tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18413115
05.12.2016
Nhiều tác giả
Nhà máy thủy điện Đa Nhim



Nhà văn Triệu Xuân: Là nhà văn, nhà báo, tôi có may mắn được đi và viết về tất cả các công trình thủy điện trên đất nước Việt nam! Đa Nhim là nơi tôi có nhiều kỷ niệm khi đi viết về công trường khôi phục nhà máy, ngay từ sau ngày đất nước hòa bình…


Đa Nhim - công trình thủy điện của Việt Nam được xây dựng sớm nhất Đông Dương, do Nhật Bản bồi thường chiến tranh cho Việt Nam Cộng hòa, cùng với Bệnh viện Chợ rẫy. Đây là công trình thủy điện đầu tiên, nằm ở nấc thang trên cùng, khai thác tiềm năng thủy điện của hệ thống sông Đồng Nai, nằm giáp ranh giữa tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận… Hai đường ống thủy lực chạy song song dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy vẫn là niềm tự hào nhất, ấn tượng nhất của nhà máy. Ban đêm, khi hệ thống điện bảo vệ bật lên, đường ống đẹp như dải lụa hình chữ S, có thể đứng cách xa mấy chục cây số vẫn nhận ra. Nhờ độ cao 800m, độ dốc tới 45độ, thế năng lớn, nên 2 ống thủy lực này đã cung cấp một lượng nước đủ phát điện với sản lượng hàng tỷ kWh/năm, suất tiêu hao nước rất thấp, chỉ cần 0,56 m3 cho mỗi kWh, trong khi có những nhà máy, con số này lên tới hàng chục m3nước/kWh. Vì vậy, Đa Nhim được coi là nhà máy đạt hiệu quả cao nhất trong các nhà máy thuỷ điện ở Việt Nam.


Nhà máy thủy điện Đa Nhim (khởi công tháng 4 năm 1961, khánh thành cuối năm 1964). Đêm đông cuối năm – tháng 11-1967, Du lích giải phóng nhằm cắt nguồn điện của Sài Gòn đã đặt mìn phá đường ống dẫn nước từ hồ chứa xuống nhà máy phát điện. Từ ngày ấy, Giải phóng đã rất thông minh: không phá nhà máy, chỉ phá đường ống! Nhờ thế, sau này khôi phục đỡ tốn kém.


Đa Nhim có 4 tổ máy, công suất 160 MW (đọc là mê ga Oát); sản điện lượng bình quân hàng năm khoảng 1 tỷ kWh (đọc là ki lô oát giờ). Năm 1996, Việt Nam đầu tư  66,54 triệu USD để cải tạo thiết bị và đường dây, trong đó có 1069,2 tỷ VND (48,6 triệu dollar) là vốn vay ưu đãi từ Nhật Bản… Đến năm 2015, đầu tư lớn, mở rộng nhà máy.


Tại chỗ hợp lưu của sông Krông Lét vào sông Đa Nhim ở thị trấn Đơn Dương (Lâm Đồng), người ta xây hồ Đa Nhim (ở độ cao trên 1000 m so với mực nước biển, rộng 11–12 km² và dung tích là 165 triệu m³ nước) để cung cấp nước cho nhà máy. Đập ngăn nước của hồ dài gần 1500 m, cao gần 38 m, đáy đập rộng 180 m, mặt đập rộng 6 m. Ở đáy hồ có một đường hầm thủy áp dài 5 km xuyên qua lòng núi nối tới hai ống thủy áp bằng hợp kim dốc 45°, dài 2040 m và đường kính trên 1 m mỗi ống. Nước từ hồ Đa Nhim theo hệ thống thủy áp này đổ xuống tới hệ thống 4 tuốc bin ở sông Krông Pha (sông Pha) ở độ cao 210 m [cần dẫn nguồn].


Nhà máy cung cấp điện cho các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và Khánh Hòa thông qua các đường dây 110 kV và hòa vào hệ thống quốc gia thông qua đường dây 230 kV. Đồng thời, nước từ thủy điện Đa Nhim cung cấp mỗi năm hơn 550 triệu mét khối nước phục vụ tưới tiêu cho hơn 20.000 ha đất canh tác của tỉnh Ninh Thuận, vốn là một tỉnh có lượng mưa trung bình hàng năm thấp nhất Việt Nam.


Quản lý Nhà máy thủy điện Đa Nhim là Công ty Thuỷ điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi (Theo Quyết định số 18/2005/QĐ-BCN ngày 30 tháng 3 năm 2005 của Bộ Công nghiệp Việt Nam).


Trên sông Đa Nhim còn có các công trình thủy điện sau: Thủy điện Hàm Thuận (300 MW); Thủy điện Đa Mi (150 MW); Thủy điện Đại Ninh (300 MW). Nhà văn Triệu Xuân: “Là nhà báo, tôi có may mắn được đi và viết về tất cả các công trình thủy điện này”!


Cách thành phố Phan Rang khoảng 50km, cùng với đèo Ngoạn Mục , nhà máy thủy điện Đa Nhim hay còn gọi là thủy điện Sông Pha đang dần trở thành những địa danh nổi tiếng hấp dẫn khách du lịch.


Nhà máy Đa Nhim khánh thành ngày 15.1.1964, là một trong những công trình thủy điện đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam. Đây là công trình mang đậm dấu ấn Nhật Bản từ thiết kế, máy móc cũng như hệ thống quản lý, vận hành nhà máy chuyên nghiệp.


Tại chỗ hợp lưu của sông Krông Lét vào sông Đa Nhim ở thị trấn Đơn Dương (Lâm Đồng), người ta xây hồ Đa Nhim (ở độ cao trên 1000 m so với mực nước biển, rộng 11–12 km² và dung tích là 165 triệu m³ nước) để cung cấp nước cho nhà máy. Đập ngăn nước của hồ dài gần 1500 m, cao gần 38 m, đáy đập rộng 180 m, mặt đập rộng 6 m. Ở đáy hồ có một đường hầm thủy áp dài 5 km xuyên qua lòng núi nối tới hai ống thủy áp bằng hợp kim dốc 45°, dài 2040 m và đường kính trên 1 m mỗi ống. Nước từ hồ Đa Nhim theo hệ thống thủy áp này đổ xuống tới hệ thống 4 tuốc bin ở sông Krông Pha (sông Pha) ở độ cao 210 m


Nhìn từ xa, bạn có thể nhìn thấy hai ống thủy lực song song, dài khoảng 2 km, dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy thủy điện nằm ở dưới chân đèo Ngoạn Mục, làm quay tuabin để tạo ra dòng điện. Đa Nhim có đập ngăn nước cao 38 m, dài gần l.500 m, chứa đến 165 triệu m3 nước, với 4 tổ máy, mỗi tổ có công suất đạt 40 MW.


Nhà máy cung cấp điện cho các tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận và Khánh Hòa thông qua các đường dây 110 kV và hòa vào hệ thống quốc gia thông qua đường dây 230 kV. Đồng thời, nước từ thủy điện Đa Nhim cung cấp mỗi năm hơn 550 triệu mét khối nước phục vụ tưới tiêu cho hơn 20.000 ha đất canh tác của tỉnh Ninh Thuận, vốn là một tỉnh có lượng mưa trung bình hàng năm thấp nhất Việt Nam.


Để có thể tham quan nhà máy thủy điện Đa Nhim, bạn phải được sự cho phép của người có thẩm quyền trong nhà máy. Khi đã vào được bên trong, du khách tha hồ tham quan các quy trình tạo ra điện từ dòng nước của dòng sông dài nhất nước. Đây là điểm đặc biệt thu hút những du khách hiếu kỳ ưa khám phá.


Tuy không phải là công trình có thể thu hút khách du lịch ngay từ lần đầu được nhắc tên nhưng nhà máy thủy điện Đa Nhim để lại nhiều ấn tượng trong lòng du khách sau khi rời khỏi. Với lịch sử hơn 50 năm hình thành và phát triển, nhà máy mang đến những lợi ích đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội nước ta. Và, hy vọng trong thời gian sắp tới, Đa Nhim có thể góp phần vào sự phát triển của ngành du lịch nước nhà.


Gần 2.000 tỷ mở rộng thủy điện Đa Nhim


Dự án thủy điện Đa Nhim sẽ được nâng công suất từ 160 MW như hiện nay lên 240 MW vào năm 2018.


Ngày 12/12/2015, đã  khởi công dự án mở rộng Nhà máy thủy điện Đa Nhim. Sau khi hoàn thành sẽ nâng tổng công suất nhà máy từ 160 MW hiện tại lên 240 MW. Dự án mở rộng lần này không phải di dân, tái định cư và có tổng mức đầu tư 1.952 tỷ đồng, trong đó 85% là vốn ODA Nhật Bản, còn lại là vốn đối ứng của chủ đầu tư. Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải và các đại biểu ấn nút khởi công mở rộng thủy điện Đa Nhim. Phát biểu tại lễ khởi công, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải cho biết việc nâng công suất nhà máy trong bối cảnh các nguồn điện sơ cấp ngày một hạn chế, thủy điện gần như đã khai thác hết là điều rất quan trọng, bổ sung nguồn điện cho miền Nam.


Sau khi hoàn thành vào quý II/2018, thủy điện Đa Nhim sẽ góp khoảng 1,2 tỷ kWh mỗi năm, cao hơn hiện nay gần 100 triệu kWh mỗi năm.


Thủy điện Đa Nhim được xây dựng từ những năm 1960, là một trong những công trình lớn nhất ngành điện thời điểm đó với công suất 160 kWh. Đây là công trình do Chính phủ Nhật xây dựng trong chương trình bồi thường chiến tranh.


Chí Hiếu


Nhà máy Thủy điện Đa Nhim: 40 năm phục hồi và phát triển


Trong chuyến công tác thu thập tư liệu chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Nhà máy Thủy điện Đa Nhim, chúng tôi được gặp một số vị cán bộ đã từng tham gia tiếp quản và khôi phục nhà máy sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/2015. Câu chuyện của các cán bộ lão thành như một cuốn phim quay chậm về nhà máy những ngày đầu sau chiến tranh.


Gian nan phục hồi nhà máy


Ông Nguyễn Ngọc Quang, nguyên Phó giám đốc Nhà máy Thủy điện Đa Nhim - một trong những người đầu tiên  tiếp quản nhà máy cho biết:  Đa Nhim là một trong hai công trình thủy điện đầu tiên của Việt Nam, gồm 4 tổ máy với tổng công suất lắp đặt là 160 MW, sản lượng điện theo thiết kế là 980 triệu kWh/năm. Đây là nguồn cung cấp điện chủ yếu cho Sài Gòn, Gia Định trước ngày giải phóng miền Nam.


Để cắt nguồn điện phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, du kích ta đã phá hỏng hệ thống thủy áp của Nhà máy Thủy điện Đa Nhim  và các đường dây cao thế 230 kV từ Đa Nhim về Biên Hòa, Gia Định. Sau khi đất nước giải phóng, nhu cầu điện cho miền Nam lên tới 1,2 tỷ kWh/năm, trong khi nguồn điện này chủ yếu sản xuất từ nguồn dầu giá cao và khan hiếm.  Vì vậy, Chính phủ yêu cầu phải nhanh chóng phục hồi Nhà máy Thủy điện Đa Nhim, sửa chữa đường dây tải điện phục vụ công cuộc tái thiết đất nước. Ngay lập tức, Bộ Điện và Than cử cán bộ vào thành lập Ban quân quản nhà máy với nhiệm vụ tập hợp lực lượng kỹ sư, công nhân khẩn trương sửa chữa, phục hồi toàn bộ nhà máy, đồng thời sửa chữa đường dây điện cao thế 66 kV Đa Nhim - Nha Trang và đường dây điện cao thế  230 kV Đa Nhim-Thủ Đức nhằm cung cấp điện cho Nha Trang và Sài Gòn. Tại  Công ty Điện lực 2, đội sửa chữa đường dây 230 kV được thành lập với nhiều cán bộ kỹ thuật có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm từ miền Bắc vào chi viện, sửa chữa, phục hồi thiết bị.


Khó khăn nhất là nhà máy nằm ở chân đèo Ngoạn Mục, nơi rừng núi hiểm trở, thỉnh thoảng, bọn Fulro vẫn bắn đạn khói, đạn cay vào nơi ở của công nhân. Đặc biệt là đường ống thủy áp dài hơn 2 km, vốn đã bị du lích ta phá hỏng từ trước chiến tranh, việc phục hồi không dễ dàng gì, nhất là đường ống số 2 nằm ở gần đỉnh núi, đoạn ống hỏng dài tới 112 m. Để phục hồi, những người thợ phải thay thế 22 đoạn ống hỏng, thép dầy 10 ly, đường kính 2 m, mỗi đoạn trung bình nặng trên 3 tấn. Trước đó, chính quyền cũ đã từng thuê một công ty Nhật Bản đến khảo sát và sửa chữa nhưng họ tuyên bố phải mất 13 tháng và chi phí 2,1 triệu USD. Gian nan nhất là làm thế nào để đưa các ống thép khổng lồ từ dưới đất lên cao hàng trăm mét đến chỗ hỏng để thay thế trong điều kiện các phương tiện kỹ thuật gần như không có gì, lại phải hoàn thành trong thời gian sớm nhất, các thế lực thù địch ngầm luôn tìm cách phá hoại, ngăn cản việc phục hồi nhà máy.


Thế nhưng, các kỹ sư của ta sau khi nghiên cứu hiện trường đã nghĩ ra cách dùng ôtô chở các đoạn ống lên trên đỉnh núi, rồi từ đỉnh núi dùng tời, xích, palăng thả từng đoạn ống xuống chỗ phải thay thế sửa chữa (cách đỉnh núi 100 m). Theo phương án này chỉ  mất khoảng 6 tháng với chi phí dự tính 100.000 USD. Với sự thông minh sáng tạo, sự nỗ lực không mệt mỏi,16h ngày 23/5/1976 đã trở thành dấu mốc lịch sử quan trọng của nhà máy khi công trình khôi phục đường ống thuỷ áp số 2 hoàn thành. Cùng với đó là đường dây tải điện 230 kV Đa Nhim - Sài Gòn và 66 kV Đa Nhim – Nha Trang được thông suốt… Hiện nay, hai ống thủy lực chạy song song dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy vẫn là niềm tự hào nhất, ấn tượng nhất của nhà máy. Ban đêm, khi hệ thống điện bảo vệ bật lên, đường ống đẹp như dải lụa hình chữ S, có thể đứng cách xa mấy chục cây số vẫn nhận ra. Nhờ độ cao 800m, độ dốc tới 45độ, thế năng lớn, nên 2 ống thủy lực này đã cung cấp một lượng nước đủ phát điện với sản lượng hàng tỷ kWh/năm, suất tiêu hao nước rất thấp, chỉ cần 0,56 m3 cho mỗi kWh, trong khi có những nhà máy, con số này lên tới hàng chục m3nước/kWh. Vì vậy, Đa Nhim được coi là nhà máy đạt hiệu quả cao nhất trong các nhà máy thuỷ điện ở Việt Nam. Nhà máy tuy thiết kế 6.400 giờ/năm nhưng hiện nay thường xuyên chạy đến 7.000-8.000 giờ/năm, thiết bị vận hành ổn định, ít bị sự cố.


Sức mạnh của sự quyết tâm


Cụ Nguyễn Tấn Lực - nguyên thư ký công đoàn (nay là chủ tịch công đoàn) của Thủy điện Đa Nhim từ sau giải phóng đến những năm 90 của thế kỷ trước-  không giấu nổi sự xúc động khi nhớ lại những ngày đầu tiếp quản nhà máy hết sức khó khăn gian khổ, lãnh đạo phải vận động kỹ sư, công nhân tăng gia sản xuất để nuôi nhau. Chợ búa không có, mọi người phải canh tác trên từng mảnh ruộng, gieo hai vụ lúa, trồng thêm những cánh đồng mía. Trước nhà máy có sân phơi lúa, trong nhà máy có cửa hàng lương thực, thực phẩm cho anh em. Mọi người chia nhau từng cân gạo, cân đường. Thiếu thốn đủ bề nhưng tất cả vẫn đoàn kết một lòng bảo vệ và duy trì hoạt động nhà máy. Không chỉ giữ gìn, những người thợ  Đa Nhim còn rất tự hào vì bằng chính sức lực và trí tuệ của mình đã sửa chữa thành công nhà máy sau chiến tranh.


Đập Thủy điện Đa Nhim hiện nay. Ảnh tư liệu.


Kỹ sư Nguyễn Trọng Oánh - Tổng Giám đốc Công ty CP Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi khẳng định, Đa Nhim không chỉ là công trình thủy điện có chất lượng tốt về thiết kế, công nghệ mà còn được bảo quản, lưu giữ cẩn thận đến từng chi tiết. Năm 1996, Nhà nước tiếp tục đầu tư 66,54 triệu USD để cải tạo thiết bị và đường dây, trong đó Nhật Bản đã cho vay ưu đãi 7 tỷ yen (tương đương 48,6 triệu USD). Năm 2005, Nhà máy được đưa vào phục hồi, đại tu toàn bộ sau 40 năm vận hành. Từ việc thay mới stator máy phát, các ổ trục đỡ, hệ thống kích từ, máy biến thế và hệ thống điều khiển máy phát điện, thay thế mới turbine, van chính, hệ thống điều tốc, hệ thống cung cấp dầu áp suất điều khiển và hệ thống thiết bị cơ khí thủy công, hệ thống thu thập dữ liệu thủy văn và đường dây 230 kV Đa Nhim - Long Bình… Tất cả nguồn vốn vay để đại tu công trình hơn 620 tỷ đồng đều được Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ. Cũng trên cơ sở đó, dự án mở rộng Đa Nhim với quy mô 80MW, tổng mức đầu tư khoảng 1.900 tỷ đồng đã được JICA nhất trí tài trợ 85% vốn, dự kiến khởi công vào cuối năm 2015, phát điện vào năm 2018.


Nhà máy Thủy điện Đa Nhim khởi công vào tháng 2/1962, chính thức phát điện tổ máy số 1 và 2 vào ngày 15/1/1964, hoàn thành toàn bộ công trình vào tháng 12/1964. Tính đến 30/4/2015, sau 40 năm tiếp quản, Nhà máy đã phát điện được trên 39 tỷ kWh. Nay  đất nước đã có thêm nhiều công trình thuỷ điện lớn nhưng Đa Nhim mãi mãi vẫn được coi là công trình ghi dấu ấn lịch sử của ngành thuỷ điện Việt Nam. Với những nỗ lực của mình, năm 2005, Nhà máy Thủy điện Đa Nhim đã được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu đơn vị Anh hùng lao động.


Ngọc Loan/ Icon.com.vn


Thủy điện Đa Nhim : Gian nan những ngày đầu tiếp quản


18/05/2010


Ấn tượng đầu tiên khi tôi bước chân vào phòng khách của gia đình ông là bức ảnh đen trắng khá đặc biệt được đặt trang trọng trong tủ kính. Trong ảnh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ân cần khoác vai người chủ nhà đang đứng cạnh tôi (khi ấy còn khá trẻ) đi trong khuôn viên một nhà máy. Để giải tỏa câu hỏi “ở đâu, khi nào?” có lẽ hiện rõ trên khuôn mặt tôi lúc ấy, ông với tay lật mặt sau của bức ảnh, chỉ cho tôi dòng chữ ngay ngắn: “Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm Đa Nhim ngày 6/7/1975”.


Và như thế, nguyên Thứ trưởng Bộ Điện lực Vũ Hiền bắt đầu câu chuyện với tôi về những ngày đầu tiếp quản điện lực miền Nam nói chung và tiếp quản Nhà máy Thủy điện Đa Nhim nói riêng, chính từ bức ảnh ấy. Cuộc trò chuyện dài hơn 3 tiếng đã tạo nên một mảnh ghép khá hoàn chỉnh của ngành Điện lực Việt Nam trong những ngày đầu thoát khỏi chiến tranh để bước vào “kỷ nguyên mới” sau giải phóng Sài Gòn.


“Trong niềm vui chung của đất nước những ngày tháng 4 năm 1975 lịch sử ấy - ông Vũ Hiền kể lại - lúc đó tôi là Giám đốc Công ty Điện lực miền Bắc, chính tôi cũng không ngờ mình lại được giao nhiệm vụ quan trọng và tự hào đến thế. Điện báo khẩn của Bộ trưởng Bộ Điện và Than - Nguyễn Chấn yêu cầu tôi chuẩn bị tham gia cùng đoàn công tác đặc biệt vào miền Nam kiểm tra hệ thống điện sau giải phóng.


“Sáng 14/5/1975, đoàn đã có mặt tại Nhà máy Thủy điện Đa Nhim. Ai nấy đều rạng rỡ với bộ quần áo giải phóng quân. Thủy điện Đa Nhim là nhà máy do Nhật Bản viện trợ cho chính quyền Sài Gòn cũ, nằm trên địa bàn 2 tỉnh là Tuyên Đức (Lâm Đồng ngày nay) và Ninh Thuận. Nhà máy có công suất thiết kế 160 MW với 4 tổ máy, cung cấp điện cho Sài Gòn - Gia Định. Trước giải phóng, nhà máy được bảo vệ bởi một tiểu đoàn quân tinh nhuệ của Mỹ - Ngụy với những bãi mìn điện tử rải dày đặc theo 2 đường ống thuỷ áp chạy từ trên đỉnh núi xuống. Trong một đêm đông tháng 11/1967, nhằm làm tê liệt hoạt động của quân địch, du kích của ta đã vượt qua được bãi mìn, kích nổ bộc phá làm hỏng cả hai đường ống thủy áp, buộc nhà máy phải ngừng sản xuất trong 5 năm. Năm 1974, Nhà máy lại tiếp tục bị đánh hỏng đường ống thủy áp số 2.  Đến khi miền Nam được giải phóng, chính quyền về tay cách mạng thì chúng tôi có nhiệm vụ sửa chữa đường ống này để nhà máy hoạt động trở lại nhằm phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân...”


Câu chuyện diễn ra đã gần 35 năm, vậy mà từng chi tiết, từng tên họ các “đồng đội” vẫn được ông kể lại một cách say sưa, liền mạch như mới xảy ra ngày hôm qua. Chất giọng sang sảng không biểu hiện dấu hiệu của ông cụ đã ngoài 80 nếu tôi không được ngồi đối diện với ông. Ngưng vài giây nhấp ngụm nước, ông kể tiếp: “Khi ấy, đích thân Bộ trưởng Nguyễn Chấn, đã chỉ định tôi làm Trưởng ban và ông Phạm Công Lạc làm Phó ban quân quản Nhà máy Thủy điện Đa Nhim với nhiệm vụ trọng tâm là tập hợp lực lượng kỹ sư, công nhân viên lập kế hoạch sửa chữa đường ống thủy áp số 2. Yêu cầu mà Bộ trưởng Nguyễn Chấn đặt ra là đến tháng 12/1975, Thủy điện Đa Nhim phải cung cấp điện cho Sài Gòn, thay cho việc phát điện bằng dầu từ Liên Xô viện trợ qua...”


Thấp thoáng trong câu chuyện ông kể với tôi, mặc dù bộn bề những gian nan và cũng đầy âm hưởng của sự tự hào với công việc, song không chỉ có vậy, đâu đó vẫn có hình bóng của một người phụ nữ - vợ ông, cũng chính là người đang ngồi cạnh và thi thoảng thêm nước vào cốc cho ông và tôi. Với ông, bà là người phụ nữ toàn vẹn từ nhan sắc cho đến tính cách. Giờ đây, trong không gian yên ắng của căn nhà nằm sâu trong phố Vạn Bảo yên bình, ánh mắt ông vẫn nhìn bà trìu mến. Ông nói: “Ngày đó, ở lại nhận nhiệm vụ tiếp quản, sửa chữa Thủy điện Đa Nhim, tôi không biết làm cách nào để thông tin về cho vợ con ngoài này. Đợi mãi không thấy tôi về, bà ấy đạp xe lên thẳng Bộ xin gặp bằng được Bộ trưởng Nguyễn Chấn quyết tâm đòi trả chồng về với gia đình. Mọi người trong Bộ phải giải thích, động viên mãi bà ấy mới chịu về.”


Nóng lòng với vợ con, gia đình là thế, song nhiệm vụ quan trọng và trách nhiệm nặng nề không cho phép ông nghĩ đến việc riêng. Là cán bộ địch hậu trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp và có thời gian công tác giáo vụ khá lâu tại  trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, ông Hiền hiểu, muốn hoàn thành được nhiệm vụ lần này, ông cần tập hợp trí tuệ, sức lực của nhiều người, ngoài nhân lực của phía mình ra, phải cần đến cả những công nhân, kỹ sư ở phía chính quyền cũ.


“Cuối tháng 5/1975, chúng tôi tổ chức một hội nghị, quy tụ đầy đủ các chuyên gia, kỹ sư của cả phía ta lẫn những người có kinh nghiệm công tác trong ngành điện của chính quyền cũ. Khó khăn ở chỗ đường ống này nằm cheo leo trên dốc núi, có 22 đoạn ống bị hỏng, thép dầy 10 ly, phi 2m, mỗi đoạn nặng trên 3 tấn, tổng cộng dài 112 m gần phía đỉnh núi, nên không làm cách gì để đưa các ống mới lên đến chỗ hỏng để thay thế. Tại hội nghị, phía CDV (Công ty điện lực miền Nam thuộc chính quyền Sài Gòn cũ) đã nhắc đến phương án trước ngày giải phóng là nhờ phía đối tác Nhật Bản trực tiếp thi công với thời gian 13 tháng và tổng chi phí vào thời điểm đó là 2,1 triệu USD.”


Nhắc đến số tiền khổng lồ và thời gian thi công “bất khả thi” ấy, ông Vũ Hiền lắc đầu, nét mặt căng thẳng: “Một số tiền quá lớn so với ngân sách dành cho Thủy điện Đa Nhim. Chưa kể, Bộ trưởng giao tháng 12 phải xong, Ban quân quản nhà máy biết ăn nói thế nào với Bộ trưởng, với nhân dân miền Nam đây…”


Tan hội nghị, ông được tin đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Chấn vừa vào Sài Gòn. Ngay trong đêm, ông Hiền tức tốc đi xe ôtô ngược lên Sài Gòn, ngồi trên xe, thức trắng, ông viết xong lá thư gửi Bộ trưởng Nguyễn Chấn báo cáo tình hình, trong đó có đề xuất cấp bách là xin bổ sung thêm cho Đa Nhim một số cán bộ, kỹ sư, công nhân của Công ty Điện lực miền Bắc có kinh nghiệm sửa chữa các nhà máy thủy điện, nhiệt điện.


Yêu cầu của ông Hiền được chấp thuận. Chỉ 3 ngày sau đó, các kỹ sư Hoàng Nam Phương, Bùi Quang Cơ và công nhân bậc 7/7 Trần Minh Ngó đã có mặt tại Thủy điện Đa Nhim.


Đúng một tuần khảo sát kỹ lưỡng, 3 người đã có phương án giải quyết sự cố “gai góc” này: Đó là sử dụng con đường tạm do người Nhật làm trong quá trình xây dựng nhà máy để cho xe ô tô chở các đoạn ống lên tận đỉnh núi rồi dùng tời điện thả xuống chỗ đoạn ống thủy áp bị hỏng. Bước tiếp theo là hàn từng đoạn ống với nhau ráp vào thay thế cho đoạn bị hư hỏng. Theo kiến nghị của kỹ sư Phương, Cơ và Ngó thì cần phải thuê thêm nhà máy Cơ khí CARIC của Pháp xử lý công đoạn uốn 22 ống thép khổng lồ này, vì công nghệ của ta thời bấy giờ chưa cho phép. Lực lượng trực tiếp tham gia thi công sẽ là công nhân từ Công ty Điện lực miền Nam. Thời gian cả chuẩn bị và thi công mà các ông dự tính tổng cộng chỉ 6 tháng.


Trong không khí khẩn trương, với tinh thần nỗ lực tuyệt vời, hạng mục cuối cùng của việc sửa chữa đường ống thủy áp số 2 ngày ấy đã hoàn thành đúng ngày 18/12/1975. Như vậy, nhiệm vụ đã được hoàn thành hơn cả mong đợi. Ông còn nhớ, tổng chi phí cho việc sửa chữa lúc bấy giờ chưa đến 100 triệu đồng. “Đó thực sự là công sức chung của toàn bộ anh em cán bộ, công nhân, kỹ thuật của 3 miền Bắc, Trung, Nam hội tụ làm một” - ông Vũ Hiền tự hào nói.


Tròn 35 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2010), đến nay Thuỷ điện Đa Nhim cùng các nhà máy thuộc hệ thống bậc thang thuỷ điện trên sông Đồng Nai là Thuỷ điện Hàm Thuận và Đa Mi vẫn liên tục đóng góp lên lưới quốc gia khoảng hơn 2,2 tỉ kWh/năm. Trong đó, riêng Thuỷ điện Đa Nhim nhờ tận dụng lợi thế nguồn thuỷ năng đổ xuống từ độ cao 800 m nên suất tiêu hao rất thấp và hiệu quả đạt cao nhất trong các nhà máy thuỷ điện ở nước ta. Chỉ với công suất 160 MW nhưng nhà máy luôn vận hành vượt công suất thiết kế với sản lượng trung bình hơn 1 tỷ kWh/năm.


35 năm qua, không ai có thể phủ nhận công sức lớn lao của những “chiến sĩ kiên cường và dũng cảm” như ông Hiền, ông Lạc, các kỹ sư Phương, Cơ, Ngó và đặc biệt là sự quyết đoán của Bộ trưởng Nguyễn Chấn thời bấy giờ. Hai đường ống thuỷ áp lịch sử, dốc 45 độ, dài 2040 m và có một không hai ấy đến nay vẫn kiên cường như hai con trăn khổng lồ bằng thép bạc nằm vắt từ đỉnh núi xuống chân đèo. Trong ký ức và cả hiện tại của những người làm điện, Thuỷ điện Đa Nhim vẫn luôn giữ một vị trí quan trọng và là một dấu ấn lịch sử của ngành Điện Việt Nam.


Tạp chí Điện lực, số 4/2010


Nhà máy Thủy điện Đa Nhim: 40 năm phục hồi và phát triển


07:09 | 02/05/2015


Trong chuyến công tác thu thập tư liệu chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Nhà máy Thủy điện Đa Nhim, chúng tôi được gặp một số vị cán bộ đã từng tham gia tiếp quản và khôi phục nhà máy sau ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975). Câu chuyện của các cán bộ lão thành như một cuốn phim quay chậm về nhà máy những ngày đầu sau giải phóng.


Ông Nguyễn Ngọc Quang - nguyên Phó giám đốc Nhà máy Thủy điện Đa Nhim - một trong những người đầu tiên tiếp quản nhà máy - cho biết:  Đa Nhim là một trong hai công trình thủy điện đầu tiên của Việt Nam, gồm 4 tổ máy với tổng công suất lắp đặt là 160 MW, sản lượng điện theo thiết kế là 980 triệu kWh/năm. Đây là nguồn cung cấp điện chủ yếu cho Sài Gòn, Gia Định trước ngày giải phóng miền Nam.


Để cắt nguồn điện phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, du kích ta đã phá hỏng hệ thống thủy áp của Nhà máy Thủy điện Đa Nhim  và các đường dây cao thế 230 kV từ Đa Nhim về Biên Hòa, Gia Định. Sau khi đất nước giải phóng, nhu cầu điện cho miền Nam lên tới 1,2 tỷ kWh/năm, trong khi nguồn điện này chủ yếu sản xuất từ nguồn dầu giá cao và khan hiếm.  Vì vậy, Chính phủ yêu cầu phải nhanh chóng phục hồi Nhà máy Thủy điện Đa Nhim, sửa chữa đường dây tải điện phục vụ công cuộc tái thiết đất nước. Ngay lập tức, Bộ Điện và Than cử cán bộ vào thành lập Ban quân quản nhà máy với nhiệm vụ tập hợp lực lượng kỹ sư, công nhân khẩn trương sửa chữa, phục hồi toàn bộ nhà máy, đồng thời sửa chữa đường dây điện cao thế 66 kV Đa Nhim - Nha Trang và đường dây điện cao thế 230 kV Đa Nhim-Thủ Đức nhằm cung cấp điện cho Nha Trang và Sài Gòn.Tại  Công ty Điện lực 2, đội sửa chữa đường dây 230 kV được thành lập với nhiều cán bộ kỹ thuật có chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm từ miền Bắc vào chi viện, sửa chữa, phục hồi thiết bị.


Khó khăn nhất là nhà máy nằm ở chân đèo Ngoạn Mục, nơi rừng núi hiểm trở, thỉnh thoảng, bọn Fulro vẫn bắn đạn khói, đạn cay vào nơi ở của công nhân. Đặc biệt là đường ống thủy áp dài hơn 2 km, vốn đã bị du lích ta phá hỏng từ trước chiến tranh, việc phục hồi không dễ dàng gì, nhất là đường ống số 2 nằm ở gần đỉnh núi, đoạn ống hỏng dài tới 112 m. Để phục hồi, những người thợ phải thay thế 22 đoạn ống hỏng thép dầy 10 ly, đường kính 2 m, mỗi đoạn trung bình nặng trên 3 tấn. Trước đó, chính quyền cũ đã từng thuê một công ty Nhật Bản đến khảo sát và sửa chữa nhưng họ tuyên bố phải mất 13 tháng và chi phí 2,1 triệu USD. Gian nan nhất là làm thế nào để đưa các ống thép khổng lồ từ dưới đất lên cao hàng trăm mét đến chỗ hỏng để thay thế trong điều kiện các phương tiện kỹ thuật gần như không có gì, lại phải hoàn thành trong thời gian sớm nhất, các thế lực thù địch ngầm luôn tìm cách phá hoại, ngăn cản việc phục hồi nhà máy.


Toàn cảnh Nhà máy Thủy điện Đa Nhim


Thế nhưng, các kỹ sư của ta sau khi nghiên cứu hiện trường đã nghĩ ra cách dùng ôtô chở các đoạn ống lên trên đỉnh núi, rồi từ đỉnh núi dùng tời, xích, palăng thả từng đoạn ống xuống chỗ phải thay thế sửa chữa (cách đỉnh núi 100 m). Theo phương án này chỉ  mất khoảng 6 tháng với chi phí dự tính 100.000 USD. Với sự thông minh sáng tạo, nỗ lực không mệt mỏi,16 giờ ngày 23/5/1976 đã trở thành dấu mốc lịch sử quan trọng của nhà máy khi công trình khôi phục đường ống thủy áp số 2 hoàn thành. Cùng với đó là đường dây tải điện 230 kV Đa Nhim - Sài Gòn và 66 kV Đa Nhim – Nha Trang được thông suốt… Hiện nay, hai ống thủy lực chạy song song dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy vẫn là niềm tự hào và ấn tượng nhất của nhà máy. Ban đêm, khi hệ thống điện bảo vệ bật lên, đường ống đẹp như dải lụa hình chữ S, có thể đứng cách xa mấy chục cây số vẫn nhận ra. Nhờ độ cao 800m, độ dốc tới 45O, thế năng lớn nên 2 ống thủy lực này đã cung cấp một lượng nước đủ phát điện với sản lượng hàng tỷ kWh/năm, suất tiêu hao nước rất thấp, chỉ cần 0,56 m3 cho mỗi kWh, trong khi có những nhà máy, con số này lên tới hàng chục m3 nước/kWh. Vì vậy, Đa Nhim được coi là nhà máy đạt hiệu quả cao nhất trong các nhà máy thủy điện ở Việt Nam. Nhà máy tuy thiết kế 6.400 giờ/năm, nhưng hiện nay thường xuyên chạy đến 7.000-8.000 giờ/năm, thiết bị vận hành ổn định, ít bị sự cố.


Đập Thủy điện Đa Nhim hiện nay


Tính đến ngày 30/4/2015, sau 40 năm tiếp quản, nhà máy đã phát điện được trên 39 tỷ kWh. Nay đất nước đã có thêm nhiều công trình thủy điện lớn nhưng Đa Nhim vẫn được coi là công trình ghi dấu ấn lịch sử của ngành thủy điện Việt Nam. Với những nỗ lực của mình, năm 2005, Nhà máy Thủy điện Đa Nhim đã được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu đơn vị Anh hùng lao động.


Sức mạnh của sự quyết tâm


Cụ Nguyễn Tấn Lực - nguyên thư ký công đoàn của Thủy điện Đa Nhim từ sau giải phóng đến những năm 90 của thế kỷ trước-  không giấu nổi sự xúc động khi nhớ lại những ngày đầu tiếp quản nhà máy hết sức khó khăn, gian khổ, lãnh đạo phải vận động kỹ sư, công nhân tăng gia sản xuất để nuôi nhau. Chợ búa không có, mọi người phải canh tác trên từng mảnh ruộng, gieo hai vụ lúa, trồng thêm những cánh đồng mía. Trước nhà máy có sân phơi lúa, trong nhà máy có cửa hàng lương thực, thực phẩm cho anh em. Mọi người chia nhau từng cân gạo, cân đường. Thiếu thốn đủ bề nhưng tất cả vẫn đoàn kết một lòng bảo vệ và duy trì hoạt động nhà máy. Không chỉ giữ gìn, những người thợ Đa Nhim còn rất tự hào vì bằng chính sức lực và trí tuệ của mình đã sửa chữa thành công nhà máy sau chiến tranh.


Kỹ sư Nguyễn Trọng Oánh - Tổng giám đốc Công ty CP Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi  - khẳng định, Đa Nhim không chỉ là công trình thủy điện có chất lượng tốt về thiết kế, công nghệ mà còn được bảo quản, lưu giữ cẩn thận đến từng chi tiết. Năm 1996, Nhà nước tiếp tục đầu tư 66,54 triệu USD để cải tạo thiết bị và đường dây, trong đó Nhật Bản đã cho vay ưu đãi 7 tỷ yen (tương đương 48,6 triệu USD). Năm 2005, nhà máy được đưa vào phục hồi, đại tu toàn bộ sau 40 năm vận hành. Từ việc thay mới stator máy phát, các ổ trục đỡ, hệ thống kích từ, máy biến thế và hệ thống điều khiển máy phát điện, thay thế mới turbine, van chính, hệ thống điều tốc, hệ thống cung cấp dầu áp suất điều khiển và hệ thống thiết bị cơ khí thủy công, hệ thống thu thập dữ liệu thủy văn và đường dây 230 kV Đa Nhim - Long Bình… Tất cả nguồn vốn vay để đại tu công trình hơn 620 tỷ đồng đều được Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ. Cũng trên cơ sở đó, dự án mở rộng Đa Nhim với quy mô 80MW, tổng mức đầu tư khoảng 1.900 tỷ đồng đã được JICA nhất trí tài trợ 85% vốn, dự kiến khởi công vào cuối năm 2015, phát điện vào năm 2018.


Ngọc Loan


Nhà máy thủy điện Đa Nhim- sẵn sàng trước mùa mưa lũ


31/10/2016


Quy trình vận hành hồ chứa thủy điện được coi là “pháp lệnh” trong vận hành một nhà máy thủy điện, vì vậy, việc làm sai là ít xảy ra.


 Công nhân vận hành đập Đơn Dương đọc thông báo xả điều tiết để duy trì mực nước trước lũ.​ Ảnh: Ngọc Hà/Icon.com.vn


Nhưng để hạn chế thấp nhất thiệt hại khi xả nước xuống hạ du, nơi cuộc sống sinh hoạt của người dân đang diễn ra bình thường thì không chỉ là thực hiện đúng “pháp lệnh” mà một phần còn phụ thuộc vào cách ứng xử của các chủ hồ đối với hạ du.


Nhà máy thủy điện Đa Nhim đã làm rất tốt việc này.Nhà máy thủy điện Đa Nhim được xây dựng trên sông Đa Nhim. Đây là công trình thủy điện đầu tiên, nằm ở nấc thang trên cùng, khai thác tiềm năng thủy điện của hệ thống sông Đồng Nai, nằm giáp ranh giữa tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận, khởi công xây dựng vào tháng 4-1961 đến tháng 12-1964 với sự tài trợ của Chính phủ Nhật Bản, có tổng công suất thiết kế lắp đặt là 160 MW gồm 4 tổ máy, sản điện lượng bình quân hàng năm khoảng 1 tỷ kWh.


Hồ Đơn Dương là một hạng mục của công trình thủy điện Đa Nhim có dung tích là 165 triệu m³ nước để cung cấp nước cho nhà máy sản xuất điện. Đồng thời, nước từ thủy điện Đa Nhim cung cấp mỗi năm hơn 550 triệu mét khối nước phục vụ tưới tiêu cho hơn 20.000 ha đất canh tác của tỉnh Ninh Thuận, vốn là một tỉnh có lượng mưa trung bình hàng năm thấp nhất Việt Nam.


Với lợi ích cung cấp nước chống sa mạc hóa cho tỉnh Ninh Thuận thì không mấy khó khăn, bởi việc cung cấp này được kết hợp với sản xuất điện là nước chạy qua máy phát điện. Nhưng việc xả nước để bảo vệ an toàn cho công trình hồ đập  là công việc mà Công ty thủy điện Đa Nhim-Hàm Thuận-Đa Mi (DHD) luôn coi trọng bởi họ biết phía dưới dòng nước được xả từ hồ thủy điện là số phận của hàng nghìn, chục nghìn người dân đang sinh sống bình yên và một vựa rau cung cấp cho một nửa đất nước. Sau đợt xả lũ năm 1993 với lưu lượng xả 1.600m3/s gây ngập lụt khá rộng, rồi đến đợt xả lũ năm 2010 với lưu lượng xả 500m3/s làm hư hại khá nhiều rau màu, lãnh đạo DHD đã đau đáu để xây dựng bản đồ ngập lụt, nhằm xác định chính xác vị trí địa lý, diện tích vùng bị ngập lụt do ảnh hưởng của chế độ xả lũ cũng như xây dựng phương án phòng lũ và ứng cứu trong quá trình xả lũ nhằm giảm thiểu thiệt hại cho nhân dân và bảo vệ an toàn hồ đập trong mùa mưa bão. 


Người dân phía hạ du sau đập Đơn Dương thu hoạch hoa màu sau khi nhận được thông báo xả nước của DHD.


Không có việc khó nào hoàn thành một cách dễ dàng và thiếu sự quyết tâm của người thực hiện. Thông thường, các công trình thủy điện mới đi vào vận hành, Chính quyền và người dân chưa có kiến thức về những tai họa có thể xảy ra khi Nhà máy xả lũ bất thường với lưu lượng lớn. Ừ thì vẫn là đúng quy trình, nhưng người dân có hiểu gì về cái quy trình ấy, họ chỉ quen với  dự báo thời tiết trong dân gian như “chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”, “ráng mỡ gà ai có nhà phải chống”, “Sấm động, gió tan”, “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”, “Tháng ba mưa đám, tháng tám mưa cơn”, “Gió heo may, chẳng mưa dầm thì bão giật”, “Tháng bảy kiến đàn đại hàn hồng thuỷ”, “Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước”, “Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão”…thế đấy, người nông dân lam lũ đã sống, sản xuất nông nghiệp và chống lại thiên tai với những câu ca dao ngắn gọn và đơn giản như vậy.


Nhưng cuộc sống không dừng lại ở đó, mà phải từng ngày thay đổi, từng ngày  phát triển. Mọi thứ cần đến điện. Những công trình thủy điện được xây dựng vừa sản xuất điện, vừa chống lũ chống hạn cho hạ du. Những lợi ích ấy được minh chứng các công trình thủy điện đã được xây dựng và vận hành không phải chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới.


Những người làm công tác thủy điện ở DHD luôn được quán triệt về cách ứng xử với người dân hạ du phía sau hồ Đơn Dương là vì họ được quán triệt những luân thường từ trong cuộc sống mà từ đó họ đi ra. Bản đồ ngập lụt của hồ Đơn Dương  được lập và với sự tham gia của chính quyền tỉnh Lâm Đồng và huyện Đức Trọng, huyện Đơn Dương là cơ sở để DHD và UBND huyện Đơn Dương, Đức Trọng xây dựng phương án PCTT và TKCN. “Nếu tần suất xả lũ ở mức 10% tương đương lưu lượng nước xả  xuống hạ du qua đập tràn 1.325m3/s  sẽ có khoảng 2.242 hộ bị ảnh hưởng và tần suất  0,1% với lưu lượng xả cao nhất 4.301m3/s sẽ có khoảng 5.022 hộ bị ảnh hưởng; sẽ có hơn 3.647 ha đất tự nhiên bị ảnh hưởng khi xả nước với lưu lượng 1.325m3/s (tần suất 10%) và hơn 4.559 ha với lưu lượng xả 4.301m3/s (tần suất 0,1%), trong đó, diện tích đất trồng cây hàng năm bị ảnh hưởng tương ứng với lưu lượng xả nước trên là hơn 2.203ha và gần 2.269 ha; đất trồng cây lâu năm: 111,08 ha và 116,51 ha; đất trồng cây công nghiệp: 213,83 ha và 242,72 ha; đất ở: 604,92 ha và 796,94 ha; đất chuyên dụng: 109,19 ha và 140,46 ha; đất rừng: 43,11ha và 44,37 ha;…”, những thông tin  này hết sức quan trọng để người dân vùng hạ du có kiến thức nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại khi hồ xả nước.


Người dân phía hạ du sau đập Đơn Dương thu hoạch hoa màu sau khi nhận được thông báo xả nước của DHD. Ảnh: Ngọc Hà/Icon.com.vn


Hồ Đơn Dương được xây dựng tại điểm hợp lưu của sông Krông Lét vào sông Đa Nhim ở thị trấn Đơn Dương (Lâm Đồng)  độ cao trên 1000 m so với mực nước biển, rộng 11–12 km², với đặc điểm này nên  lũ về tăng rất nhanh và thời gian lũ về chỉ sau thời gian xuất hiện mưa lớn từ 4-12 giờ, vì vậy, khi có tin báo lũ xuất hiện, thì các lực lượng tại chỗ, gồm: Đội ứng cứu xung kích, dân quân, các tổ nhóm tự quản, tình nguyện viện và nhân dân phối hợp nhanh chóng thực hiện các biện pháp phòng chống phù hợp. Ngay từ đầu mùa lũ, các lực lượng chuyên trách và nhân dân trong vùng ảnh hưởng lũ đã chủ động dự phòng lương thực, nước uống, thuốc men và các vật dụng thiết thực khác như phao, xuồng, vật nổi sẵn sàng cho việc di dời. Đồng thời, BCH Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các huyện Đức trọng và Đơn Dương đã ghi nhớ cho nhân dân các khu đất cao, các địa điểm sơ tán và cách thức di chuyển đến đó.


Bà Lê Thị Bé - Trưởng phòng Nông nghiệp Phát triển nông thôn, thành viên thường trực Ban Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn huyện Đơn Dương cho biết, UBND huyện và DHD có quy chế phối hợp từ nhiều năm nay và thực hiện rất tốt. Hàng ngày, DHD  chuyển các thông số về lượng nước về UBND huyện. Trong điều kiện thời tiết bình thường, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy điện Đa Nhim- Hàm Thuận- Đa Mi chủ động vận hành điều tiết như đợt xả nước thông dòng chảy ngày 26-10 vừa qua, UBND tiếp nhận thông tin và thông báo ngay cho Ban Chỉ huy PCTT và CHCN, mọi thông báo đều được truyền đi rất nhanh đến các hộ dân vùng lũ, phân lũ qua các phương tiện  thông tin của địa phương, kết hợp  hệ thống thông tin của Nhà máy thủy điện Đa Nhim.


Đọc thông báo kết hợp kéo còi cảnh báo trước khi xả nước.


Bà Lê Thị Bé trải lòng, người dân Đơn Dương đã “sống” với đập Đơn Dương hơn 50 năm và đã quen với tập quán này nên họ luôn chủ động trong sản xuất nông nghiệp. Đến mùa lũ, nhân dân không canh tác ở những  vùng có nguy cơ ngập lớn, những khu đất cao hơn, họ tận dụng  trồng cây ngắn ngày nên khi  xả nước ít bị thiệt hại. Thậm chí chỉ cần thông báo lưu lượng xả nước là người dân hiểu được mực nước ngập đến đâu. Tuy nhiên, để đạt được điều này, Chính quyền địa phương và DHD luôn đặt công tác tuyên truyền trong nhân dân lên hàng đầu, bởi họ xác định đối với nhân dân phải luôn kiên định quan điểm “mưa dần thấm lâu”.


Quản đốc phân xưởng sản xuất Đa Nhim-Sông Pha Ngô Hạnh Đăng cho biết, DHD thường xuyên tổ chức tập huấn cho cán bộ các xã và tuyên truyền kiến thức phòng chống lũ lụt bằng cách phát tờ rơi đến từng hộ dân, quán triệt thực hiện phương châm “bốn tại chỗ” là: Chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ.


Trước mùa mưa lũ, DHD phối hợp Ban Chỉ huy PCLB-TKCN huyện Đơn Dương và Đức Trọng (Lâm Đồng) cùng các ban ngành chức năng của địa phương đi kiểm tra dòng chảy sông Đa Nhim, từ đập tràn Đơn Dương đến vùng bị ảnh hưởng của xả lũ (cầu Ông Thiều) với chiều dài 36km thuộc huyện Đơn Dương và từ cầu Tu Tra đến thôn Phú Hòa, xã Phú Hội với chiều dài 10km thuộc huyện Đức Trọng để khắc phục ngay những cản trở dòng chảy.


Vào 10 giờ ngày 26-10-2016, DHD tiến hành xả nước từ hồ Đơn Dương để kiểm tra công trình, thiết bị đập tràn, thông dòng chảy hạ lưu với lưu lượng 25m3/s. Nhân dân sống dọc sông Đa Nhim được thông báo trước 2 ngày. Ngày 25-10, chúng tôi có mặt tại vùng hạ du. Các hộ dân có đang tập trung thu hoạch rau quả.


Công nhân Công ty Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi vận hành xả nước tại đập tràn Đơn Dương. Chị Đoàn Thị Mơ quê Hải Hậu-Nam Định vào định cư  ở thị trấn Đran- Đơn Dương nói, chị vào sinh sống ở thị trấn Đran đã được 40 năm, nhưng không phải năm nào cũng hồ Đơn Dương cũng xả lũ. Năm 2014-2015, chị và nhiều gia đình bỏ đất không trồng trọt gì thì cũng không xả nước. Năm nay, tiếc đất bỏ không nên trồng đậu thì xả nước, nhưng cũng may trái đậu đã lớn có thể thu hoạch được. Nếu có thiệt hại thì cũng đành đánh bạc với ông trời vậy. Chị Đoàn Thị Mơ cũng cho biết, các hộ dân có đất sản xuất dọc ven sông Đa Nhim đều xác định như vậy khi trồng rau vào mùa lũ từ tháng 8 đến tháng 12.


Chị Dương Thị Thúy Loan về làm dâu ở Lâm Tuyền 1-thị trấn Đran này từ năm 22 tuổi đến nay đã 32 năm rất ái ngại khi phải trả lời những câu hỏi về xả lũ từ hồ Đơn Dương, bởi bố chồng chị là một trong những người đầu tiên làm việc tại Nhà máy thủy điện Đa Nhim và chồng chị bây giờ cũng đang làm việc tại đập Đơn Dương. Chị kể, năm 1993, khi hồ Đơn Dương xả nước với lưu lượng 1.600m3/s, mặc dù không có thiệt hại về người nhưng nhà cửa, ruộng vườn bị ngập rất nhiều, nhà chị  cũng bị ngập ngang nhà. Hàng xóm xót rau không thu hoạch kịp bị hư hỏng hết đã đứng ở đầu nhà chị nói đổng chồng chị. Chị an ủi chồng “thôi, một điều nhịn là chín điều lành, họ xót của nên nói vậy thôi”. Rồi câu chuyện thiệt hại  cũng qua nhanh. Sau đó, năm nào vào mùa lũ, bà con sống xung quanh cũng ghé qua hỏi chị về tình hình nước lũ để lo liệu.


 Lưu lượng nước qua đập tràn Đơn Dương là 25m3/giây.


Chị Phạm Thị Tuyết Mai ở thị trấn Đran nói, hàng năm, Chính quyền và Nhà máy thủy điện Đa Nhim thường xuyên nhắc nhở người dân vào mùa lũ nên chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, mùa vụ thích hợp. Trong mùa lũ không  canh tác ở những vùng có nguy cơ ngập lớn. Đặc biệt, phải nhanh chóng thu hoạch sản phẩm trước mùa lũ của hồ Đơn Dương. Tuy nhiên, năm nào rau được giá thì các hộ vẫn trồng, nhưng lựa chọn cây trồng ngắn ngày, nếu như chưa đủ ngày vẫn thu hoạch được, như rau xà lách, rau cải.


Dự  báo tình hình thủy văn năm 2016 rất bất thường, khả năng hồ Đơn Dương xả lũ lớn rất cao, vì vậy để đảm bảo an toàn công trình và giảm nhẹ thiệt hại cho hạ du, DHD đã kiến nghị UBND, BCH PCTT&TKCN huyện Đơn Dương  và Đức Trọng sớm có kế hoạch di dời nhà ở của các hộ dân trên nằm trong vùng bị ảnh hưởng khi hồ Đơn Dương xả lũ. Đồng thời, thông báo đến các hộ dân đang canh tác rau màu trong lòng sông, ven sông, bãi bồi và vùng trũng có nguy cơ bị ngập dọc sông Đa Nhim thu hoạch sớm, hạn chế việc tiếp tục canh tác rau màu, nâng cao cảnh giác khi hồ Đơn Dương xả lũ để giảm thiểu thiệt hại.


 Hồ chứa nước Đơn Dương sẵn sàng cắt những cơn lũ tới.


Thực tế cho thấy, ở những địa phương nào thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa Ban Chỉ huy PCLB&TKCN tỉnh, địa phương với các công ty, Nhà máy thủy điện thì ở hạ du nơi đó ít xảy ra thiệt hại khi các hồ thủy điện xả lũ.


Trang tin ngành điện ICON. Ngày 28/10/2016


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
Chợ Cũ Sài Gòn - Lê Văn Nghĩa 19.03.2017
Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chế độ Pol Pot - Tư liệu 19.03.2017
Người Trung Quốc viết về nạn diệt chủng của Khmer Đỏ - Nguyễn Hải Hoành 19.03.2017
Đọc “Pol Pot: Mổ xẻ một cơn ác mộng” - Trần Hữu Dũng (Hoa Kỳ) 19.03.2017
xem thêm »