tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004392
10.12.2016
Phan Quang
Thay Lời kết: Tôi bỗng gặp trời thu Hà Nội


Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm là tác phẩm mới nhất của nhà văn Phan Quang. NXB Trẻ, 2016. Được sự đồng ý của tác giả, www.trieuxuan.info xin giới thiệu Lời tựa, Lời tác giả và Thay Lời kết in trong tác phẩm này.


 


Hà Nội đẹp. Một đô thị đẹp nhất khu vực và là một trong số những



địa danh đáng đến nhất hành tinh.


Đó không phải lời chúng ta mà là cảm nhận của bạn bè quốc tế, trong


số đó có đại gia văn học, truyền thông hay nhà lữ hành từng đặt chân


tới nhiều nơi. Nhiều người đã tái hiện ấn tượng của họ về Hà Nội qua


tác phẩm. Xin đừng nghĩ họ làm vì xã giao. Cũng có vị từng tung những


câu bay bổng nhất ngợi ca Hà Nội thành phố chủ nhà khi khách và chủ


cùng tưng bừng cụng chén, tuy nhiên họ đủ bản lĩnh để không cho lọt


những lời phù phiếm vào tác phẩm. Họ đã nói, đã viết là thật lòng ngợi


ca cái đẹp Hà Nội chúng ta.


Cá nhân tôi, một chàng trai nhà quê thứ thiệt từ gió Lào cát trắng gặp


Hà Nội một ngày bảng lảng heo may và bỗng dưng trở thành cư dân Hà


Nội từ bấy đến nay. Lần đầu tôi nhìn thấy Hà Nội bằng mắt chứ không


phải qua những trang văn nằm lòng từ tuổi thiếu niên, tạo cái nền cho


tình yêu Hà Nội trong cả một đời người. Ấy là vào ngày 10 tháng 10 năm


1954, ta tiếp quản Thủ đô sau chín năm kháng chiến trường kỳ.


Sau thắng lợi Điện Biên, thế nước miền Bắc dường như cũng phản


ánh đúng thế nước và khí thiêng sông núi chúng ta hồi đó. Bắt đầu


sang thu, một trận lũ lớn nhấn chìm đồng bằng Nghệ Tĩnh và một phần


Thanh Hóa. Mưa như trút cả tuần. Nước các triền sông dâng vùn vụt.


Tiếng trống hộ đê ngày đêm tới tấp dọc các triền sông, đốt nóng ruột


gan, giục giã mọi người cùng dồn sức giữ đê, vậy mà vẫn không sao trụ


nổi. Đê sông Lam vỡ mạn Hưng Nguyên. Đê sông La nước tràn nhiều


khúc. Đồng ruộng, nương khoai, đường sá ngập trắng băng trong khi


nước thượng nguồn tiếp tục đổ về, mặt sông cao hơn mặt đồng, làm


sao nước thoát.


Tôi nhận được quyết định cấp trên điều ra Bắc, thời hạn có mặt tại


cơ quan mới trước tháng mười. Tòa báo nơi tôi làm việc hồi này đóng


tại một vùng nổi tiếng văn vật huyện Nam Đàn, cận kề Kim Liên quê


nội Bác Hồ và Đan Nhiệm làng sinh chí sĩ Phan Bội Châu, cũng không


mấy xa đền vua Mai Hắc Đế. Từ đây ra Bắc tiện nhất xuôi về Vinh, rồi


cứ theo quốc lộ 1 nhẩn nha mà đến đất Thăng Long. Có điều nhìn về


đâu cũng mênh mang nước bạc, đành chuyển hướng băng đồi, dắt xe


qua một cái truông cập đường số 7 xuôi về ngã ba Phủ Diễn. Lại nghe


nói mưa to làm sụt đất đèo Tam Điệp, tôi tạt về vùng biển huyện Nga


Sơn, Thanh Hóa sang Phát Diệm, Ninh Bình, từ đây đi tiếp tới tới Thành


Nam. Đến Nam Định, mưa tầm tã lại cầm chân thêm mấy bữa. Vậy mà


khi tiết Hàn Lộ về, theo kế hoạch chỉ còn mỗi một hôm nữa thôi là các


cánh quân ta từ mấy hướng vào Thủ đô, bỗng dưng trời đất bừng sáng.


Một trận gió khô quét sạch ẩm ướt mây mù. Trời chuyển hanh, lâng


lâng gió nhẹ, lãng đãng sương mai, mùa thu thực sự về. Ông trời phù


hộ dân ta…


Từ Nam Định tôi quyết đến bằng được Văn Điển trong ngày 9 tháng


10. Đường xuôi mà gió ngược, tới chợ Tía, Hà Đông trời sập tối và người


cũng mệt rã rời. Đành nghỉ nhờ qua đêm tại Hiệu sách Nhân dân ở ngã


ba đường. Ngẫm lại thấy vui mà lạ. Đối phương vừa rút các chốt đóng


quân của họ khỏi nơi đây có mấy ngày. Hóa ra dịch vụ đầu tiên chính


quyền ta mang đến cho người dân vùng giải phóng là… sách và báo!


Đi đường mệt, tôi ngủ thiếp luôn. Nửa đêm bừng tỉnh. Tưởng tại trời


se lạnh - thu đã về rồi mà. Nhưng không. Tiếng chân rầm rập, rầm rập


nhịp hòa trong tiếng hò reo, hoan hô đã đánh thức tôi. Dưới ánh trăng


mờ, bộ đội ta hành quân gấp về hướng Thủ đô. Đồng bào tập trung ở


ngã ba phố nói cười hân hoan. Bộ đội vừa chạy vừa vẫy tay đáp. Anh


nào cũng trang phục mới tinh, súng trường vác ngược trên vai. Mấy cô


gái đứng xem bên đường bỗng dưng ùa vào đỡ lấy cái gánh của mấy


anh lính nuôi quân lỉnh kỉnh nồi niêu xoong chảo, rồi cứ thế cùng chạy


thoăn thoắt cạnh hàng quân.


Sáng hôm sau 10 tháng 10, một ngày chủ nhật, rạng sáng nhìn vào


đâu cũng thấy cờ đỏ sao vàng. Chợ xép bên đường vẫn họp đông vui.


Phụ nữ nhiều chị đã diện áo len màu sắc. Một người khách hàng giục


bà bán bún riêu: “Bà nhanh nhanh tay giúp tôi với, tôi còn phải đi đón


phái đoàn”. Bên cạnh là một bà mẹ và cậu con trai đang chờ đến lượt,


mẹ vuốt ve cái huy hiệu Bác Hồ trên ngực áo mới của con: “Mẹ cài chắc


lắm rồi, chẳng sợ rơi mất đâu, con!”


Đập vào mắt tấm biển mới toanh nền vàng chữ đỏ treo ở mặt tiền


một ngôi nhà nhỏ bên đường: Công an Ngoại thành - ĐỒN VĂN ĐIỂN.


Hà Nội đây rồi.


Hà Nội dưới trời thu, giữa ồn ào phiên chợ sáng, tiếng người dân reo


hò, và từ xa vọng lại thanh bình tiếng còi tàu xe lửa. Nghe nói công


nhân đường sắt cùng đứng ra bảo vệ, quyết không cho quân đội Pháp


phá các đầu máy, toa xe như họ vẫn làm đối với mọi thứ trước ngày rút


quân.


Hà Nội đây rồi. Tuy nhiên tôi không được phép đi tiếp. Hôm nay,


ngày giải phóng thủ đô, người nơi khác đến, chỉ những ai có giấy của


Ủy ban Quân quản mới được vào nội thành - anh công anh trẻ măng lễ


phép giải thích.


Người tôi như hụt hẫng bởi quá vui sau những ngày những đêm trông


đợi. Tôi ghé vào quán nước bên đường, ghi sổ tay: Tôi bỗng gặp trời thu


Hà Nội. Hôm nay đọc lại thấy hơi điệu đà khuôn sáo, những hồi ấy nó


vọt ra từ lòng y nguyên như thế.


*


… Vậy là đã sáu mươi năm tròn. Tròn một vòng vận hội trong đó xoay


vần đủ mười hai con giáp, theo cách hiểu của ông cha ta, tôi đã mang


cái quê mùa của mình pha loãng tới mức nào chất hào hoa người Hà


Nội? Ta đã đóng góp được gì vào việc bảo tồn, phát triển Thủ đô yêu


quý? Và trước hết, ta đã phải là người Hà Nội chưa - mấy câu hỏi lửng


lơ tự chúng hiện lên trong tôi những đêm trằn trọc tuổi già, trời sao lâu


sáng vậy.


Cư dân Thủ đô bất kỳ nước nào cũng đều do người tứ chiếng qui tụ


mà thành. Tính cách người Thủ đô được chưng cất từ trí tuệ, tài năng,


tay nghề, sản vật, ẩm thực, tập quán của người đến từ mọi nơi đất nước.


Tuy nhiên, một khi tính cách người Thủ đô định hình thì tự nó vượt


trội, vững bền và có sức lan tỏa, từ đây nó sẽ tiếp thu có chọn lọc hơn


những gì các nơi đóng góp, nó có sức cưỡng đối với những thứ ngược


với tinh hoa đã thành truyền thống. Tính cách Thủ đô, được sự hỗ trợ


của luật và lệ, đòi hỏi cư dân nơi khác đến phải thật sự hội nhập với ý


nghĩa trọn vẹn của hai từ ấy, và như vậy có nghĩa là chấp nhận từ bỏ


một số nếp nghĩ và thói quen cố hữu. Có lần tôi hỏi một anh bạn người


Paris, phải định cư bao lâu bên sông Seine để được người khác coi mình


là parisien chính hiệu? - Bảy năm, anh đáp. Tôi không tin. Chỉ ngần ấy


thôi sao? Hay bảy năm là một quy định hành chính? Theo cung cách ấy,


hóa ra tôi đã là dân Hà Thành từ bao giờ?


Đêm đầu tiên của tôi tại Hà Nội là… nhà thương Đồn Thủy, dưới rừng


lá xà cừ và bàng cổ thụ. Quân đội Pháp vừa rút khỏi đây mấy ngày. Cơ


quan báo Nhân Dân tạm trú trong khi chờ tìm được nơi thích đáng làm


trụ sở. Tôi là lính mới. Anh Quang Đạm là lão binh. Anh kể: “Cậu Tường


giao thông (Ma Văn Tường) vừa được ra xem phố xá cho quen đường.


Cậu than: “Đường sá rối rắm thế này tôi đến lạc mất thôi. Không làm


giao thông ở đây được. Về quê thôi”. Chính cậu Tường ấy - anh Quang


Đạm nói tiếp - hồi ở chiến khu có lần được giao nhiệm vụ đưa nhà khoa


học Trần Đại Nghĩa đến một cơ quan nọ. Đi suốt buổi sáng trong cây,


đến một khoảnh rừng thưa, cậu chỉ làn khói mơ hồ bốc lên đằng xa,


rất xa sau bao nhiêu là cây núi chập chùng và thưa: “Bác theo hướng


khói kia mà đi, chốc nữa là đến”. Nhà bác học băn khoăn: “Có nhìn


thấy đường nào đâu? Tôi đến lạc mất thôi”. Tường ta quả quyết: “Lạc


thế nào được, thưa bác. Không có đường thì vạch lá tìm đường. Đã nhìn


thấy hướng kia, lạc làm sao được, thưa bác!”. Cậu thanh niên ấy giờ sợ


lạc giữa ba mươi sáu phố phường. Và nhà báo- học giả bình: “Trí thông


minh của con người rốt cuộc do môi trường, điều kiện tạo nên thôi”.


Hà Nội sáu mươi năm về trước đâu có lớn, có rộng bao nhiêu so với


riêng nội thành Hà Nội ngày nay. Những ngày chủ nhật đầu tiên tại


Thủ đô, tôi lên chiếc xe đạp cà tàng chưa kịp lắp lại đôi gác-đơ-bu (Garde boue: tấm chắn bùn xe đạp)1 bị tháo bỏ để bùn khỏi làm kẹt bánh xe khi đi vào các ngõ xóm lầy lội vùng


quê, đi tham quan Hà Nội. Trước hết, những địa danh ngưỡng mộ từ hồi


còn bé qua sách giáo khoa. Hồ Gươm, Trúc Bạch, Hồ Tây đây rồi. Trở lại:


Thiền Quang, Bảy Mẫu, Ba Mẫu... Đến cuối phố Huế tôi dừng xe hỏi bà


hàng nước trên hè: “Thưa cụ, từ đây đến hồ Ba Mẫu đi lối nào?” - “Đi


nốt khúc đường nhựa, rẽ phải là anh đến nơi”.


Tôi làm theo lời. Đến lúc không ngồi trên yên được nữa, xuống dắt xe


lội bộ khá xa vẫn chưa thấy hồ đâu. - “Bác làm ơn chỉ giúp cho lối đến


hồ”. - “Hồ đó, trước mặt anh”, một người đàn ông đang lúi húi sửa cái


sọt nan không buồn ngẩng đầu đáp.


Hồ? Ngao ngán bèo tây và bèo tây. Mênh mang đồng bèo tây, hoa bèo


tím ngát im phăng phắc vì ken chặt vào nhau mà tôi cứ mường tượng


như đang dập dờn đùa với gió thu, bởi còn đậm ấn tượng trong đầu


sóng nước Hồ Tây.


Thơ thẩn tôi đếm các phố tên có chữ Hàng. Hàng Nón, Hàng Tiện,


Hàng Than, Hàng Đào, Hàng Bông, Hàng Cót… - “Hàng Lọng ở đâu,


thưa bác?” - “Anh đến ga Hàng Cỏ”.


Trước ga Hàng Cỏ, sững sờ nhìn tấm biển phố đề tên Jean de Lattre


de Tassigny, viên tướng bốn sao tổng tư lệnh quân đội Pháp thua trận


qua đời vài năm trước, người ta bảo một phần vì uất ức đớn đau cậu quý


tử bỏ mạng tại xứ này, tấm biển cũ chính quyền ta chưa kịp tháo gỡ để


thay bằng cái tên Nam bộ sâu lắng trong tim người Hà Nội và mọi người


Việt Nam ta thời ấy. Tôi tìm phố Khâm Thiên, không phải hoài niệm cái


đài khí tượng chưa có trong hiểu biết của mình mà đơn giản muốn biết


cái gì nơi đây mà nằm lâu vậy trong văn thơ nhạc Nguyễn Tuân, Lưu


Trọng Lư, Nguyễn Văn Thương… Phố Khâm Thiên này, rồi tôi sẽ đi về


không biết bao lần, tập thể chúng tôi gần gò Đống Đa mà nơi làm việc


mãi bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Phố Khâm Thiên mà sáng 04-9-1969, mọi


nhà hai mặt phố không ai bảo ai tự động treo cờ rủ có đính dải băng


tang, bởi chương trình thời sự đầu ngày Đài Tiếng nói Việt Nam vừa


chính thức thông báo Bác Hồ qua đời. Phố Khâm Thiên 12 ngày đêm


“Điện Biên Phủ trên không” với những đống gạch ngói đổ ngổn ngang


vẳng tiếng khóc mất người thân từ những căn hộ chưa sập đổ hoàn


toàn, tiếng khóc của chủ nhà và của phụ nữ, trẻ em lối phố đến tá túc,


tiếng khóc mà ai cũng cố nén để khỏi làm ảnh hưởng tới những người


đang bới đất cứu nạn. Phảng phất trong không gian đẫm buốt sương


đêm đông ấy mùi khói hương lẫn khét lẹt chưa tan mùi đạn bom Mỹ,


mùi máu người dân bị vùi lấp, một thứ mùi kỳ lạ sẽ đeo đẳng tôi nhiều


kể cả sau khi đã chuyển nhà…


Hà Nội ta đã thăng trầm như thế trong một đời người.


Hà Nội ngày nay, riêng nội thành đã rộng gấp mấy Hà Thành của


tôi thời ấy. Tôi tin, trong mấy triệu cư dân Hà Nội, kể cả những vị chào


đời trên đất Thăng Long, không nhiều lắm những người có dịp nhìn


toàn cảnh thủ đô ta, ngoại trừ qua phim ảnh. Thân thuộc nhất, thoải


mái nhất và cũng bức bối hơn cả mỗi lần bị kẹt giao thông vẫn là lối đi


quen ta ngày ngày từ nhà tới nơi làm việc và ngược lại. Ngoài mấy trục


chính như Cầu Giấy - Phạm Văn Đồng - Nội Bài, cầu Chương Dương


sang Gia Lâm, cầu mới Vĩnh Tuy, Thanh Trì tiếp nối đường Nguyễn


Văn Linh xuôi về đất cảng, và trục Bắc Nam Lê Duẩn - Giải Phóng nối


quốc lộ 1 đến đường Hồ Chí Minh vào tận Cà Mau Đất Mũi, chắc chẳng


mấy ai có dịp thăm thú cảnh quan nhiều nơi khác. Tôi mặc cảm mình


chưa là người Hà Nội còn bởi lẽ, mỗi lần có việc đến một nào đó trong


Hà Nội trên những con phố mới dài thẳng thoáng, thỉnh thoảng tôi lại


phải hỏi anh lái xe: “Phố gì đây, hả cậu?”.


Dĩ nhiên, ai cũng biết to rộng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa


với đẹp với xinh mà nhiều khi đối nghịch. Nhưng đô thị phải đủ rộng


mới có thể tự thân phát triển. Nhìn những tòa nhà ngất ngưởng phô


cái sáng sủa, cái ngạo nghễ, ngay hàng thẳng lối của chúng dưới mặt


trời Hà Nội, và chẳng phải là không hay biết gì về những vấn đề cư


dân các nơi đó đang đối mặt, lòng tôi vẫn không nén được tự hào - tự


hào Hà Nội ta thay đổi nhanh, tự hào mình là dân Hà Nội lâu năm mặc


cho giọng nói nặng vùng quê còn đó bất chấp tháng ngày. Ồ, Hà Nội


của ta ngày nay, về diện mạo đâu có thua kém quá xa nhiều nơi khác.


Nhiều bạn nước ngoài không tiếc lời ngợi ca cái đẹp cái hồn cảnh


quan Hà Nội, cái lịch sự ý tứ con người Hà Nội. Họ chọn Việt Nam hay


Hà Nội nói riêng làm nơi sinh sống lâu dài, họ đã chân thành góp ý


với chúng ta về những việc chưa hài lòng, những điều họ nghĩ đáng


cho ta quan tâm.


Cách đây khá lâu, thời bắt đầu đổi mới, tín hiệu khởi sắc đã rõ dù đất


nước còn đối mặt muôn vàn khó khăn, một lần tôi sang London công


tác, có dịp làm quen một nghị sĩ trẻ tên là Chris Mullin, thuộc cánh tả


Công đảng Anh. Ông là ký giả chuyên nghiệp từng làm việc cho nhiều


tờ báo lớn như Daily Mirror, Tribune, Sunday Magazine... Cũng có viết


tiểu thuyết, vừa cho xuất bản tác phẩm nhan đề tạm dịch Người cuối


cùng rời khỏi Sài Gòn.


Mấy năm sau, có việc sang châu Âu, tôi “ăn Tết” ta tại London, được


dự buổi đại sứ quán ta vui tất niên với kiều bào. Lại gặp Chris Mullin.


Năm ấy London rét lắm. Các hè phố, đặc biệt công viên Hyde Park phủ


tràn tuyết trắng. Ông đi cùng vợ, đẩy chiếc xe nôi chở cháu gái đầu lòng


mang hai dòng máu Anh và Việt ủ dưới đống chăn dày. Chris vừa sang


Việt Nam về, anh hứa sẽ gửi cho tôi đọc một số bài mới viết.


Bài của anh đăng trên tuần báo The Observer Magazine số ra ngày 19-


01-1994 dưới chuyên mục mang cái tên hiền lành: “Chuyện của những


người lữ hành” song đầu đề giật gân: Liệu cuộc oanh tạc của bê tông có


vượt lên máy bay B-52 Mỹ mà hủy diệt Hà Nội?


Tác giả viết: “Hà Nội là một trong những thành phố đẹp nhất thế


giới. Có khoảng hai mươi hồ, những con đường rợp hàng me, nhiều


vila sang trọng và tòa nhà nguy nga. Mấy chục năm chiến tranh và


nền kinh tế rập theo mô hình Stalin làm Hà Nội trì trệ nhưng không


bị phá hủy. Trong khi Bangkok, Đài Bắc, Manila trở thành những đô


thị ô nhiễm nặng nề thì Hà Nội tồn tại gần như nguyên vẹn. Các nhà


lãnh đạo Việt Nam có lẽ đã nhận thấy sai lầm của các nước láng giềng.


Họ không cho phép lặp lại sự hủy diệt thành phố cổ như tại Bangkok,


Manila hay Los Angeles. Tuy nhiên trên thực tế đó là điều đang diễn


ra. Người Hà Nội sau nhiều năm mệt mỏi vì nghèo nàn, lạc hậu, hào


hứng đón chào thị trường tự do. Mấy năm qua, mức sống của người


Việt Nam tăng đáng kể. Hình như mọi sự đổi mới trên đời đều đi từ


thái cực này sang thái cực kia. Cơn sốt bê tông đã xuất hiện ở Hà Nội


(…). Thành phố Hồ Chí Minh với dân số khoảng sáu triệu người, đầu


những năm 1980 khi tôi đến đây chỉ thấy toàn xe đạp. Nay xe Honda


được nhập với nhịp độ kinh hoàng 75.000 chiếc/tháng, chưa tính xe


nhập lậu. Nếu đến cuối thế kỷ này một phần mười số xe máy ấy đổi


thành xe hơi thì ác mộng Bangkok đến…


Hà Nội ít nhất cho đến nay (khoảng 1993) vẫn còn khu phố cổ


nguyên vẹn nhưng thời gian đang phá hủy nó. Được biết Viện Quy


hoạch Đô thị có lên một kế hoạch phát triển nhịp nhàng Hà Nội, trình


UNESCO đã hai năm song không hề nhận hồi âm. Tuy nhiên, cái thiếu


hơn cả không phải tài chính mà là thiếu ý chí chính trị. Sự xuất hiện


ngày càng nhiều xe hơi tư nhân ở phố cổ có thể là bước khởi đầu tốt.


Kiểm soát nghiêm ngặt những ngôi nhà mới xây là một điều tốt hơn


cần thực hiện. Nếu có ý chí chính trị, chắc không khó tìm ra viện trợ


nước ngoài”.


“Trớ trêu thay, một đất nước từng đau khổ nhiều bởi những kẻ tham


tàn ngoại quốc mà họ đã phải trả giá cao để chiến thắng, hiện đang


thua cuộc về văn hóa” - bài báo kết luận1.


Một câu chuyện khác gần cùng thời gian. Một đoàn doanh nhân Mỹ


tới Việt Nam tìm hiểu thị trường. Tham gia đoàn, với danh nghĩa không


chính thức, có một nghị sĩ thế lực, nghe nói là Chủ tịch Ủy ban Ngân


sách Quốc hội Hoa Kỳ. Tôi có dự bữa cơm thân ta mời riêng ông và người


phụ tá tại một nhà hàng tư nhân ở Hà Nội. “Việt Nam mong muốn học


tập kinh nghiệm phát triển kinh tế của Hoa Kỳ” - ai đó phát biểu. Vị


chính khách Mỹ: “Vâng, Hoa Kỳ có nhiều kinh nghiệm. Chúng tôi hoan


nghênh và đề nghị quý vị nên tham khảo cả kinh nghiệm thành công


và kinh nghiệm không thành công của Mỹ”.


Mọi người lắng tai. Ông nói tiếp: “Như vấn đề giao thông đô thị


chẳng hạn. Hôm nay, tôi đã mất khá nhiều thời gian từ khách sạn đến


đây để được dự cuộc gặp mặt tuyệt vời cùng các vị. Tại Mỹ, vấn đề vận


tải công cộng được đặt ra rất sớm, và nhà nước chúng tôi liên tục đầu


tư vào đó khoản ngân sách khổng lồ. Đồng thời, do lợi ích khác nhau,


ngành công nghiệp xe hơi cùng lúc chạy đua sản xuất và cải tiến, cải


tiến và sản xuất, ào ạt tung xe con ra thị trường, mà mục tiêu cải tiến


hàng đầu là tiện nghi và tốc độ bất chấp giá cả. Hợp với tính người Mỹ


chúng tôi. Báo chí, truyền thông quảng cáo hết mức. Các kiểu xe con


đời mới, ngồi lên xe bấm nút chỉ mấy giây sau đã đạt tốc độ trên trăm


kilômét/giờ. Vậy là hằng năm nhà nước và xã hội tốn khoản tiền rất


lớn xử lý tai nạn giao thông và hậu giao thông. Một nghịch lý nữa xuất


hiện. Đi đôi với tốn rất nhiều tiền xây dựng, nâng cấp đường sá và sản


xuất xe tốc độ cao, chúng tôi buộc phải cắm biển báo hạn chế tốc độ


trên mọi nẻo đường. Từ đó ra đời một dịch vụ mới tinh vi và tốn kém là


kiểm tra, xử phạt thật nặng lái xe vượt quá tốc độ quy định. Các phương


tiện vận tải công cộng thì sao? Vẫn phát triển, ngày càng tiện nghi và


hằng năm ngân sách tiếp tục khoản chi bù lỗ càng lớn, bởi số hành


khách sử dụng phương tiện chung chẳng bao giờ được như mong muốn.


Đã hình thành một tập quán xã hội ở người Mỹ chúng tôi: chuyển dịch


bằng xe riêng là tiện lợi nhất, thoải mái nhất, sang trọng nhất. Công


nghệ dễ dàng đổi thay trong khi tập quán xã hội có sức ỳ của nó... ”


Cái khó của nội thành Hà Nội, hay đúng hơn của Hà Nội truyền thống


vốn dĩ là không gian chật hẹp và mật độ dân cư cao, nay cộng thêm


“tập quán xã hội mới” của người Việt Nam. Chắc không phải ngẫu nhiên


mà một số nước đang phát triển như Brazil trước đây và Myanmar hiện


nay chọn phương án xây dựng thủ đô mới ở nơi khác. Nhiều thuận tiện


đấy cho quy hoạch và xây dựng, song chấp nhận bỏ đi nhiều nét đẹp cổ


truyền. Chúng ta đã và đang cố gắng xử lý bài toán khó: làm sao kết nối,


kết nối với nghĩa vật chất và nghĩa văn hóa, để hài hòa nội đô cổ truyền


với không gian mở rộng. Nói dễ làm khó, chuyện muôn đời. Tuần trước,


các báo đưa tin các dự án đường sắt đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí


Minh đều chậm tiến độ, đội kinh phí, có cái gấp đôi so với dự toán ban


đầu. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải kết luận, các dự án ấy “lớn mà chưa


có thông lệ ở Việt Nam” (báo Hà Nội mới), và “đã đến lúc phải chấn chỉnh


yếu kém, đẩy nhanh tiến độ” (báo Người lao động TP. Hồ Chí Minh).


Thủ đô Hà Nội mở rộng thật sự đàng hoàng hơn, to đẹp hơn ngày


trước. Ba mươi năm qua, chúng ta đã bảo tồn, phát huy nhiều di sản


văn hóa vật thể và phi vật thể, có những cái sắp tiêu vong nếu không


được sự can thiệp kịp thời, và cũng khó tránh những cái âm thầm biến


mất do sự thờ ơ vô cảm của những người chung quanh. Làm sao còn


vẹn nguyên Hà Nội xưa cho Thạch Lam nhâm nhi, Vũ Bằng thương nhớ,


Nguyễn Tuân nhếch mép mà ngợi ca “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”. Dân các


nơi về Hà Nội chưa có hộ khẩu và chưa đăng ký ngày càng đông. Còn lại


bao nhiêu phần trăm cư dân Hà Nội người gốc Tràng An thuở nào? Tôi


đã sống tại Hà Nội, đã chính thức là công dân thủ đô sáu thập niên, một


khoảng thời gian không ngắn so với đời người, nhưng làm sao tôi có thể


là người Tràng An đích thực!


Cách đây 30 năm, nhà văn Bỉ Jacques Danois cảm nhận: Hà Nội là biểu


tượng cả nước Việt Nam. Tất cả mọi thứ ở đây đều cổ kính, có thể hơi rách


nát đấy nhưng được mọi người xiết bao trân trọng, và chúng mới trong


sáng, mới chân thực, mới Việt Nam làm sao. Chỉ cần đi vào chợ và nhìn


vào đôi mắt những người phụ nữ. Sức mạnh của họ bắt nguồn từ ý chí làm


sao nuôi được gia đình, chăm sóc con cháu, họ hàng, bà con. Ý chí thay


thế sinh tố và thuốc bổ cần cho họ. Người Hà Nội dắt cháu ra Bờ Hồ xem


trăng trung thu, ông nội chỉ mặt trăng dưới hồ bảo cháu: Mặt trăng muốn


tự ngắm nó kia nhưng chỉ chúng ta mới có thể ngắm trăng thôi. Cháu


muốn bắt mặt trăng chớ có nhảy xuống hồ mà hãy tìm cách bay lên trời.


Người Hà Nội cho trẻ ăn quả vải, quả nhãn mùa hè không dọa đứa nào ăn


quả nuốt luôn cả hạt rồi sẽ phải mổ bụng ra mà lấy. Người ta khuyên các


cháu ăn từ tốn, để còn lấy cái hạt làm viên bi hay xếp đồ chơi... 1


Hồn Hà Nội cổ truyền còn đó. Cuộc sống tất yếu đi lên hiện đại. Quá


khứ càng dày, ta càng cảm nhận được sự phong phú của hiện tại và


vững tin hơn vào tương lai. Thế nhưng con người đâu chỉ sống bằng


hoài niệm. Trân trọng gìn giữ cái xưa rất cần, cái cần nữa và cần hơn là


xây dựng cái mới sao cho thật sự “đàng hoàng”. Chung quy vẫn là câu


chuyện bảo tồn và phát huy, không chỉ bảo tồn mỗi khi cần bàn về di


sản, mà bảo tồn và phát triển mọi lĩnh vực của cuộc sống hằng ngày,


như một sự nối tiếp tất yếu cân bằng, nhịp nhàng, không gián đoạn.


Một sự trùng hợp đẹp. Đêm trung thu năm Giáp Ngọ này, năm Hà


Nội kỷ niệm 60 năm lập lại hòa bình, tôi có anh bạn Hà Nội đến chơi


biếu túi quà, cầm trên tay đã thấy thơm lựng mùi sen.


Những đóa sen tươi nguyên cuống, mỗi đóa bọc trong một mảnh lá


sen xanh buộc túm bằng sợi lạt mềm trông xinh xinh như những bông


sen ngậm sương đêm đang chờ sáng để xòe các cánh. Các cánh sen lúc


này rõ ràng đang ấp ủ một cái gì đó bên trong. Tôi gượng nhẹ gỡ các


cánh hoa tươi mềm mại, để lộ những lớp nhị vàng ôm chặt gương sen,


và trên mặt gương sen, môt ấm trà nõn kín đáo náu mình dưới các cánh


hoa. Bâng khuâng mùi hoa sen, nhị sen, lá sen, đầm sen thoang thoáng


hương đồng gió nội. Thưởng thức ấm trà trung thu, cùng với dư vị chát


ngọt bùi thơm đậm nơi đáy họng là một cái gì khó tả như thể tinh túy


lá sen, gương sen, cánh sen, nhị sen, đầm sen, gió trời nước hồ quyện


vào một, đặc sản kinh kỳ mà gần gũi thiên nhiên quá. Trong đầm gì đẹp


bằng sen, lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng...


Anh chàng miền quê chưa thành niên đã vào kháng chiến, tôi đâu có


hiểu biết nhiều về nghệ thuật ẩm thực. Cho dù rồi cũng có dịp đi đó đi


đây, cũng từng ngưu ẩm1 những thứ như trà Long Tỉnh Hàng Châu, trà Ô


Long Vân Nam làm nên thương hiệu Trung Hoa danh trà, hay đặc sản Đài


Loan truyền thống mà vẫn có hương vị riêng quyện khí núi cao vào hơi


gió biển trà lục địa không sao có được, cả mạt trà (trà vụn) thắm màu lục


đậm hoàng gia được nâng niu trong bộ đồ sứ tuyệt vời theo lễ nghi Trà


Đạo Nhật Bản, dù vậy, mỗi lần nghĩ đến trà trong tôi rốt cuộc lại là bát


nước chè xanh đậm tình quê Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An…, chủ nhà ân


cần mời nước người khách lữ hành không quen dừng chân trước ngõ nhà


mình. Chè xanh nước chát xin mời, nước non non nước nghĩa người khó quên.


Hương vị trà sen Hồ Tây nhắc tôi hãy nhớ mình đã là dân cố đô


Thăng Long, là công dân Hà Nội thành phố hòa bình, chớ có dị ứng


trước những ngôi chùa cổ được tân trang lộng lẫy, đừng mãi chê bai


những điều chưa ưng ý trong cuộc sống thường ngày mà lãng quên cái


lớn cái đẹp cái hay trong hồn Hà Nội. Cứ tha hồ lưu luyến gốc gác của


anh đi, nhưng phải thật lòng góp chút gì đó cùng giữ giữ, phát huy cốt


cách, tinh hoa Hà Nội nó cũng là cốt cách, tinh hoa văn hóa Việt Nam.


 


PQ


Nguồn: Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ hồ Gươm. Tập ký của Phan Quang. NXB Trẻ, 2016.


____


1 Ông Chris Mullin tiếp tục tham gia nghị trường Anh 5 khóa, đến năm 2010 mới tuyên bố không ra ứng cử. Ông cũng có mấy lần tham gia chính phủ do Tony Blair làm thủ tướng (PQ).


1 Jacques Danois trong tiểu thuyết Trở lại với đời, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »