tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055795
29.12.2016
Hà Minh Đức
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (2)



HỒ GƯƠM, HỒ TÂY, HỒ BẢY MẪU


CHỐN HẸN HÒ VÀ NƠI TÂM SỰ CỦA THANH NIÊN NAM NỮ


Hồ Hà Nội đều có lịch sử riêng với nhiều huyền thoại. Hồ Gươm có rùa thiêng, hồ Tây có chuyện Trâu vàng và cáo chín đuôi. Đó là chuyện xa xưa, gần gũi hơn là nhiều câu chuyện được nhà văn trước đây miêu tả vừa thơ mộng, vừa đẫm nước mắt. Những gương nước trong đã làm đẹp cho thành phố, hạ nhiệt không khí náo nhiệt của thành phố đông người.


Ngày nay trong thời kỳ hiện đại, cuộc sống thịnh vượng, lớp lớp nhà cao tầng, khách sạn nên tình yêu trai gái cũng mang phong cách mới. Trai gái có thể hò hẹn, tâm tình trong những căn phòng lịch sự, có điều hòa nhiệt độ, máy nghe nhạc, các loại nước giải khát và nhiều  phương tiện hấp dẫn khác.


Hơn nửa thế kỷ về trước, tình yêu trai gái vẫn đằm thắm yêu thương nhau, từ tìm hiểu đến gắn bó tình duyên lâu dài. Tuy nhiên cái địa điểm hạ cánh không phải ở khách sạn, lâu đài mà ở không gian thi vị là những thảm cỏ, những bóng cây ven hồ trong đêm trăng. Hồ Tây, hồ Bảy Mẫu, hồ Gươm là những nơi hấp dẫn.


Hòa bình lập lại sinh hoạt đô thị phát triển, trai gái yêu đương hò hẹn, hồ Gươm là một trong những nơi lý tưởng. Ban ngày là thời gian khoe sắc, khoe màu của thiên nhiên. Mùa hè tới những cây gạo nở bung hoa, hoa lộc vừng rải thảm rộ đỏ trên gương nước hồ, hoa phượng hồng thoáng điểm giữa những hàng cây xanh tươi, hoa bằng lăng mới nhập tịch vào ven hồ khoe sắc tím hồng quyến rũ. Đêm về Hồ Gươm là không gian yêu đương. Truyện tình yêu ở hồ Gươm đã được kể qua những truyện thời xưa. Các cô gái bị ép duyên thường tự tử ở hồ Gươm. Nhưng đó là chuyện của tiểu thuyết lãng mạn. Hồ Gươm sau ngày giải phóng là nơi hò hẹn. Trong những đêm trăng khoảng tám chín giờ tối, từng đôi, từng đôi ngồi trên ghế đá tâm tình. Nhà thơ Lê Đạt có ý tưởng lạ khi ông miêu tả chiếc ghế đá tuy vô tri nhưng lắng nghe bao câu chuyện yêu đương, những lời âu yếm bỗng chán cuộc đời làm đá như ý của nhà thơ Lê Đạt trong tập thơ “Bài thơ trên ghế đá”. Đến muộn ghế đá đã hết chỗ đành trải báo ngồi trên vạt cỏ. Đẹp nhất là trong đêm trăng, khi sương về khuya đã bao  phủ mặt hồ, lúc đó hình bóng người yêu trở nên huyền ảo. Mái tóc đã phủ hơi sương lạnh cần hơi nóng ấm áp chuyền cho nhau. Nhà thơ viết Bài thơ trên ghế đá tinh tế phát hiện ra không khí yêu đương một thời trên ghế đá. Những năm chống Mỹ hồ Gươm không phải chốn bình địa mà bốn góc hồ đều có hầm trú ẩn cho nhiều người. Hầm cá nhân rải khắp đường ven hồ cứ khoảng mười thước lại có một hầm cá nhân. Tình yêu cũng phải đi sơ tán. Khi đất nước thống nhất cuộc sống đã sang giai đoạn mới. Hồ Gươm không còn là điểm hẹn hò của trai gái chỉ còn là khu vực hội hè trong những ngày lễ hội, ngày quốc khánh, đêm giao thừa, đêm giáng sinh. Hồ Gươm là điểm sáng mang vẻ đẹp riêng cho thành phố.


Rộng lớn, mênh mông và tươi đẹp là hồ Tây. Hồ Tây có lịch sử đẹp và đi vào thơ ca. Hồ Tây có nhiều chuyện để luận bàn. Tôi chỉ muốn nói đến hồ Tây nơi hạ cánh của tình yêu trong nhiều năm. Các buổi tối nhất là ngày nghỉ, ngày lễ đường thanh niên và khu vực xung quanh là nơi hò hẹn của nam nữ thanh niên. Đường Thanh niên là con đường vui, con đường của tuổi trẻ. Vốn tên là đường Cổ ngư nằm giữa hai hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Hồi đầu hòa bình lập lại, thanh niên thủ đô nô nức, hăng hái bồi đắp thành con đường lớn lấy tên là đường Thanh niên. Hàng liễu vẫn đung đưa mành lá và rủ bóng bên đường. Các ghế đá từ chập tối đã có người ngồi. Ven hồ Tây và đường thanh niên có nhiều vạt cỏ xanh mướt. Trai gái đến muộn chỉ cần mang theo tấm vải bạt hoặc ni lông làm chỗ ngồi. Từng đôi ngồi gần gũi nhưng không ai chú ý đến ai nói chuyện gì. Trên trời là đêm trăng sáng, trước mặt là hồ Tây mênh mông chỉ còn hai bóng người bé nhỏ bên nhau. Một bạn trẻ có lần tâm sự: “Mình thường ngồi ven hồ chếch phía đằng sau công viên Lý Tự Trọng. Ở đây có những bụi hoa ngâu, hoa dạ lan hương tỏa hương thơm về đêm. Ngồi dưới bụi cây hoa dạ lan hương  bên người yêu và ngắm trăng hồ Tây thì không còn gì hạnh phúc hơn. Hai đứa nói chuyện gì nghe cũng thích cũng vui. Cứ thế thời gian trở nên nhanh, chẳng mấy chốc đã gần về khuya anh công an lướt xe qua đã nhắc mọi người ra về. Thời chiến, quy định giờ giấc nghiêm nhặt, nên đành chia tay hẹn gặp lại tuần sau, trăng vẫn còn sáng, hoa dạ lan hương vẫn còn dành hương thơm cho chúng mình”. Không dễ trong đời có được những cuộc hẹn hò thi vị như thế.


Ở cuối thành phố làm sao lên được hồ Tây, thiên nhiên đã dành cho trai gái nơi gặp gỡ vườn cây ven hồ Bảy Mẫu.


Miền đất cuối thành phố khá rộng rãi có vườn cây xanh tươi, có hồ nước rộng mang tính chất một công viên có sửa sang theo mẫu hình nghệ thuật. Giữa hồ có cây cối xanh tươi, tuy nhiên việc đi lại giao lưu không dễ dàng. Thanh niên thường đi dạo theo những con đường đẹp trong công viên Bảy Mẫu và ngồi chơi dưới những bóng cây cao bóng cả. Đêm về Bảy Mẫu có vẻ riêng hấp dẫn. Bạn trẻ kể là đến Bảy Mẫu tự do hơn, chúng em ngồi chơi đến khuya không bị công an nhắc nhở, không có hàng quán gì nên ngồi lâu cũng khát nước. Trẻ em đã làm nhiệm vụ tiếp tế đem nước vối nóng trong những chiếc ấm to mời chào. Ngồi bên người yêu uống một bát nước vối nóng khi ngoài trời se lạnh cũng là một hạnh phúc nhỏ trong những năm chiến tranh. Bom đạn cứ đe dọa nhưng cuộc sống cứ bình tĩnh, trai gái vẫn hẹn hò theo cách riêng của người Hà Nội. Hồ Gươm, hồ Tây, hồ Bảy Mẫu, những hồ nước trong, tôn vinh vẻ đẹp của thành phố cũng là nơi hẹn hò của tuổi trẻ yêu đương một thời.


 


VIỆT NAM HỌC XÁ- KÝ ỨC MỘT THỜI


 


Ở phía Nam thành phố trên khoảng đất rộng có bốn tòa nhà lớn xây theo kiểu bán cổ, có mái che theo kiến trúc phương Đông. Thực dân Pháp dành cho sinh viên các nước ở Đông Dương học và ở tại Việt Nam. Sau giải phóng các tòa nhà ấy gọi là Việt Nam học xá do Bộ Giáo dục quản lý. Sau khi đậu vào Đại học Sư phạm, lớp chúng tôi được vào nội trú ở. Lớp Văn Sử ở chung khu nhà C. Nhà A, B dành cho sinh viên khoa học tự nhiên. Tòa nhà có thể chứa được vài trăm sinh viên. Có những phòng rộng cho hai ba chục người. Sinh viên nằm giường hai tầng. Nhà vệ sinh chung, điện sáng, nước máy dồi dào như thế cũng là lý tưởng với chúng tôi. Tuy nhiên, mong ước là không cùng từ chuyện ăn uống chắc chắn  không dễ ưng ý. Sinh viên được học bổng 11 đồng một tháng. Buổi sáng ăn năm xu bánh mì hoặc một hào xôi. Thỉnh thoảng ăn một bát phở chín giá hai hào rưỡi. Không khéo tính toán sẽ bị hụt tiền và phải nhịn ăn sáng. Cơm tập thể sáu người một mâm, một giá cơm, một xoong canh và một đĩa đậu phụ kho loáng thoáng thịt. Tuổi trẻ sức lực nên tính ra mới được nửa bụng. Chuyện sinh hoạt là thế còn học hành vẫn là thú vui hấp dẫn của thế hệ trẻ. Từ Việt Nam học xá đến trường Đại học Tổng hợp ở phố Lê Thánh Tông phải đi bốn, năm cây số. Được học ở những giảng đường đẹp lại nghe các thầy cô nổi tiếng và tài giỏi dạy nên ba bốn tiếng qua đi nhanh. Tan học phải cuốc bộ về Việt Nam học xá. Lúc này khá mệt mỏi với đoạn đường dài.


Gần bốn năm chúng tôi sống trong không khí trẻ, vui vẻ của tập thể. Tuổi mười tám đôi mươi đều mơ ước, nói mơ ước nhưng rồi chẳng có gì dám mong ước. Phần không nhỏ sinh viên là con địa chủ chạy được ra Hà Nội học là điều may mắn lớn, thỉnh thoảng địa phương lại gọi về. Tuy nhiên cũng có những chuyện thú vị. Anh Nguyễn Trạch Nùng vốn là một sinh viên giỏi nhạc. Áo anh thêuhai nốt nhạc nhảy nhót trước ngực. Anh tổ chức lớp học nhạc cho chúng tôi miễn phí nhưng cũng ít người theo học vì mù nhạc từ lâu nên cũng ngại ngùng. Một hôm anh nhìn lên tường của câu lạc bộ của nhà C có treo một tấm áp phích to in cô gái đẹp tay ôm bó lúa vàng, miệng tươi cười. Anh nhìn cô gái trong tranh đắm đuối và bảo đây là một cô văn công, tôi sẽ đi tìm và yêu cho được. Không ai nói gì vì vừa khó tin vào lời nói của anh vừa ngại vì chuyện tình xa xôi quá. Nhưng rồi vài tháng sau anh đã đạt được mục đích, không chỉ được yêu mà còn xây dựng gia đình. Đối với chúng tôi đó là một huyền thoại.


Việc học hành vào kỳ thi thật nhộn nhịp. Ai cũng lo lắng tìm cho mình một chỗ vắng để ngồi học. Anh Nguyễn Văn Minh tìm ngôi chùa ở gần để nhờ chỗ ôn bài. Ở nhà chùa có cô tiểu xinh gái. Anh làm quen và dần thân mật. Cô cho anh mượn xe đạp để đi từ chùa về ký túc xá. Một số bạn trông thấy chiếc xe ngoại cá vàng liền hỏi, anh bảo của cô tiểu cho mượn. Cô bảo anh cứ giữ mà đi hết mùa thi trả lại cho cô. Dần dà gần rơm lửa lâu ngày cũng bén và hai người yêu nhau. Các bạn hỏi anh: “Cậu tỏ tình như thế nào với cô tiểu?”. Anh cười và nói: “Một lần đi qua chỗ có vũng nước mình dắt tay cô sau không bỏ ra. Cô nhìn và trừng mắt. Mình cười trừ và cuối cùng cô cũng tủm tỉm cười”. Khi tốt nghiệp, ra trường anh tổ chức cưới đưa cô về với đời thường. Chúng tôi cũng xem đó là một huyền thoại. Trong tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng đôi bạn trẻ yêu nhau những đành để tình yêu khuất phục trước Đạo Phật như một tình yêu trong mộng. Ngày nay, trước Phật đài, Nguyễn Văn Minh là người có công hay có tội. Trong ký túc xá cũng ít người xinh đẹp, nếu có một hai thì cũng nhiều anh vây quanh. Cô gái vui cười nhưng rồi lặng lẽ lấy người cấp trên. Đấy là nói một hai chuyện vui còn đa số chăm chỉ học hành.


Chiến tranh kết thúc được học tập ở thành phố hòa bình với các thầy cô giỏi còn gì vui sướng hơn. Thế hệ sinh viên 1954-1957 ngành Văn sẽ có nhiều người tài giỏi. Ngành Sử có các anh Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn ba trong tứ trụ triều đình về Sử học. Ngành văn có nhiều giáo sư như Phan Cự Đệ, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Đình Chú,...


Lúc này một số thực tập sinh và sinh viên Trung Quốc đã sang thực tập ở Việt Nam và cũng ở trong khu nhà riêng ở Việt Nam Học xá. Các anh An Chí Tín, Lý Tú Chương đã giao tiếp được bằng tiếng Việt nhưng chưa thành thục. Các chị Lan Hương, Minh Phượng trong lớp tôi vẫn phải sang một tuần hai lần giúp họ luyện tiếng Việt. An Chí Tín sau này công tác ở sứ quán Trung Quốc, còn Lý Tú Chương làm ở Viện Hàn lâm khọc học xã hội Trung Quốc.


Gần 60 năm đã qua, trong buổi họp lớp “Kỉ niệm 60 năm vào trường”(1954-2014), tại giảng đường lớn Đại học Tổng hợp Hà Nội có khoảng 60 anh chị em về họp đều tóc bạc phơ. Tất cả ở tuổi tám mươi trừ một số người xấp xỉ tám mươi. Hẹn bốn năm sau sẽ kỷ niệm 65 năm ngày ra trường. Lần gặp cuối của các cụ tuổi 85 và sau đó nắm chặt tay xin xóa sổ.




 


NHỮNG THOÁNG PHỐ PHƯỜNG HÀ NỘI


 


Hà Nội có 36 phố phường, người dân Hà Nội cũng không dễ nhớ hết. Người bốn phương về dễ ngơ ngác giữa các phố phường cấu trúc như một bàn cờ từ ngày xưa và cho đến nay vẫn là di tích nổi tiếng: Phố cũ Hà Nội.


Rủ nhau chơi khắp long thành


Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai


Hàng Bồ hàng Bạc hàng Gai


Hàng Buồm hàng Thiếc hàng Bài hàng Khay


Mã Vĩ hàng Điếu hàng Giày


Hàng Lờ hàng Cót hàng Mây hàng Đàn


Phố Mới Phúc Kiến hàng Than


Hàng Mã hàng Mắm hàng Ngang hàng Đồng


Hàng Muối hàng Nón Cầu Đông


Hàng Hòm hàng Đậu hàng Bông hàng Bè


Hàng Thùng hàng Bát hàng Tre


Hàng Vôi hàng Giấy hàng The hàng Gà


Quanh đi đến phố hàng Da


Trải xem đường phố thật là cũng xinh


(Tô Hoài- Chuyện cũ Hà Nội- Tập I trang 2)


Ngày nay cách gọi một vài phố có thay đổi đôi chút về từ ngữ nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên trang. Tôi chỉ xin điểm một số phố được biết và cũng có những điểm gây ấn tượng cho người đến Hà Thành.


 


PHỐ TRÀNG TIỀN


 


Phố Tràng Tiền được xem là khu phố ổn định nhất, mang dáng dấp của một khu phố Tây. Nhà ở  thường có tầng cao năm sáu tầng. Đầu phố là hiệu bách hóa tổng hợp vốn là tòa nhà cũ gọi là Gô-đa nổi tiếng nhưng kén khách mua nên cũng vắng vẻ. Cho đến nay tòa nhà lớn ấy vẫn chưa phát huy được. Sát cạnh bách hóa là hiệu Bô-dê-ga thường gọi là Bò-dê-gà cũng là cửa hàng ăn theo phong cách Âu- Tây. Tràng Tiền là phố của cơ quan, các cửa hàng sách, rạp chiếu bóng, nhà in. Qua mấy chục năm cũng không có gì thay đổi từ nhà in báo Nhân dân nhượng lại cho cơ quan văn hóa Pháp là Espace để tổ chức các buổi nói chuyện, chiếu phim văn hóa Pháp. Chiều ngày thứ hai(27-10-2003) tại Trung tâm văn hóa Pháp Espace 24 Tràng Tiền, đại sứ quán Italia và Hội nhà văn Việt Nam đã tổ chức buổi giao lưu văn hóa nhân dịp tuần lễ văn hóa Italia. Buổi lễ tham dự có đại sứ Italia Luigisolari và nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam. Buổi giao lưu về văn hóa giữa nhà thơ nổi tiếng Claudio Magrit và giáo sư Hà Minh Đức. Vài trăm khách phương Tây về Việt Nam tham dự. Chủ đề của cuộc đối thoại là văn hóa không có ngăn cách biên giới và thành tựu văn chương của hai dân tộc. Hai người trao đổi trực tiếp bằng tiếng Pháp.Ấn tượng đặc biệt của khu phố là trục thẳng tiến đến quảng trường Nhà hát lớn được xây dựng vào năm 1911. Khu vực xung quanh Nhà hát lớn là Bắc bộ phủ rồi khách sạn Metropole, nhà băng Đông Dương có lẽ nghệ thuật kiến trúc Pháp hội tụ ở đây. Những tòa nhà lớn vẫn còn lại với thời gian mặc dù cuộc sống có nhiều biến động.


 Nhà văn Nguyễn Đình Thi trong một lần đi Pháp về qua câu chuyện với chúng tôi: “Hình như người Pháp muốn xây dựng ở những thuộc địa những kiến trúc bé nhỏ mang dáng dấp của nước Pháp. Ở Pháp có Nhà hát lớn thì ở Việt Nam cũng có Nhà hát lớn với kiến trúc bé nhỏ hơn”. Trong chuyến đi Pháp năm 1995 tôi có dịp so sánh hai vườn hoa con cóc, một ở Việt Nam bé nhỏ hơn và vườn hoa con cóc ở Pháp với kích thước rộng lớn hơn nhiều. Nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng có nhiều nhận xét về văn hóa vỉa hè ở một số nơi công cộng như ở bến ga, tàu điện ngầm. Ông cho rằng mấy chàng trai kéo đàn viôlông ở ga xe điện ngầm tuy là nghiệp dư nhưng trình độ nghệ thuật cũng khá, không phải chỉ là kiếm sống. Điều mà ông không thích thú phản cảm là mấy anh lính đội mũ ca-lô đỏ gợi lại hình ảnh lính Pháp đội mũ chào mào đỏ hung hăng hồi đầu Cách mạng tháng Tám nhất là ở khu phố này.


Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, phố Tràng Tiền và khu vực Bắc bộ phủ, nhà băng Đông Dương vẫn còn ghi lại hình ảnh kiến trúc Pháp với phong cách riêng đặc biệt. Ở khu phố này hình như chỉ dành riêng cho những cửa hàng có tính chất văn hóa như các hiệu sách lớn, hiệu thuốc, hiệu may âu phục và phòng triển lãm. Trước giải phóng chỉ có một hiệu bánh Bô-dê-ga. Ngày nay có thêm cửa hàng ăn Tràng Tiền. Không có gì đặc sắc nhưng nổi lên là loại kem Tràng Tiền. Kem cây, kem cốc, ăn đứng, ăn ngồi theo kiểu bình dân. Phố đẹp nhưng từ lâu không có gì đột xuất trong kiến trúc, kinh doanh. Phố ít cây hay đúng hơn là không có hàng cây xanh đẹp, gây ấn tượng. Phố cũng bớt đi vẻ đẹp của tự nhiên hay như câu thơ của Huy Cận:


Phố không cây ôi sầu biết bao chừng


Thực ra thì phố Tràng Tiền tuy không có cây nhưng vẫn đẹp, một khu phố hoành tráng còn câu thơ của Huy Cận được viết trong một cảnh ngộ khác khi ông cùng với Xuân Diệu tá túc ở Hàng Than một phố nghèo thời kì trước cách mạng. Nhân chuyện về phố không cây, tôi liên tưởng đến phố Thợ Rèn nơi ở của nhà văn Dostoievski. Năm 2002, khi qua Nga dự họp ở thành phố Saint- Pétersburg, tôi có đi qua phố Thợ Rèn và được người lái xe giới thiệu cho khu phố và căn nhà của Dostoievski. Theo giáo sư Nguyễn Hải Hà thì văn chương Dos ít có những bức tranh thiên nhiên đẹp. Liên hệ với văn chương Việt Nam, Tô Hoài cũng nhận xét trước cách mạng Nam Cao ít tả thiên nhiên(trừ cảnh đêm trăng và vườn chuối nơi Chí Phèo gặp gỡ Thị Nở). Ngược lại Tô Hoài lại yêu thích và miêu tả nhiều bức tranh thiên nhiên hấp dẫn.


 


PHỐ HÀNG KHAY


 


Hàng Khay là khu phố sang trọng ở vị thế đẹp về địa lý với các cửa hàng kinh doanh văn hóa phẩm. Trước mặt là Hồ Gươm, lại nằm trên trục đến thẳng Nhà hát lớn, đoạn đường ngắn và đô hội nhất thành phố. Các cuộc diễu binh, các cuộc tuần hành, lễ hội đều nườm nượp diễu qua đường phố này. Các cửa hàng thường buôn bán hàng lưu niệm cho khách nước ngoài. Nổi bật là hiệu ảnh Quốc tế có truyền thống nghệ thuật cao. Trước hiệu trong quầy kính lớn có bày hai bức ảnh đẹp của vợ chồng nghệ sĩ múa Thúy Quỳnh. Năm 1964, nhân có dịp qua đây tôi mời nhà văn Tô Hoài vào cùng chụp ảnh. Tấm ảnh đen trắng cho đến nay nước ảnh vẫn rất đẹp, ảnh tôn người được chụp lên, vừa chân thực vừa có hồn. Lúc ấy anh Tô Hoài khoảng trên bốn mươi còn tôi gần ba mươi. Xem hai tấm ảnh chụp 1964 anh Tô Hoài cũng khen đẹp, một kỷ niệm nhỏ khó quên.


Một lần, trong thời kỳ chống Mỹ, đi với nhà văn Nguyên Hồng qua phố, tôi mời nhà văn Nguyên Hồng vào uống bia hơi. Không hiểu sao giữa phố lại có một hiệu bia hơi khá quy mô, đông khách. Người đông phải xếp hàng, mấy đứa cháu nhỏ bán lạc rang mời tôi: “Chú mua lạc rang, cháu mua bia cho chú và bác”. Tôi đưa tiền nhờ các cháu mua mấy cốc bia. Cùng ngồi một bàn với chúng tôi có một ông khách đứng tuổi. Nhà văn Nguyên Hồng nheo mắt cười và vuốt râu. Ông nhìn mấy cháu và bảo: “Chúng nó ngoan lắm như chú bé Ga-vrốt-sơ của Vích to Huy-gô”. Ông vừa nói xong tức thì ông khách ngồi cạnh phản ứng: “Chúng nó là những đứa trẻ lang thang, sao ông lại bảo chúng là Ga-vrốt-sơ”. Nhà văn Nguyên Hồng bị bất ngờ nên ngồi yên lặng. Người khách có thể là một nhà báo, một cán bộ tuyên giáo, ông không biết người ông vừa có ý phê phán là ai. Một lát Nguyên Hồng nói: “Tôi thương các cháu, tuổi trẻ đáng lẽ ra phải được học hành đã phải vất vả kiếm sống”. Ông nói và rưng rưng. Người khách không nói gì và như cảm thấy mình thiếu chín chắn. Hàng Khaychỉ có một mặt phố bên kia là đường ven hồ, một đoạn đường đẹp có thể đi trên đường ngắm cảnh, có thể tràn xuống thoai thoải giữa hàng cây cho đến mép nước. Có thể trên con đường này nữ thơ sĩ Dimistrova trong những năm chiến tranh chống Mỹ đi dạo vào một buổi sáng và “Gặp gỡ  nụ cười”, nụ cười Việt Nam của người phụ nữ bụng mang dạ chửa. Nhà thơ như cảm thông với sự vất vả của người phụ nữ trong chiến tranh lại có chửa. Đi đến gần như linh cảm thấy điều đó và chị phụ nữ nở nụ cười. Bà Dimistrova xúc động và viết Gặp gỡ nụ cười.


Mỗi lần đi qua Hàng Khay lại nhớ tới hiệu ảnh quốc tế với gia đình gốc Hà Nội của bà chủ. Bà có hai cô gái xinh đẹp chị là Oanh và em là Quỳnh. Chị Oanh được xếp trong nhóm tứ quý bốn cô gái đẹp. Chị Oanh sau dạy tiếng anh ở trường đại học. Nhiều tiến sĩ trẻ đến xin chịu chết, nhưng đều được thả về và duyên tơ đã kết với anh Nguyễn Hàm Dương, tiến sĩ ngôn ngữ học. Quỳnh lấy một nhạc sĩ người Hoa và sau chuyển sang ở Canada. Chị có học tại chức văn và dạy văn ở trường nhạc. Trong một lần đi họp ở Toronto Canada, tôi có dịp gặp Quỳnh và gia đình.


 Hòa bình lập lại, Hàng Khay, Tràng Tiền là khu phố đông vui nhất. Ở ngã tư xuất hiện một hình bóng lạ, trên bục gỗ có mái dù che, một chị công an mặc trang phục màu vàng sáng, găng tay trắng, nhẹ nhàng chỉ đường cho xe cộ qua lại. Vào những ngày lễ, chủ nhật đồng bào tập kết ở các tỉnh gần Hà Nội về họp mặt. Những bác cao tuổi, miệng hút thuốc nắm tay nhau mừng mừng rỡ rỡ hoặc ngồi dưới gốc cây mát hoặc quanh quanh quán cà phê, quán bia. Các bà má khăn rằn cũng thơm khói thuốc chuyện trò như người cùng làng xóm quen biết nhau. Buổi trưa là bữa cơm trong các quán ven hồ. Tập kết ra Bắc đến miền đất xa xôi của tổ quốc nhưng đã có đồng bào chào đón, yêu thương. Một năm, hai năm trở lại  miền Nam, đinh ninh lời hẹn hò nhưng vẫn ngày đêm nặng nhớ thương. Kẻ thù đã phản bội hiệp nghị Giơ-ne-vơ nhằm gây chia cắt lâu dài đất nước.


 


PHỐ HÀNG BUỒM


 


Không có dòng sông và cánh buồm nào ở đây mà chỉ là một khu phố nổi tiếng về ẩm thực. Từ Hàng Ngang rẽ sang, ngay từ đầu phố là cả dãy hàng cơm tám giò chả, những cửa hàng ngỗng quay, vịt quay, chim quay vàng rượm và tỏa thơm hương vị. Các loại thịt quay hàng Buồm nổi tiếng. Thường gần trưa hoặc về cuối chiều người mua phải xếp hàng. Thịt quay Hàng Buồm chưa nổi tiếng như vịt quay Bắc Kinh nhưng cũng là món ăn thực khách sành điệu ưa chuộng. Một điểm đặc biệt của ẩm thực Hàng Buồm là các quán cơm tám giò chả. Đây là đặc sản của Hàng Buồm. Hàng chục cửa hàng kề bên nhau. Khách hàng thường chỉ ngồi ở tầng dưới, bước vào cửa đã thấy mùi thơm của cơm tám. Gạo tám chọn lọc, bát cơm dẻo thơm từng hạt. Thức ăn là các loại giò chả, giò lụa, giò gà, giò bò rồi chả quế, chả cốm...Cơm tám giò chả đậm hương vị dân tộc, thanh nhã, không béo, không cay, không tạp. Không có các món phục vụ cho khách bợm rượu. Ngày nay cơm tám giò chả dường như thất truyền vì không còn loại gạo tám thơm như xưa, thịt lợn nuôi theo kiểu công nghiệp không thơm thịt và thực khách khẩu vị cũng phức tạp. Đến nay, dường chỉ còn một vài hàng thịt quay giữ được nghề xưa. Đi qua đền Bạch Mã là nhà hàng Mỹ Kinh nổi tiếng một thời. Vào trước và sau những năm 60 cửa hàng Mỹ Kinh là nơi ăn uống nhộn nhịp.


Phố Hàng Buồm có nhiều người Tàu ở nên thức ăn cũng có màu sắc riêng. Buổi sáng khai vị món bánh bao và xíu mại. Bánh bao có nhân trứng mặn, lạp sườn thịt xá xíu có chất lượng cao. Món xíu mại làm theo kiểu Trung Quốc là thịt nạc băm nhỏ chế biến với nhiều gia vị và được hấp trong những đĩa nhỏ. Tôi thỉnh thoảng ăn sáng ở Mỹ Kinh nhưng chỉ đủ tiền ăn phở chín. Giáo sư Bùi Nguyên mê món bánh bao xíu mại nhưng ông phải hạn chế một tuần chỉ một lần thôi. Thỉnh thoảng ông cũng ăn cơm trưa và ưng ý nhất là món mọc bung hạt sen mà ông cho là mỹ vị. Cả bát mọc chỉ có một viên thịt to như quả cam con thả chìm trong nước chín nổi giữa những hạt sen. Mọc là thịt lợn băm nhỏ, có mộc nhĩ, nấm hương, thanh cảnh, thơm tho đến các vị tu hành cũng khó cầm lòng. Hàng Buồm sau ngày giải phóng thủ đô vẫn giữ được không khí đô hội của khu phố trung tâm  thành phố. Trước cách mạng có thể phố phường còn dập dìu khách ăn chơi hơn. Phải chăng Mỹ Kinh là một hiệu cao lâu có tiếng, rồi những tiệm rượu tiệm hút. Các nhà văn có tên tuổi cũng thường đến đây thưởng thức hương vị nhiều màu vẻ của cuộc sống. Trong một lần phỏng vấn nhà thơ Lưu Trọng Lư về thơ mới và Tự lực văn đoàn, ông cho biết lúc đầu gặp Nguyễn Tường Tam ở Hà Nội, Nguyễn Tường Tam đọc thơ của Lưu Trọng Lư đăng trên Phụ nữ tân văn. Ông Tam thích và mời ông cộng tác rồi đăng một số bài của Lưu Trọng Lư. “Về sau cũng ít có dịp với Tự lực văn đoàn, có một lần nằm trong tiệm hút với Lan Khai ở phố Hàng Buồm, tôi thấy hai người đi vào, áo pác-đơ-xuy kéo kín cổ, đội mũ phớt Mốt-xăng. Đó là Khải Hưng và Nhất Linh”.[1]


Hàng Buồm cũng là nơi buôn bán của người Hoa với nhiều ngành nghề khéo tay. Chỉ riêng về kẹo bánh thì dọc vỉa hè Hàng Buồm đã có nhiều loại quà bánh của người Hoa. Ở đầu phố Lãn Ông sát cạnh Hàng Buồm có ông lão người Hoa, đội mũ vải, bán bánh rán. Khách mua đông, hàng hết sớm. Đặc điểm bánh rán của ông hình tròn không thể tròn hơn. Vỏ bên ngoài vừa tròn vừa mềm và bên trong là một viên đậu xanh có thể lúc lắc, trẻ em ưa thích. Rồi các món bánh “chín tầng mây”, kẹo kéo xù, rồi các loại quẩy “vừa ròn, vừa dẻo, vắt vẻo khi ăn”. Hàng Buồm ngày nay bị nhiều khu phố ẩm thực khác cạnh tranh nên không được như xưa.


 


PHỐ HÀNG NGANG


 


Phố Hàng Ngang tiếp nối trục phố Hàng Đào. Hàng Ngang, Hàng Đường, Đồng Xuân như cột xương sống của một con cá dưới nước. Hàng Ngang nổi bật về ngôi nhà 48 nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập. Tòa nhà lớn vẫn tọa lạc trước phố cho khách tham quan vào ngày lễ. Ngôi nhà đông dân nhất của phố Hàng Ngang là ngôi nhà số 31. Nguyên là một hàng bán trà của người Tàu. Sau giải phóng thủ đô người chủ chỉ thỉnh thoảng về thoáng qua và cũng sớm kết thúc việc kinh doanh. Ngôi nhà do Sở nhà cửa Hà Nội quản lý. Tốt nghiệp ra trường vào năm 1957 tôi và anh Nguyễn Ngọc Sancùng lớp vẫn tìm chỗ ở ổn định. Chúng tôi tìm được số nhà 75 Trần Quốc Toản và thuê hai phòng ở dưới thông liền nhau. Nhà hai tầng kiểu hiện đại, sân lát gạch hoa, có lối đi riêng tiện lợi. Ở một vài tháng dễ chịu nhưng giá tiền nhà không thật thích hợp với lương của thầy giáo mới ra trường. Từ một thông tin nào đó Sở nhà cửa Hà Nội đến liên hệ và đổi cho chúng tôi căn gác 79 m2 gác ba ở số nhà 31 Hàng Ngang. Lên thăm thú thấy là lạ giống như trong truyện Lâu đài họ Hạ, lại có đầy đủ bàn ghế, bàn ăn bằng đá hoa, giường Hồng Kông của chủ để lại nên chúng tôi đồng ý chuyển nhà. Căn gác ba lại có một sân thượng ngắm trăng nên có phần thi vị. Tôi và anhNguyễn Ngọc San sống trong không khí của lâu đài cổ. Thỉnh thoảng xuống phố rẽ sang Hàng Buồm với các loại thức ăn hảo hạng, hoặc chiều đi về phố Hàng Đào rồi dạo quanh Hồ Gươm. Nhưng ngày vui chẳng được lâu. Vài tháng sau các gia đình lần lượt đến chiếm lĩnh cửa hàng dùng để làm chỗ uốn song mây làm ghế cho trẻ con. Không khí lao động cực nhọc, những cây song mây hơ trên những lò lửa và uốn cong theo hình dáng mình muốn. Mùa hè thợ thường cởi trần cho dễ lao động. Khách nước ngoài thỉnh thoảng dừng lại xem cảnh lao động thủ công. Ở tầng một chỉ có một phòng dài bảy tám chục thước ngăn ra bằng gỗ hoặc phên nứa cho nhiều hộ ở. Tầng hai phần nhiều do người Hoa sinh sống. Họ làm nhiều nghề, chuyển đổi nhanh các nghề  hợp với nhu cầu cuộc sống khi làm mì sợi, khi dán hộp, khi ướp chè hương sen. Tầng gác ba là chỗ ở của tôi và anh San. Một thời gian anh San chuyển đi và giáo sư Bùi Văn Nguyên từ quê ra thay thế. Ông từ trường phổ thông Hà Tĩnh ra dạy Đại học Sư phạm. Thỉnh thoảng ông đi thư viện và có dịp lên thăm chúng tôi. Ông thấy khoảng giữa có thể tạm trú và đề nghị cho ở tạm để lấy chỗ đọc sách và lâu dần ông chuyển vào một góc căn phòng riêng và cư trú vĩnh viễn. Nhà 31 Hàng Ngang tăng dân số có lúc đến năm sáu chục người thêm dân tứ xứ du nhập. Tuy dân số đông nhưng cũng biết điều trong cuộc sống hàng ngày. Người Hoa sống ở đất nước người cũng có tính ôn hòa, dễ gần gũi. Trừ những nhà kinh doanh, giàu có còn phần lớn cũng kiếm sống vất vả. Nhà 31 Hàng Ngang có khoảng 5 đến 6 gia đình người Hoa. Họ sống tiết kiệm, giỏi chế biến thức ăn. Các món thức ăn như dạ dày lợn, lá sách bò, chân gà, chân chó,... đều có thể chế thành thức ăn ngon. Ông già người Hoa bảo tôi: “Các loại chân chạy như chó, dê, gà bộ chân thường rất quý, khí cốt dồn về đây cả có thể nấu các loại cao rất tốt cho người già”. Mùa hè đến họ thường ngâm các loại mơ, mận, chanh để chữa bệnh. Cuộc sống đang diễn ra bình thường thì một sự kiện xảy ra. Cuộc chiến tranh biên giới phương Bắc đã đẩy họ vào tình thế khó khăn. Một số vẫn ở lại và được đối xử bình thường và một số tìm cách ra đi. Trong nhiều tháng chuẩn bị họ bán nhà và đồ đạc và chuẩn bị sắm các vật dụng để ra đi. Các hộ gia đình ở 31 Hàng Ngang đều ra đi bằng thuyền to chuẩn bị vào những ngày biển lặng. Sau hai ba lần từng chuyển có người sang Sing-ga-po, có người sang Bắc Âu.


Lúc này thành phố sơ tán, khu phố Hàng Ngang cũng vắng vẻ. Đêm đêm chỉ nghe tiếng thùng va chạm vào nhau. Khu phố cổ phần lớn không có nhà xí tự hoại mà phải đổ thùng. Việc đổ thùng thường tiến hành vào đêm khuya khi khu phố đã vắng người. Những cô gái bịt khẩu trang mặc quần áo sẫm lặng lẽ với công việc. Đến từng nhà, bấm chuông vào thay thùng không và chuyển thùng phân ra xe đậu đầu phố, công việc nặng nề mà không thích hợp với văn hóa và tinh thần tôn trọng con người. Hòa bình lập lại, các hộ khu phố cổ dần chuyển sang hố xí tự hoại. Ngôi nhà 31 Hàng Ngàng cũng chuyển sang hố xí bán tự hoại. Nhưng rồi nhà quá đông người nên có lần rơi vào cảnh tắc nghẽn. Người có cơ quan thì đến cơ quan, người quen hàng xóm thì cậy hàng xóm, nhưng không thể giải quyết hết được. Cái khó ló cái khôn. Mấy vị cao niên bàn bạc và nảy ra sáng kiến mua bảy tám con lươn to khỏe, vàng ươm chuẩn bị cho từng con vào hố xí. Những con lươn chui dần xuống hố sâu, người tiếp tục đổ nước. Cho đến những con lươn cuối cùng thì một âm thanh “ục mạnh” và nhà xí thông suốt. Mọi người vui vẻ khen sáng kiến. Có người tiếc những con lươn vàng béo. Chuyện nhỏ nhặt cũng nổi lên khó khăn của một thời.


Đã nhiều năm ở Hàng Ngang, ngôi nhà vẫn như xưa, nhưng đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm vui buồn. Sống ở khu vực phồn hoa nên cũng học hỏi được nhiều điều. Tôi không quên những năm tháng gian khó của thời chống Mỹ, thiếu điện, thiếu nước chắt chiu để sống và làm việc. Chính ở căn phòng này tôi đã viết các cuốn sách về Nam Cao, về quan điểm của Mác- Ănghen về văn học nghệ thuật và viết chung với giáo sư Bùi Văn Nguyên về cuốn Thơ ca hình thức và thể loại. Tôi cũng đã được đón tiếp nhiều nhà văn nhà thơ ở thế hệ trước, các anh có dịp đến thăm. Nhà văn Tô Hoài thường đến Hội văn nghệ Hà Nội ở phố Hàng Buồm rồi tạt qua chơi. Có lần ông rủ cả Nguyễn Tuân cũng đến trong dịp đi chơi phố Tết. Nhà thơ Huy Cận trong những năm chống Mỹ đến rủ tôi đi Trường Sơn(1973). Nhà thơ Xuân Diệu cũng có dịp ghé qua. Các anh Đông Hoài, Nguyễn Địch Dũng, Thợ Rèn thỉnh thoảng vẫn qua lại. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng có lần ghé thăm. Sau ngày giải phóng miền Nam các anh là bậc đàn anh đã chia sẻ cho tôi niềm vui, niềm tin yêu cuộc đời.Một ấn tượng không thể quên được về chuyến thăm Việt Nam giữa những ngày chống Mỹ của chủ tịch Fidel Castro sang thăm Việt Nam. Thời ấy chưa có sân bay Nội Bài nên các máy bay thường đáp xuống sân bay Gia Lâm và từ sân bay Gia Lâm qua cầu Long Biên đi vào thành phố. Tôi nhớ kỹ hình ảnh đoàn xe chở khách quý đi qua phố Hàng Ngang. Tôi đứng trên gác hai nhà 31 Hàng Ngang nhìn xuống. Trên một chiếc xe đẹp mui trần có bốn vị lãnh tụ cùng đứng và vẫy tay chào đồng bào hai bên phố. Đồng chí Lê Duẩn và Chủ tịch Fidel Castro ở hàng trên. Hàng thứ hai là Chủ tịch Phạm Văn Đồng và đồng chí Trường Chinh. Các vị Lê Duẩn, Fidel Castro, Phạm Văn Đồng đều có tầm vóc cao to. Riêng đồng chí Trường Chinh người tầm thước nhưng vẫn thấp xuống một bậc. Khu phố Hàng Ngang, Hàng Đào chật hẹp lại có một ngày tỏa sáng được đón khách quý. Kỷ niệm ấy mãi mãi ghi nhớ trong tôi. Cũng trên con đường từ cầu Long Biên dẫn vào trung tâm thành phố có một ngày được đón đoàn quân chiến thắng trở về. Ngày 10-10-1954, toàn dân thủ đô nô nức chào đón những chiến sĩ của Trung đoàn thủ đô. Nhân dân đứng chật hai bên đường vẫy cờ hoa. Ở gần cầu Long Biên trong những người chào đón bộ đội có một hình ảnh đặc biệt: một thanh niên tươi cười kéo đàn accocdéon đó là anh Mai Đình Yên sau này là giáo sư khoa Sinh vật trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm 1995, trong một lần cùng đi Mỹ họp ở trường đại học California Davis nhân kỷ niệm 20 năm sau chiến tranh (30/4/1975 – 30/4/1995) tôi hỏi anh: “Rất dễ nhận ra anh ngày ấy, anh kéo đàn những bài gì?”. “– Vui quá, kéo hết bài này sang bài khác”. Ngày nay người thanh niên ấy đã ở tuổi trên 80.


 


HÀNG ĐÀO


        Từ hồ Hoàn Kiếm nơi bến xe điện đã thấy không khí rộn ràng của Hàng Đào, cửa ngõ của trục phố chính của Hà Nội cổ: Hàng Đào, Hàng Ngang,Hàng Đường, Đồng Xuân, Hàng Than. Từ đó leo lên con đê và đã trông thấy sông Hồng. Nói đến hàng Đào là nói đến một phố được nhiều người quan tâm. Trong những năm đất nước khó khăn, Hàng Ngang, Hàng Đào là nơi bán nhiều đồ trang sức đẹp cho phái nữ. Đi chơi bờ Hồ ăn kem bốn mùa và lên Hàng Đào mua hàng đẹp. Đó là con đường vui, xẩy ra trong nhiều thập kỷ từ bài hát năm xưa:


“Mình ơi, có đi bờ hồ. Cùng ta chén kem, kẹo dừa.


 Xin mình đừng từ chối. Trong túi tôi có mười đồng xanh[2].


Mình cứ đi mình nhé. Cô mình ao ước cái chi.


Bướm vàng quần nhung, bít tất phin, cô đầm, giày cườm”.


Ngày nay, tuy có khác đi, nhưng con đường từ bờ Hồ lên hàng Đào vẫn là con đường vui, kỷ niệm một thời nhất là của tuổi trẻ trai gái gần gũi, chiều chuộng nhau.


Nghĩ đến Hàng Đào là nghĩ đến những người đẹp nếu không phải trong đời thì cũng trong tiểu thuyết. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong tiểu thuyếtSống mãi với thủ đô cũng miêu tả vẻ đẹp của cô Trinh chỉ biết suốt ngày trang điểm. Đặc biệt cô Phượng trong Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi được miêu tả trân trọng, chăm chút và yêu thương. Phượng đẹp từ dáng đứng, dáng đi đến vẻ đẹp của thân hình mềm mại, đôi mắt hay chớp chớp, đôi môi với nụ cười tươi thắm, quyến rũ. Phượng đã tạo nên những ý kiến trao đổi khác chiều khi nhận xét về nhân vật này. Một nhà phê bình cho rằng Nguyễn Đình Thi chiều chuộng nhân vật này quá. Ở Hàng Ngang, nhiều năm tôi có ý định tìm nguyên mẫu của nhân vật Phượng, sau phải thôi vì do nhà văn Nguyễn Đình Thi giàu trí tưởng tượng. Tuy nhiên, khu phố cổ và những ngôi nhà giàu có quanh hồ Hoàn Kiếm vẫn là nơi sinh ra nhiều cô gái đẹp. Cùng thời với tôi, người ta thường nhắc đến cô Oanh ở hiệu ảnh quốc tế, cô Uyên ở phố hàng Bạc, cô Loan ở gần phố Đường Thành, và cô Yến.Ngày nay, nhớ về các chị, là nhớ về hình ảnh đẹp của một thời. Lúc này cái đẹp chưa được chú ý, chưa được tôn vinh qua các cuộc thi sắc đẹp, hoa hậu. Phải một hai chục năm sau, báo Tiền Phong là người mở đầu cho cuộc thi hoa hậu. Hàng Đào, Hàng Ngang cũng có một cơ quan hành chính cấp phường. Thỉnh thoảng dân được mời họp ở ngôi chùa phố Hàng Đào. Giữa phố Hàng Đào có một phòng triển lãm các tác phẩm hội họa, nhiếp ảnh của các nghệ sĩ. Trong một lần nghệ sĩ Văn Giáo triển lãm tranh vẽ về Bác Hồ. Họa sĩ Văn Giáo người cao, to trạc ngoài năm mươi tuổi. Bạn bè thường gọi ông là Van gốc (họa sĩ Hà Lan). Một chuyện vui nhỏ xảy ra khi giáo sư Bùi Văn Nguyên vào xem triển lãm. Vốn bị cận thị nên ông đến gần cúi người xuống xem tranh. Trông thấy cách xem tranh đó, họa sĩ Văn Giáo túm nhẹ cổ áo ở phía sau và kéo nhẹ giáo sư Bùi Văn Nguyên ra xa. Ông bảo xem tranh phải đứng xa, lại gần để xem cái gì. Cụ Nguyên ngẩng đầu lên và bảo: “Tôi bị cận thị”. Họa sĩ nói: “Tôi xin lỗi ông. Ông xem và thấy thế nào?”. Cụ Nguyên trả lời: “Đẹp và công phu lắm, nhưng sao trong tranh các cụ Hồ đều giống nhau?”. Họa sĩ Văn Giáo tỏ vẻ tức tối: “Cụ Hồ không giống nhau thì giống ai, giống ông à?”. Cụ Nguyên bối rối: “Tôi muốn nói mỗi tranh về cụ Hồ phải có vẻ riêng cho nhân vật”. Họa sĩ Văn Giáo bình tĩnh lại và nói ngắn: “Khó đấy cụ ạ, cụ là thầy giáo à?”. –“Vâng”. Chuyện thoáng qua nhưng cũng bộc lộ hai cá tính của họa sĩ và người xem.


Hàng Đào trong những ngày sắp tết khá nhộn nhịp nhất là thời kỳ đầu hòa bình lập lại. Một lần nhà văn Tô Hoài cùng nhà văn Nguyễn Tuân lên phố Hàng Đào, Hàng Ngang chơi trong dịp tết. Ông Tô Hoài rủ nhà văn Nguyễn Tuân vào nhà tôi chơi. Nhà văn Tô Hoài thỉnh thoảng ghé tôi chơi nên cũng đi quen. Cụ Nguyễn Tuân dò dẫm từng bước. Lên đến nơi cụ kêu “Tôi lạc vào Hồng Kông cũ rồi”. Nhà văn trước cách mạng đã có chuyến đi Hồng Kông đóng phim nên liên hệ cho vui. Các ông rủ tôi đi sắm tết, dạo phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Vào một quầy rượu ở phố Hàng Đào tôi mua một chai rượu. Nhà văn Tô Hoài thường uống vang Tây, còn cụ Tuân thì phải Whisky hoặc các loại John nên các ông chỉ ngó qua. Tôi cầm chai rượu và đi ra khỏi cửa hàng. Cụ Nguyễn Tuân chỉ vào tôi và nói: “Ông cầm chai rượu không bọc giấy nên nó thế nào ấy”. Tôi vào hàng nhờ bọc lại cẩn thận và trông vẻ đứng đắn hơn. Ra bờ Hồ, đi vào nhà thủy tạ uống nước nhà văn Nguyễn Tuân hỏi tôi: “Ông Đức ở khu vực này ông có chuyện gì kể cho vui”. Tôi cũng mạnh dạn kể một số chuyện trên phố Cổ. Cụ Nguyễn Tuân bảo tôi: “Anh có thể viết văn được, biết quan sát và kể chân thực cụ thể”. Tôi cám ơn nhà văn. Không mấy dịp được gặp gỡ tôi nhận lời chỉ bảo đó. Hàng Ngang, Hàng Đào có biết bao chuyện tôi được biết nhưng khả năng có hạn. Tôi chỉ muốn ghi lại đôi chút kỷ niệm trong những năm tháng sống ở Hàng Ngang.


Ngày nay khu phố cổtập trung các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Buồm, Lãn Ông, Lương Văn Can, Hàng Cân, Hàng Bồ, Hàng Bạc, Lương Ngọc Quyến, Cầu Gỗ, Hàng Gai, Hàng Chiếu,... trở thành nơi sầm uất đông vui. Các ngày lễ vào buổi tối có văn nghệ dân gian đặc biệt là hát xẩm. Hát xẩm là một sản phẩm độc đáo của văn nghệ đường phố, trong cuộc đời cũ. Hát xẩm thường là một sinh hoạt văn nghệ gần gũi với người nghèo khổ và ở những tụ điểm đông người như xẩm chợ, xẩm ở các chùa chiền. Và riêng ở Hà Nội lại có thêm xẩm tàu điện. Những chuyến tàu điện đi từ chợ Mơ lên tới bờ Hồ, có tàu đi về phía Hà Đông, Cầu Giấy, có tàu đi ngược lên các phố cổ: Hàng Ngang, hàng Đào, hàng Đường. Xẩm tàu điện thường chỉ có hai người, một là người lớn tuổi bị khuyết tật và một đứa trẻ dẫn đường, có thể người già hát và có khi  cả hai bố con cùng hát.Xẩm hiện đại ngày nay ở các khu phố thường do các diễn viên hóa trang, cách ăn mặc gần gũi theo lối cổ, nhưng vóc dáng và giọng hát thì đầy sức sống và quyến rũ. Đây là một sinh hoạt văn nghệ đường phố mà ở nước nào cũng có. Nhà văn Nguyễn Đình Thi khen anh thanh niên nghèo kéo Vi-ô-lông ở tàu điện ngầm ở một quảng trường của thủ đô Brussels (Bỉ). Văn nghệ đường phố thường do những nam nữ thanh niên vừa hát vừa nhảy múa và nhận tiền của mọi người cho tặng. Xẩm ở phố cổ Hà Nội sử dụng những nhạc cụ và những điệu hát riêng có sức hấp dẫn đặc biệt. Phố cổ cũng là nơi kinh doanh nhộn nhịp của các hàng ăn nhất là vào buổi tối và những ngày nghỉ. Các phố Lương Ngọc Quyến, Hàng Buồm, Đào Duy  Từ, Cầu Gỗ có các món ăn ngon, các loại phở, mì xào, thịt bò bít tết, sốt vang, gà quay, thịt nướng đều hấp dẫn. Nhiều người nước ngoài thường trú ngụ ở khu phố cổ, phòng thuê rẻ, thức ăn ngon mang đến tận bàn. Phó giáo sư người Nga nghiên cứu Tự lực văn đoàn một lần sang Việt Nam trú ngụ ở khu phố cổ, chị mời tôi lên chơi và khoe: “Ở đây cái gì cũng có, căn phòng chỉ 150 đô, đủ tiện nghi, thức ăn thì quá ngon và nhiều lắm”. Chị vừa nói vừa xuýt xoa sung sướng. Daria Mishokiva nhà Việt Nam học cũng say mê khu phố cổ, nhất là tơ lụa, quần áo nữ. Đó là những điều dễ nhận ra. Khu phố cổ ẩn tàng nhiều điều thú vị không dễ phát hiện ra.


Khu phố cổ là một thế trận bàn cờ có nhiều lối đi lại ở bên trong. Từ phố Hàng Ngang có ngõ nhỏ qua phố Lương Ngọc Quyến. Từ Hàng Đào sang Lương Văn Can có những ngõ nhỏ đi sâu hun hút vào bên trong và vẫn là nơi kinh doanh của các cửa hàng. Ngõ nhỏ ở số nhà 45 phố Lãn Ông đi vào sâu một hai trăm thước là cửa hàng đông dược bán đủ các loại thuốc quý, sâm nhung, cao khỉ, cao hươu, hổ cốt. Một hiệu bít tết ở Hàng Buồm nằm sâu bên trong vẫn có khách tìm đến ăn vì món ăn có chất lượng.


PHỐ HÀNG CÂN


 


Khu phố lân cận với các phố Hàng Buồm, Lãn Ông không có gì đặc biệt ngoài cửa hàng chả cá. Chả cá Hàng Cân nổi tiếng từ thời kỳ trước cách mạng. Căn nhà gỗ hai tầng nhưng lại chứa những ẩm thực có chất lượng cao. Theo lời kể của chủ hàng thì món chả cá cũng có nhiều công đoạn. Chả cá thường chỉ làm bằng cá lăng, cá da trơn thịt thơm và dẻo, ít xương. Cá Lăng sông Hồng to con và thơm thịt. Cá tươi vừa bắt được về làm thịt, thái từng miếng khoảng hai ba đốt tay vuông vức ướp nghệ và gia vị. Tiếp theo đem nướng, kẹp từng xâu, thịt vừa đủ chín. Cá Lăng thịt dẻo nên không bị vỡ. Bàn ăn của khách cũng chuẩn bị sẵn, bếp than hồng, chảo nước mỡ sôi. Cá được gỡ ra đảo đi đảo lại cho đến vàng rượm là được. Các món phụ tùng rất quan trọng. Các loại rau, hành đặc biệt là thì là đảo qua trong mỡ sôi rồi lấy ra ăn cùng với cá. Món phụ tá quan trọng là mắm tôm, loại mắm tôm hảo hạng vắt chanh và đánh bồng lên lại thêm mấy giọt cà cuống dậy mùi thơm ngào ngạt. Một lần tôi và giáo sư Phan Cự Đệ mời hai giáo sư trường Paris 7 đến thưởng thức món chả cá. Họ rất chú ý các thao tác của chúng tôi. Nhà hàng lấy thêm một bát nước mắm sợ khách Âu không dùng mắm tôm. Ông giáo sư tỏ ý muốn nếm thử món mắm tôm nên ông gắp bún và chấm nhẹ vào bát mắm. Dễ chịu, vị lạ giáo sư lại lấy bún và chấm sâu hơn vào bát mắm tôm. Ông thấy ngon và tiến lên dùng thìa múc nửa thìa mắm tôm chan vào bát bún và gật đầu khen ngon. Thực ra món ăn Tây cũng có nhiều món nặng mùi như loại pho-mát để chua. Vấn đề là thói quen thôi. Chả cá Lã Vọng kinh doanh qua mấy thế hệ. Tôi đến ăn thường gặp bà cụ già phục vụ trên gác. Nhà văn Như Phong cho biết trước đây đến ăn thường có một cô gái mời khách một miếng trầu cánh phượng. Cô gái xinh đẹp ngày xưa nay là bà già. Bà cẩn thận chào đón khách. Hôm tôi cùng ngồi ăn trên gác với bạn thì có một ông khách nhìn ngang dọc tìm chỗ ngồi. Bà cụ chỉ cho chiếc bàn nhỏ của khách nhìn ra cửa sổ nơi đã bày sẵn chén bát cho bảy tám người. Ông khách chỉ vào bàn đó và nói


- Tôi thích ngồi bàn này.


- Thưa ông đã có người com-măng.


Ông khách tức giận: 


- Com-măng là cái gì, bà hiểu không?


- Dạ, tôi hiểu là đặt trước.


- Nhưng có ai đâu.


- Dạ, tùy ông. Nếu có khách đến xin ông chuyển chỗ khác cho.


Một lát sau thì cầu thang gỗ ọp ẹp rầm rầm người lên. Một toán người Thụy Điển cao to bước vào. Họ ngồi vào bàn theo chỉ dẫn và mở chai rượu và các lon bia Tây. Không khí thật náo nhiệt. Người Tây hay đến ăn ở quán chả cá này tuy nhà cửa có phần cũ kỹ nhưng có nét cổ xưa thích hợp với không khí ẩm thực gia đình ấm cúng. Sau này họ mở thêm chả cá ở một hai nơi như phố Nguyễn Trường Tộ hoặc quán bên bờ hồ Hale nhưng không thích hợp và nghệ thuật cũng thua kém.


Năm 1979, tôi và Trần Đăng Khoa đi trao đổi văn hóa văn hóa ở Bun-ga-ri. Ông bà Đimistrova dẫn hai chúng tôi đi thưởng thức món chả cá, khách đi xuống hầm sâu và rộng. Thực khách là những người khổng lồ, cao to, hàm râu đẹp. Trên bàn ăn là  những chai rượu đặc biệt. Mỗi người có một khay riêng đúc bằng gang có hình thù hấp dẫn. Khay gang đựng cá nóng bỏng giữ cho cá ở nhiệt độ cao. Không khí phòng ăn trang trọng và mang màu sắc cổ. Cách ăn uống hấp dẫn nhưng thực chất cũng chỉ nướng trên chảo mỡ nóng sôi. Ít gia vị, ít nước chấm lạ, ít rau thơm nên con cá cũng đơn độc, không hấp dẫn bằng cá Việt Nam. Cá vẫn là thức ăn mà nhiều nước trên thế giới ưa thích, đặc biệt là nước Nhật. Ăn cá ít sinh bệnh tật như ăn các loại thịt. Cá có nhiều loại ngon, loại cá biển như chim, thu, nụ, đé rồi cá song, cá vược. Mỗi một nước thường có cách chế biến cá riêng biệt, nhiều đầu bếp cho rằng nướng trên bếp than hồng, tẩm nước sốt và có da vị thích hợp thường được ưa chuộng hơn cả. Món cá kho cũng khá hấp dẫn nhưng thường thấy ở những nước nghèo, hợp với hoàn cảnh sống và cũng có sức hấp dẫn riêng. Ẩm thực Việt Nam có truyền thống về món cá kho, thức ăn quý, đặc biệt trong dịp tết.


TỪ MỘT PHỐ SÁCH (ĐINH LỄ) ĐẾN


MỘTCỬA HÀNG SÁCH CŨ (BÁT ĐÀN)


 


Người Hà Nội yêu sách. Các gia đình tri thức Hà Nội thường có tủ sách riêng gần gũi nhiều đời từ cha mẹ đến con cái. Trải qua những năm tháng chiến tranh, sách vở nhiều khi thất tán. Sách là vốn quý.


Hiện nay số lượng sách xuất bản trong một năm quá nhiều với hàng ngàn đầu sách cho tất cả các loại. Tuy nhiên, số lượt in lại giảm nhiều. Thường mỗi cuốn chỉ in từ 300 đến 500 bản. Sách đặt hàng của Trung ương, của Nhà nước số lượng in gấp bốn năm lần nhưng không bán. Thị hiếu người đọc cũng thay đổi. Trừ một số nhà nghiên cứu, người chơi sách còn ham sách, người đọc sách cũng bị phân hóa. Bên cạnh hoạt động thông tin trên mạng, rồi truyền hình, truyền thanh đều giới thiệu sách nên người đọc đến với sách có giảm ít nhiều.


Phố Tràng Tiền Hà Nội có thể xem là một phố sách với hai cửa hàng lớn của Nhà nước. Ở đây, mỗi việc có quy củ nề nếp. Ngoài ra ở các quận cũng có các hiệu sách to như quận Cầu Giấy. Bên cạnh người say mê đọc sách, có người không thích sách, chữ nghĩa không làm ra tiền, nhiều tỷ phú ít học nhưng có đầu óc kinh doanh trải đời mà giàu có. Nhiều nhà nghiên cứu cả đời đi tìm chữ, nhặt chữ, sách ở đầy nhà, chồng chồng chất chất khi về già cũng tặng không cho thư viện. Ngoài chuyện chính thống sách cũng có ngoài luồng từ kinh doanh đến phát hành. Phố sách Đinh Lễ là một trường hợp. Hàng hai ba chục cửa hàng sách tư nhân. Mỗi cửa hàng thường


có người ngồi ở cửa trả lời nhanh chóng cho khách yêu cầu: mua sách gì, cửa hàng có hay không và nhân viên tìm hộ sách nhanh chóng. Một ưu điểm là có thể đi trên hè hoặc dưới lòng đường hỏi sách và mua. Sách bán được trừ phần trăm chu đáo. Tuy nhiên ở phố sách này chỉ có những sách quảng cáo giới thiệu trên báo chí, đài. Theo thị hiếu của một lớp độc giả thích sách nghiên cứu khoa học tự nhiên đặc biệt sách cũ có giá trị. Mua sách cũ lại tìm về một số địa chỉ khác một nơi mà tôi quen biết là nhà sách cũ số 5 phố Bát Đàn.


Trong khu Phố Cổ, hai phố Bát Sứ, Bát Đàn chạm đầu vào nhau và mở ra theo hai hướng riêng ngang dọc. Bát Đàn chỉ có một dãy phố nhỏ dài khoảng một trăm thước. Không có cửa hàng gì đặc biệt duy nhất có một cửa hàng sách nhỏ nhưng đó là một cửa hàng sách quý của ông Phan Trác Cảnh. Chuyện là ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội có một thư viện nhiều sách quý. Ông Phùng Viễn Xương giữ gìn từng cuốn, bảo quản, ghi chép ngày mượn, ngày hẹn trả. Sau giải phóng thủ đô một vài người có quyền chứcthường mượn nhiều sách mà không trả. Cuối cùng thư viện chỉ còn những quyển sách bình thường. Ông buồn và xin thôi việc. Ông nói: “Những cuốn sách quý bị chiếm giữ rồi chẳng còn gì mà bảo quản. Tôi buồn và xin nghỉ làm việc khác”. Cũng chuyện về cuốn sách ở thư viện Ha-vớt(Mỹ), trường có một thư viện với nhiều sách quý. Thư viện chỉ cho đọc tại chỗ không cho sinh viên mượn về. Một sinh viên tự động mang về ngày hôm sau thư viện cháy, nhiều cuốn sách quý bị cháy. Ít hôm sau anh ta mang sách đến trả, thư viện cám ơn vì cuốn sách vẫn còn. Tuy nhiên, theo luật anh ta vẫn bị phạt đuổi khỏi trường. Lại cũng chuyện sách, nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận có một thư viện lớn, nhiều sách quý. Nhà thơ Huy Cận cho biết mỗi lần ông đi Paris công việc thú vị nhất là đến các quán sách cũ bên bờ dòng sông Seine mua sách. Nhiều sách hay và rẻ. Xuân Diệu và Huy Cận nêu một nguyên tắc chung: “Sách vào nhà này không có đường ra”. Khi ông chủ ra đi, thế hệ sau không có ý thức bảo quản, khí hậu hủy hoại quyển mất quyển còn. Vậy hiệu sách số 5 Bát Đàn có gì đặc biệt? Chủ trước của quán sách là ông Trần Thiếu Bảo nguyên Giám đốc nhà xuất bản Minh Đức bị tù trong vụ Nhân văn giai phẩm. Sau vận hạn ông  chuyển từ xuất bản sách sang bán sách. Ông thuê phòng ngoài của nhà ông Cảnh làm gác xép để ở còn phòng dưới là chỗ bán sách. Trần Thiếu Bảo đã già, ông thường ăn chay và tập võ truyền thống. Ở gần nhà, tôi thường sang ông Cảnh và trông thấy ông ngồi bán sách. Có lần gặp một người cao tuổi tóc bạc, người tầm thước, dáng vất vả, ngồi dưới sàn hút thuốc lào. Tôi hỏi ông Cảnh bảo đấy là ông Nguyễn Hữu Đang từ Thái Bình lên chơi. Cuộc sống vất vả cũng dễ làm con người sống khép nép, thụ động. Theo ông Phan Trác Cảnh chủ nhà sống ở phía trong thì ông Bảo chỉ ăn uống kiêng kỵ chủ yếu là lạc vừng, dưa muối như người tù hành. Một ngày kia, bạn bè mời đi dự tiệc nhân ngày vui của bạn, ông quá chén và ăn những thực phẩm vốn kiêng kỵ với cơm chay. Khi về bị cảm ốm rồi mất.  Cửa hàng sách nhượng lại cho ông Phan Trác Cảnh vốn là Cán bộ văn phòng của Khoa văn trường Đại học Tổng hợp đã nghỉ hưu. Tuy tuổi cao nhưng còn sức khỏe và yêu quý sách nên ông Cảnh phát huy khả năng tìm tòi, sưu tầm các loại sách, kinh doanh nhiều mặt hàng sách.Cửa hàng cũng đông khách trong và ngoài nước. Ông Cảnh có đầu óc kinh doanh xây cất tòa nhà lên 3 tầng và mở nhà sách đàng hoàng. Ai cần mua quyển gì chỉ cần nhờ ông tìm một hai tuần là có sách. Một lần tôi dẫn cô Daria Mishukova nhà Việt Nam học đến ông Cảnh để tìm sách ngôn ngữ học. Ít hôm sau cô nói: “Ở đấy sách gì cũng có, ông chủ sẽ tìm hộ và giá không đắt”. Một giáo sư Nhật Bản ở trường Đại học Hiroshima là Yao Takao có ghi lại những dòng kỷ niệm cho ông: “Ông không có quyền nghỉ hưu, thậm chí ông không có quyền được chết vì chúng tôi cần ông”. Các nhà nghiên cứu và sinh viên Nhật cũng như Hàn Quốc sang Việt Nam đều lục lọi mua sách cũ, nhiều cuốn sách quý. Họ có nhiều tiền lại hiểu giá trị của những cuốn sách. Sợ rằng sau này nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam lại phải sang Tokyo, Xê-un để đọc những cuốn sách của nước mình. Trước đây, thực dân Pháp ngoài việc xâm lược và khai thác về kinh tế đã chiếm đoạt nhiều tác phẩm văn hóa văn nghệ, từ chiếc đàn đá cho đến các văn bản, sách quý của cha ông. Giáo sư Bùi Văn Nguyên thường mơ ước đến Paris đến Exprovence để tìm sách nhưng ông chỉ một lần được đi họp ở In-đô-nê-xi-a mà ông gọi là “quẩn quanh trong bầu trời Đông Nam Á”. Trong cuốn sách Ba mươi sáu người Hà Nội của NXB Thế giới đã chọn ông chủ hiệu sách số 5 Bát Đàn là một nhân vật của Hà Nội. Ông cho tôi xem bức ảnh đẹp ở phần đầu tập sách, với nụ cười tươi trẻ, cho hay “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.Giáo sư Hà Đình Đức suốt đời chăm chú nghiên cứu con rùa thiêng ở hồ Hoàn Kiếm cũng được vinh danh là công dân danh dự của Hà Nội.


Hàng Buồm, hàng Ngang, hàng Bát Đàn, Bát Sứcác khu phố thường ít cây xanh. Có thể vì đất hẹp chật chội, có thể vì bão táp, có thể vì thiếu sự chăm sóc, thậm chí có kẻ tàn phá làm cho cây chết. Hà Nội đẹp một phần nhờ những hàng cây xanh, hàng sấu bốn mùa xanh tươi, hàng cây xà cừ bề thế, hàng cây sao cao vút. Phải chăm chút cho cây Hà Nội, phải trừng trị những kẻ phá hoại đốn cây, chặt phá cây. Cây cũng có quyền sống với ý nghĩa nào đó như con người.  


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười. Tập Bút ký của GS Hà Minh Đức. NXB Công an nhân dân, 2016. Tác giả gửi www.trieuxuan.info







[1]Tự lực văn đoàn trào lưu và tác giả NXB giáo dục 2007 trang 434





[2] Tiền Đông Dương loại to




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »