tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054370
29.12.2016
Hà Minh Đức
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (3)



PHỐ CỬA NAM


Cửa Nam là nơi đô hội, gặp gỡ của nhiều đại lộ đường Nam bộ, đường Hai Bà Trưng, đườngTràng Thi. Tình cờ trong những năm đại học duyên may đưa chúng tôi về Cửa Nam ở gác tư trong ngôi nhà đầu phố. Có thể nói âm thanh cả thành phố tụ cả về đây. Từ bốn năm giờ sáng thành phố đã thức dậy với phiên chợ Cửa Nam và hàng hóa từ các nơi đổ về. Ở đây có âm thanh pha trộn giữa tiếng của làng quê đem rau quả ra chợ bán, có âm thanh của thành phố nào tiếng của ô tô, xe lửa. Chúng tôi ở trên gác bốn nên tiếng ồn cũng ít vọng lên. Gác bốn là căn phòng bỏ không của gia đình anh Nguyễn Trọng Mỹ bạn cùng lớp. Bà cụ sinh ra anh cho chúng tôi ở cho vui nhà và chúng tôi sử dụng làm trụ sở tòa soạn báo Sinh viên Việt Nam. Sinh viên Việt Namlà tờ tạp chí của Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam ra hàng tháng khoảng 32 trang. Tờ báo được trợ cấp giá 4 hào một số tương đương với một bát phở tái nói theo nhà văn Nguyễn Tuân lấy đơn vị phở làm thước đo. Tờ báo do sinh viên các trường đại học Sư phạm, Y dược, Kinh tế, Tổng Hợp gửi bài đến tòa soạn. Có biên tập viên và phóng viên cắm ở các trường. Có người sau làm chức to như anh Nguyễn Văn Đạo ở trường Khoa học tự nhiên làm đến chức giám đốc Đại học quốc gia. Còn lại đa phần là trở thành các chuyên gia, chuyên ngành. Trực tiếp tại tòa soạn có anh Nguyễn Bao và tôi. Tôi phụ trách thư ký tòa soạn. Tờ báo in 1000 số phải phát cho các trường, một phần bán ra, một phần gửi cho sinh viên các trường đại học nước ngoài có sinh viên Việt Nam theo học. Chúng tôi cũng được một số thầy tham gia viết như Hồ Đắc Di, Hoàng Xuân Nhị, cán bộ lãnh đạo Hội sinh viên như ông Lê Quang Toàn, một nhà khoa học có nhiều bài viết đầu tay trên báo như các giáo sư Cao Huy Đỉnh, Phan Cự Đệ, Hà Văn Tấn. Làm báo vui nhưng không có lương, tôi đảm nhận cả việc tổ chức nội dung, chọn ảnh và đem in tại nhà in báo Nhân dân ở phố Tràng Tiền nay là tòa nhà văn hóa Espace của Sứ quán Pháp. Tầng bốn tòa nhà Cửa Nam khá riêng biệt, có lối đi riêng ra cửa sau ở phố Hai Bà Trưng. Tầng ba do vợ chồng vận động viên Tí Bồ ở. Tí Bồ là cầu thủ bóng đá nổi tiếng là anh ruột anh Nguyễn Trọng Mỹ. Người ông bé nhỏ nhưng thực sự nhanh nhẹn, bóng đá vào chân ông, ông dẫn dắt khéo léo khó tranh cướp lại được. Tầng hai bà cụ ở với cháu. Tầng một là cửa hàng truyền thần nổi tiếng. Ông thợ chủ làm với một người giúp việc. Ông có thể vẽ theo hai hướng hiện đại hoặc phục cổ. Ông thường hỏi khách: “Ông thích cho cụ đội mũ phớt hay để tóc trần thắt calavat hay cài nơ cổ”. Cũng có trường hợp khách yêu cầu mỗi bức tranh phục cổ  đội khăn xếp mặc áo dài. Truyền thần thỏa mãn mọi yêu cầu thỉnh thoảng có người nước ngoài đứng xem lâu và cũng đặt vẽ. Tờ báo Sinh viên hoạt động suốt năm 1956 và một phần năm 1957. Yêu cầu của phong trào chuyển dần sang hoạt động báo chí khác và chúng tôi cũng kết thúc nhiệm vụ vào giữa năm1957 khi ra trường. Ngày nay đi qua, ngôi nhà vẫn còn đó, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng hình ảnh và kỷ niệm xưa vẫn còn hiện về trong tâm trí.


Những ngày tháng sống và làm việc ở Cửa Nam khá vất vả, vừa học vừa làm báo. Phố phường lúc nào cũng đông đúc như ngày hội. Từ tờ mờ sáng đêm chưa tan hẳn đã nhộn nhịp phố phường. Người ở ngoại thành tiến về thành phố theo nhiều con đường để đến chợ Cửa Nam và khu vực xung quanh. Nhà thơ Tế Hanh đã ghi nhận được một nét đẹp của con đường từ ngoại thành vào nội thành trong ban mai với gánh rau xanh, những bông hoa đẹp:


Trong bó hoa thơm hái rạng đông


Mơn mởn hồng đào lan thược dược


Trong bó rau tươi đến chợ mai


Bắp cải su hào còn mọng nước


Xuân từ ngoại thành vào nội thành


Từng bước, từng bước, từng bước xanh


                             (Gặp xuân ngoại thành)


Không phải cho đến hôm nay, khu vực Cửa Nam mới nhộn nhịp như thế. Ngày từ xưa, cái tên Ga Hàng Cỏ(Ga Hà Nội) cũng là địa danh người làng quê bán cỏ cho ngựa binh lính. Hôm nay nhà ga đã khang trang, và kẻ thù đã ném bom trúng tòa nhà giữa, một thương tích chưa lành. Tàu hỏa trong những năm chống Mỹ vẫn chạy đều, khách đi tàu vẫn đông, mỗi toa chỉ có một ánh sáng ngọn đèn tỏa ánh sáng lờ mờ. Ở Cửa Nam đêm nào cũng nghe tiếng tàu chạy qua. Âm thanh của khu Cửa Nam vào loại ồn ào nhất thành phố, âm thanh của cuộc sống hoạt động, quay vòng ngày đêm. Năm cuối chuẩn bị ra trường, tôi và nhà thơ Nguyễn Bao tạm biệt và cảm ơn bà chủ ra đi. Một chỗ ở mới chưa dự định tuổi trẻ đi về đâu cũng dễ tìm thấy niềm vui.


TẢN  MẠN ĐẦU Ô (PHỐ LÒ ĐÚC- Ô ĐÔNG MÁC)


 


Từ mấy năm nay, tôi về sống trong khu tập thể của trường Đại học Tổng hợp ở phố Lò Đúc (trong phố nhỏ Cảm Hội thuộc ô Đông Mác). Bên cạnh những Ô Cầu Rền, Ô Quan Chưởng, cái tên Ô Đông Mác gợi nhiều băn khoăn về chữ nghĩa.


Theo sách còn ghi lại thì từ thế kỷ XVIII trở về trước Đông Mác có tên là Ô Ông Mạc. Mạc đây là Mạc Đĩnh Chi làm quan trong triều có nhà riêng ở thành Đại La. Từ Ô Ông Mạc gọi chệch ra thành Ô Đống Mạc.


Lại có truyền thuyết cho rằng hồi Tây Sơn ra Bắc đánh quân Trịnh, lính nhà Trịnh thua vứt giáo mác thành đống nên gọi là Đống Mác[1].


Thỉnh thoảng vào buổi chiều tôi tản bộ về phía đầu ô. Thiên nhiên ở đây không có gì đặc biệt, không có những áng mây đầu ô lang thang mà chủ yếu là cảnh đầu ô thay đổi trong những vất vả, nhọc nhằn. Đêm về khuya chim lợn vẫn kêu. Có người nói rằng khu vực bệnh viện Việt Xô cũ và Bệnh viên 108 có một tổ chim lợn sinh sống từ nhiều năm. Chúng bay khắp nơi trong vùng với những tiếng kêu rùng rợn. Ai cũng nghĩ rằng tiếng chim không nhằm vào gia đình mình vì có bao nhiêu nhà ở xung quanh và phía trên tòa nhà cao tầng còn có nhiều hộ. Mặc cho chim kêu, khu tập thể vẫn sống bình yên. Tờ mờ sáng lại là tiếng lợn của lò mổ. Những con vật hiền lành chỉ kịp kêu lên đôi tiếng trước lúc bình minh, rồi bị hóa kiếp.


Không khí đầu ô nhộn nhịp từ rất sớm. Rau xanh và hoa tươi từ ngoại thành chuyển về. Gồng gánh ít dần nhường chỗ cho những chuyến xe đạp với sọt ở hai bên. Người trồng rau, người buôn chuyến đều vất vả. Cứ nhìn vào giá cả qua cuộc đọ sức giữa lao động nông nghiệp với hàng hóa tiêu dùng mà dễ thấy nản lòng. Một nải chuối tiêu chỉ tương đương với một lon bia. Một yến cà chua chỉ mua được một hai bao thuốc ngoại. Đành rằng nông dân cũng ít dùng những thứ đó nhưng cứ cần nói ra để thấy cái nghịch lý vẫn tồn tại và kéo dài. Một chị sau khi bán xong gánh bắp cải hỏi tôi: “Ông ơi, cháu tôi thích truyện cổ tích, hỏi ông xem truyện cổ tích nào hay để tôi mua cho cháu tôi một tập”. Tôi chỉ dẫn và chị tần ngần. Có thể chị đang có điều phải tính toán. Lẽ nào một tập truyện cổ tích đến  mấy chục ngàn, làm vợi đi một đầu gánh rau của chị…


Khi nắng lên thì mọi người đã tản hết. Và chiều lại lao xao họp lại. Mọi người mua bán vội. Thức ăn của các chợ gần rút về đầu ô bán nốt trước khi trời tối. Có người nhận xét rằng ở đầu ô trời mau tối hơn mọi nơi, bầu trời xẫm, phố xá cột đèn thì nhiều mà ánh sáng thì ít. Có thể là như thế. Nhưng đó là nhận xét về đầu ô một thời qua. Tôi nhớ những câu thơ của Quang Dũng:


Mây ở đầu ô


Hẹn những chân trời xa lạ


Qua một ngọn đèn


Chiều tối là bừng con mắt đỏ


Cành bàng mái cũ khẳng khiu…


Và của Trần Dần:


Tôi lớn ở một đầu ô tím


Tôi vẫn rong chơi bên những cột đèn mù.


Nơi ấy một thời là nơi cư trú của những kẻ “bất trị”, những Dao Bầu và Mụ Cú Vọ[2], những Bảy Sẹo, Hùng Lé, Thắng Tơi Bời v.v… Ở đấy đã cho chào đời nhiều số phận vất vả đắng cay và liệu hôm nay có thể sinh ra những tài năng.


Trong những năm gần đây trẻ ở đầu ô đã chịu học hơn, trường học của đầu ô đã vào nền nếp. Các tụ điểm nghiện hút, cờ bạc, trai gái dần bị xóa bỏ, những xóm liều không còn dám ra mặt liều lĩnh. Con đường Trần Khát Chân mở ra đi xuyên thẳng vào những ngõ ngách tăm tối trả cho mọi vật trở về với không gian khoáng đãng. Mọi việc chưa hoàn tất, còn ngổn ngang và dang dở nhưng bức vẽ đang hiện hình thành sự thật. Đầu ô đang thay đổi trong bức tranh chung của thành phố. Một điều dễ thấy là không khí ở đầu ô là không khí của những người lao động nghèo. Mọi thứ sinh hoạt mua bán, làm ăn, chuyện trò thường bày ra trên hè phố, từ người thợ thủ công, gò hàn, bà bán bún và đậu rán, chị quạt ngô nướng… Tôi cũng có dịp la cà thăm hỏi anh thợ cạo vỉa hè, người lái xe ôm, và cảm thấy có sự hiểu nhau và có chỗ gần gũi nhau.


Tôi thường cắt tóc ở gần nhà. Chọn một người có tay nghề rồi cắt tóc cho tiện, cho nhanh. Tôi là khách quen của anh. Anh đi làm đều, tấm bạt căng trên vỉa hè che nắng che mưa. Anh ky cóp từng đồng nhưng đùng một cái nghỉ hàng tháng để xây nhà hai tầng. Nhà khánh thành được ít hôm anh lại đi làm và dáng rất vui. Anh bảo: “Cháu khổ và sống chui rúc một đời đến khi có căn nhà mới thì cứ lạ nhà bâng khuâng không sao ngủ được” – mải nghe chuyện của anh, thế là một lần tai vạ ập đến.


Từ ngày có Luật giao thông anh chưa tìm được chỗ mới và vẫn dọn hàng trên vỉa hè của phố Lò Đúc. Hôm đó anh cắt tóc cho tôi, anh vừa đưa hết một lượt tông-đơ thì bất ngờ hai xe sim-ca của cảnh sát đã mau lẹ vọt lên vỉa hè và áp sát ngay đối tượng. Anh thợ cắt tóc túm vội bộ đồ nghề bỏ chạy. Anh cảnh sát lấy được cái gương, còn lại chẳng có gì đáng giá. Còn tôi thì ngơ ngẩn như người phạm lỗi. Chờ cho các anh cảnh sát đi, anh thợ cắt tóc trở về và hỏi tôi: “Ông có sợ không, ông ngồi cho cháu sửa lại đôi chút”. Tôi hỏi anh tôi có lỗi gì không, anh cười và bảo: “Ông đi cắt tóc chứ có đi đánh bạc, hút thuốc phiện gì đâu mà sợ”. Đến lượt tôi hỏi lại: “Anh có sợ không ?” – “Ôi dào ơi, việc các anh các anh ấy làm, còn việc cháu kiếm sống thì cháu tự lo liệu. Từ nay cháu vào cắt tóc trong ngõ”.


Và cái ngõ này dẫn vào khu tập thể. Đầu ngõ là cả một tiểu đội xe ôm. Đa phần là bộ đội chuyển ngành, có người là thầy giáo về nghỉ hưu, có người chuyển từ ngạch xích lô lên. Thầy giáo người cao to và có nét như người Ả Rập. Ông là hiệu trưởng trường cấp ba, đã bước vào tuổi 60 nhưng còn phong độ. Tôi bảo ông: “Ông có thể đóng phim được”. Ông cười: “Đóng vai xe ôm hay vai gì. Đời tôi có một vai, tôi đóng hỏng rồi còn hy vọng gì”. Đi xe ông tôi thấy rất yên tâm. Ông đi cẩn thận và thỉnh thoảng lại có câu chuyện vui vẻ. Hàng năm vào gần ngày Nhà giáo ông nghỉ mấy ngày để về tỉnh xa nơi ông dạy học thăm bạn bè và học trò.


Ông vẫn mang nét của thầy giáo vào trong nghề mới phức tạp này. Ông kể là có lần một thanh niên trẻ ăn diện, vừa ngồi xe vừa hạch sách. Ông dừng xe lại và bảo: “Xin mời anh xuống xe. Tôi đi làm để kiếm sống, anh có tiền lại còn trẻ nhưng không được hách dịch. Anh tìm xe khác cho”.


Tôi cũng thường hay đi xe đạp vào trường, trên đường đi nhiều khi cũng gặp lắp chuyện vất vả. Một lần, đi đến Gò Đống Đa nơi một dãy các chị hàng rong thường đặt mẹt cam trên xe đạp để bán. Cam được xếp trật tự có ngọn cao trông đẹp mắt. Xe bỗng mất đà và tôi loạng choạng. Tôi cố giữ thăng bằng nhưng không được nữa rồi. Chị hàng cam kêu lên: “Sao thế ông ơi” và cả mẹt cam theo người tôi đổ xuống lăn lóc khắp nơi. Chuyện chẳng lành rồi, tôi thu nhặt một vài quả cam lại rồi xin lỗi luôn miệng và nhận đền tiền. Và tôi chờ đợi… chờ đợi một cơn giận dữ, một cơn bão táp ngôn từ. Nhưng không. Chị bán cam hỏi: “Ông đi đâu mà vội thế?”. Tôi rưng rưng trả lời: “Tôi vào trường dạy học. Hơi muộn giờ nên vội. Tôi xin lỗi chị”. Chị hàng cam điềm tĩnh trả lời: “Thôi ông anh đi đi, để đấy em thu dọn”.


Cho đến nay mỗi lần nghĩ đến chuyện này trong tôi lại dội lên bao cảm xúc và một câu hỏi chưa được trả lời. Phải chăng vì trông tôi lúc ấy thảm hại quá và làm xúc động đến chị đang ở vào lúc mà lòng chị thanh thản và có niềm vui riêng. Phải chăng chị có lòng cảm thông với một thầy giáo.


Lại trở về với khu tập thể Lò Đúc đầu ô của các thầy trường Tổng hợp. Khu đất, khu nhà khiêm tốn này sống lặng lẽ suốt một thời bao cấp. Chỉ có một dãy nhà cao tầng làm theo kiểu cũ, còn lại là các dãy nhà cấp bốn. Ở đây cuộc sống có nền nếp. Suốt mấy năm trời về đây ở tôi không nghe một vụ cãi nhau nặng nề nào. Thỉnh thoảng về đêm một bà già độc thân lại cất lên câu ca hờn dỗi:


Đêm nao cũng giống đêm nào


Một mình tôi vẫn đếm sao trên trời


Phận tôi là mảnh sao rơi


Một thanh niên đi chơi về khuya vẫn rên rỉ câu hát về “một trái tim khô…trái tim mùa đông”.


Và chỉ thế thôi, các gia đình đều có văn hóa và biết điều chỉnh trong cuộc sống. Ở một  khu tập thể thường có nhiều giai thoại, nhiều chuyện vui. Có một ngày một gia đình cán bộ chuẩn bị sửa sang nhà cửa để đón cán bộ cao cấp nguyên là khi giải phóng thủ đô ông chủ là một cán bộ bộ đội trẻ yêu một cô gái Hà Nội đẹp con một gia đình hơi nặng căn cơ. Ông quyết định chọn lựa lập gia đình với cô gái  đẹp và xin giải ngũ. Người mẹ đẹp lại đẻ ra một cô gái đẹp có ảnh treo ở một hiệu ảnh Hà Nội. Chàng trai say đắm tấm ảnh người con gái có tấm hình treo ở hiệu ảnh tìm đến gia đình cô gái. Anh là con một cán bộ cao cấp, sự cách bức giữa một gia đình quyền thế với gia đình của một cán sự bình thường liệu có tạo được mối lương duyên cho 2 đứa trẻ. Vào một ngày một đoàn xe ô tô sang trong đã đi vào khu tập thể. Vị cán bộ cao cấp chiều theo ý con, đành phải vi hành về chốn này để gặp gỡ thông gia. Cho hay sắc đẹp cũng có quyền lực riêng của nó. Sáng sáng,  một số thầy xuống tập thể dục ở dưới sân và quây quần bình luận chuyện đời, xe máy Nhật đời mới, đội bóng ta đi đấu quốc tế, con rùa ở Hồ Gươm. Và thú vị nhất là chuyện nuôi chó Nhật. Tuy là chó Nhật nhưng lại đặt tên Tây. Thầy N có con Lucky đã truyền giống trong nhiều năm và được công nhận là giống chó Nhật gốc. Con chó Lucky biết chọn bạn. Thường các gia chủ đem đến xin giống đôi khi bị từ chối vì con Lucky không ưng vì con cái không đẹp, gầy gò, không hấp dẫn. Thầy L đang buồn vì con Minu vốn là một con chó Nhật trước đây trốn nhà đi mấy ngày và đêm qua đã đẻ ra giống chó Nhật lai bản địa. Nuôi chó có lộc, nhưng là lộc trời cho.


Buổi tối các thầy lại đi luyện thi. Nghề luyện thi cũng có nhiều đẳng cấp. Có thầy chỉ đủ sống, có thầy tích cóp để xây nhà.


Cuộc sống yên lành và thời gian trôi đi lặng lẽ. Thỉnh thoảng khu tập thể lại nhộn nhịp lên một chút khi có những xe hàng của các thầy đi thực tập nước ngoài gửi về. Hàng dỡ ra đầy cả một sân. Nào tủ lạnh, quạt máy, máy nổ, máy bơm, chậu nhôm, nồi nhôm… nhưng giá trị cũng chẳng là bao. Còn bây giờ việc lưu thông kinh tế lại theo hình thức khác, kín đáo và hiệu quả hơn.


Cả khu tập thể thường thức khuya. Bố mẹ soạn bài, con học hành thi cử. Sáng dậy tiếng rao bánh mỳ nóng giòn, với một giọng đặc biệt, một âm lượng dồi dào đã đánh thức cả khu tập thể dậy. Ông bán bánh mỳ đã ở tuổi bảy mươi, nhưng vẫn nhanh nhẹn như thanh niên và phục vụ tận tình. Nhiều gia đình có thói quen gọi từ tầng 2 hoặc tầng 3 kêu to con số mua hoặc ra hiệu thêm bằng tay thì chỉ một vài phút bánh đã chuyển đến tận nơi. Tôi tò mò hỏi ông: “Chắc ngày xưa bác có đi bộ đội nên tuy tuổi cao nhưng còn có chất lính lắm”. Ông trả lời: “Em là lính của Thiếu tướng Chu từ đầu cách mạng. Xông pha nhiều nên còn khỏe”. Tôi hỏi: “Bác cứ ở dưới nhà, ai cần mua thì xuống”. Ông cười và xua tay: “Không sao, em hoạt động rừng núi quen, mấy bậc thang bõ bèn gì”. Thì ra có những việc kinh nghiệm tích lũy được từ thời nào mà nửa thế kỷ sau có lúc cần đến.


Năm tháng trôi qua, tôi có dịp trở lại khu tập thể thân thuộc này. Vật đổi sao dời với nhiều thay đổi. Các giáo sư ở ngôi nhà cao đã lần lượt ra đi ở tuổi bảy tám mươi như các giáo sư Đỗ Đức Hiếu, Nguyễn Cao Đàm, Nguyễn Liên,... Lớp trẻ cũng nhanh chóng lớn lên. Các cháu gái của bà L có quầy tạp hóa nhỏ đã từ thiếu nữ trở thành các cô gái trẻ. Cô gái lớn học giỏi được sang Pháp học và ở đấy đã yêu và lấy một chàng trai Pháp, cán bộ kỹ thuật tên là Fabien. Vợ chồng trẻ về thăm gia đình ngoại vẫn ở trên gác nhỏ của bà L. Chàng trai người Tây nhưng cũng nhanh chóng hòa nhập chơi đùa đá bóng với trẻ con. Ông bà L được con cái mời có dịp sang Pháp chơi vài tháng. Về nhà bà con hỏi Tây thấy thế nào, bà cười và lắc đầu: “Khó nói lắm cái gì cũng khác ta”. Khu tập thể gần đây lại có thêm các thầy thuốc Tàu đến ở. Họ mở hiệu thuốc đông y ở đầu phố nhỏ Cảm Hội và thuê nhà ở trong khu tập thể. Họ kinh doanh nghề thuốc và không biết họ còn làm gì khác nữa không.


Khu tập thể hòa hợp với không khí của đầu ô. Trong mấy năm gần đây cả khu tập thể như giàu có hẳn lên. Có thêm nhiều nhà riêng được xây cất kiểu cách, nhưng các thầy vẫn giữ nếp sống giản dị, miệt mài lao động và  phong thái trầm tư, sâu lắng.


Phố Lò Đúc dài 1160m và đi hết trên hai trăm số nhà thì quang cảnh đã có nhiều đổi thay. Cuối phố vẫn còn một vài cửa hàng tạp hóa điển hình cho sự nghèo khổ của phố phường. Nhiều khi quầy hàng chỉ thu xếp gọn trong nửa số nhà mà bao gồm đủ mặt hàng từ thuốc lào, muối, dầu hỏa, xà phòng, giấy học trò, nước mắm, đường kính, mỳ sợi, bánh quy Trung Quốc,… Chuyện ăn uống ở đầu ô cũng giản dị. Thức ăn, quà bánh hợp với túi tiền người lao động: quầy bún ngan bán bên đường, bánh chưng rán, khoai lang luộc, xôi lúa, phở vỉa hè. Không có gì đặc biệt, không có đặc sản, nhưng tất cả ăn uống sôi nổi, ngon lành.


Ở đầu phố việc buôn bán đã có xu hướng chuyên doanh. Cửa hàng bánh ngọt và thức ăn khô, có đủ loại rượu Tây sang trọng, cửa hàng kinh doanh đĩa hát, băng nhạc, hiệu ảnh Konica và mấy hiệu vàng nhỏ. Tuy nhiên Lò Đúc vẫn là một phố lặng lẽ và khiêm tốn. Từ thế kỷ XIX đây là đất của một vùng quê mà đến nay có tên làng đã trở thành tên phố, như Cảm Hội làng xưa đã thành tên phố nhỏ dẫn vào khu tập thể Đại học Tổng hợp. Phố Lò Đúc vốn có nghề đúc đồng do ông tổ Nguyễn Minh Không khởi chế. Trồng lúa và làm thợ vốn là gốc xa xưa của vùng đất này. Nói tới Lò Đúc lại nhớ hàng cây thân cao vút, tán lá quanh năm xanh tươi và hơi sẫm màu, nơi trú ngụ của những đàn cò năm xưa. Vẫn cảnh tấp nập từ ngoại thành đổ vào đầu ô mỗi buổi sáng. Nhưng đã có thêm một dòng người từ nội thành đổ về đầu ô và tỏa ra các khu vực. Nhiều khu nhà cao tầng, nhiều biệt thự đã áp sát đầu ô. Quang cảnh đầu ô đang từng ngày thay đổi. Thành phố không bắt đầu từ đầu ô như năm xưa.


Đầu ô, từ tên gọi cho tới địa hình hay gợi lên nhiều chuyện khổ, chuyện buồn từ ngàn xưa. Những người đi xa xứ khi nghĩ về Hà Nội thường đọng những kỷ niệm buồn nơi đầu ô với nhiều cảm thương.


Thương về năm cửa ô xưa


Quan Chưởng đêm tàn dẫn lối


Đê cao hun hút Chợ Dừa


Cầu Rền mưa dầm lầy lội


Gió về đã buốt lòng chưa? [3]


Đúng là nỗi buồn thương nhớ về hình ảnh của Hà Nội xa xưa. Đầu ô bây giờ đã khác trước. Thành phố đi về bốn phương không phải chỉ qua năm cửa ô. Các ô trở tành những cái mốc, những chứng tích lịch sử để hồi tưởng lại một bức tranh về thành phố. Trong vòng vây của năm cửa ô lại là một thành phố hẹp. Sức lớn, sức bật đang mở ra bốn hướng để cho cửa ô chỉ còn là di tích nhỏ giữa mênh mông thành phố bốn bề cao rộng.


Đã in báo Văn Nghệ


Số 24 ngày 14/6/1997


(Có bổ sung)


 


PHỐ YÊN LẠC


 


Sống ở Lò Đúc nhiều năm tại khu tập thể của trường Đại học Tổng hợp, khu nhà tuy cho đến nay đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn giữ nguyên dạng trên đường nét lớn. Một lần đến thăm nhà báo người cùng Khoa ở Yên Lạc tôi thấy vùng đất này đang mở mang tuy hiện nay còn nghèo và nhiều khó khăn. Chưa có tên phố mà thực chất chỉ là một ngõ cụt đi sâu vào chừng ba bốn trăm thước. Ngõ cụt treo biển số 529 ghi theo số của phố Đông Kim Ngưu. Các anh xe ôm cho biết nguyên mảnh đất này là một bãi đất hoang, có một phần đất trồng trọt và phần còn lại là bãi tha ma. Đấy là chuyện đã xa, gần gũi hơn trong những năm chống Mỹ chính nơi đây là bãi pháo phòng không của cao xạ pháo. Hòa bình lập lại, bãi pháo lại trở về thành ruộng đồng và đất xây nhà cửa. Con cháu tôi mua lại một khoảng và xây căn nhà đang ở. Nhà không có mặt đường, không buôn bán, mà chủ yếu nằm sâu bên trong tĩnh lặng hợp người già. Về đây ít năm, biển số của ngõ cụt được đổi thành phố Yên Lạc, vẫn là khu phố không có lối ra và mang đặc điểm của một khu phố nghèo. Dân cư gắn bó với nhau không lâu nhưng thân tình. Ở Yên Lạc không có gì đặc biệt hấp dẫn, thức ăn sáng như bánh cuốn, bát phở đều ở mức giá thấp vì mức sống của viên chức vừa phải, ai thích ăn ngon thì lên phố. Cuộc sống có phần hắt hiu nhưng có xe cộ thoát lên phố không xa chỉ 15, 20 phút có thể đến Nhà hát lớn. Với cảm hứng gẫn gũi tôi viết bài thơ:


Ngõ cụt


Nơi tận cùng thành phố


Những nóc nhà lúp xúp bên nhau


Che chở bao cuộc đời bé nhỏ


Ngõ cụt không tên cột đèn treo biển số


 


Chàng trai lớn lên trong phố


Thiếu gió trời và tán cây xanh


Vẫn tốt tươi một thời trai trẻ


Ra đi suốt năm tháng chiến tranh


 


Người lính trở về


Ngõ đã thành phố


Đất lên giá, nhà xen cao thấp


Phố cụt chiều chiều cuộc sống có gieo neo?


 


Năm tháng quây quần trong xóm nhỏ


Sống lâu bên nhau nên có tình người


Ngày mai về thăm phố cũ


Thương phận ai như ngõ cụt một chiều


Yên Lạc cái tên ít người biết đến nên tìm nhà khi cần cũng khó khăn vì ở đây đích thực là ngoại ô. Có người bạn bảo tôi: “Sao không tìm một chỗ khác mà ở”. Câu hỏi khó trả lời vì trên đời có những thứ không có quyền chọn. Trước kia trong gia đình con cái phải theo lệnh của cha mẹ “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Ngày nay câu nói ấy đã có phần đổi thay “Con đặt đâu cha mẹ ngồi đấy”. Hơn nữa chọn chỗ ở cũng khó trừ những người giàu có, đại gia, hoặc quyền cao chức trọng. Với một nhà giáo, nhà nghiên cứu, chỉ cần một bàn nhỏ để viết và một góc để sách. Điều đó cũng dễ thoải mái. Nhưng cái khó là sẽ phải có một chỗ không khí thoáng mát không ô  nhiễm. Những nơi đẹp thoáng mát của Hà Nội như Hồ Tây, hồ Trúc Bạch các công viên xanh đều đã có chủ. Dạo đầu xuân 2013, chuyến đi chơi cuối cùng của nhà văn Tô Hoài ra ngoại thành. Ông dừng xe ở một số cảnh đẹp nhưng ông than phiền nhà cửa xây cao chiếm hết cái đẹp của cảnh thiên nhiên rồi.


          Trở lại với  khu phố nhỏ nơi mà không khí ô nhiễm quanh năm. Con sông đen chảy dài nhiều cây số tỏa mùi hôi thối lên nhiều phố ven sông. Có lần anh xe ôm bảo tôi: “Khoảng tháng này năm sau là con sông này sẽ lấp đầy và trên sẽ là những cửa hàng bách hóa”. Tôi nghe rất vui tai và hỏi: “Có thật không?”. Anh trả lời “Cháu cũng chỉ nghe nói”. Và đúng thế con sông ô nhiễm đó vẫn không có gì khác trước. Một tờ báo ở thủ đô đã miêu tả một chuyện có thật về con sông Kim Ngưu này. Sông ở gần chợ nên có một hôm có một thanh niên ăn cắp một món hàng nhỏ bị đuổi, anh ta chạy xuống bờ sông rồi lội nước ngang bụng. Một số người hăng hái hô hoán, nhưng anh ta không lên chỉ cười. Một hai người lấy đất đá ném nhưng sau có nhiều người khuyên không được  ném sợ gây thương tật. Anh công an nhắc nhở là phải đi lên rồi xin chừa với mọi người,không mắc lại lỗi lầm nữa. Anh thanh niên ăn cắp vẫn cười nhăn nhở và đi xuôi dòng không ai dám xuống vì nước sông quá bẩn, không dám liều mình vào chỗ bẩn. Nghe chuyện này tôi nhớ lại trong mục thế giới động vật của VTV2 có lần giới thiệu con chồn có vũ khí đặc biệt để chống trả vũ khí là mùi hôi thối. Nếu so với xác người chết thối mà ở cấp độ 7 thì mùi con chồn còn phun ra ở cấp độ 3 cao hơn nhiều lần. Hổ, báo chồm đến con chồn chỉ phun một hai đợt thì ác thú phải bỏ chạy. Sông Kim Ngưu có vũ khí đó và được anh thanh niên ăn cắp sử dụng. Thanh niên cũng sợ, công an cũng ngại ngùng.


Trong đêm trăng dòng sông vẫn đẹp, nhưng nếu gió lên thì mọi người phải tránh xa. Tôi cũng ít đi dạo ở ven sông nên cũng không cảm nhận hết bức xúc của các gia  đình ven bờ. Ngày mai, chúng ta cầu nguyện cho ngày mai. Thấm thoắt trên mười năm tôi về phố nhỏ và tất cả thân quen, gần gũi. Bạn già ở xa ngại đến, bạn trẻ tìm nơi thú vui hơn. Nhưng rồi một ngày vui đến với tôi bất ngờ vào dịp giáp Tết Ất Mùi, thành phố báo tin là lãnh đạo thành phố muốn đến chúc tết tôi. Tôi vui mừng và hoan nghênh chờ đợi. Thực ra trong một hai dịp cũng có các đồng chí lãnh đạo Ban tuyên giáo đến thăm, kể cả đồng chí Nguyễn Phú Trọng đến thăm cùng với lớp với tư cách Phó bí thư thành ủy. Lần này đồng chí Phạm Quang Nghị và các anh chị ở thành phố đến chúc Tết. Tôi nghĩ mà băn khoăn, tôi đã làm gì cho thành phố Hà Nội. Tôi có dịp thăm nhiều thành phố trên thế giới như New York, Paris, Saint Pétersburg, Whashinton, Moskova, Xê-un, Bắc Kinh, Vientiane, Sophia, Berlin, Brussels, ... có nhiều cái hay cái lạ nhưng sao vẫn thấy xa lạ và cảm thấy Hà Nội nhiều vẻ đẹp, nhiều giá trị tinh thần cần được nghiên cứu quảng bá. Tôi có thể làm được gì cho thành phố thân yêu của mình.


           Đồng chí Phạm Quang Nghị chúc mừng tôi đã có nhiều đóng góp trong giảng dạy,đào tạo nhiều thế hệ sinh viên và các công trình nghiên cứu. Tôi chỉ xin nhận một phần nhỏ với ưu điểm là cần cù và lo xa. Cuộc thăm hỏi và chúc Tết của bí thư thành ủy và các anh chị khích lệ và thúc đẩy tôi hoàn thiện cuốn bút kí về Hà Nội. Không sinh và không phải là người Hà Nội, nhưng Hà Nội là niềm tự hào của dân tộc. Với cái nhìn của người tỉnh lẻ có thể nhìn nhận đôi điều như lòng tôi mong muốn.


TIME’S CITY


 


Tôi đã tưởng ở phố Yên Lạc là an cư lập nghiệp rồi nhưng rồi số phận lại đưa đẩy lại chuyển dịch về nơi ở mới. Nhà có chuyện buồn, căn nhà có nhiều ám ảnh không được thanh thản như xưa. Theo con sắp đặt tôi lại về ở khu Time’s City trên đường Minh Khai. Time’s City là một khu đô thị hiện đại được xây dựng trên một khu đất 360500 m2 gồm nhiều tòa nhà lớn. Người chủ là ông Phạm Nhật Vượng người được xem là người giàu có nhất Việt Nam. Báo chí nước ngoài khi nói về những người giàu có nhất thế giới có nhắc đến Phạm Nhật Vượng khoảng với số vốn khoảng 1 tỷ đôla lẻ một hai đơn vị, ông cũng được xếp hạng là tỷ phú thứ 1000, người đứng đầu trong nhiều năm vẫn là tỷ phú Bill Gate với 650 tỷ đôla. Ông Vượng cũng là người có đầu óc kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, và khu đô thị Time’s City là một công trình tiêu biểu. Time’s City có nhiều tòa nhà cao tầng như T18 cao 34 tầng,T8 cao 30 tầng. Ngoài các tòa nhà lớn, Time’s City có bệnh viện cao cấp, có trường học lưu trú đưa đón hàng trăm học sinh đi về, có bể bơi, hồ nước, thủy cung.Theo dư luận của khu nhà thì các tầng từ tầng 6 cho đến tầng 20 đều đắt giá, lộng gió có tầm nhìn xa bao quát cả thành phố. Tôi ở tòa T11 gồm 27 tầng. Gia đình tôi ở tầng 3. Tôi nghĩ hiện mình già yếu, nếu không may có chuyện gì xảy ra thì chạy bộ xuống cầu thang. Khu nhà mới tràn đầy ánh sáng. Cầu thang lên xuống thuận lợi, cửa đóng mở hiện đại. Tôi được mời lấy vân tay nhưng máy không nhận vì đã bao năm, vân tay đã mòn hết. Như thế thì phải nhớ số, hàng chục con số dễ quên. Time’s city gọi tắt là “Time” là khu đô thị hiện đại. Ở Hà Nội, ngoại vi được bao quanh bởi nhiều đô thị có đẳng cấp  được quảng cáo nhiều lần như khu đô thị Sala, khu FLC group và trong tương lai còn mọc lên nhiều khu nữa. Người Hà Nội dãn ra, người các tỉnh về rất đông. Các bà cao tuổi, ăn mặc giản dị dắt hai ba cháu đi chơi là rất phổ biến. Trẻ em đông, vào cầu thang đã bấm số nhoay nhoáy. Quy luật của mọi nơi đều thế cả từ tĩnh lặng nhanh chóng  trở thành náo nhiệt ồn ào, từ vắng vẻ thành nơi đô hội, từ chỗ  ngăn nắp sạch sẽ cũng trở thành nhếch nhác. Biết thế nhưng không ai chịu trách nhiệm. “Time” đang ở thời kỳ đầu, mọi việc đâu vào đấy.Về nhà mới một thời gian tôi vẫn tiếc ngôi nhà cũ, gần gũi với sinh hoạt đường phố và bạn bè. Ở đây, giống như người ở trong hộp, ít có điều kiện tiếp xúc với thiên nhiên, xa cách với bè bạn. Khi chuyển nhà, ở tuổi tám mươi, một trong những khó khăn nhất là chuyển thư viện sách. Năm tháng sách vở chồng chất, sách của cá nhân, sách của bạn bè, nhiều cuốn sách giữ gìn qua năm tháng đã đến lúc phải thu dọn. Tôi đã tặng hàng trăm cuốn sách cho thư viện Khoa Ngữ văn, thư viện Viện Văn học, thư viện Khoa Báo chí, thư viện của Hội đồng lý luận phê bình, các thư viện ở trung ương. Một giáo sư hỏi tôi “Anh về đấy sách đi đâu cả”. Đúng thế căn phòng ở đây không có chỗ để nhiều sách. Tôi đã cho, đã tặng, đã biếu cho các cơ quan, bạn bè nhưng vẫn mang theo một vài trăm cuốn. Sách xếp quanh nhà, men theo tường, trong góc khuất. Phó Giáo sư Phan Trọng Thưởng bảo tôi: “Thầy không được ngủ chung với sách trong phòng, rất độc hại”. Biết thế nhưng biết làm thế nào. Nhà thơ Tế Hanh trong đau ốm than thở: “Bạn bè, người thân dần xa hết, chỉ còn sách ở lại với ta thôi”. Nữ thi sĩ Bungari Dimistrova trong lần tôi và Trần Đăng Khoa sang Bungari gặp bà, bà mời đến nhà chơi, nhà nhiều sách và bà nói “Tương lai chúng tôi sẽ ra đi để nhường chỗ cho sách”. Một số nhà nghiên cứu khoa học xã hội cặm cụi nghiên cứu sáng tạo một đời, lúc ra đi để lại những núi con sách, con cái không đi theo sự nghiệp cha ông, sách quý cũng phát tán.


Khu “Time” đối với tôi vẫn còn là một bí mật. Ở đây không có quan chức to nhưng có con cái họ, thỉnh thoảng lại gặp học trò chào thầy, thầy già hơn các em đến mấy thế hệ. Đã đến lúc phải tìm hiểu chiều sâu, các tầng dưới của tòa nhà. Một khung cảnh mới mở ra không phải trên tầm cao mà ở tầng sâu. Hai thang máy chạy đưa người xuống dưới. Một buổi tối đi chưa hết, mới được một phần. Nghe đồn ở mỗi tòa nhà lại có thêm những thứ kinh doanh khác nhau.


Ở Time’s City dần theo thời gian sẽ quen thuộc. Time’s City một đô thị mới hiện đại, lại thêm nhiều đô thị có đẳng cấp. Đêm nào cũng có nhạc nước với nhiều màu sắc đẹp và cũng là nơi tụ hội vui chơi của lớp trẻ. Điện sáng rực ở những tòa nhà cao gây ấn tượng đẹp rạng rỡ cho cả một vùng trời. Thật khó đoán định trong tương lai Hà Nội sẽ phát triển và đạt được những thành tựu to lớn.


THÀNH PHỐ CỦA XE ĐẠP, XE MÁY VÀ Ô TÔ


 


Trong vòng hơn nửa thế kỷ Hà Nội là thành phố tiếp nối các danh hiệu: thành phố của xe đạp, của xe máy và trên đà của ô tô.


Hòa bình lập lại sau kháng chiến chống Pháp những dòng người trên đường phố diễn ra với nhiều màu sắc. Vào giờ tan học nữ sinh Trưng Vương với hàng trăm em mặc áo dài đi trên những chiếc xe đạp ríu rít cười. Những viên chức cán bộ đi làm về theo giờ giấc đã định. Xe điện chạy leng keng thêm nhộn nhịp phố phường. Thời kỳ này việc đi lại xe đạp là chủ lực. Trên đường phố thỉnh thoảng có ô tô biển xanh, phần lớn là ô tô của Liên Xô với các loại Mát-xcơ-vích, pa-vê-đa, La-đa và cao cấp hơn là các Vônta đẹp dành cho cán bộ cao cấp. Người Hà Nội lúc này ai cũng biết đi xe đạp, sang trọng có xe Pengeot cá vàng, các loại xe Mercier, xe Favôrít và xe đạp thống nhất.Ở trường Đại học Tổng hợp nhà trường phát cho giáo sư một xe Mercier, riêng giáo sư Trần Đức Thảo là xe Mercier đuy-ra. Ông thường đi từ ngoài vào qua cổng không xuống và đạp thẳng lên dốc của tòa nhà lớn 19 Lê Thánh Tông dựa xe vào tường, không khóa và đi thẳng vào giảng đường như một lãng tử. Trong vụ Nhân văn giai phẩm, giáo sư viết bài bị phê phán và cách chức. Cuộc sống lâm vào cảnh khó khăn. Người ta thường bắt gặp ông đi xe con vịt của Liên Xô, ghi đông nâng cao và đeo một bị để mua thức ăn ở chợ và dọc đường. Tôi chưa bắt gặp các giáo sư cao tuổi hơn  đi xe đạp như các thầy Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Trương Tửu,...Trong giới các nhà văn trừ những nhà văn quan chức có xe ô tô như Huy Cận, Nguyễn Đình Thi các nhà văn ở độ tuổi dưới 50 cũng đi xe đạp giỏi đặc biệt là Bùi Hiển và Xuân Diệu. Bùi Hiển với chiếc Mifa đi trên nẻo đường chống Mỹ ở nhiều tỉnh. Riêng Xuân Diệu khi giải phóng thủ đô ông được ông Hoàng Quốc Thịnh - Thủ tướng Bộ thương nghiệp dành cho một chiếc Favôrít. Xe đẹp, khóa xích chắc. Xuân Diệu lên xe là phóng nhanh về phía trước. Có lần tôi tháp tùng ông vào nói chuyện tại khoa Văn Đại học Tổng Hợp gần Hà Đông. Ông đi xe đạp nhanh trên quãng đường hàng chục cây số. Sau ba giờ nói chuyện, lúc về ông vẫn phóng thật nhanh, vừa đi vừa nói chuyện vui. Giáo sư Bùi Văn Nguyên cũng đi xe đạp. Xe của ông không có thương hiệu, ông cho sơn chữ Bùi Văn Nguyên. Xe đã cũ lại có tên người kẻ cắp cũng lánh xa. Lên xe ông phải đứng trên vỉa hè ngồi trên xe rồi đạp. Ông bảo: “Cái gì cũng phải chắc chắn, tôi không cần điệu bộ lên xe bằng pê-đan chuyện ấy là của lớp trẻ”. Với người đi xe đạp có hai hình ảnh đẹp, một là các cô gái mặc áo dài đi xe trước gió, tà áo tung bay về phía sau. Một tốp ba bốn người dăng dăng trên đường vắng bên hồ trông rất đẹp mắt. Hai là cặp đôi nam nữ đèo nhau, cô gái ôm eo, vui chuyện, chàng trai bị lôi cuốn nhưng vẫn vung tay chèo lái vì có em ngồi ríu rít ở sau xe:


Sau xe những tiếng em phơ phất


Cởi hết ưu phiền gửi gió mây


Có lần các cô gái nông thôn đèo nhau bằng xe đạp ngã xuống ven đường, không thấy kêu đau, chỉ thấy cười như nắc nẻ. Trong những năm này tôi đi xe phượng hoàng. Trai gái đèo nhau bằng xe đạp là điều thú vị nhưng có người cho rằng thích nhất là đèo bạn gái ngồi phía trước. Lớp trẻ giải thích là đèo phía trước, mùa hè thì thơm tho, mùa đông thì ấm áp tha hồ thì thầm nói chuyện. Trong lớp văn có một em gái xinh xắn nhất nhì lớp sau giờ học đã có một “phu xe” đứng chờ và vui vẻ đèo nhau về. Nhiều bạn trông thấy cũng hơi chướng mắt. Có lần tôi hỏi sao em không sắm một chiếc xe để đi học được tự do không phải chờ đợi nhau. Em trả lời: “Dạ, em thích thế và bạn em cũng thích thế”. Tôi nói thêm: “Chắc cũng có bạn không thích đấy, các em chở nhau thì nên lùi phía sau một chút”. Em ngạc nhiên gật đầu “Vâng”. Chuyện trai gái đèo xe đằng trước cũng ít dần. Khoảng đầu những năm 60 cô gái Zimonina Inna người Nga sang nghiên cứu văn học Việt Nam. Biết tôi nghiên cứu về Nam Cao có tìm người giới thiệu vì chúng tôi chưa quen biết nhau. Cô nhờ tôi dẫn đến phòng tư liệu Báo Cứu quốc (nay là Báo Đại đoàn kết), rồi nhà văn Tô Hoài ở phố Đoàn Nhữ Hài. Hiện nay bà đã ở độ tuổi bảy mươi. Zimonina Inna dịch nhiều tác phẩm văn học Việt Nam. Theo nhà văn Thúy Toàn, bà vừa dịch xong cuốn Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng. Tôi phải đèo xe đạp giúp cô đi. Một thanh niên khoảng 25 tuổi đèo một cô gái Nga xinh đẹp khoảng mười tám đôi mươi chắc chắn được hàng phố để ý. Nhưng rồi công việc là trên hết và cũng dần quen mắt.


Trong khoảng hai chục năm từ hòa bình lập lại đến hết chống Mỹ tôi đã đi hết ba đời xe, một Tourist và hai đời xe phượng hoàng. Tôi đi với tốc độ vừa phải. Một lần gặp một nữ sinh đi xe cá vàng (peugeot). Cô thấy tôi đi chậm nên nói: “Em không quen đi chậm em đố thầy phượng hoàng đuổi được cá vàng”, nói rồi lao vút đi. Đến cuối phố cách chừng hai cây số em đứng chờ và nhăn răng cười. Chuyện xe đạp một thời là thế. Sau khi thống nhất đất nước việc đi lại có nhiều thay đổi. Ở miền Bắc đã xuất hiện trên đường phố nhiều xe Hon đa từ miền Nam chuyển ra. Trong chuyến vào Nam giảng dạy năm 1976, giáo sư Mai Quốc Liên khích lệ tôi đi xe máy và nhượng cho chiếc Honda PC không phải có bằng lái. Tôi phóng thử vài lần qua các phố thấy thú vị nhưng không thích hợp vì đi xe máy phải biết sửa chữa, phải có kỹ năng. Sau hòa bình lập lại, một trong cán bộ kháng chiến đầu tiên đi xe máy ở Hà Nội là giáo sư Hoàng Xuân Nhị. Ông ở bên Pháp, Đức nhiều năm nên thạo kỹ thuật. Ông đi xe Simson cũ đeo nhiều túi, đồ sửa chữa, túi mua hàng. Sinh viên có câu: “Thầy Nhị nét mặt tươi cười – Mái đầu tóc bạc mình ngồi Simson – Khoa văn là một giang sơn...”. Lúc này xe Hon-đa chạy nhiều trên đường phố Hà Nội. Tuy nhiên cái gì cũng có giới hạn, thời thịnh và thời suy. Các loại xe Nhật, Đức làm kiểu mới nhập về ngày một nhiều. Mỗi gia đình đều cố sắm được một xe máy tốt cũng như người dân miền núi mỗi nhà phải có một hoặc hai con ngựa thồ. Xe máy ở thành phố đảm nhiều nhiệm vụ nào đưa đón, nào chở hàng buôn bán, nào lúc nhàn thì dong chơi. Xe máy, một phương tiện tối ưu với sinh hoạt gia đình. Có nhà ở xa tuyến xe bus đến vài trăm thước, có nhà ở trong ngóc ngách phải len lỏi trên lối đi làm  sao có thể sử dụng xe công cộng. Thành phố cũng không đoán trước được sự phát triển ồ ạt của dòng xe máy. Đường xá Hà Nội Tây để lại là đường phố của xe đạp và người đi bộ nay quá chật hẹp không dễ cởi nới. Phần có được là xe máy tạo không khí tấp nấp văn minh hiện đại cho đô thị mặc dù hậu quả không nhỏ. Tai nạn xe máy nặng nề phải đối phó bằng mũ bảo hiểm. Thành phố đã tạo được nếp đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy. Hàng chục hàng trăm xe máy với những chủ nhân đội mũ bảo hiểm gây ấn tượng như đội quân cảm tử trên đường ra trận. Ở nhiều nước xe máy không thể tung hoành như thế mà chỉ một bộ phận nhỏ trong giao lưu có trật tự. Viện trưởng Viện Văn họcnước ngoài của Trung Quốc trong lần sang thăm Việt Nam vào năm 2000 khi đứng ở ngã tư chờ đi qua đường đã nhận xét: “Như đạo quân của những ông tướng rầm rầm rộ rộ đi qua thật mãnh mẽ”. Nói thế nhưng trong lòng ông chắc cũng cảm thấy ái ngại cho người qua lại xen lẫn với đội quân này. Giao  thông lại có sự chọn lựa mới. Xích lô có ích một thời nay đã lạc hậu, xe đạp dần bị lãng quên, xe máy năng động nhưng cũng không an toàn. Nhiều gia đình đã tìm đến ô tô. Ô tô một căn phòng nhỏ chạy trên đường đủ chỗ cho một gia đình bốn năm người đi gần đi xa. Học lái ô tô cũng không khó lắm, lớp trẻ học vài tháng có thể thành nghề. Tiền mua một chiếc ô tô trung bình không cao hơn xe máy loại tốt. Thế là dòng xe ô tô biển trắng xuất hiện ngày một nhiều. Giao thông thành phố chủ yếu còn lại là xe máy và ô tô. Xe ô tô loại lớn gọi là khủng long, loại nhỏ và các loại xe máy kể cả xe đạp còn sót lại được xem là giao thông hỗn hợp. Khách nước ngoài tỏ vẻ ngại ngùng với giao thông Hà Nội. Có người so sánh với nước ngoài như Ấn Độ, đường phố có cả xe đạp, xích lô, ô tô và cả trâu bò, voi. Nói chung giao thông phải hiện đại. Mỗi nước có khó khăn riêng về giao thông. Ở Hà Nội giao thông là vấn đề nan giải, bao giờ có tàu điện ngầm, tàu trên không, bao giờ đường sá được mở rộng, bao giờ... Chắc chắn sẽ tìm được lối ra. Giao thông hỗn hợp hôm nay là một đặc điểm riêng khó quên của người Hà Nội. Năm 1995 tôi được cử về làm Viện trưởng Viện Văn học. Viện vừa được cấp một chiếc xe ôtô Pôbêđa màu đen. Bảy năm về trước đây là loại xe sang trọng được sử dụng cho cấp bộ thứ trưởng và có thể cao hơn. Nay dòng xe này bị thải loại và được chia cho một số cơ quan trung ương và Ủy ban Khoa học Xã hội. Viện Văn học được chia một. Trong bài Ô tô phong trần ký tôi đã miêu tả kỹ con xe này. Mùa hè đi công tác từ Nghệ An ra ngồi trong xe như hỏa lò. Tôi nói vui nếu là cục gạch thì chúng tôi sẽ đỏ ra sau chuyến đi. Xe đã cũ nên thường tắt máy giữa đường. Có một vài tín hiệu báo trước, xe ậm ạch vừa đi, vừa dừng lại đột ngột, rồi lại đi và dừng hẳn, xe rung lên như run run một hồi rồi chảy nước ra. Anh Minh lái xe bảo: “Lại bệnh cũ thầy ạ, thầy về trước, em lo liệu sau”. Khoảng một tiếng sau nó lại ngoan ngoãn trở về. Có một lần, một cán bộ đi công tác về vùng quê lại vào mùa rơm rạ, xe bị rơm cuốn ống xả cho rơi và xe đành chở về Hà Nội chữa. Đi đường máy nổ to như xe cứu hỏa, đường phố nhô ra xem thấy lạ, chiếc xe con con mà máy nổ vang như sấm. Thật xấu hổ.


Một lần một anh công an nhận ra, xe này biển xanh là xe cụ Đỗ, thuộc họ hàng sang trọng, nay về viện không biết nâng niu. Điều đáng buồn là dòng xe của các cơ quan đã hiện đại hóa Pôbêđa thuộc loại cổ vật. Một lần đi chiêu đãi, tôi ra về sớm. Xe rất đông và sang trọng. Tôi hỏi anh công an “Tôi đến sớm, xe tìm có lâu không anh?”. Anh nói: “ Xin lỗi bác xe của bác đặc trưng nên chúng cháu xếp ngay cửa vào”. Ba bốn năm sau Bộ Tài chính cấp cho chiếc xe Mát-đa. Chiếc Pôbêđa được thanh lý chuyển về rừng phục vụ cho nhu cầu chuyển hàng hóa.


Năm 2003 tôi thôi chức Viện trưởng lại trở về với xe ôm. Lúc này thành phố đã đầy rẫy xe sang trọng, biển xanh dần biến mất nhường cho biển trắng. Nhà có ôtô là chuyện bình thường. Ngày nay, cấp bộ trưởng, ủy viên trung ương dùng loại sang trọng giá một vài tỷ một xe. Các cán bộ nhất là lớp trẻ tự lái và đi làm bằng ôtô. Riêng ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn các khoa già thường có trên dưới mười xe, các cô gái trẻ cũng dần trở thành tay lái lụa.


Nhân nhắc lại chuyện cũ: Năm 1979, tôi và nhà thơ Trần Đăng Khoa đi trao đổi văn hóa ở Bun-ga-ri. Chúng tôi đến nghỉ ở thành phố biển Varna. Xe cộ nhiều, anh phiên dịch Mazin Kaichép thấy tôi ngại ngần khi qua đường liền hỏi: “Ông sợ ôtô à?”. Tôi trả lời: “Thời chiến tranh xe tăng chạy đầy đường tôi còn không sợ, sợ gì ôtô”. Anh ta trố mặt và gật đầu.


Đã hết thời “Ôtô phong trần ký” chuyển sang “Ôtô các loại hình sang trọng ký”.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười. Tập Bút ký của GS Hà Minh Đức. NXB Công an nhân dân, 2016. Tác giả gửi www.trieuxuan.info







[1]Theo Đường phố Hà Nội của Nguyễn Vinh Phúc và Trần Huy Bá.


Nxb Hà Nội, 1979, tr.273




[2]Những nhân vật trong ‘Bí mật thành Paris’




[3]Trích thơ Tạ Ty.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »