tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21270639
21.12.2016
Nhiều tác giả
Triệu Đà và Đền Đồng Xâm Thái Bình



Triệu Đà và 76 năm sống trên đất Việt


Đại Việt sử ký toàn thư, bộ quốc sử đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam khẳng định Triệu Đà là một nhân vật có thực và đã dành riêng một chương để chép về kỷ nhà Triệu trong đó Triệu Đà (Triệu Vũ Đế) được xem là người khởi lập một triều đại mới trên đất nước ta.


Đương nhiên, chúng ta không thể chấp nhận quan niệm sai lạc của các nhà sử học phong kiến trước đây khi coi nhà Triệu là triều đại mở đầu nghiệp đế vương của đất nước, nhưng với 76 năm sống trên đất Việt (từ 213 đến 137 TCN), có thể khẳng định rằng nhân vật Triệu Đà sẽ vẫn còn để lại những dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa của dân tộc ta.


Căn cứ vào ghi chép trong các thư tịch cổ thì Triệu Đà vốn người Hán, quê ở huyện Chân Định (tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), đất nước của Triệu thời Chiến Quốc. Năm 208 TCN, sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược địa bàn của các tộc người Âu Việt và Lạc Việt, nhà Tần cũng cắt đặt quan lại  cai trị, thành lập chính quyền cấp quận và cấp huyện ở những vùng mới chiếm được ở phương Nam trong đó Nhâm Ngao được cử giữ chức Quan úy (chức võ quan) quận Nam Hải còn Triệu Đà làm quan lệnh huyện Long Xuyên.


Khi Tần Thủy Hoàng chết, đế chế Tần bị lung lay, bốn quận mới thành lập ở phía Nam, trên thực tế, đã thoát khỏi sự quản lý và kiểm soát của triều đình trung ương. Đông Việt và Mân Việt ở quận Mân Trung nổi dậy chống Tần, cố phục hồi nước cũ. Nhâm Ngao và Triệu Đà âm mưu cát cứ Nam Hải. Trước khi chết, Nhâm Ngao cho mời Triệu Đà đến Phiên Ngung (Quảng Châu, trị sở của quận Nam Hải) giao phó toàn bộ mưu đồ cát cứ và viết giấy cử Triệu Đà thay mình cai quản quận Nam Hải. Được sự giao phó của Nhâm Ngao, Triệu Đà liền chiếm lấy quận Nam Hải, giữ các cửa ải và chặn các đường giao thông từ bắc xuống, diệt trừ những quan lại là Tần có ý chống đối và thay bằng những người thân cận, cùng phe cánh. Chính quyền Phiên Ngung trở thành chính quyền cát cứ của họ Triệu.


Năm 206 TCN, nhà Tần bị diệt. Triệu Đà lập tức đánh chiếm cả quận Quế Lâm và quận Tượng, thành lập nước Nam Việt và tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung. Nước Nam Việt của nhà Triệu chính thức ra đời từ đó. Năm 183 TCN, Triệu Đà liền tự xưng là Nam Việt Vũ Đế, lập thành một nước riêng, không chịu thần phục nhà Hán và đẩy mạnh các hoạt động bành trướng lãnh thổ. Đây là giai đoạn phát triển cao nhất trong mưu đồ cát cứ và bành trướng của Nam Việt trong đó một trong những mục tiêu chủ yếu của nhà Triệu là nước Âu Lạc giàu có ở phương Nam.


Truyền thuyết dân gian vùng ven thành Cổ Loa còn kể lại rằng khi đi đánh An Dương Vương, Triệu Đà đã cho thuyền ngược sông Hồng và cho đóng quân ở bến sông, nay là đoạn cuối làng Dâu hay có tên khác là làng Lực Canh (Xuân Canh, Đông Anh) và đầu làng Văn Tinh (Xuân Canh, Đông Anh), nơi rất gần với ngã ba Dâu (nơi hợp lưu của sông Đuống và sông Hồng). Nhiều nơi xung quanh khu vực Cổ Loa như các làng  Văn Tinh, Lực Canh (Xuân Canh), Thạc Quả (Dục Tú) thờ Triệu Đà. Tương truyền, làng Văn Tinh là nơi Triệu Đà đóng đại bản doanh còn dân Lực canh chỉ làm nhiệm vụ như cắt cỏ ngựa, khuân vác, phục vụ cho quân đội. Vì thế, đình Văn Tinh được coi là nơi thờ chính còn các nơi khác chỉ là nơi thờ vọng. Lễ hội làng Văn Tinh được tổ chức từ ngày mùng 6 đến mùng 8 tháng 3 hàng năm để tưởng nhớ Triệu Đà. Ngày 7 tháng 3, nhân dân làng Lực Canh rước tượng Trọng Thủy đến Văn Tinh với ý nghĩa con về thăm cha.


Sau thất bại của An Dương Vương, Triệu Đà đã tiến hành sát nhập toàn bộ đất đai Âu Lạc vào nước Nam Việt và chia Âu Lạc ra làm hai quận là Giao Chỉ và Cửu Chân đặt dưới sự thống trị của chính quyền Nam Việt ở Phiên Ngung (Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc). Tuy nhiên, về cơ bản chính sách cai trị của Triệu Đà và sau này là nhà Triệu còn hết sức nới lỏng. Tại các quận Giao Chỉ và Cửu Chân, Triệu Đà các đại diện nhằm cai quản các công việc trong quận, trong đó chủ yếu là thực hiện chế độ thuế khóa theo phương thức cống nạp.


Qua các tài liệu thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam chúng ta được biết Triệu Đà và chính quyền nhà Triệu đã hòa nhập tương đối nhanh với đời sống của người Việt, thực thi nhiều chính sách và biện pháp khôn khéo nhằm tranh thủ các thủ lĩnh người Việt , tìm hậu thuẫn trong đông đảo nhân dân. Bên cạnh đó, Triệu Đà tự xưng là  “ Man Di đại trưởng lão phu”, lấy vợ Việt, theo phong tục tập quán Việt (búi tó, ngồi xổm), chứng tỏ như một thủ lĩnh, một tù trưởng của người Việt. Mặt khác, chính quyền nhà Triệu còn có tư tưởng chống nhà Hán tương đối mạnh mẽ. Điều đó, được thể hiện rõ nét nhất  khi đặt tên quốc gia của mình là Nam Việt (chứ không phải là Nam Hán như tập đoàn Lưu Cung thế kỷ X khi vùng Lưỡng Quãng đã bị Hán hóa hoàn toàn) cũng như thái độ tự chủ, không chịu thần phục triều đình nhà Hán. Tư tưởng chống Hán và hòa nhập cộng đồng người Việt của Triệu Đà trước hết được xuất phát từ quyền lợi của bản thân chính quyền nhà Triệu nhưng nhân tố ấy lại góp phần giúp Triệu Đà giành được thiện cảm trong tình cảm, tư tưởng người dân Âu Lạc.


http://www.hoangthanhthanglong.vn/blog/trieu-da-va-76-nam-song-tren-dat-viet/599


Về đền Đồng Xâm, thăm làng nghề chạm bạc


Khi đến thăm quê lúa Thái Bình, bên cạnh những thắng cảnh như bãi biển Đồng Châu, cồn Vành, chùa Keo… du khách không nên bỏ qua một điểm du lịch văn hóa - lịch sử lý thú: đền Đồng Xâm thuộc xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương.


Đền nằm bên con sông Vông hiền hòa. Ngôi đền này gắn liền với danh tiếng của nghề chạm bạc truyền thống đã hình thành từ mấy trăm năm nay ở địa phương. Khi đến xã Hồng Thái để thăm đền Đồng Xâm, du khách có thể cảm nhận được không khí tấp nập, trù phú rất riêng, khác hẳn vẻ yên ả, tĩnh lặng đặc trưng thường thấy ở một miền quê vùng đồng bằng Bắc bộ.


Dọc con đường quê nhỏ tiếng chạm bạc vang vang. Nhìn vào các ngôi nhà bên đường, ta dễ dàng bắt gặp những người thợ thủ công tài hoa đang tỉ mỉ, cần mẫn thực hiện nhiều đồ trang sức, đồ trang trí bằng bạc tinh xảo.


Đền Đồng Xâm thờ Triệu Vũ Đế, hay còn gọi là Nam Việt Vũ Đế, và Trình Thị hoàng hậu - vợ Triệu Vũ Đế, cùng Nguyễn Kim Lâu là vị tổ nghề chạm bạc cổ truyền của làng. Thời điểm xây dựng ngôi đền không có sử sách ghi chép chính xác, song tương truyền rằng đền Đồng Xâm được Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) cho xây dựng từ trước Công nguyên.


Quần thể di tích đền Đồng Xâm gồm những công trình chính là nhà thủy tọa, các tòa điện Tiền Tế, Trung Tế và Hậu Cung. Đứng trên chiếc cầu bắc qua sông Vông, du khách sẽ thấy tòa thủy tọa nằm ngay phía trước sân của tòa điện Tiền Tế. Đây là một tòa nhà nổi trên sông, gồm sáu cửa vòng quay ra sáu hướng.


Từ nhà thủy tọa có thể dễ dàng ngắm nhìn sông quê êm đềm trôi chảy cũng như khung cảnh bề thế của tòa điện Tiền Tế. Mỗi dịp lễ hội, đây là vị trí lý tưởng để theo dõi các cuộc đua thuyền trên sông Vông.


Tòa Tiền tế nằm uy nghiêm hướng về phía sông Vông gồm có năm gian rộng, trên tường các gian có chạm trổ và vẽ nhiều hoa văn đẹp. Tòa điện Trung tế nối liền tòa Tiền tế với Hậu Cung cũng được thiết kế công phu, tạo cảm giác thú vị về một kiến trúc kết nối hợp lý giữa các phần của ngôi đền. Trong đền còn có tượng thờ Triệu Vũ Đế và Trình Thị hoàng hậu được đúc bằng đồng, khảm vàng thếp bạc.


Khi tới tòa Hậu Cung, du khách sẽ được chiêm ngưỡng kiến trúc tinh tế thể hiện qua những đại tự, cuốn thư, câu đối… bài trí hài hòa. Trong Hậu Cung có Khán Gian là tác phẩm tuyệt đẹp thể hiện nét độc đáo của làng nghề chạm bạc Đồng Xâm với những lá đồng được chạm nhiều đề tài khác nhau như tứ linh, tứ quý…


Hằng năm, mỗi khi đến lễ hội Đồng Xâm (từ mồng 1 đến mồng 3 tháng 4 âm lịch) là nhân dân trong vùng cùng đông đảo du khách thập phương lại nô nức về xã Hồng Thái để tham gia nhiều trò chơi dân gian và hoạt động văn hóa đặc sắc của lễ hội, như hát ca trù, hát chèo, rước thánh sư, tế lễ…


Đặc biệt, sôi nổi nhất là cuộc thi đua thuyền của thanh niên trên sông Vông. Trong thời gian diễn ra lễ hội, các sản phẩm chạm bạc của làng cũng được trưng bày và bán làm làm đồ lưu niệm cho du khách để giới thiệu và quảng bá thêm về nghề truyền thống này.


vn.news.yahoo.com


Trẩy hội Đền Đồng Xâm, Thái Bình 


Nguyễn Xuân Diện


Hôm nay mùng Một tháng Tư là hội đền Đồng Xâm, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Làng Đồng Xâm là làng nghề chạm bạc nổi tiếng cả nước, với các sản phẩm tinh tế, bền đẹp. Tôi được hội đồng hương Nam Cao tại Hà Nội rủ về chơi hội, nên đã trẩy hội Đồng Xâm - lần đầu tiên trong đời.


Đền Đồng Xâm thờ Triệu Đà và bà vợ họ Đào (?) [là Hoàng hậu Trình Thị - TX]. Nhiều nhà sử học xưa nay cho rằng triều đại Triệu Đà không được tính vào Việt sử, nhưng trong Bình Ngô Đại cáo thì Nguyễn Trãi coi Triệu Đà như một triều đại của Đại Việt:


Tự Triệu - Đinh - Lý - Trần chi triệu tạo ngã quốc


Dữ Hán - Đường - Tống - Nguyên nhi các đế nhất phương


(Từ nhà Triệu - Đinh - Lý - Trần tạo dựng nước ta


Cùng nhà Hán - Đường - Tống - Nguyên hùng cứ mỗi bên xưng đế)


Hoành phi, đại tự trong đền có một số bức tiêu biểu như sau:


Khai quốc đại đế: Bậc đế vương vĩ đại khai quốc


Thác địa dư vạn lý: Mở đất hơn vạn dặm


 Phối Thiên Phối Địa: Sánh với Trời, Sánh với Đất


Nãi Thánh Nãi Thần: Bậc Thánh bậc Thần


 Đền nằm kề bên con sông cổ, trước đền có một thủy tạ ở ngoài sông, không có cầu dẫn:


Trong đền có ngựa bạch, chuông, và kiệu


Hội đền, bên trong thì hát múa hầu Thánh; ngoài sông thì thi bơi chải. Năm nay có 7 đội thi tài. Không khí cực kỳ náo nhiệt, làm xao động cả một khúc sông quê


Những người không xem hội thì có đủ mọi trò để chơi


 Mực, Cá chỉ vàng nướng là món không thể thiếu, luôn đem lại hương vị cho các lễ hội thôn quê


Hãi nhất là người ta bán những con chuột bạch bé tý


Anh hàng dép guốc, túi cặp hôm nay ế khách, làm một giấc dài ngay dưới hè một quán nước.


Đi xem hội xong thì chiêm bái đền thờ Tổ nghề Chạm bạc, ở phía sau đền Triệu Đà:


Trước đền, ngay trên thềm, chính giữa là một giếng nước - một điều rất hiếm khi gặp:


Trong đền có bia đá, sắc phong (xưa - nay) còn ghi sự thờ cúng của phường nghề đối với Tổ:


 Một ngày đã qua. Biết thêm một dòng sông. Chen chân thêm một lễ hội. Quen thêm được vài người.


Biết thêm một dòng sông để hiểu hơn về nước và thuyền. Chen thêm một lễ hội để hiểu rằng mỗi lễ hội là một cuốn sử mà những người dân lam lũ xưa dù không biết chữ vẫn mở ra một lần trong năm để ôn lại. Quen thêm vài người để học hỏi những điều còn chưa biết về những nơi chưa đến, những di tích chưa thăm, những phong tục chưa trải nghiệm...


Thứ Bảy, 21.4.2012. Mùng Một tháng Tư năm Nhâm Thìn


NXD.


http://mantico.hatvan.vn/fdgfdgfd/tr%E1%BA%A8y-hoi-den-dong-xam-thai-binh.html




Báu vật Đồng Xâm


Làng Đồng Xâm được hình thành vào cuối thời Trần-Hồ, cách nay hơn 600 năm. Nơi đây được coi là cái nôi lớn nhất của nghề chạm khắc bạc Việt Nam.


Nằm uốn mình bên dòng sông Đồng Giang, một chi lưu của sông Hồng, làng nghề Đồng Xâm như một cái nôi của nghề chạm khắc bạc lớn nhất Việt Nam


Làng nghề bên dòng  Đồng Giang


Nhiều năm trở lại Đồng Xâm (Kiến Xương, Thái Bình) vẫn không thấy sự thay đổi gì nhiều so với nguồn thu của một làng quê được tính tới con số triệu USD do sự tinh xảo của những nghệ nhân chạm khắc bạc nơi đây mang về. Làng này cũng thật kỳ lạ, nơi nào cũng thấy nghệ nhân, cho dù đó là ông cụ râu tóc bạc phơ hay cô nông dân xinh xắn trên con đường làng, bởi nơi này có 146 tổ hợp hợp tác xã và 637 hộ cá thể làm nghề chạm khắc bạc. Cái cách người ta họp chợ phiên bên dòng Đồng Giang hiền hòa cũng không mấy khác xưa so với 600 năm trước, khi làng được hình thành. Những ghi chép mà chúng tôi đọc được ở ngôi miếu tổ làng nghề cho thấy Đồng Xâm được hình thành vào cuối thời Trần-Hồ, cách nay hơn 600 năm. Nhưng để người đời biết đến nghệ thuật chạm khắc bạc tinh xảo nơi này thì chỉ còn lưu giữ một văn bia đá cổ ở trong ngôi chùa Đường nằm ở thôn Thuận Gia. Tấm bia đá đã mòn theo năm tháng, nhưng vẫn còn đọc được những dòng chữ :”Hoàng triều Chính Hòa thập niên, Tổ phụ Nguyễn Kim Lâu (…) Bảo Long tụ lạc học nghệ, đáo Đồng Xâm xứ kiến lập thập nhị phường kim hoàn truyền nghệ.” Tạm dịch: Năm thứ mười dưới triều vua Chính Hòa (1689), vị tổ sư Nguyễn Kim Lâu vốn làm nghề vàng bạc ở Châu Bảo Long, tới xứ Đồng Xâm lập ra mười hai phường để truyền nghề.


Đền thờ tổ nghề chạm khắc bạc Đồng Xâm, nơi lưu giữ báu vật làng


Nằm uốn mình bên dòng sông Đồng Giang, một chi lưu của sông Hồng, làng nghề Đồng Xâm như một cái nôi của nghề chạm khắc bạc lớn nhất Việt Nam. Nơi đây sản sinh ra những nghệ nhân kiệt xuất nhất trong nghề chế tác bạc, nơi cung cấp thợ bạc tài hoa cho hầu hết các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Đà Nẵng… Đình Đồng Xâm được xem như một tập đại thành không chỉ với bạc, mà ở đó mang đậm kiến trúc chạm khắc trên gỗ, trên đá và các kim loại khác. Suốt mấy trăm năm qua, người Đồng Xâm luôn giữ bí mật nghề chạm bạc. Với lệ làng quy ước rất chặt chẽ không truyền nghề cho con gái, con rể, nhưng lại được phép truyền nghề cho con dâu, vì người xưa sợ những thủ pháp kỹ thuật bí mật và nghệ thuật tinh xảo bí truyền sẽ bị mất đi vào gia tộc khác. Hương ước của làng ngày xưa còn ghi rằng: người nào đem bí quyết làng nghề truyền dạy cho làng khác, hay làm đồ giả để lừa người khác, gây sự bất tín thì phải chịu phạt thật nặng: hoặc đem đánh đòn trước nhà thờ Tổ, hoặc phải xóa tên ra khỏi phường nghề. Hàng chạm bạc Đồng Xâm luôn nổi trội so với hàng bạc của các làng nghề khác không chỉ về kiểu dáng mới lạ mà còn là những kiệt tác tinh vi mà cân đối, lộng lẫy mà rực rỡ, với thủ pháp xử lý sáng – tối nhờ tận dụng đặc tính phản quang của chất liệu bạc. Sản phẩm Đồng Xâm thể hiện sự điêu luyện của nghệ nhân đến mức hoàn hảo. Có thể nói rằng tài năng và tính cẩn trọng của nghệ nhân bạc Đồng Xâm đã và đang đáp ứng được mọi yêu cầu sử dụng đồ chạm bạc của những khách hàng khó tính và am tường nghệ thuật nhất.


Nghệ nhân Nguyễn Hữu Dụ, một trong những người tay nghề cao nhất làng kể rằng: Để tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền nhân khai sáng nên làng nghề độc nhất vô nhị này, vào đầu thế kỷ 20, các bô lão làng cũng như phường nghề, hiệp thợ bàn với nhau làm một bộ đồ thờ tinh xảo nhất, trưng bày trong đền thờ tổ. Hiệp thợ Nhan Tàm – hiệp thợ giỏi nhất làng Đồng Xâm lúc bấy giờ, được chọn thực hiện bộ đồ cúng tế. Cả làng cùng góp công, góp sức để thực hiện bộ báu vật này, ai có bạc góp bạc, nhà nghèo thì góp bằng sức đinh cày cấy. Miệt mài sau gần nửa năm trời, mùa đông năm 1925, cả làng gióng trống mở cờ dâng bộ báu vật vào đền Đồng Xâm.


Nghệ nhân Nguyễn Hữu Dụ – người được giao việc bảo quản bộ báu vật Đồng Xâm.


Những năm tháng bao cấp, ngành nghề phải vào guồng máy hợp tác xã, đền thờ cũng được quy hoạch nằm trong đó. Những tay nghề điêu luyện phải làm rập khuôn theo dây chuyền, các hiệp thợ lụn bại dần, dẫn đến tan rã, vỡ nợ. Lúc ấy người ta dự định bán theo kiểu “thanh lý” cả đồ thờ tự trong đền thờ để thanh toán nợ nần. Những người thợ Đồng Xâm đau lòng lắm, vì đó được xem như báu vật mà tiền nhân tạo ra cho con cháu mai sau biết đến tay nghề tuyệt mỹ của cha ông. Các hiệp thợ ngồi lại với nhau bàn chuyện xin mua, xin chuộc lại chính báu vật của làng. Sau nhiều năm thương lượng, bộ báu vật cũng đã trở về với chính chủ nhân của nó: những nghệ nhân nông dân. Ông Nguyễn Hữu Dụ giờ được các hiệp thợ giao cho việc bảo quản bộ báu vật này. Những ngày giỗ tổ nghề, những báu vật này mới được mang ra trưng bày nơi đền thờ tổ để những nghệ nhân trẻ chiêm ngưỡng và học hỏi về một kiệt tác mà cha ông họ đã làm nên từ gần 100 năm qua.


Bàn tay tài hoa của nghệ nhân chạm khắc bạc Đồng Xâm


Những năm gần đây, làn sóng “công nghiệp hóa” lan đến ngõ ngách làng quê. Làng nghề Đồng Xâm có phần mai một, nhiều gia đình vốn làm nghề chạm khắc truyền thống đã chuyển sang làm đồ bạc, đồng theo lối công nghiệp, dập khuôn. Nhiều nghệ nhân tâm huyết với làng nói rằng họ rất đau lòng khi ai đó khen ngợi Đồng Xâm đang tiến tới “cơ giới hóa” với máy móc, khuôn dập để cung cấp cho thị trường những sản phẩm hàng loạt. Nhưng đi khắp làng Đồng Xâm hôm nay vẫn vui mừng khi nghe đâu đó tiếng lách cách chạm khắc từ những bàn tay người thợ tài hoa, sự tỉ mẩn với từng nét điêu khắc hoa văn họa tiết chính là linh hồn tạo nên danh tiếng hàng trăm năm của Đồng Xâm mà không phương tiện hiện đại nào có thể thay thế được. Đồng Xâm vẫn là cái nôi của nghề chạm khắc bạc thủ công. Đó mới chính là báu vật của Đồng Xâm…


http://langnghevietnam.vn/?go=New&page=d&igid=670&iid=15762



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hai bài về Gobbels (1897–1945), Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Hitler - Tư liệu sưu tầm 10.12.2017
Vài nét về tiểu thuyết nổi tiếng: Bác sỹ Jivago - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago từng “là vũ khí tâm lý chiến”! - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Cộng sản, Bạch vệ và kho báu Sa Hoàng - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Thời báo Hoàn Cầu viết về tình cảm yêu - ghét của Việt Nam với Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 04.12.2017
Trần Hữu Lượng - Người Đại Việt làm Hoàng Đế Trung Hoa - Tư liệu sưu tầm 03.12.2017
Magellan đến Thái Bình Dương - Tư liệu sưu tầm 28.11.2017
Thăm mộ cụ Alexander De Rhodes, người tạo ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 28.11.2017
Tiếng Việt mà thành Tiếq Việt sẽ đứt gãy văn hóa dần dần! - Nguyễn Lân Bình 28.11.2017
Chữ Quốc Ngữ qua những biển dâu - Đoàn Xuân Kiên 27.11.2017
xem thêm »