tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054360
27.12.2016
Hà Minh Đức
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười



Bút ký về một thời qua,từ 1954 đến trước đổi mới


Darya Mishukova nhà Việt Nam học Nga, tác giả cuốn sách Việt Nam đất nước con Rồng cháu Tiên”. Darya Mishukova đã đi và viết về nhiều miền đất nước từ Vịnh Hạ Long kỳ quan thế giới, Sapa vương quốc của mây mù đến miền Trung với Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Kinh thành Huế; miền Nam hấp dẫn với Địa đạo Củ Chi, Thành phố ngàn hoa, Đảo ngọc Phú Quốc. Ở đâu tác giả cũng thấy đất nước Việt Nam tươi đẹp, hấp dẫn. Tác giả cảm phục truyền thống văn hóa lâu đời nhiều màu sắc của văn hóa Việt. Riêng về Hà Nội được dành nhiều trang viết trân trọngHà Nội thành phố 1000 năm lịch sử với những địa điểm tâm linh: Đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, Đền Ngọc Sơn, Văn Miếu Quốc Tử Giám. Hà Nội quyến rũ nhà nghiên cứu với nếp sống văn hóa từ trí tuệ Việt qua những tấm bia tiến sĩ cổ kính, đến phố cổ tiềm ẩn nhiều thú vui chơi, và con người như luôn ẩn dấu một nụ cười. Tôi đã nhiều lần cùng đi với tác giả Darya Mishukova thăm thú thành phố và tác giả đã nói chân thành: “Hà Nội thành phố tôi yêu”. - Hà Minh Đức


 


CẢM XÚC


 


Lá thu bay bay như hoa vàng trước gió


Xanh ngát trời thu ngát ước mơ xanh


Gió thu mơn man cho mặt hồ gợn sóng


Thành phố ban mai với ý thu trong lành


Hà Nội đã vào thu


Theo sắc thu về trong mắt em.


ĐƯỜNG VỀ HÀ NỘI                              


Hà Nội giải phóng vào ngày 10-10-1954. Hòa bình được lập lại trên cả miền Bắc. Quê hương tôi ở miền trung du Thanh Hóa gần sông Mã. Những ngày này thật vui. Những con đò lại cắm cờ đỏ và xuôi ngược giữa dòng sông. Chợ lại họp đông người nhộn nhịp không sợ máy bay địch. Học xong bậc trung học lớp 10 bổ túc tôi muốn được ra Hà Nội xin học đại học. Chắc chắn các trường đại học sẽ mở nhưng tôi không có thông tin nào cụ thể. Tôi xin phép mẹ tôi và xin giấy của Ủy ban xã đi Hà Nội học. Mẹ tôi lo lắng và bảo: “Ngoài ấy xa xôi lại không quen biết ai, gặp khó khăn thì con lại trở về”. Tôi vâng ý cho mẹ vui lòng, chắc trong bụng đã quyết là ra đi, gặp khó khăn sẽ tự giải quyết. Tôi chuẩn bị được một số tiền nhỏ có thể sinh sống được độ nửa tháng. Vào một buổi sáng tôi chào mẹ và ra đi. Ở độ tuổi 19, 20 tôi khỏe và đi bộ một mạch cho tới Ninh Bình. Năm mươi cây số đường trường cũng mệt. Đến Ninh Bình tôi xin nghỉ tại một nhà nông dân. Tôi nói là ra Hà Nội học và xin phép được nghỉ nhờ một đêm. Gia đình mời tôi ăn cơm. Đang mùa gặt hái tôi không giúp được gì cho gia chủ, tôi nằm ngủ ở một góc giường và sáng mai lại xin phép đi sớm. Ngày thứ hai đi từ Ninh Bình đến Phủ Lý 38 cây số, tôi đi thẳng đến Đồng Văn và cũng xin nghỉ ở một gia đình ven đường. Nhà chủ mời tôi ăn cơm, ăn xong tôi xin phép đi nghỉ. Sáng dậy sớm lại tiếp tục lên đường. Cách Hà Nội chừng hai chục cây số, một xích lô chở một khách mời tôi đi ghép về Hà Nội. Khoảng 3 giờ chiều tôi đến ga Hàng Cỏ. Thành phố đông đúc và xa lạ tôi suy nghĩ và quyết định đến ngay trường Đại học. Theo chỉ dẫn đi hết phố Trần Hưng Đạo rẽ sang tay trái vài trăm thước là trường đại học. Tòa nhà to lớn quá, tôi tìm lối lên văn phòng, ở tầng ba tôi gặp ông Nhoạn người đứng tuổi, đeo kính trắng, dáng sang trọng. Ông cho biết là khoảng hai tháng nữa là trường Đại học Sư phạm mới thi tuyển. Tôi bơ vơ quá, ở lại Hà Nội hay trở về quê rồi chờ ngày thi lại ra. Trong lúc khó khăn đó tôi gặp anh Chương Thâu[1] người xứ Nghệ cũng từ quê ra để xin học Đại học. Anh giúp tôi hướng về vùng quê ngoại thành nơi anh đang tạm cư trú những ngày đến Hà Nội. Theo lời giới thiệu của anh Thâu tôi cũng được gia chủ chấp nhận cho hai người ở ít lâu chờ ngày nhập học. Ông chủ là nhân viên của chính quyền cũ làm y tá và đang hưởng lương hưu. Gia đình làm nghề nông nhưng cũng có kết hợp buôn bán thêm. Buổi sáng, chúng tôi ăn sáng xong đi bộ lên Hà Nội chơi rồi chiều về ăn cơm nhà. Buổi tối ngồi kể chuyện kháng chiến cho anh chủ nghe. Anh hỏi han về nhiều thứ, các cơ quan hành chính, các đoàn thể, Đoàn thanh niên cứu quốc, các tổ chức ở vùng nông thôn như Hợp tác xã, quỹ tín dụng. Anh thấy vui vì sáng ra nhiều điều mà lâu nay không biết hỏi ai. Tết năm ấy chúng tôi ăn tết với gia đình. Sau tết thi đậu vào trường, chúng tôi cảm ơn và tạm biệt gia đình vào Việt Nam học xá. Ba năm ở Việt Nam học xá, tuy cuộc sống khó khăn nhưng rất vui vì không phải lo lắng gì, thầy dạy giỏi, bạn bè tốt. Đến năm cuối, tôi làm chủ bút Báo Sinh viên Việt Nam nên phải chuyển địa điểm về trên phố Cửa Nam lo việc chạy bài và in ấn. Ra trường, tôi được giữ lại làm cán bộ giảng dạy nên về ở gần trường. Tôi về ở 15E Trần Hưng Đạo cùng anh Nguyễn Văn Khỏa[2]. Ngày ngày ăn cơm tập thể ở bếp ăn nhà trường ở hàng Chuối. Tiếp đến về ở 43 Lữ Gia trong một căn phòng nhỏ cùng anh Nguyễn Hải Hà nay là giáo sư chuyên gia văn học Nga. Một thời gian sau, tôi lại được anh Nguyễn Ngọc San rủ về ở số nhà 75 Trần Quốc Toản một tòa nhà hai tầng đẹp. Hai phòng dưới rộng rãi nhưng giá hơi cao. Sau đó, không biết ai mách bảo,phòng nhà cửa đến đề nghị chúng tôi chuyển về Phố Hàng Ngang một phòng rộng 79m2 thuộc diện nhà vắng chủ và nhường lại hai căn phòng này cho bà hai một vị cán bộ cao cấp. Hàng Ngang là nơi tôi ở lâu nhất, gắn bó với Phố Cổ. Đến Hàng Ngang tôi xây dựng gia đình, việc ăn ở ổn định hơn. Khoảng đầu năm 1991, nhà trường phân cho tôi căn hộ ở khu tập thể Lò Đúc. Nơi ở mới thuận lợi vì gần chợ, gần bệnh viện lại trong lòng tập thể cán bộ nhà trường nên dễ vui vẻ chan hòa. Lại di chuyển, việc di chuyển như là một định mệnh  nhất là ở thời kỳ son trẻ. Ở Lò Đúc một số năm, các cháu xây dựng căn hộ riêng ở ngõ 529 thuộc Đông Kim Ngưu. Khu vực ngoại ô và chỉ là một ngõ nhỏ nhưng sau đó được gắn tên Phố Yên Lạc, phố cụt không có lối thoát hậu. Tôi kể dài dòng để muốn nói là vì không có một chỗ ở tử tế đàng hoàng nên phải di chuyển liên tục. Tục ngữ Anh có câu: “Ba lần chuyển nhà bằng một lần cháy nhà”. Cũng may tài sản không có gì ngoài ít đồ gỗ và sách vở. Một lần chuyển là một lần mệt nhọc, tuy vất vả nhưng được ở nhiều chỗ cũng là điều  may mắn tôi có điều kiện hiểu thêm cuộc sống ở Hà Nội. Tôi không biết đi xe máy nên các hoạt động đi lại chủ yếu dựa vào xích lô, rồi xe ôm và gần đây khi cao tuổi là taxi. Tôi thích trò chuyện với các anh đạp xích lô, xe ôm và lái taxi. Họ không thích lý thuyết mà am hiểu nhiều về cuộc sống hàng ngày. Tôi nể trọng và thân thiện với họ qua câu chuyện và nhận thấy mình hiểu thêm được phần đời vất vả và lương thiện của nhiều người. Bước vào tuổi tám mươi, sống trong phố nhỏ yên tĩnh này, tôi muốn ghi lại những ngày tháng ở Hà Nội qua dòng bút ký. Nhưng cũng chưa xong, số phận lại buộc tôi phải di chuyển chỗ mới. Yên Lạc nhưng không được an cư lạc nghiệp. Đầu năm 2015, tôi cùng gia đình chuyển về khu Time’s City, khu nhà tập thể khá hiện đại nhưng không dễ thích hợp với người già. Chuyển nhà chuyển cả một kho sách rất vất vả. Tính ra từ lúc ra trường tôi lần lượt ở ngoại thành Hà Nội (Vĩnh Tuy), Việt Nam học xá, Cửa Nam, 15E Trần Hưng Đạo, 43 Lữ Gia, 75 Trần Quốc Toản, 31 Hàng Ngang, khu tập thể Lò Đúc, 97 Yên Lạc và T11 Time’s City. Mỗi đường phố có một đặc điểm riêng, đông vui như Hàng Ngang, Hàng Đào, Cửa Nam, sang trọng như Trần Hưng Đạo, ngóc ngách như xóm ngoại ô. Tất cả hòa vào phong cách chung của Hà Nội.


Hà Nội là một thành phố lớn, một thủ đô có truyền thống hàng ngàn năm lịch sử vẻ vang, một bản hùng ca của các thời đại, một thành phố thanh bình và giàu sáng tạo trong thời kỳ đổi mới. Những trang viết của tôi là một tiếng nói, một góc nhìn cá nhân hạn hẹp mang nhiều tính chất cảm nhận về thành phố mà tôi được gắn bó, sống và hoạt động trên nửa thế kỷ.


Về thời gian, tôi đã sống 60 năm trên mảnh đất này, gặp gỡ, học tập, hiểu biết bao người từ cao nhân đến người lao động bình thường. Tôi mạnh dạn khởi bút vào Tết Ất Mùi. Cuốn sách là  sự cảm nhận của một người ở miền Trung viết về Hà Nội. Chắc chắn còn nhiều điều còn xa lạ, chưa hiểu hết được con người và cuộc sống thủ đô. Tuy nhiên, Hà Nội là của cả nước, cũng cần có tiếng nói gần xa của các miền đất nước. Mong được sự cảm thông của bạn đọc.


 


Hà Nội, tháng 8 năm 2015


 


VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM MỘT CỘI NGUỒN CỦA VĂN HÓA VIỆT


Ở giữa trung tâm thành phố Hà Nội, trên khu đất không rộng nhưng lại là mảnh đất thiêng, tiêu biểu cho trí tuệ và văn hóa Việt Nam. Cổng lớn vào là Khuê văn các tượng trưng cho vẻ sáng, vẻ đẹp của văn hóa Việt Nam tỏa rạng từ hàng ngàn năm lịch sử. Năm 1070, dưới thời vua Lý Thánh Tông là nơi thờ Khổng Tử, từ năm 1076 cũng dưới thời Lý Nhân Tông là nơi đào tạo nhân tài.


Văn Miếu được thành phố chăm sóc không để bị lấn chiếm như một số chùa chiền khác, lại thêm một vài lần tu sửa, song vẫn mang màu sắc của tôn thờ trang nghiêm, lặng lẽ hơn là phô trương. Quang cảnh bố trí từ cổng vào vẫn cấu trúc theo các khuôn viên hình vuông, bên vệ cỏ, đất trồng hoa là các lối đi ngay ngắn. Một hồ nhỏ hình chữ nhật có tường bao quanh. Ngày lễ hội cờ quan nhiều màu sắc cắm bên hồ, rồi tranh ảnh, hoành phi, câu đối của các huyện, các làng quanh vùng đem về trang trí. Nổi bật giá trị của Văn Miếu là hàng bia tiến sĩ qua các thời đại khác nhau. Có tất cả 82 bia tiến sĩ ghi tên 1307 tiến sĩ của 82 khoa thi từ 1442 đến 1779. Các khoa tuyển chọn hiền tài như Thân Nhân Trung nhận xét: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và hưng thịnh. Nguyên khí yếu thì thế nước yếu mà thấp”. Bia tiến sĩ không chỉ là tấm bia ghi lại vinh quang tên tuổi, quê quán của sĩ tử, ngày vinh danh mà quan trọng hơn còn tôn vinh giá trị và phần đóng góp của nhân vật mang tầm vóc lịch sử như Thân Nhân Trung, Ngô Sĩ Liên (1442), Lê Quý Đôn (1775), Ngô Thì Nhậm (1775). Bia tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám được UNESCO vinh danh như chứng tích và trí tuệ phát triển của một dân tộc.


Nhiều năm trôi qua, bia đá vẫn còn, tên tuổi sự nghiệp danh nhân vẫn còn đó với mai sau. Nhiều nhà chính trị lớn của nước ngoài đều có ghé thăm bia tiến sĩ. Một dân tộc biết quý trọng tri thức và tri thức góp phần làm nên lịch sử dân tộc là một dân tộc đáng kính. Văn Miếu cũng là trường học cho con các quan ngày xưa. Quan hệ thầy trò mực thước, tôn kính, nhiều sĩ tử thành ân sư, đạo sư chỉ giáo cho một đời. Văn Miếu cung kính thờ Chu Văn An.


Văn Miếu cũng là nơi hội hè nhân dịp lễ tôn vinh các giá trị tinh thần. Đây không phải là nơi vui chơi kiểu chè chén. Trong khoảng một hai chục năm gần đây Văn Miếu là nơi các sĩ tử nhận các bằng tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư. Theo thời gian, số lượng các phó giáo sư, giáo sư ngày càng đông, không khí danh vọng bao trùm. Một điều rất có ý nghĩa là Hội nhà văn Việt Nam đã chọn ngày Rằm tháng Giêng là ngày thơ Việt Nam tại địa điểm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Lệ thường ngoài phần nghi lễ là phần đọc thơ, trình diễn thơ. Nội dung thường được tổ chức ở phòng họp, sau mở rộng ra cả sân chơi chính, khách tham dự đông đảo, có sân khấu cho các nhà thơ trình diễn. Hoạt động thơ không chỉ thu hẹp ở dạng ngâm thơ truyền thống. Người nghe thơ vẫn nhớ nhung giọng ngâm hay như chị Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm, Kim Dung, Kim Cúc. Các chị đã dần cao tuổi và dành cho lớp trẻ. Sang thế hệ trẻ kể cả người ngâm và người nghe đều có thay đổi trong quan niệm và tiếp nhận. Đọc thơ cộng với trình diễn tạo được sự hấp dẫn riêng, dĩ nhiên cái cốt yếu vẫn là có thơ hay. Để thích hợp cho sở thích của các thế hệ ban tổ chức dành sân phía trước cho lớp cao tuổi và sân sau cho các nhà thơ trẻ. Ở đây các tác giả có thể tung hoành thỏa sức vừa ngâm, vừa đọc vừa hát, vừa diễn hoặc kết hợp với bạn diễn. Có nhà thơ phương Tây cho rằng với nghệ thuật ngôn từ đọc thơ khó tồn tại với công chúng mà phải có trình diễn thậm chí ca hát. Hiện nay đang phải dùng đến xướng ngôn có nhịp điệu, tiết tấu xem ra tiếp nhận thơ cũng dần dần có thay đổi. Tuy nhiên các nhà thơ lớp trước, thơ hay và có bản sắc thường chỉ thích đọc. Nguyễn Đình Thi đọc bài Đất nước giàu cảm xúc, hấp dẫn và không thể thay thế bằng cách trình diễn khác. Đặc biệt Xuân Diệu ông nói chuyện thơ, đọc thơ như diễn viên lành nghề và loại trừ  mọi giọng phụ họa. Từ cái thời đọc thơ trước công chúng kiểu Mai-a-cốp-ski, tấu thơ trước bộ đội  kiểu Thanh Tịnh, ngâm có giọng ngâm mượt mà như Hoàng Cầm cũng dần qua. Thơ cách luật có thể ngân nga, còn chủ yếu là đọc diễn cảm.


Tôi thường đi dự hội thơ ở Văn Miếu nhưng không dừng lại lâu một chỗ. Phải nói Hội nhà văn luôn tìm cách thay đổi cách tổ chức, trình bày mỗi năm một chủ đề. Có năm lấy thơ chống Mỹ làm chủ lực. Những bức tranh cỡ lớn cao rộng hàng thước có ghi chú tôn vinh tác giả và in ảnh đẹp. Tôi chú ý đến hình ảnh một chị đứng lặng lẽ dưới bức ảnh to của nhà thơ đã khuất Phạm Tiến Duật. Tôi lại gần chào chị và được biết chị là chị Vân, vợ nhà thơ Phạm Tiến Duật. Tôi đi nửa vòng hồ gặp nhà thơ Anh Ngọc. Với dáng người cao đẹp anh đứng dưới bức ảnh của mình và chắc chắn là có nhiều cảm xúc thi vị. Một hai năm sau, Hội Nhà văn lại lấy chủ đề tôn vinh các nhà văn đạt giải thưởng Hồ Chí Minh như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, các nhà thơ Xuân Diệu, Tú Mỡ, Huy Cận, Chế Lan Viên, các nhà văn Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Ngô Tất Tố.


Từ ảnh sang tượng, hình ảnh các nhà văn cũng có nhiều thay đổi. Các pho tượng này được tạo bằng thạch cao pha màu vàng và vàng nhạt. Có những nhà văn vẫn giữ được nét đẹp trai như Nguyễn Đình Thi, Nam Cao. Ngày Rằm tháng Giêng 2015 trời mưa rét. Hội nhà văn lại có chủ trương quan trọng quảng bá văn học Việt Nam nên đã mời đến gần 130 nhà văn thế giới đến Việt Nam. Thật là một con số khổng lồ. Phải yêu thích đất Việt, thơ Việt mới đến mảnh đất giàu chất thơ này trong những ngày xuân. Các vị đã giao lưu với các nhà thơ Việt Nam, thăm quan Vịnh Hạ Long và đến Văn Miếu để đọc thơ trước công chúng. Khác với mọi lần không khí có phần náo nhiệt, các cuộc đọc thơ hôm nay diễn ra khá hấp dẫn, người đọc giàu nhiệt tình, bản dịch minh bạch người nghe lặng lẽ lắng nghe. Tôi chỉ nhớ một câu thơ của một tác giả ca ngợi đồng quê, nằm trên một ổ rơm, miệng ngậm một cọng rơm và lặng lẽ ngắm trời xanh. Tôi dạo quanh hồ trang trí hàng trăm bức ảnh của các nhà thơ thế giới. Nhiều tên tuổi mới, tôi chỉ biết Kêvin Bô-en và Nguyễn Bá Chung những nhà thơ Mỹ. Tôi và giáo sư Phan Cự Đệ đã có dịp đến Trung tâm của hai ông ở thành phố Boston năm 1982. Ông vẫn còn tươi trẻ, mái tóc bồng đẹp. Tôi nhận ra nhà thơ Trung Quốc Lý Tú Chương. Tôi đã có dịp gặp ông một vài lần vào những năm 1976. Anh là một trong mấy sinh viên với các anh An Chí Tín sang Việt Nam học tiếng Việt và ở Việt Nam học xá. Sau này khi công tác ở Viện Văn học trong đoàn sang thăm Trung Quốc anh giúp chúng tôi trong việc dịch thuật. Và cả anh Nguyễn Huy Hoàng vốn là sinh viên trường Đại học Tổng hợp nay là nhà báo xa xứ,nhà thơ đại diện cho nước Nga tham dự hội thơ.


     Như thế là từ nhiều châu lục, các nhà thơ đã về với mảnh đất thiêng nhiều chất thơ này. Có người nói vui Việt Nam là tổ quốc thơ. Thơ vẫn được tôn trọng trong khi ở nhiều dân tộc thơ không còn vị trí cao sang như xưa. Nhà thơ Vũ Quần Phương nói Việt Nam là cường quốc thơ. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng thời trung đại Việt Nam có những nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát còn trong thời kỳ hiện đại còn ít những nhà thơ ở tầm cỡ khu vực và thế giới. Văn Miếu góp phần tôn vinh quảng bá thơ. Văn Miếu đẹp, Văn Miếu linh thiêng nhưng cần được sửa sang cho đúng với tầm vóc của di sản văn hóa này.


MỘT ĐỈNH CAO KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG(1912-1945)


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỔNG HỢP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI(1945-2016)


19 PHỐ LÊ THÁNH TÔNG


Nhà hát lớn khởi đầu của đường Lê Thánh Tông - một đại lộ của thành phố. Dãy nhà bên trái mới mọc lên khách sạn Hilton Hà Nội. Tòa nhà không cao nhưng là công trình kiến trúc khoa học đẹp mắt kín đáo. Khách sạn năm sao này là nơi thu hút nhiều khách sang trọng nước ngoài. Năm 2002 nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh Vũ Trọng Phụng tôi đã tổ chức cuộc hội thảo tại Đại giảng đường trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội và mở tiệc ở khách sạn Hilton này. Nguyên là khi làm Viện trưởng Viện Văn học tôi đã xin được một số tiền của hãng Ford tại Hà Nội là 10000 đôla đủ để tổ chức hội họp và in sách kỷ niệm. Ngoài các nhà khoa học trong Nam ngoài Bắc có mời hai nhà khoa học nước ngoài là ông Zinoman Giáo sư trường Đại học Berkeley Mỹ và giáo sư Niculin giáo sư nước Nga chuyên gia văn học Việt Nam. Sau một ngày họp bữa tiệc diễn ra vào chiều tối với hàng trăm thực khách. Cả Viện Văn đến dự tiệc ở  khách sạn 5 sao Hilton. Nhà thơ Huy Cận đến chậm mười phút. Tôi xuống cầu thang và hỏi: “Chắc anh quên?”. Ông bảo: “Mình không quên bữa ăn ngon nhưng còn bận chút việc”. Bữa ăn tự chọn sang trọng. Tôi muốn nói là chuyện ngày xưa của đường phố này cách đây trên nửa thế kỷ. Đi tiếp ở phía đường bên trái là những tòa nhà đẹp, hai tầng, kiểu cổ. Đó là nhà của giáo sư Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng. Hằng ngày, giáo sư Hồ Đắc Di vẫn đi bộ đến Bộ Giáo dục, tòa nhà bên cạnh trường Đại học Tổng Hợp. Cụ Hồ Đắc Di người gầy nhưng dáng cứng cáp. Cụ là một giáo sư có uy tín. Cụ đã nhận viết cho báo Sinh viên Việt Nam một bài sắc sảo về giáo dục. Giáo sư Tôn Thất Tùng dáng khỏe có chất thể thao, người đẹp nét Âu. Tiếp theo là trường Y Dược, trường Đại học Tổng Hợp vút cao lên, đồ sộ mang phong cách một lâu đài. Trường được xây dựng từ năm 1911 cùng năm tháng với Nhà hát lớn Hà Nội. Trường là một trong số những tòa nhà đẹp nhất Hà Nội. Năm 2011 kỷ niệm 100 năm thành lập trường. Một trăm năm nhưng trường đã trải qua nhiều phong ba bão táp. Sau giải phóng thủ đô, trường được vinh hạnh đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số vị lãnh tụ đến thăm trường như tổng thống Xu- các- nô ( In-đô-nê-xi-a), Tổng thống Pra-Xát(Ấn Độ). Các vị khách quý đứng trên thềm cao chúng tôi ngồi dưới sân trường vỗ tay không khí rất vui. Trường Đại học Tổng hợp cũng là nơi một số đạo diễn điện ảnh mượn cảnh quay phim như phim tư liệu về giáo sư Trần Đức Thảo, phim truyện Số đỏ. Các diễn viên đóng vai Văn Minh, Tuyết, Typn, bà Phó Đoan đứng trên dốc thoai thoải cao lối lên phía sau giảng đường vỗ tay hô to “bravo, bravo” cổ vũ cho Xuân đánh tenis ở sân trường. Năm 1954, khi chúng tôi vào học thường được học ở Đại giảng đường, một giảng đường đẹp, uy nghi, trước mặt là một bức tranh tường hàng mấy chục thước chắn hết cả không gian phía trước. Tranh do họa sĩ Tardieu họa sĩ nổi tiếng của trường Mỹ thuật Đông Dương vẽ. Bức tranh tô điểm cho chính sách khai hóa của Pháp ở Việt Nam. Thầy thuốc Pháp tiêm chủng cho người nghèo, thầy giáo Pháp dạy học. Tranh đẹp và không khí cũng hiền lành nhưng đã bị Bộ Giáo dục cho quét vôi để xóa đi vết tích của thời thực dân mà dấu tích còn ghi lại qua bức tranh nhất là ở giảng đường một trường đại học. Chưa kể hết những thay đổi sóng gió ở nhà trường qua năm tháng. Năm 1956, khi chúng tôi học có các thầy tài giỏi như một vườn cây cao bóng cả, mỗi thầy có phong độ uy nghiêm khá hấp dẫn được hâm mộ. Nhưng thực ra các thầy tuổi chưa cao. Tính đến năm 1955: Giáo sư Cao Xuân Huy(55 tuổi-1900); giáo sư Đào Duy Anh(51 tuổi-1904); giáo sư Trần Văn Giàu(44 tuổi-1911); Giáo sư Đặng Thai Mai(53 tuổi-1902); giáo sư Trương Tửu(42 tuổi-1913); giáo sư Nguyễn Khánh Toàn(50 tuổi-1905), giáo sư Trần Đức Thảo(38 tuổi-1917). Các thầy tuổi tuy chưa cao nhưng có uy, có phong độ riêng, sinh viên chúng tôi rất kính trọng và e ngại. Thầy Đặng Thai Mai uyên bác từng lời lắng sâu kiến thức. Thầy có ánh mắt sắc mà nhân từ, nụ cười hiền hậu. Thầy Trương Tửu dáng tầm thước nhưng bệ vệ. Ông đi từ dốc cao Đại giảng đường xuống giảng đường ba dạy chúng tôi học, cùng tháp tùng hộ vệ cho thầy có bốn trợ lý Cao Xuân Hạo, Văn Tâm, Phan Kế Hoành, Hà Thúc Chỉ. Thầy dạy khi hứng thú thường nháy ria và cười thoải mái. Thầy Trần Văn Giàu giảng bài như diễn thuyết hào hùng, hấp dẫn. Thầy Trần Đức Thảo dáng cao đẹp, đeo kính trắng, dáng đi lạnh lùng như các triết gia duy tâm nhưng từng giờ giảng có chất lượng cao. Khoa Văn trường Đại học tổng hợp và Đại học Sư phạm xuất bản cùng một tờ tạp chí. Phần lớn các bài viết thiên về phần dân gian, trung đại và một số bài lý luận văn học. Khung cảnh đầm ấm của thầy trò không được lâu thì xảy ra vụ Nhân văn giai phẩm. Một số bài viết của các giáo sư Trương Tửu, Trần Đức Thảo đề cao tự do cá nhân một cách cực đoan. Giáo sư Trương Tửu giải thích thiếu chuẩn mực một số luận điểm của Lê-nin nhất là vấn đề tính Đảng. Kết quả các giáo sư bị ngừng giảng dạy, chấm dứt những ngày giảng dạy ở đại học. Một vài giảng viên và trợ lý cũng bị liên đới. Thời gian trôi qua việc đánh giá những hiện tượng trong quá khứ đúng mực hơn. Thầy Trần Đức Thảo được khôi phục và được nhà nước tặng huân chương Độc lập hạng Nhì và tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Giáo sư Trương Tửu được tái bản nhiều tác phẩm và Hội nhà văn khôi phục tư cách hội viên. Vui buồn một thời thế hệ học trò của các thầy đã trở thành nhiều nhà khoa học, nhiều giáo sư ngành văn học và sử học.


Kỷ niệm 100 năm thành lập trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nếu tính từ năm 1911 được tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể với nhiều hình thức hoạt động. Bức tranh lớn của Đại giảng đường bị quét vôi trắng nay được khôi phục lại theo nguyên bản. Đại giảng đường được sửa sang lại  nhà trường đã cho xuất bản một công trình lớn giới thiệu 100 giáo sư, nhà khoa học của trường lấy tên là 100 chân dung- Một thế kỷ Đại học Quốc gia Hà Nội[3]. Trong số 100 chân dung các nhà khoa học, có các nhà hoạt động chính trị. Từng tác giả nguyên là sinh viên đại học Đông Dương, Đại học quốc gia hoặc là giáo sư giảng dạy ở trường được giới thiệu với lời dẫn vắn tắt:


 Trường Chinh (ĐHĐD)- Lãnh tụ cách mạng, nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn[4].


Nguyễn Phú Trọng- Từ sinh viên Đại học Tổng hợp đến Bí thư thành ủy Hà Nội (Nay là Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam)


 Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ĐHĐD)- Cựu sinh viên trường Luật Đại học Đông Dương


Giáo sư Vũ Đình Hòe(ĐHĐD)- sinh viên trường Đại học Đông Dương Bộ trưởng của nước Việt Nam độc lập


Cù Huy Cận (ĐHĐD) - Người suốt đời gắn bó với cách mạng và thơ.


Tiến sĩ Phạm Quang Nghị- Bí thư thành ủy Hà Nội


Nguyễn Đình Thi(ĐHĐD) - Người nghệ sĩ đa tài


  Liệt sĩ Lê Anh Xuân


  Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê (ĐHĐD)


Tiến sĩ Alexandre Yersin(ĐHĐD) - Hiệu trưởng đầu tiên của trường Y Dược Đông Dương


Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Đình Tứ- Nhà khoa học đặt nền móng ngành khoa học hạt nhân Việt Nam


   Giáo sư tiến sĩ khoa học Ngô Bảo Châu- Ngô Bảo Châu và vinh quang toán học


   Giáo sư Tôn Thất Tùng(ĐHĐD)


Trong các giáo sư khai trường và khai tâm cho các lớp Đại học Văn Sử(1954-1957) có các thầy Đặng Thai Mai(ĐHĐD), Cao Xuân Huy, Hoàng Xuân Nhị. Riêng các thầy gặp khó khăn trong thời kỳ Nhân văn giai phẩm cũng được vinh danh trong bộ sách này.


Giáo sư Đào Duy Anh(ĐHĐD) - nhà sử học và văn hóa lớn.


Giáo sư Trần Đức Thảo- Nhà triết học tầm quốc tế


Một phần của danh sách 100 nhân vật đã nói lên tầm vóc của lâu đài khoa học[5].Kỷ niệm 100 năm Đại học Việt Nam từ Đại học Đông Dương(1912-1945) đến Đại học Quốc gia Việt Nam(1945-2012), trường đại học đã đào tạo nhiều thế hệ các nhà chính trị, khoa học, nghệ thuật có tầm vóc lớn. Trong một trăm chân dung có những nhà lãnh đạo chính trị lớp trước như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và lớp sau như Nguyễn Phú Trọng, Phạm Quang Nghị. Nhiều nhà khoa học có công với việc đào tạo của trường là những nhà khoa học lớn như các giáo sư Alexandre Yersin, Tôn Thất Tùng, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Trần Văn Khế nhiều vị bộ trưởng như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Đình Tứ. Một số giáo sư tài năng sớm xuất hiện trong tuổi trẻ như Trần Đức Thảo, Ngô Bảo Châu... Các thế hệ đàn anh đã đào tạo nên một số lớp người thuộc thế hệ học trò nhưng đã có vị trí và đóng góp khiêm tốn trong 100 năm đó như các giáo sư Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức,...Dòng chảy ý thức và trí tuệ ấy vẫn còn tiếp nối cho đến mai sau.


HÀ NỘI MÙA HOA SẤU RỤNG


Hà Nội không phải là thành phố ngàn hoa như Đà Lạt, nhưng hương hoa Hà Nội vẫn gây ấn tượng cho lớp trẻ, người già. Mùa xuân tươi thắm hoa đào, hoa hồng đa sắc màu, hoa dơn, hoa thược dược, phù dung. Mùa hè tới chỉ riêng bên hồ Hoàn Kiếm đã có hoa gạo nở bung sắc đỏ, hoa lộc vừng thả cánh hoa xuống mặt nước hồ, hoa bằng lăng xanh màu da trời, hoa sen nở bát ngát trên hồ Tây. “Sen tàn cúc lại nở hoa”. Hoa cúc Hà Nội đẹp, cúc vàng, cúc bạch, cúc đại đóa gợi nỗi nhớ trong thơ Tế Hanh: “Hoa cúc vàng như nỗi nhớ day dưa”. Mùa đông thơm ngát hoa huệ, hoa ly. Hoa mộc, hoa ngâu man mác hương thơm trong cảnh chùa chiền. Các làng hoa Nghi Tàm, Ngọc Hà, Tây Tựu,...bao vây và cung ứng cho thành phố những mùa hoa đẹp. Hoa đi vào các phố với những cô gái duyên dáng của ngoại thành. Cho đến trong chiến đấu cũng có một lũy hoa như Nguyễn Huy Tưởng miêu tả. Có những loài hoa tên không đẹp đến quyến rũ nhưng có hương sắc riêng và tên gọi không hấp dẫn: hoa sữa, hoa sưa, hoa sấu...Người ta nhắc đến mùi hoa sữa thường tỏa hương man mác trời khuya. Lớp trẻ sau khi đi chơi tối về thường gặp hoa sữa vào giờ tỏa hương nên dễ có ấn tượng lâu dài. Tuy nhiên mùi hoa sữa hắc, hoa sữa không có cánh hoa, đài hoa như các loài hoa khác. Trên cành cao cũng khó có dịp chiêm ngưỡng. Một vài thành phố như Đà Nẵng cũng lấy giống hoa sữa về trồng, cây cao bóng mát nhưng phải chịu mùi hương hăng hắc trong đêm. Hương hoa sữa thường tỏa bay và hợp với tiết trời se lạnh của mùa đông và đầu xuân ở Hà Nội.Một loài hoa cũng đặc biệt, thường nở vào tiết xuân, những cây hoa sưa thấp thoáng trên đường phố, bên hồ bừng nở một màu tuyết trắng. Cánh hoa nhẹ, hoa tỏa bay tạo nên những màu trắng đẹp trên cành cao và rải trắng mặt đường. Hương hoa thơm của Hà Nội thường có ở các loài hoa gần gũi trong chùa như hoa ngâu hoa, mộc trong vườn và công viên  như hoa dạ lan hương, hoa hồng, hoa huệ, hoa loa kèn, hoa ly. Hoa gần với người, hoa trong phòng tỏa hương thơm, hoa đẹp trong vườn bên lối đi. Ở cổng vào nhà của hai nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu có một cây ngọc lan tỏa hương từ trên tầng cao và ngát thơm một vùng. Căn phòng của Xuân Diệu bao giờ cũng có hoa nhiều hơn, thắm thiết và ân tình là những bông hoa trong thơ.


Thơ Xuân Diệu viết nhiều về các loài hoa Hà Nội. Hoa được nhìn ngắm với tâm hồn thi sĩ từ màu sắc đẹp liên tưởng đến âm thanh:


Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều


Bên màu hoa mới thắm như kêu


Và trong vườn thơ của Xuân Diệu có hoa thược dược, hoa hồng, hoa dạ lan hương, hoa mộc, hoa phượng cho đến hoa không có tên gọi là“hoa anh ơi”. Hà Nội yêu hoa hội tụ ở các chợ hoa trong ngày lễ, ngày tết. Hoa đi vào trong ngõ phố, hoa đến với từng nhà. Không gì thi vị bằng tặng cho người thân những bông hoa đẹp trong ngày tết, ngày sinh, ngày tình yêu. Hoa đẹp trên cành cao, hoa đẹp qua bàn tay nghệ thuật của người cắm hoa. Nhưng có những loài hoa chỉ đẹp khi rơi xuống đất. Ở làng quên trên mặt đất mỗi buổi sáng mai là những hạt gạo trắng của hoa cau rơi bên chum nước. Hoa cau thơm, mùi thơm nhẹ ngan ngát hương đất trời thu về từ trời  cao. Có người bóc cả bẹ cau đem về để cắm trong phòng. Hoa cau đẹp nhưng không thích không gian chật chội, không đẹp khi bị ép trong bẹ cau. Hoa cau đẹp ở những hạt trắng nhỏ bung ra trong không gian nổi trắng như tuyết trong một chum nước mưa đầy. Đó là chuyện ở làng quê, còn ở thành phố là vẻ đẹp của hoa sấu. Cây sấu không cao to như các cây cổ thụ khác trên đường phố Hà Nội. Ở rừng Cúc Phương có cây sấu cổ thụ cao, to đã hàng ngàn năm tuổi. Trong chuyến đi về Cúc Phương các nhà văn, nhà thơ Vũ Quần Phương, Xuân Quỳnh đã đứng dưới gốc cây sấu ngàn năm và ngàn năm đã qua quả sấu vẫn giữ được vị chua ngọt rất thanh và tao nhã của quả sấu hôm nay. Hiện có những đường phố có hàng sấu xanh tươi bốn mùa như đường Phan Đình Phùng. Sấu không rụng lá vào mùa thu, mùa đông và chỉ rụng lá vào cuối xuân, đầu hạ. Mùa lá rụng lá sấu rụng ào ào. Thân cây không trơ trụi mà đã sớm thay bằng mùa lá mới xanh tươi. Và tiếp theo là mùa hoa. Hoa sấu trắng bé nhỏ như hạt ngô nếp non, trắng tròn, mềm mại. Sau những cơn mưa đầu mùa hạ, mặt đường bóng gương nước và nổi lên những hoa sấu trong trắng. Từ cành cao rụng xuống hoa sấu rơi vào cảnh đời trôi nổi nhưng cũng đóng góp cho thành phố vẻ đẹp thoáng qua mà gây ấn tượng:


Mùa tháng tư tiếng sấm nơi xa.


Đường bóng nước người đi về đôi ngả.


 Hoa sấu rải đều trên mặt nhựa.


Vẫn ngọc ngà trong trắng màu hoa.


Trong tuổi trẻ tôi vẫn bị ám ảnh với hình ảnh đẹp của những nụ hoa sấu trên mặt đường sau những cơn mưa. Các loại hoa khi cánh rụng, hoa tàn thường kết thúc đời hoa một cách buồn ảm đạm. Nhưng hoa sấu như theo một quy luật khác. Điều kỳ lạ là ở cây sấu mọi quá trình sinh trưởng đơm hoa kết trái đều diễn ra nhanh chóng. Nhà thơ Xuân Diệu hai lần viết về cây sấu và ông ngạc nhiên khi mới hôm nào trĩu hoa đến quả, từ quả non trên cành bé nhỏ đã nhanh chóng thành chùm sấu thách thức và đồng hành với thời gian:


Mấy hôm  trước còn hoa


Mới thơm đây ngào ngạt


Thoáng như một nghi ngờ


Trái đã liền có thật


Ôi! Từ không đến có


Xảy ra như thế nào


Nay má hây hây gió


Trên lá xanh rào rào.


Và bây giờ sấu lại mang đến cho con người một hương vị lạ. Trong ẩm thực của người Việt có nhiều vị chua từ me chua, tai chua, khế chua, đến chanh chua đã đủ vị cho người xuýt xoa nhưng vẫn còn thiếu một vị chua thanh cảnh, cao thượng là sấu chua. Sấu chua có nhiều cấp độ, quả xanh đẹp lại vị chua cho bát canh nấu với thịt nạc hoặc loại cá chọn lọc. Khi quả sấu chín vị ngọt và chua chia sẻ với nhau tạo hương, tạo vị đặc biệt. Các cô gái hà thành gọt vỏ và dầm sấu với vị mặn, vị ngọt để có một hương vị riêng hoàn hảo.


Hà Nội có nhiều loại cây to chỉ cho bóng mát và vẻ đẹp của đường phố. Hà Nội có nhiều loại cây đẹp, cao to thuộc loại cây di sản nhất là cây đa ở báo Nhân dân, cây xanh tốt nhờ ơn người trồng và chăm sóc. Hàng cây sao ở phố Lò Đúc một thời những đàn cò hàng trăm con chiều chiều bay về đâyvới tổ nay đàn chim lại tìm về vùng quê khác. Đường Thanh Niên với những hàng liễu xanh tốt  có lúc phải hi sinh vẻ đẹp chặt bớt lá cành chắn tầm ngắm của các pháo thủ. Chiến tranh đã kết thúc liễu lại tươi tốt. Đường Phan Đình Phùng sấu từng, hàng cây xanh tốt. Nhà thơ Tố Hữu ở cùng phố trong những năm chống Mỹ nghĩ đến mùa sấu chín là nghĩ tới các em nhỏ sơ tán:


Đường sấu lâu rồi im tiếng guốc


Xuân về, táo rụng nhớ đàn em


Có loài cây mang cái tên lạ “cây cơm nguội”nhưng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã tìm được cảm hứng trong âm nhạc.


Cây xanh là bạn với người. Hàng cây xanh cành lá reo vui trong mùa hè tươi tốt. Những cơn gió mùa thu thổi về, mùa lá rụng, cành lá lao xao, sắc lá đổi màu, lại mang vẻ đẹp huyển ảo. Cây xanh có sự sống, có tiếng nói riêng. Hãy lắng nghe, đấy cũng chính là âm thanh của cuộc sống. Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo đã tìm thấy trong âm thanh của đường phố có âm thanh tiếng nói của cây và hoa lá cũng mang tiếng nói của nghệ thuật.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười. Tập Bút ký của GS Hà Minh Đức. NXB Công an nhân dân, 2016. Tác giả gửi www.trieuxuan.info







[1]Nay là Phó giáo sư thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.




[2]Thầy giáo khoa Văn – Đại học Tổng hợp.




[3]NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006




[4]Các vị học ở Đại học Đông Dương có ghi chú ĐHĐD còn lại là thầy trò tiêu biểu của Đại học Tổng hợp




[5]Năm nay trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức kỷ niệm và hội thảo 110 năm Đại học Đông Dương. Hơn một trăm năm đã qua, thầy trò đã đi xa chỉ còn lại nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Sự luận bàn của hội thảo sẽ thiên về góc độ sử học.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »