trương tòa soạn, báo Thực nghiệp dân báo được nhiều người mua đọc, nhà báo phấn chấn, các nhà nho học sẵn lòng cộng tác. Hồi bấy giờ có ông Phạm Bùi Cầm ở Ninh Bình nhận làm cộng tác viên và phóng viên cho Thực nghiệp dân báo ở Ninh Bình. Ông ta lấy cuốn truyện dài Sóng hồ Ba Bể của con nuôi là Hoàng Phạm Trân đưa đăng trên Thực nghiệp dân báo và ký tên ông ta: tác giả Phạm Bùi Cầm. Về sau ông ta giới thiệu con nuôi với cụ cử Mai Đăng Đệ để đưa Hoàng Phạm Trân vào làm việc luôn trong tòa soạn chuyên viết xã thuyết và dịch các văn bài chữ Nho ra chữ Việt. Anh ta lấy tên hiệu là Nhượng Tống. Sau đó cụ cử Hà Huy Bổng mở hiệu thuốc ở phố Hàng Gai, cộng tác với Thực nghiệp dân báo chuyên chọn lựa các chuyện vặt trong Liêu trai chí dị đăng báo, rồi cụ Nguyễn Khắc Hanh dịch tiểu thuyết Bạch mẫu đơn đăng tiếp sau Liêu trai chí dị, rồi Nhượng Tống dịch tiểu thuyết Tùy Đường diễn nghĩa đăng tiếp. Vũ Đình Chí, bấy giờ cũng cộng tác với Thực nghiệp dân báo thường viết truyện khôi hài đăng trong mục “Hoạt kê trùng đàm”[2] ký tên “Ống viễn kính”. Sau này cụ cử Mai Đăng Đệ mời Vũ Đình Chí vào làm việc trong tòa soạn chuyên lấy tin vặt, viết phóng sự và tự đặt tên hiệu là Tam Lang. Nhiều người gửi đăng những truyện ngắn, hồi bấy giờ gọi là đoản thiên tiểu thuyết và một số truyện cổ tích nước ta. Tờ Thực nghiệp dân báo được chấn chỉnh, số báo bán lẻ được nhiều, các nhà buôn , các hiệu thuốc đăng quảng cáo nhiều, báo có lãi, ông Mai Du Lân liền mua máy in to, in một lúc cả hai trang, gọi là máy vừa in vừa trở. Ông thuê nhà số 83 phố Hàng Gai, dọn cả nhà in nhà báo về đấy. Nhà in bấy giờ cũng nhiều việc, các máy in báo cũ dùng cho nhà in. Hồi bấy giờ ông Trúc Khê Ngô Văn Triện, một nhà nho nghèo ở làng Thị Cấm tức làng Canh xin làm thợ đóng sách trong nhà in, thỉnh thoảng ông viết bài hoặc dịch văn cổ đưa đăng báo. Cụ cử Mai Đăng Đệ thấy ông là người có nho học khá liền mời vào làm việc trong tòa soạn. Bấy giờ Phan Trần Chúc làm giáo học ở Thái Bình, kiêm làm phóng viên chuyên săn tin ở Thái Bình cho Thực nghiệp dân báo, viết bài ký tên Nam Đài. Một lần anh ta viết một bài công kích anh công sứ Thái Bình, nó liền mở cuộc điều tra xem “Nam Đài là ai?”. Khi biết rõ là Phan Trần Chúc, nó liền hạ lệnh đuổi ra khỏi giáo giới Thái Bình, cụ cử Đệ liền mời vào làm việc trong tòa soạn báo Thực nghiệp.


Từ năm 1923 trở đi, các báo hàng ngày, hàng tuần,  nguyệt san xuất bản nhiều. Riêng báo hàng ngày có ba tờ là Trung Bắc tân văn, Thực nghiệm dân báoKhai hóa. Báo Khai hóa của Bạch Thái Bưởi giao cho ông Đặng Đức Tô, thường gọi là tú Tô làm chủ bút, Lê Văn Phúc chủ nhà in Đông Kinh ấn quán làm quản lý, cụ Á Nam Trần Tuấn Khải chuyên dịch tiểu thuyết Thủy hử đăng feuilleton và một số người giúp việc. Khai hóa ra được độ năm, sáu tháng bị lỗ vốn, Bạch Thái Bưởi nhường cả tờ báo cho ông tú Tô làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và quản lý vì Lê Văn Phúc không làm quản lý báo nữa, chỉ in thuê báo, cho tòa soạn và trị sự đặt bàn giấy tại nhà in số 82 phố Hàng Gai. Ông tú Tô chấn chỉnh lại tờ báo, được ít lâu, ông ốm rồi chết, thế là báo Khai hóa cũng chết theo.


Về phía đạo Gia-tô, họ ra tờ báo Trung hòa, tuần lễ xuất bản hai kỳ do một ông cố đạo người Pháp đứng làm chủ bút. Ông này thường viết xã thuyết ký tên là Đông Bích. Tòa soạn áo này có Nguyễn Thượng Huyền, Nguyễn Bích Giai, Đào Trinh Nhất và một số người xuất thân là thầy dòng. Báo mới ra được mấy tháng chuyên viết các tin tức như các báo khác và chú trọng đến tin Trung Hoa, vì hồi này tại Trung Quốc có những cuộc nội chiến kéo dài liên miên do bọn quân phiệt, mỗi anh chiếm cứ một phương luôn luôn đánh nhau. Tại vùng Hoa Bắc có Trương Tác Lâm; tại Hoa Trung có Phùng Ngọc Tường, Đoàn Kỳ Thụy, Diêm Tích Sơn, Trần Quýnh Minh; tại Hoa Nam có bọn Ngô Bội Phu và một số tên quân phiệt nữa. Riêng Long Vân chiếm hẳn tỉnh Vân Nam, rất thân với Pháp. Pháp muốn dựa vào Long Vân để lùng bắt các nhà yêu nước của ta hoạt động ở Vân Nam. Một lần Long Vân đau mắt nặng, chữa nhiều thuốc các nơi không khỏi, thực dân Pháp liền đưa bác sĩ Ca-do chuyên về khoa mắt sang chữa rất tận tâm ngót một tháng. Khỏi đau mắt, hắn cám ơn thực dân Pháp mãi. Do đó Pháp coi Vân Nam là một cái bình phong ngăn chắn miền Tây bắc Đông Dương cho chúng. Bộ hạ của Long Vân sau này là Hà Ứng Khâm, Lưu Hán và Tiêu Văn.


Cuộc nội chiến và nội biến Trung Hoa kéo dài liên miên hơn một thế kỷ khiến cả thế giới chú ý. Các báo Việt Nam xuất bản hồi bấy giờ chú trọng nhiều nhất đến thời cuộc Trung Hoa. Báo Trung hòa nhờ cánh nhà nho dịch nhiều tin tức Trung Hoa nên tờ báo được nhiều người đọc, tuy báo xuất bản tuần lễ có 2 kỳ. Khi thấy báo bán chạy, bọn cha cố xoay ra cổ động và tuyên truyền cho đạo Gia-tô. Họ đăng nhiều tin mê tín dị đoan về sự hiển linh của Đức bà và cổ động cho nhiều người theo đạo Gia- tô. Cánh nhà nho thấy thế rút lui hết, cử Huyền sang làm chủ bút tạp chí Hữu thanh, kéo Đoàn Trinh Nhất đi theo. Nguyễn Bính Giai sang làm báo Nam Phong, tòa soạn báo Trung hòa chỉ còn lại một số thầy dòng làm việc với ông cố đạo Đông Bích. Báo ít người đọc, dần dần đình bản.


     Ông Nguyễn Khắc Hiếu xuất bản An Nam tạp chí, vừa là chủ nhiệm vừa là chủ bút vừa là quản lý. Số đầu tiên ông đăng bài thơ tự giới thiệu, chúng tôi còn nhớ được 4 câu:


                             Một chiếc thuyền con bé tẻo teo


                             Cũng buồm cũng cột cũng dây lèo


                             Xông pha sóng gió ba khoang trống


                             Vùng vẫy non sông một mái chèo


Nhiều người mộ tiếng ông là một nhà thơ nôm cự phách hồi bấy giờ nên ủng hộ về đủ mọi phương diện. Ông biết tiếng ông Nguyễn Công Hoan là một nguồn truyện ngắn xã hội vô tận và ông cũng có quen biết ông Hoan thông qua ông Cả Dương - anh em họ ông Hoan - quê ở Bật[3]. Ông vào tận làng Bật hỏi thăm ông Cả Dương về chỗ ở ông Hoan vì ông Hoan chuyên viết truyện ngắn chửi cái tệ hại của thực dân Pháp ở các vùng nông thôn và các tỉnh nhỏ, nên chúng luôn luôn đổi ông đi dạy học các nơi xa. Khi được tin ông Hoan dạy học ở Lào Cai, ông Hiếu lóp ngóp lên tận Lào Cai mời ông Hoan viết truyện ngắn giúp An Nam tạp chí của ông. Ông Hoan sẵn lòng ủng hộ tờ báo của ông. Khi về, ông Hiếu viết một bài văn xuôi nhan đề “Một sự đi chơi Lào Cai”, ai cũng phải kêu là bài văn viết chướng quá. Ông Hiếu đối với mọi người rất cung kính lễ độ, nhưng ông có tính khắc khổ: về thơ ông yêu cầu thơ phải như thơ của ông ông mới nhận đăng báo. Người nào ở xa về chơi Hà Nội, ngủ lại nhà ông thật là bị tai vạ. Nửa đêm độ một hai giờ, ông thức dậy bắc hỏa lò và chảo lên giường vừa rán đậu, rán thịt nhắm rượu vừa làm thơ viết văn. Ông đánh thức ông khách dậy cùng ngồi đối ẩm với ông. Ông có câu thơ: Biết bao củi lửa mới thành văn, ai cũng phải khen là hợp tình hợp cảnh ông và hợp với cả câu tục ngữ “sôi kinh nấu sử”.


Ông Nguyễn Khắc Hiếu có tính khắc khổ và khó khăn nên tờ An Nam tạp chí của ông khô khan, tuy nhiều người mến ông, ủng hộ ông, nhưng chỉ có hạn thôi, một mình ông Nguyễn Công Hoan dạy học ở tỉnh xa không thể nào chèo chống cho con thuyền An Nam tạp chí khỏi bị tròng trành, do đó tờ báo chết đi sống lại mấy lần. Cuối cùng có ông Diệp Văn Kỳ, chủ nhiệm báo Tân thế kỷ ở Sài Gòn mời ông Hiếu “gánh”[4] tờ An Nam tạp chí vào Sài Gòn và xuất bản trong ấy, nhưng được mấy năm ông lại “gánh” ra. Năm 1936 ông chết ở Thái Hà ấp trong cảnh nghèo túng. Nhân dân Hà Nội, phúng viếng câu đối, vòng hoa và cả tiền bạc, đi đưa rất đông. Khi hạ huyệt nhiều bạn gái khóc sướt mướt. Thực dân Pháp sai Vi Văn Định khi ấy làm tổng đốc Hà Đông đem biếu gia đình ông một trăm đồng Đông Dương, nhưng nhiều người khuyên không nên nhận.


Ông Hiếu chết, tờ An Nam tạp chí cũng chết theo. Tiếp đó có báo Hữu Thanh xuất bản mỗi tháng hai kỳ, thoạt đầu do Nguyễn Thượng Huyền làm chủ bút, sau đó có bọn Nguyễn Mạnh Bổng lấy hiệu là Mân Châu, Nguyễn Thống hiệu Kính Đài và có một tên riêng nữa là anh Ấm Sứt vì anh ta trước có đỗ ấm sinh và bị tật sứt môi. Nguyễn Mạnh Bổng là em họ ông Nguyễn Khắc Hiếu. Anh ta cũng viết được văn, cũng viết được một số truyện ngắn, nhưng ông Hiếu không ưa, vì Bổng là một tên vô lại hay bịp bợm, lừa dối, người đọc báo đổi tên hiệu anh ta là Mân Châu, gọi là anh Sờ Bò. Do tính vô lại của anh ta, các báo chí ở Hà Nội không báo nào dám nhờ anh ta viết bài cả. Nếu báo nào cần thì thuê anh ta “viết chui”, nghĩa là viết bài đưa đến nhà báo rồi nhà báo ký tên lăng nhăng vào cuối bài, không dám cho anh ta đi lại tòa báo sợ độc giả biết họ tẩy chay báo.


Từ năm 1926 trở đi do tình hình chính trị trong nước sôi động nên báo hàng ngày, báo hàng tuần xuất bản nhiều, báo Trung Bắc tân văn của Nguyễn Văn Vĩnh càng ngày càng sụt xuống, chỉ sống nhờ bằng tiền viện trợ của thực dân Pháp. Hồi bấy giờ nghe tin cụ bảng Hoàng Tăng Bí bị thực dân Pháp bắt an trí ở Huế từ hồi Đông Kinh nghĩa thục được trả về Hà Nội, hai báo tranh nhau đến mời cụ viết xã thuyết giúp cho. Thực nghiệp dân báo do cụ cử Mai Đăng Đệ hiệu Trúc Sơn và ông Nguyễn Nhân Trì hiệu Thu Sơn đến nhà riêng mời. Trung Bắc tân văn do Nguyễn Văn Vĩnh và cụ cử Dương Bá Trạc đến mời. Trong khi cụ Bảng Bí còn phân vân chưa biết nên nhận giúp báo nào thì Nguyễn Văn Vĩnh kể lại tình xưa nghĩa cũ trong Đông Kinh nghĩa thục, cụ Bảng Bí vốn tính dễ dãi và chưa biết rõ tình hình của Vĩnh nên cụ nhận lời. Mỗi ngày cụ viết một bài xã thuyết đưa đến nhà báo. Cụ không đến làm việc trực tiếp. Trung Bắc tân văn khi ấy có nhiều nhà nho cự phách: cụ Hoàng Tăng Bí, cụ Dương Bá Trạc chuyên viết xã thuyết; cụ Nguyễn Đỗ Mục chuyên dịch tiểu thuyết cổ Trung Quốc và viết mục Hài đàm ký tên Nguyễn Văn Trôi; cụ Doãn Kế Thiện giữ mục Văn uyển và dịch truyện ngắn từ chữ Nho ra, cụ Doãn Kế Thiện thỉnh thoảng viết bài cho báo Thực Nghiệp ký tên là Ái Quần và Bất Ác; cụ Phan Kế Bính chuyên việc khảo cứu văn học đăng trên Đông Dương tạp chí. Tuy có nhiều cụ nhà nho giúp cho nhưng vì tiếng tăm của Nguyễn Văn Vĩnh không tốt, dân Hà Nội tẩy chay nhiều, nên báo Trung Bắc tân văn càng ngày càng tụt, nhà in cũng lỗ vốn. Người chung cổ phiếu với Nguyễn Văn Vĩnh là Bùi Xuân Thành rút vốn ra mở một nhà in riêng ở phố Bà Triệu nhà số 24 trước cửa đền Vũ Thạch hồi bấy giờ Pháp đặt tên là phố Gia Long. Bùi Xuân Thành cho con giai lớn là Bùi Xuân Học đứng tên ra tờ báo hàng ngày đặt tên là Hà Thành ngọ báo phát hành vào buổi trưa in trên hai trang chữ cỡ 8 bán giá một xu. Hồi bấy giờ các báo đều in 4 trang xuất bản buổi chiều bán giá 2 xu. Tờ Hà Thành ngọ báo định làm tới, vét hết độc giả của các báo hàng ngày nhưng không làm được vì Hà Thành ngọ báo in có hai trang, ngoài tin thế giới và tin vặt ra, không có bài vở gì khác cho người ta đọc và không có chỗ đăng quảng cáo là nguồn nuôi sống tờ báo hồi bấy giờ. Do đó, xuất bản được ít lâu, Bùi Xuân Thành phải chấn chỉnh lại nhà in và ra báo bốn trang xuất bản buổi chiều như các báo khác. Bùi Xuân Học nhờ Đỗ Văn trông nom nhà in, trình bày tờ Hà thành ngọ báo theo lối mới. Tòa soạn báo này hồi bấy giờ có cụ Nghiêm Xuân Lãm chuyên dịch tiểu thuyết cổ chữ Nho, Vũ Đình Chí lấy hiệu Tam Lang viết phóng sự, Nguyễn Đình Lạp chuyên lấy tin vặt, Phan Trần Chúc, Cao Bá Thao, sau có thêm Nguyễn Bá Nhoãn, Nguyễn Văn Tứ thường gọi là đội Tứ, Lê Văn Hòe, Thu Sơn, Nguyễn Nhân Trừ và em Học là Bùi Xuân Như. Bùi Xuân Học là một tên vô lại, ngu xuẩn, dốt nát, chỉ thạo lối ăn chơi, những người giúp việc trong tòa báo của hắn là vì nể bố hắn, nhưng được ít lâu người ta bực mình với hắn mà từ chức, do đó tòa soạn Hà thành ngọ báo luôn luôn thay đổi nhân viên. Sau Bùi Xuân Học còn ra thêm tờ tuần báo đặt tên là Loa, một loại báo có tính chất khiêu dâm. Bùi Xuân Học có một cô nhân tình bán hàng giải khát ở Bờ Hồ, địa điểm ở nhà vệ sinh công cộng phố Lê Thái Tổ bây giờ (hồi ấy có tên là phố Bô-săng). Chung quanh cửa hàng giải khát có nhiều cây mọc um tùm. Cô này mở hàng giải khát đặt tên là Ngọc Hồ, nhưng lại là một cô đĩ lậu. Tú Mỡ làm bài thơ chửi Bùi Xuân Học, nhân tình với cô đĩ lậu này, có câu:


                             Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn


                             Ngọc vết thương tình kẻ cố đeo.


Bài thơ này đăng trên báo Phong hóa trong khi báo này có cuộc bút chiến với báo Loa. Bùi Xuân Học còn bị người ta gọi là Bùi Xoắn Ốc (vì tóc hắn quăn) và Kinh Kông. Sở dĩ hắn có tên Kinh Kông là nhân một dịp sinh viên trường Cao đẳng tổ chức một đêm hát tại Nhà hát Lớn lấy tiền giúp dân bị lụt. Bùi Xuân Học múa tít ba toong xồng xộc vào, anh em gác cửa nhà hát đòi vé, hắn trỏ tay vào ngực nói tiếng Pháp: “Mais je suis quelqu’un” (nhưng tôi là ai đây). Hồi bấy giờ các rạp chiếu bóng đang chiếu cuốn phim “Con khỉ Kinh Kong”, thế là họ nói trại tiếng quelqu’un thành Kinh Kong để chế giễu Bùi Xuân Học.


Năm 1929, tờ báo Pháp France-Indochine của một anh thực dân Pháp xuất bản từ lâu cho ra tờ báo hàng ngày bằng chữ Việt lấy tên Đông Pháp. Anh chủ báo định giao cho Vũ Công Nghi đảm nhận công việc trị sự của tờ báo France-Indochine, nhưng ông Nghi còn đắn đo suy tính thì ông Ngô Văn Phú làm phóng viên cho báo France-Indochine đứng ra nhận ngay. Ông này có nhiều mánh khóe ranh vặt. Ông nhân lấy cớ tờ báo tổ chức tòa soạn lấy đám cháu ông là Ngô Vân vào làm việc dịch tin thế giới, Hoàng Hữu Huy làm chủ bút; Đỗ Trọng Mai làm phóng viên chuyên lấy tin tòa án; Ngô Văn Mậu lấy tin vặt sở Cẩm Hàng Trống, Hàng Đậu và sở Mật thám. Nguyễn Văn Dậu viết các bài vặt ký tên Thiết Hán và một nhân viên nữa ký tên Thạch Hồn. Khi tòa báo dọn về phố Hàng Gai có thêm Đỗ Trọng Quỳnh trước làm phóng viên cho Đông Pháp ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, thường viết phóng sự về me Tây ở Đáp Cầu, ký tên Bão Trang, sau này lấy tên hiệu là Hiền Nhân. Ông Nguyễn Khắc Hạnh chủ nhà in phố Hàng Mành dịch tiểu thuyết cổ Trung Quốc. Ông Ngô Văn Phú quen thân với một số công chức cao cấp ở phủ toàn quyền và phủ thống sứ, thường lấy được nhiều tin tức về việc thăng thưởng thuyên chuyển của các công chức các sở và các nghị định về các việc bỏ thầu, đăng lên báo Đông Pháp trước khi các tin tức và nghị định đăng Công báo, do đó câu được nhiều độc giả trong số các công chức các sở tại các thành phố, thị xã, các nhà buôn bán chuyên việc thầu đấu, các kỳ hào các làng các xã.


Cũng năm 1929, một người Pháp là Albert Lavalet, nguyên giám đốc sở Bưu điện Hà Nội về hưu, ra tờ báo chữ Việt lấy tên Đông Phương nhật báo, đặt trụ sở tòa báo ở số 65 phố Hàng Gai, in thuê ở một nhà in khác. Lavalet là con rể mụ Bé Tý phố Hàng Bạc. Mụ này là me Tây già, chồng về Tây để lại cho một món gia tài kếch sù, trên gác thờ điện vua mẫu, mỗi tháng hai tuần cầu cúng và lên đồng. Mụ nuôi một số con em gọi là con nuôi chuyên gả cho Tây, trong số đó có một cô tên là cô Nhung lấy lão Lavalet, nên mọi người gọi Lavalet là con rể mụ Bé Tý. Khi Lavalet ra tờ báo giao cho Trần Đức Tiến chủ sự nhà bưu điện Hà Nội hưu trí đứng làm quản lý và trông nom tờ báo. Nhưng báo ra được mấy tháng lỗ vốn, Trần Đức Tiến đến điều đình nhường cả tờ Đông Phương nhật báo cho ông Mai Du Lân. Hồi bấy giờ các báo hàng ngày đều xuất bản buổi chiều, ông Mai Du Lân nhận tờ Đông Phương nhật báo cho phát hành buổi sáng đăng những tin xảy ra buổi chiều hôm trước mà các báo không kịp đăng (vì các báo xuất bản buổi chiều, các bài vở tin tức phải đem kiểm duyệt, đến 11 giờ rưỡi trưa lấy về, hai giờ chiều lên khuôn chuẩn bị in để 5 giờ chiều phát hành). Đông Phương nhật báo hồi bấy giờ là tờ báo duy nhất xuất bản buổi sáng, nên chiếm được một số độc giả ở thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hà Đông. Ông Mai Du Lân mời ông Ngô Tất Tố viết cho mục “Câu chuyện hàng ngày”[5], là một thể văn châm biếm hài hước, nhiều bài vở tin tức ông lấy ở Thực nghiệp dân báo đăng Đông Phương nhật báo. Ông lại mở thêm mục Phụ nữ diễn đàn nêu câu khẩu hiệu “Mỗi khi vừng thái dương lấp ló đầu non, trên báo Đông Phương lại có tiếng oanh vàng thỏ thẻ”. Mục này chuyên viết về các vấn đề phụ nữ, dành cho người vợ lẽ của ông phụ trách. Người vợ lẽ này không nhớ tên là gì, nguyên là vợ góa một anh điền chủ ở Vĩnh Yên (nay là Vĩnh Phú), hồi bấy giờ mới trạc 35 tuổi, đã có mấy con vừa trai vừa gái. Mụ ở luôn trên thị xã Vĩnh Yên, có ngôi nhà hai tầng xây theo kiểu Âu, nền nhà lát đá hoa, có bộ sa lông kiểu mới, hai bộ bàn ghế mặt đá, sập gụ tủ chè, tủ gương đánh véc ni bóng lộn, xen giữa hai bộ sa lông có nhiều đôn sứ chậu sứ men Giang Tây rất lịch sự. Không rõ do ai làm mối mà bà ta chịu lấy lẽ ông Mai Du Lân và sẵn sàng bỏ vốn cho ông kinh doanh tờ báo Đông Phương để được tiếng là bà chủ báo. Những bài vở viết trên mục Phụ nữ diễn đàn cũng do ai viết ký tên bà ta vào. Ông Mai Du Lân lấy được bà vợ bé này rất thích nhưng không muốn ai phê bình mình. Một lần rạp hát Quảng Lạc đưa đăng quảng cáo một tích hát sắp diễn. Bản thảo do một người Sài Gòn đánh máy nhưng không có dấu: “MAI DU LAN doc chiem hoa khoi”, anh em thợ chữ sắp chữ cho dấu vào thành câu “ MAI DU LÂN độc chiếm hoa khôi”. Báo bấy giờ mới lên khuôn chưa in, ông Mai Du Lân đọc thấy quảng cáo ấy tưởng họ diễn tuồng nói xấu mình về việc lấy vợ lẽ, ông tức giận đùng đùng đòi nhà chữ bỏ quảng cáo ấy đi không đăng và ông còn dọa “Nếu đoàn Quảng Lạc diễn tích này ông sẽ đưa đơn ra tòa kiện danh giá”. Bấy giờ cụ cử Mai Đăng Đệ đương ngồi trong tòa soạn dịch một tin trong báo Trung Quốc (báo Hoa Tự) do anh em tùy phái vừa mở hòm thư ở bưu điện lấy về. Cụ nghe thấy chuyện ông Mai Du Lân đương nói ầm ĩ trong nhà chữ liền chạy ra xem và đòi xem bản thảo đánh máy của rạp Quảng Lạc. Xem xong, cụ cười ngất và giải thích: “Đây là người ta diễn tích Mai Du Lang độc chiếm hoa khôi, tức là chuyện anh chàng bán dầu lấy ả hoa khôi trong tập truyện ngắn Kim cổ kỳ quan, rồi cụ bảo nhà chữ chữa lại.


Câu chuyện này lọt ra ngoài đến tai bà vợ lẽ ông Mai Du Lân. Bà ta bỗng sinh ra khác tính, không dự gì vào công việc của tờ Đông Phương nhật báo nữa và cũng không bỏ thêm tiền để mua giấy in báo, thế là ít lâu báo Đông Phương phải đình bản vào cuối năm 1930. Báo vừa đình bản mấy tháng thì một anh đứng ra hứng lấy[6]. Anh này (xin giấu tên, người Quảng Nam) làm kế toán kiêm thủ quỹ của hiệu thuốc Vũ Đỗ Thìn, có tính háo danh và tưởng rằng làm báo sẽ bốc to. Anh ta có ít vốn liếng bỏ ra kinh doanh và in thuê tại nhà in ông Mai Du Lân. Mới ra được hơn một tháng thì anh ta hết vốn. Anh ta liền mượn tạm tiền quỹ của hiệu thuốc để mua giấy, hy vọng thu được tiền sẽ bù trả sau. Bất đồ ông chủ hiệu thuốc cũng cần tiền mua thuốc để bán, thấy quỹ trống rỗng liền phát đơn kiện anh ta về tội thụt két, thế là anh ta phải vào tù, báo Đông Phương lại đình bản.


Sang năm 1931, nạn kinh tế khủng hoảng lan đến Hà Nội, các báo đều bị ảnh hưởng. Cuối năm 1931, Thực nghiệp dân báo phải đình bản, báo Trung Bắc tân văn cũng đình bản rồi chuyển ra hàng tuần gọi là Trung Bắc chủ nhật. Báo xuất bản hàng ngày bấy giờ còn có hai tờ: Đông PhápHà thành ngọ báo. Hai tờ báo này cạnh tranh nhau về tin tức và bài vở, thế rồi Hà thành ngọ báo bị ngay hai vố kiện. Một vố do nhà ga xe lửa kiện về tin “nồi súp de nổ” ở ga Văn Điển. Chẳng rõ anh nào viết cho tin ấy Bùi Xuân Học vội vàng cho đăng ngay lên báo, không thẩm tra lại, rút cục tin ấy là tin láo. Anh giám đốc nhà ga liền phát đơn kiện. Vụ kiện thứ hai là báo Tiếng chuông sớm của sư cụ chùa Bà Đá Đỗ Văn Hỷ đứng nguyên đơn kiện Hà Thành ngọ báo đòi bồi thường danh giá, vì báo đã đăng những bài nói xấu sư cụ không có bằng chứng rõ rệt. Ông Đỗ Văn Hỷ tuy gọi là sư cụ nhưng hồi bấy giờ ông mới vào khoảng bốn mươi tuổi, đẹp giai khỏe mạnh. Ông là sư trụ trì chùa Bà Đá nên được mọi người gọi là sư cụ và rất kính trọng. Trong số các vãi đã quy chùa Bà Đá có bà Trưởng Thược ở phố Hàng Giấy rất mộ Phật và rất trọng tăng. Bà này hồi ấy vào khoảng 35 - 36 tuổi, góa chồng chuyên làm giàu bằng nghề cho vay lãi. Bà cho vay nhiều loại: loại vay năm, loại vay tháng và loại vay góp hàng ngày. Con nợ vay góp hàng ngày của bà đều là chị em tiểu thương ở chợ Đồng Xuân. Chiều chiều bà xách túi đi thu nợ, tối về bà ngồi trên cái nệm tốt bằng cỏ trải trên sập gụ, vừa lần tràng hạt vừa niệm Phật tụng kinh. Bà mộ Phật nên kính trọng sư cụ Đỗ Văn Hỷ. Bà giúp tiền cho sư cụ Đỗ Văn Hỷ đút lót cho bọn quan lớn trong triều đình Huế để được cái sắc phong là “Tăng Cương hòa thượng”. Khi tờ sắc đưa từ Huế ra Tòa đốc lý Hà Nội, sư cụ Đỗ Văn Hỷ tổ chức cuộc rước sắc rất long trọng: dẫn đầu là năm lá cờ thần, đến hội trống cả rung gồm sáu trống con và một trống cái, những người khiêng trống đánh trống đều mặc áo dạ đỏ nẹp xanh, đội nón sơn đỏ. Sau đội trống là cái long đình do bốn người khiêng, rồi đến đoàn bát âm vừa đi vừa gảy đàn, thổi sáo, kéo nhị, đánh trống, gõ phách,… tiếp đến cái võng điều hai người khiêng, trên võng sư cụ Đỗ Văn Hỷ mặc áo cà sa vóc vàng có đường nẹp vóc xanh, đội mũ Đường Tăng, tay cầm xích trượng. Đi theo võng là các vãi, các ông thầy cúng, cung văn, các ông bà phật tử. Sau khi rước sắc về nhà, sư cụ lập đàn trang tụng kinh niệm Phật, làm lễ phổ độ chúng sinh, cúng vái suốt năm ngày, mỗi ngày mấy chục mâm cỗ chay thết khách khứa. Những khách được mời đến dự lễ và thụ trai đều là các Phật tử, các vãi đã quy Phật, lẽ cố nhiên họ phải có lễ mừng: toàn bằng tiền kèm theo hương hoa quả phẩm.


Sư cụ Đỗ Văn Hỷ lại xin xuất bản tờ báo, mỗi tháng ra một số lấy tên là Tiếng chuông sớm. Tờ báo ấy được nhiều người mộ đạo Phật hoan nghênh, vì có nhiều trang phiên âm các kinh Phật ra chữ Việt. Thấy báo Tiếng chuông sớm được dân Hà Nội mua nhiều, Bùi Xuân Học liền nhờ một anh viết một loạt bài công kích Tiếng chuông sớm đăng trên Ngọ báo có mục đích là để những người thích báo Tiếng chuông sớm cũng phải đọc Ngọ báo của hắn, do đó gây thành một cuộc bút chiến rồi đi đến chỗ Ngọ báo bới móc đời tư của sư cụ Đỗ Văn Hỷ ra nói xấu. Sư cụ liền đưa ra tòa kiện. Bùi Xuân Học bị thua kiện phải chịu án phí, bồi thường danh giá cho sư cụ Đỗ Văn Hỷ và phải đăng một bài lên Ngọ báo xin lỗi sư cụ.


Năm 1932, báo Đông Phương lại được tái bản lần thứ ba do một nhóm người đứng ra làm. Nhóm đó gồm có anh em Hồ Khắc Quảng và Hồ Khắc Tráng[7], Phan Trần Chúc, Dật Công Phạm Tuấn Lâm và Ngô Tất Tố. Nhóm này không ai có tiền nhưng được Hồ Khắc Tráng vào huyện Hương Sơn thuộc Hà Tĩnh bảo một ông lái cau Nghệ bỏ tiền ra làm báo. Ông này tên là Võ Văn Sáu, các nhà buôn cau tại Hà Nội thường gọi ông là ông đồ Sáu. Ông ta là một nhà buôn kiêm địa chủ rất giàu và có tính háo danh. Hồi năm 1915, buôn cau từ Nghệ Tĩnh đem ra Hà Nội bán, thuê cái nhà số 50 phố Hàng Bè đặt tên hiệu Cự Khánh, đã bỏ nhiều tiền mua quốc trái của Pháp nên được thưởng hàm Hàn lâm cung phụng. Từ năm 1930 trở đi, đường xe lửa chạy suốt đến Huế, cau Huế đưa ra Hà Nội bán rất nhiều, cau to tốt giá rẻ, cau Nghệ không cạnh tranh nổi, lão Đồ Sáu phải nghỉ về quê ở. Hồ Khắc Tráng cũng người huyện Hương Sơn, quen biết ông này, rủ ông ra Hà Nội bỏ tiền làm báo để được tiếng là ông chủ báo, muốn xoay xở thầu đấu món gì với Pháp dễ được và chóng phất. Lão Đồ Sáu bùi tai, lại ra ở Hà Nội lần thứ hai. Lão bỏ tiền ra cho Hồ Khắc Tráng thuê cái nhà của mụ đầm Đờ-măng ở phố Henri d’Orléan, nay là phố Phùng Hưng, thuê báo Đông Phương và cả cái máy in to của ông Mai Du Lân đặt vào cái nhà mới thuê này. Hồ Khắc Quảng và Hồ Khắc Tráng làm cả việc tòa soạn và trị sự, riêng các ông Ngô Tất Tố, Dật Công Phạm Tuấn Lâm và Phan Trần Chúc chuyên viết bài. Việc sắp chữ thuê nhà in Long Quang ở phố Hàng Bông sắp và lên khuôn rồi xe khuôn chữ đến nhà báo để in. Họ phải thuê hai ông thợ máy in và hai ông tùy phái để chạy các việc và đem bài đi kiểm duyệt, lấy bản in của hãng thông tấn ARIP(Agence Radio-Indo-Pacifique). Báo ra được gần ba tháng, lão đồ Sáu chỉ thấy tiền chi ra thì nhanh và nhiều, tiên thu về thì chậm, lão không chịu bỏ tiền ra nữa, thế là báo Đông Phương lại đình bản lần thứ ba.


Sau đó ít lâu thì ông Nguyễn Văn Đa, một chủ hiệu buôn bán tạp phẩm bách hóa kiêm đại lý bưu điện ở phố Hàng Bồ ra tờ báo hàng ngày lấy tên là Phụ nữ thời đàm, mời Phan Trần Chúc vào làm tòa soạn. Phan Trần Chúc kéo ông Ngô Tất Tố vào làm với mình, do đó ông Ngô Tất Tố trở thành bạn nối khố với Phan Trần Chúc, về sau này những cuốn sách khảo cứu hay bình luận về lịch sử của Phan Trần Chúc viết cho các nhà xuất bản như Hàn Thuyên, Cộng Lực, Tân Dân đều do ông Ngô Tất Tố kê cứu tham khảo trong các sách nho cổ gà cho Phan Trần Chúc viết vì Phan Trần Chúc không biết chữ Hán, tiền nhuận bút chia đôi. Riêng ông Ngô Tất Tố chỉ viết cho nhà xuất bản Mai Lĩnh.


Tờ Phụ nữ thời đàm với tên gọi của nó là cổ động tuyên truyền giải phóng phụ nữ hồi bấy giờ. Chẳng biết cuộc tuyên truyền ấy có công hiệu gì không, chỉ biết rằng thiếu chút nữa cô con gái “rượu” của ông Nguyễn Văn Đa mất không với Phan Trần Chúc. Cô này tên Nguyễn Thị Xuyến năm ấy đã 25 tuổi chưa lấy chồng (hồi ấy con gái đến tuổi 25 chưa chồng bị coi là quá lứa lỡ thì), mê lời văn tán gái của Phan Trần Chúc, phải lòng anh ta tuy cô cũng biết anh ta đã có vợ có con. Hàng ngày cô mua quà cáp, thuốc lá, bồi dưỡng cho Phan Trần Chúc, ngoài ra còn tặng hắn mùi soa, ca-vát và nhiều thứ khác nữa. Phụ nữ thời đàm xuất bản được trên một năm, ông Nguyễn Văn Đa thấy không có lời lãi gì vả lại bất mãn về việc cô con gái ông đang muốn “tự do giải phóng” liền cho báo đình bản.


Phụ nữ thời đàm vừa đình bản thì tờ báo Tân Việt Nam của ông Trần Tấn Thọ xuất bản. Tòa báo đặt ở trên gác một ngôi nhà ở phố Lê Quý Đôn[8] nay là phố Lương Văn Can. Báo ra tuần lễ một kỳ in trên 4 trang giấy khổ rộng. Tòa soạn do Phan Trần Chúc chủ trương có sự cộng tác của ông Ngô Tất Tố, ông Trần Tấn Thọ cũng viết lấy được nhiều.


Năm 1931, ông Lương Ngọc Hiển ra tờ Nước Nam tuần báo cũng in trên 4 trang khổ rộng có nhiều bài nghiên cứu lịch sử do ông Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm chủ trương tòa soạn. Báo này được nhiều người hoan nghênh. Ông Lương Ngọc Hiển là con ông Lương Ngọc Quyến cháu nội cụ Lương Văn Can. Hồi ấy ông là người cao nhất Hà Nội (cao đến một thước tám), mở hiệu sách ở phố Hàng Gai, có nhiệt tình yêu nước như ông và cha mình, nên ông ra tờ báo có mục đích khai thác lịch sử để tuyên truyền trong nhân dân. Do cuộc Xô- viết Nghệ Tĩnh năm 1930 và các cuộc bãi công của công nhân làm trong các xí nghiệp của Pháp ở Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội và nhiều tỉnh khác, người dân Việt Nam có tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc nên rất tôn trọng kính mến các nhà yêu nước và ham biết lịch sử Việt Nam. Tờ Nước Nam tuần báo do nhà sử học Hoa Bằng chủ trương tòa soạn được nhiều người mua đọc.


Sau các cuộc khủng bố rất dã man bằng máy bay ném bom xuống Nghệ Tĩnh, Vĩnh Bảo, Cổ Am[9], Kiến An, thực dân Pháp tưởng rằng sẽ đàn áp được tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, nhưng không ngờ các cuộc biểu tình Cộng sản với cờ đỏ búa liềm vẫn luôn luôn xảy ra tại nhiều nơi, các chiến sĩ Cộng sản khi bị bắt đem ra tòa của thực dân, họ đều đồng thanh hát bài Quốc tế ca.


Đàn áp nhân dân ta bằng võ lực không được, thực dân Pháp bèn trợ cấp cho Nguyễn Tường Tam ra tờ báo Phong hóa để đầu độc thanh niên Việt Nam. Báo này bằng những bài và truyện khiêu dâm một cách lộ liễu gần giống như báo Phô trương (Tranfran) của Pháp. Tuy báo được một số thanh niên thích đọc, nhưng nhiều người phản đối và tẩy chay. Nguyễn Tường Tam liền đổi tên báo là Ngày nay, không dám đăng các bài và chuyện khiêu dâm quá lộ liễu nhưng xoay lối tuyên truyền để đầu độc nam nữ thanh niên. Họ khuyến khích phụ nữ nên cạo răng trắng, mặc quần trắng, rồi bỏ cái yếm cổ kính đi, đeo sú-chiêng để giải phóng đôi vú, bỏ quần trong, mặt si-líp, rồi đến bôi môi son, giũa móng tay sơn móng tay. Việc tuyên truyền của báo Ngày nay được các cô con nhà tư sản và tiểu tư sản nghe theo, thế là gây thành phong trào cải cách y phục phụ nữ. Họ tổ chức những cuộc thi gái đẹp, gọi là “bầu hoa hậu”, lấy những cô vú to, bụng lép, đít cong, chân dài làm mẫu người đẹp nhất. Bọn Nguyễn Tường Tam định gây phong trào “sống khoái lạc” (vicintégrale). Họ thuê một cái nhà có buồng rộng ở phố Quán Thánh, mỗi chiều thứ bảy và cả chủ nhật, bọn họ vào khoảng mười anh, mỗi anh đem theo một cô gái bao[10] đến nhà đó, rồi tất cả trai gái đều bỏ hết quần áo, sống trần truồng, họ ăn uống, hút thuốc phiện, đàn hát, khiêu vũ và giở trò “quần hôn” trước mặt nhau. Mục đích của báo Ngày nay là làm cho nam nữ thanh niên hồi bấy giờ bị sa ngã để sống say chết ngủ trong cuộc đời lãng mạn, nhạt dần tinh thần yêu nước chống Pháp. Họ chế giễu và gọi báo Nước Nam là tờ Nước Mắm, họ chế giễu cụ Nguyễn Văn Tố, một nhà sử học nổi tiếng, gọi cụ là “ông Tố tổ chấy”, vì cụ vẫn để búi tóc, mặc Nam phục, suốt đời không bao giờ đi xe kéo hay xích lô, đi làm toàn cuốc bộ từ phố Hàng Phèn xuống trường Viễn Đông Bác cổ ở phố Lý Thường Kiệt.


Với những tranh vẽ khôi hài, văn thơ trào phúng, báo Ngày nay hấp dẫn được số người khá đông. Chính báo này đã gây phong trào ra báo đặc san về Tết Nguyên đán thành nền nếp đến bây giờ. Trước kia, các báo hàng ngày và tạp chí không năm nào ra số đặc san về tết và nói chuyện tết, riêng báo hàng ngày số xuất bản cuối cùng rồi nghỉ tết phát hành chiều 29 tháng Chạp (tháng đủ) hoặc 28 tháng Chạp (tháng thiếu) in một cái hình thiếp gấp góc, phía trên bên trái có bốn chữ “Cung chúc tân niên”. Từ năm 1928, một số nhà xuất bản mỗi năm ra một cuốn sách, đặt tên là “Sách xem tết”; năm 1928 gọi là “Sách xem tết năm Mậu Thìn”. Nội dung sách có những truyện ngắn về tết, những bài nói về tục kiêng kỵ trong ngày tết của ta ngày xưa, một số văn thơ câu đối cổ về tết và cách xem ngày giờ xuất hành năm mới v.v…


Năm 1930, nhà in Trung Bắc tân văn ra cuốn niên lịch thông thư năm Canh Ngọ, hơn 300 trang khổ 13x19, ngoài bìa vẽ con long mã lẫn trong đám mây, nội dung có những ngày tốt ngày xấu, ngày kiêng kỵ, suốt cả năm Canh Ngọ; rồi đến những bài về số tử vi, cách so đôi tuổi, cách tính giờ sinh, cách tính giờ chết, cách lấy số tử vi, dạy đánh tổ tôm, một số bài về thường thức trong sinh hoạt và những trang quảng cáo của các nhà buôn, các hiệu thuốc. Loại niên lịch thông thư này ra được bốn năm, bốn cuốn, khi Nguyễn Văn Vĩnh chết thì thôi.


Tiếp đó, nhóm Tự lực Văn đoàn mỗi năm xuất bản một số báo “Ngày nay tết” có kèm theo một phụ bản in màu vẽ cảnh thiếu nữ đi lễ chùa, có năm vẽ cảnh thiếu nữ ngồi xem hoa. Những tranh ấy do các họa sĩ nổi tiếng vẽ nên được nhiều người ưa thích tuy lối in màu hồi bấy giờ còn thô sơ, chưa được tinh tế như ngày nay. Loại báo tết này được nhiều người hoan nghênh, vì có tờ tranh của một hoạ sĩ nổi tiếng dán treo trang trí trong nhà. Từ đó trở đi, các báo và tạp chí đua nhau ra báo tết về dịp cuối năm âm lịch, nhưng không có phụ bản tranh vẽ.


Thời gian này, ông Phan Chân Hưng ra tờ báo Nông công thương, mỗi tuần lễ xuất bản hai kỳ; ông Nguyễn Công Kiều ra tờ Khoa học tạp chí một tháng xuất bản hai kỳ. Trong hồi kinh tế khủng hoảng, những báo ra lâu năm như Trung Bắc tân văn sống ngắc ngoải; Thực nghiệp dân báoĐông Phương nhật báo đình bản hẳn, nhưng lại có nhiều tờ tuần báo xuất bản của những nhóm người ra báo cốt để đầu cơ giấy. Hồi kinh tế khủng hoảng, giấy của Pháp nhập vào bán không chạy, ngoài việc bán cho hàng mã, giấy bán cho nhà in nhà báo rất ít. Bọn buôn giấy của Pháp như hãng Cáp-pha (chúng xây nhà to ba tầng ở phố Nguyễn Trường Tộ ngày nay, chuyên việc buôn bán giấy), bọn buôn bán dụng cụ nhà in và giấy Maron Rosa; nhà in Viễn Đông vừa làm nghề in vừa buôn bán giấy sách đòi bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương phải nới việc ra báo ra sách để mở thêm con đường tiêu thụ giấy. Một mặt khác, bọn buôn giấy người Pháp thúc ép quan Pháp không đánh thuế nhập khẩu thứ giấy dùng vào việc in báo. Thứ giấy này có dấu riêng là khi soi lên thấy trong tờ giấy có một vạch kẻ trắng bóng, gọi là “vết nước” (papier à ligne d’eau) được miễn thuễ nhập khẩu, giá rất rẻ; còn những người muốn ra báo không bắt buộc phải có nhà in hay có tài sản gì đảm bảo như trước, hễ ai khéo vận động với tên chánh mật thám chính trị Marti trên phủ toàn quyền Pháp là ra được báo ngay. Họ ra báo chỉ in mấy trăm số, khi nộp lưu chiểu khai là in mấy nghìn số. Họ mua được nhiều loại giấy có “vết nước” bán cho những nhà chuyên nhuộm giấy màu để bán lại cho hàng mã. Khi thuế quan phát hiện ra việc buôn bán loại giấy này là phạt cho một “vố” rất nặng, mất hết vốn, thế là báo phải đình bản. Những người ra báo để đầu cơ giấy này toàn là in báo thuê tại các nhà in. Họ không có nhà in riêng, nhưng dưới trang tư tờ báo vẫn đề chữ “in tại nhà in riêng”. Hồi bấy giờ đương có nạn kinh tế khủng hoảng, nhiều nhà in không có việc, nhận in báo thuê, sẵn lòng để các ông xuất bản báo đầu cơ giấy, đề chữ “in tại nhà in riêng” như vậy để đề phòng khi báo phạm vào đường lối chính trị của thực dân Pháp bị tich thu, bị cấm, bị phạt, các chủ nhà in không bị liên can. Có một số nhà in vì không có việc hoặc ít việc nhận in báo thuê cho các ông đầu cơ giấy và sẵn lòng cho họ in chịu, sau khi bán được báo sẽ thanh toán. Khi báo họ bị đình bản là mất nợ. Riêng nhà in Lê Cường làm đạo chắc, hễ ai đến thuê in báo, anh chủ nhà in yêu cầu họ phải đặt một khoản tiền ký quỹ, để phòng khi báo của họ bị đình bản đã có số tiền ký quỹ bù vào. Ông chủ nhà in Tân Dân không nhận in thuê cho báo nào, ông chỉ in việc vặt và in sách xuất bản. Ông chủ nhà in ấy là Vũ Đình Long, nguyên là một nhà giáo và là tác giả hai vở kịch Chén thuốc độcTòa án lương tâm đã đăng trên Hữu thanh tạp chí được nhiều người hoan nghênh. Ông từ chức giáo học về mở nhà in và nhà xuất bản Tân Dân ở số 93 Hàng Bông. Trước hết ông xuất bản những truyện cổ Trung Quốc được nhiều người đương mê đọc hồi bấy giờ như Tam quốc, Thủy hử, Mạnh Lệ Quân, Song Phượng kỳ duyên, Anh hùng đáo tam môn nhai v.v… Ông xuất bản thêm cả một số sách giáo khoa dùng cho học sinh hồi bấy giờ để tự học thêm thi lấy bằng sơ học Pháp Việt. Rồi sau ông ra tờ tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy chuyên đăng các truyện ngắn do các nhà văn sáng tác. Trong tòa báo chỉ có hai người làm việc thường xuyên là Trúc Khê và Ngọc Giao, còn cộng tác viên rất nhiều: Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Đái Đức Tuấn (thường ký tên là Tchya), Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai và một số người nữa. Tiểu thuyết thứ Bảy bán rất chạy, ông lại ra thêm tờ Phổ thông bán nguyệt san, mỗi tháng xuất bản hai kỳ, chuyên đăng truyện vừa, đăng truyện nào hết gọn chuyện ấy. Loại báo này cũng được nhiều người hoan nghênh.


Năm 1934, tại Pháp, Mặt trận Bình dân lên cầm quyền, do sự đấu tranh của Đảng Cộng sản Pháp, bọn thực dân Pháp tại Đông Dương phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt. Nhân dịp này các báo xuất bản nhiều hơn, nhiều nhất là các báo của Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản công khai bênh vực quyền lợi cho giai cấp công nông. Tờ Tin tức của các ông Trần Huy Liệu, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, Đặng Xuân Khu (tức ông Trường Chinh), tờ Hà thành thời báo của ông Trần Huy Liệu và nhiều báo chữ Việt nữa. Báo chữ Pháp có tờ Lao động (Le Travail) của các ông Trịnh Văn Phú, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp. Các báo của Đảng luôn bị mật thám của thực dân tịch thu hoặc bị cấm xuất bản, nhưng khi báo này bị cấm thì báo khác lại phát hành. Cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai xảy ra, thực dân Pháp đặt lại chế độ kiểm duyệt.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info


 


 








[1] Hồi cuối năm 1935 – 1936, khi Mặt trận Bình dân lên cầm quyền, bọn thực dân ở Việt Nam bớt hống hách: các báo bị kiểm duyệt bỏ lệ để trắng và in thêm dòng chữ “Kiểm duyệt đục bỏ”.




[2] Chữ này âm đọc là cốt kê mới đúng. Tuy chữ viết là hoạt chỉ dùng trong trường hợp hoạt động, hoạt bát, đi với chữ kê có nghĩa khôi hài phải đọc là cốt.




[3] Tên chữ là làng Liên Bật, trước thuộc huyện Ứng Hòa (Hà Đông), là quê hương cụ Nguyễn Thượng Hiền và anh em ông Bùi Bằng Thuận, Bùi Bằng Đoàn, Bùi Bằng Phấn. Làng này xưa nổi tiếng là làng có nhiều người đỗ đại khoa. Cụ Cả Dương là người Việt Nam đầu tiên chế tạo ra các thứ máy dệt, dệt màn và khăn mặt chẳng khác gì của Pháp và Nhật Bản.




[4] Các sách và báo của ông Nguyễn Khắc Hiếu ở trang bìa thứ tư thường vẽ một người gánh hai quang gánh sách đem bán trên chợ trời (ở thiên đình), ngụ ý khinh mạn những người không biết thưởng thức văn của ông.




[5] Ông Ngô Tất Tố vào Sài Gòn đã lâu, chuyên viết cho các báo Thần ChungThế Kỷ. Ông công kích chính sách của thực dân Pháp nhiều quá, tên thống đốc Nam kỳ liền hạ lệnh trục xuất ông quay ra Hà Nội. Ông Mai Du Lân được tin mời ông cộng tác.




[6] Hồi Pháp thuộc xin ra báo là việc rất khó khăn nên nhiều người muốn ra tờ báo phải thuê lại tờ báo của người có giấy phép.




[7] Từ năm 1929 đến 1930, Hồ Khắc Tráng làm phóng viên chuyên lấy tin tòa án cho báo Thực nghiệp dân báo.




[8] Phố này mới mở năm 1930 theo kế hoạch của Xeutti. Pháp dỡ năm cái nhà ở phố Hàng Gai để mở phố này.




[9] Sau các cuộc ném bom khủng bố này, thực dân Pháp sợ xáo động nhân tâm và sợ nhân dân Việt Nam trả thù nên chúng bịa ra một chuyện là chúng đào thấy một cái bia cổ trong đền thờ cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng Cổ Am. Bia ấy có khắc bài sấm của cụ Trạng Trình như sau:


            Kìa cơn gió thổi lá rung cây,


            Rung Bắc sang Nam rung tới Tây.


            Tan tác Kiên Kiều an đất nước,


            Xác xơ cổ thụ sạch am mây.


            Sơn lâm nổi sóng mù thao cát,


             Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy


   Một ngựa một yên ai sùng bái,


            Nhắn con nhà Vĩnh bảo cho hay


Những chữ gạch dưới đều là tên đất: Kiến An, Cổ Am, Lâm Thao, Hưng Hóa, Yên Bái, Vĩnh Bảo là những nơi nhân dân ta đã nổi dậy và thực dân Pháp đã đến khủng bố và triệt hạ. Lợi dụng sự mê tín dị đoan của nhân dân ta hồi bấy giờ, thực dân Pháp bịp bợm dân ta rằng những việc xảy ra bấy giờ, cụ Trạng Trình đã biết trước từ mấy trăm năm rồi. Đó là quả kiếp các nơi đó phải chịu tàn phá như vậy.




[10] Tức là hạng gái đĩ nhưng không có nhà thổ, chuyên làm đĩ lậu kiếm tiền.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »