tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18950687
25.11.2016
Nhiều tác giả
Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn



Nguyễn Sơn (1908–1956) là một trong những người Trung Quốc gốc Việt Nam được phong quân hàm tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam đợt đầu tiên vào năm 1948, nhưng ông không chịu nhận sắc lệnh từ chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 20-01-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 111-SL phong quân hàm Thiếu tướng cho Nguyễn Sơn cùng với Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Chu Văn Tấn, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Hiến Mai, Lê Thiết Hùng,... sau khi ký sắc lệnh 110-SL phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. Ông cũng được Trung Quốc phong quân hàm tướng vào năm 1955 nên còn được gọi là Lưỡng quốc tướng quân (Tướng quân hai nước).


Đa số các tư liệu đều ghi ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1908 và mất ngày 21 tháng 10 năm 1956. Ngày 21 tháng 10 năm 2006, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức Lễ tưởng niệm 50 năm ngày mất của ông. Tại lễ này, ngày sinh của ông được ghi là 1 tháng 10 năm 1908.


Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông là con cụ Vũ Trường Xương, một nhà đại tư sản ở Hà Nội. Khi mới lên 5 tuổi ông đã bắt đầu học tiếng Pháp tại một trường Dòng ở Hà Nội. Mười bốn tuổi ông thi đậu vào Trường Sư phạm Hà Nội. Tính tình nghịch ngợm, cùng với tinh thần chống Pháp được gia đình truyền thụ, ông thường tổ chức học sinh trường Sư phạm và trường Bảo Hộ sang đánh nhau với học sinh con Tây tại các trường khác. Để khống chế sự nghịch ngợm của ông, cha mẹ ông đã cho ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Giệm, hơn ông bốn tuổi. Sau khi được Nguyễn Công Thu (người của Nguyễn Ái Quốc cử về Việt nam) giác ngộ, ông bày trò giả vờ uống rượu say, gây sự với cha vợ để lấy cớ bỏ người vợ trẻ cùng cô con gái mới 6 tháng tuổi là Vũ Thanh Các để ra đi.


Tham gia cách mạng ở Trung Quốc


Năm 1925, ông theo Nguyễn Công Thu đến Quảng Châu. Ông được nhập vào gia đình họ Lý của Lý Thụy (Hồ Chí Minh), gồm Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng, Lý Quý (Trần Phú), Lý Trí Phương (Nguyễn Thị Minh Khai) và một số người khác. Ông được Hồ Chí Minh đặt tên cho là Lý Anh Tự và được học lớp chính trị khóa hai cùng Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan. Tại đây, Vũ Nguyên Bác gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đầu năm 1926, ông được cử đi học Trường Sĩ quan Hoàng Phố cùng với Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng. Trong thời gian học, ông gia nhập Quốc Dân Đảng Trung Quốc.


Tháng 4 năm 1927, Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo làm chính biến, đàn áp Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông bỏ khỏi hàng ngũ Quốc Dân Đảng, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 8 năm 1927. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, gia nhập Đoàn giáo đạo 4, Phương diện quân số 2 do Diệp Kiếm Anh chỉ huy. Sau ba ngày chiến đấu, cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị lộ là đảng viên cộng sản. Để tránh khủng bố trắng, ông phải rời Quảng Châu sang Thái Lan và tổ chức Việt kiều tham gia cách mạng.


Năm 1928 ông trở lại Trung Quốc, tham gia Hồng quân (红军). Năm 1929, ông giữ chức vụ chính trị viên đại đội trong Trung đoàn 47, chỉ huy đại đội đánh nhiều trận ở Đông Giang. Trong thời gian này ông đổi tên mới là Hồng Thủy (洪水).


Ông là sĩ quan người nước ngoài duy nhất của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, từng làm Chính ủy trung đoàn, Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 34 thuộc Quân đoàn 12 Hồng quân Trung Quốc. Do có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và trình độ lý luận, ông được điều động đến giảng dạy tại Trường Quân sự Chính trị Trung ương của Hồng quân mới được thành lập ở Thụy Kim. Cuối năm 1932 ông còn tham gia thành lập đoàn kịch đầu tiên của Hồng quân công nông và làm Đoàn trưởng.


Tháng 1 năm 1934, tại đại hội đại biểu toàn quốc nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa lần thứ hai, Hồng Thủy được bầu là Ủy viên ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa với tư cách là đại biểu "dân tộc ít người", Ủy viên Chính phủ dân chủ công nông ở Khu Xô viết Trung ương.


Do đường lối tả khuynh thắng thế trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong thời kỳ 1933-1938 ông đã từng ba lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc, rồi lại được phục hồi đảng tịch.


Tháng 10 năm 1934, ông tham dự cuộc Vạn lý trường chinh. Thời gian này, ông bị Trương Quốc Đào vu cáo là "gián điệp quốc tế", bị khai trừ khỏi Đảng và suýt bị giết hại. Ông may mắn được Chu Đức và Lưu Bá Thừa che chở nên thoát nạn. Hồng Thủy là người Việt Nam duy nhất đã đi hết cuộc Vạn lý Trường chinh của Hồng quân.


Tháng 12 năm 1935, ông về đến Diên An sau nhiều ngày bị lạc. Tiếp đó ông được vào học khóa I Trường Đại học Hồng quân Trung Quốc tại Ngõa Gia Bào, Thiểm Bắc (sau chuyển về Bảo An, Thiểm Tây), trực tiếp nghe Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai giảng bài.


Tháng 7 năm 1937, bắt đầu thời kỳ chiến tranh chống Nhật, ông theo Tổng tư lệnh Chu Đức cùng Sư đoàn 115 Bát Lộ Quân vượt sông Hoàng Hà đến Sơn Tây lập căn cứ chống Nhật ở Ngũ Đài Sơn. Ông được bổ nhiệm làm bí thư khu ủy Đông Dã, Trưởng ban Tuyên truyền Địa ủy Đông bắc Sơn Tây. Tại Ngũ Đài Sơn, năm 1938 ông đã gặp và kết hôn với bà Trần Kiếm Qua, (tên thật là Trần Ngọc Anh, tên Kiếm Qua do chính ông gợi ý đổi cho bà). Ông bà sinh được hai người con trai, không kể một người con gái mất sau khi mới một tuần tuổi.


Cũng tại Ngũ Đài Sơn, vì phản đối Diêm Tích Sơn, một "lãnh chúa" ở Sơn Tây, ông bị vu oan, lần thứ ba bị khai trừ Đảng, chuyển về trường Quân chính Hồng quân, nhưng đã được khôi phục đảng tịch ngay trong cuối năm đó.


Năm 1938 ông được giao đảm nhận chức Tổng Biên tập báo Kháng Địch biên khu Tấn Sát Ký.


Tháng 2 năm 1939 ông được điều về làm Phó Chủ nhiệm Khoa giáo dục chính trị tại Phân hiệu 2 Đại học kháng Nhật ở Hàn Tín Đài, Linh Thọ, Hà Bắc, Trung Quốc.


Về Việt Nam và được phong tướng


Tháng 11 năm 1945, ông trở về nước hoạt động theo đề nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy tên mới là Nguyễn Sơn và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Ông từng làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Việt Nam (từ tháng 12 năm 1945 đến khi giải thể vào tháng 12 năm 1946), Tư lệnh kiêm Chính ủy hai Liên khu 4 và 5, Hiệu trưởng trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi (1946), Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu (1947), Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4 (1948-1949).


Năm 1947, ông được tin bà Trần Kiếm Qua và hai con trai của ông chết do bị máy bay Quốc Dân Đảng oanh tạc khi sơ tán khỏi Diên An. Ông cưới bà Huỳnh Thị Đổi. Hai người sinh được cô con gái Nguyễn Mai Lâm, do nhiều nguyên nhân hai người đã chia tay.


Cũng trong năm này, ông kết hôn với bà Lê Hằng Huân.[2] Ông có 4 người con với bà: Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Cương, Nguyễn Việt Hồng và Nguyễn Việt Hằng. Trong đó bà Nguyễn Thanh Hà học tại Học viện Kỹ thuật Quân sự ra trường công tác tại Bộ Tư lệnh Thông tin và về hưu với quân hàm trung tá. Bà Nguyễn Việt Hồng thì mắc bệnh tâm thần được điều trị dài hạn tại bệnh viện.


Năm 1948, ông được Nhà nước Việt Nam phong quân hàm thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên. Cùng được phong thiếu tướng trong đợt này có 8 quân nhân khác. Khi biết mình chỉ được phong thiếu tướng, ông không hài lòng và không muốn nhận (khi có người chúc mừng, ông nói: chúc mừng cái gì, tao thừa tướng nhưng thiếu sao!). Ông gửi công văn hỏa tốc cho Hồ Chí Minh để từ chối nhận quân hàm. Nhận được công văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lên tấm các của mình: "Tặng Sơn đệ" với 12 chữ Hán: "Đảm dục đại, tâm dục tế, trí dục viên, hạnh dục phương (胆欲大, 心欲, 智欲, 行欲方)", (đại ý: cái gan cần phải lớn; cái tâm nên tế nhị, chín chắn; cái trí phải suy nghĩ trước sau, toàn diện; cái đức hạnh phải đầy đủ, ngay thẳng) khiến ông chấp nhận. Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch thay mặt Chính phủ vào tận Thanh Hóa làm lễ tấn phong ông.


Trở lại Trung Quốc và được phong tướng


Năm 1950, ông trở lại Trung Quốc công tác, làm Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh Tổng giám bộ huấn luyện Quân Giải phóng Nhân dân. Được xem là một trong 72 đại công thần Trung Quốc, ngay trong đợt phong quân hàm đầu vào ngày 27 tháng 9 năm 1955, ông được nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phong quân hàm thiếu tướng. Ông cũng được chính phủ Trung Quốc tặng Huân chương Giải phóng hạng nhất.


Ông được mệnh danh là "Lưỡng quốc tướng quân", là một trong hai người Việt Nam được phong quân hàm tướng của hai quốc gia (người còn lại là Nguyễn Văn Hinh - Trung tướng Quốc gia Việt Nam, đồng thời là Trung tướng Không Quân Pháp), và đều ngay trong đợt phong quân hàm đầu tiên.


Về với quê hương


Năm 1956, do khối u ác tính nằm bên phổi trái, ông biết mình không còn sống được lâu nên xin trở về quê hương. Ông rời Bắc Kinh ngày 27 tháng 9, được Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp Trung Quốc ra ga tiễn và về đến Hà Nội ngày 30 tháng 9. Ông mất tại Hà Nội sau đó không lâu. Ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.


Viết về ông có hồi ký Hoàng Hà luyến, Hồng Hà tình của bà Trần Kiếm Qua. Cuốn này đã được dịch ra tiếng Việt, nhan đề Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương.


*Bà là con ruột của nhà văn Sở Cuồng Lê Dư, em ruột nữ sĩ Hằng Phương, em vợ của nhà văn Vũ Ngọc Phan.


VỀ CÁI CHẾT CỦA TƯỚNG NGUYỄN SƠN


Phạm Khang


Nguyễn Sơn là vị tướng duy nhất ở Việt Nam được phong tướng ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Người ta vẫn gọi ông bằng tất cả sự ngưỡng mộ là vị LƯỠNG TƯỚNG QUỐC! Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về ông như sau: “Anh Nguyễn Sơn lúc 16 tuổi đã tham gia phong trào Thanh niên cách mạng đồng minh hội và được vinh hạnh học tập tại trường Võ bị Hoàng Phố nổi tiếng của Trung Quốc. Khi anh về nước thì quân Pháp đã xâm lược miền Nam nước ta. Trong cuộc họp, Bác Hồ, anh Trường Chinh và tôi yêu cầu anh Nguyễn Sơn vào Nam phụ trách Ủy ban kháng chiến miền Nam (nơi diễn ra chiến sự giữa ta và địch). Đây là một chức vụ cực kỳ quan trọng thể hiện lòng tin của Đảng và Chính phủ đối với anh. Anh Nguyễn Sơn là tướng lĩnh có công với quân đội ta. Đặc biệt, anh đã tham gia cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài ở Trung Quốc. Anh là vị tướng nước ngoài duy nhất của Hồng quân Trung Hoa. Các đồng chí láng giềng khi nhắc đến anh đều có một tình cảm tôn trọng và sâu nặng… Tướng Nguyễn Sơn là một chiến sỹ cộng sản của Trung Quốc và Việt Nam, là người có khí phách dũng cảm, cũng là một vị tướng tài không chỉ ở lĩnh vực quân sự mà còn ở các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật… Sau khi cống hiến hết mình cho miền Nam, mùa hè năm 1950 anh đã nhận công tác của Bác Hồ để đi Bắc Kinh. Trong thời gian kháng Mỹ viện Triều anh đã mang bệnh nặng. Mặc dù đã được Nhà nước Trung Quốc hết lòng cứu chữa, thậm chí gửi sổ y bạ đi hội chẩn ở Liên Xô nhưng bệnh tình anh không thể qua nổi. Đảng đã đón anh về nước để chữa bệnh theo yêu cầu của anh. Anh đã từ trần trong niềm thương tiếc vô hạn của người thân, bạn bè, chiến sỹ trên mảnh đất quê hương mình. Mặc dù mất sớm nhưng anh đã để lại hình ảnh của một người cộng sản suốt đời cung cúc tận tụy cho sự nghiệp cách mạng nước ta và nước bạn. Hình ảnh một đồng chí – một người bạn chiến đấu thân thiết hết sức chân thành vẫn sáng chói. Anh mãi mãi được ghi nhớ trong trang sử cách mạng Việt Nam và khắc sâu trong mỗi trái tim ta.” (Trích đề tựa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho cuốn “Nguyễn Sơn vị tướng huyền thoại” của Minh Quang, Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2000).


Sự kiện làm người ta nhớ lại tại Lễ Quốc khánh Trung Quốc 1/10/1955 do quân đội tổ chức, Nguyễn Sơn được mời dự đại tiệc chung với các nguyên soái và tướng lĩnh Trung Quốc. Sau phần nghi lễ, Chủ tịch Mao Trạch Đông tiến lại chỗ Hồng Thủy (bí danh của Nguyễn Sơn ở Trung Quốc). Hồng Thủy đứng lên chào. Mao Trạch Đông thân mật hỏi thăm sức khỏe và công tác của ông:


- Hồng Thủy được xếp cấp gì?


Hồng Thủy trả lời Mao Trạch Đông:


- Thưa Chủ tịch cấp sư đoàn.


Mao Chủ tịch nói:


- Như vậy là không công bằng. Hồng Thủy tham gia quân đội từ thời đầu tiên có trường Hoàng Phố với biết bao gian khổ, lập bao công lao. Có thể lên cấp quân đoàn, các đồng chí xem lại có được không?


Trong bản nhận xét để phong hàm thiếu tướng cho Nguyễn Sơn – Hồng Thủy của Tổng cục Chính trị quân giải phóng nhân dân Trung Quốc có đoạn viết: “ Sau đại cách mạng thất bại. Hồng Thủy gia nhập Đảng trong thời kỳ khủng bố trắng, đối với Đảng với nhân dân, trung thành, trong sáng, ý chí cách mạng kiên định. Trong những hoàn cảnh tàn khốc nhất, khó khăn nhất như bạo động Quảng Châu, và trải qua cuộc vạn lý trường chinh trước sau vẫn hăng hái tích cực chiến đấu, luôn luôn đứng vững trên lập trường, đường lối chính sách của Đảng để công tác. Trong khi ở Phương diện quân 4 đã luôn kiên định đường lối của Trung ương. Trong chiến tranh chống Nhật ở Tấn Đông Bắc đã có khả năng độc lập tổ chức quần chúng thành lập đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang. Khi trở về Việt Nam đã lãnh đạo đúng đắn cuộc kháng chiến chống Pháp ở các chiến khu 5,6,4, củng cố căn cứ địa ở các chiến khu đứng vững suốt hơn 7 năm đấu tranh, cuối cùng giành thắng lợi. Trong đấu tranh chống địch và đấu tranh xử lý nội bộ luôn kiên trì và giữ vững nguyên tắc. Đối với sự phân công của Đảng giao cho đều phục tùng và chấp hành nghiêm chỉnh chưa bao giờ có hành động chống quyết định của Đảng, không phục tùng tổ chức. Trong các cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng (chỉnh phong thẩm cán, tam phản, chỉnh Đảng v.v… đều tích cực tham gia, dũng cảm bộc lộ những sai lầm của mình, của người khác và luôn tích cực học tập”. Đó là lời bình xét công bằng và chính xác của Hội đồng tướng lĩnh Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khi xét phong quân hàm Thiếu tướng cho Hồng Thủy – Nguyễn Sơn.


Khi Nguyễn Sơn được phong hàm Thiếu tướng ở Trung Quốc, ngay lập tức các báo lớn ở Trung Quốc đều có nhiều bài đăng ca ngợi vị tướng tài ba lỗi lạc người Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, quên mình cho nước Trung Hoa. Nhân dân Nhật báo ngợi ca: “Trong lịch sử nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc và Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, đây là lần đầu tiên Đảng và Chính quyền đã phong hàm và tặng Huân chương cao quý cho người nước ngoài để tỏ lòng biết ơn và kính trọng sự cống hiến vô tư của những chiến sỹ Quốc tế đã góp phần xây dựng một nước Trung Hoa hùng mạnh. Nhân dân Trung Quốc đời đời ghi nhớ công ơn của một vị tướng Việt Nam cũng là tướng của Trung Quốc”. Lịch sử bắt đầu xuất hiện danh từ Lưỡng Quốc Tướng Quân đối với Nguyễn Sơn bắt đầu từ đây.


Sau khi nhận quân hàm Thiếu tướng được một thời gian, tướng Nguyễn Sơn mắc chứng bệnh ung thư. Biết mình khó qua khỏi, ông đề nghị với Hội đồng tướng lĩnh Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc xin được về Việt Nam chữa bệnh. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh đã báo cáo tình hình bệnh nặng của tướng Nguyễn Sơn lên Mao Chủ tịch. Mao Chủ tịch buộc phải liên lạc với Bác Hồ. Ông báo cho Bác biết căn bệnh khó chữa trị của Hồng Thủy và rằng Hồng Thủy không chịu qua chữa trị tại Liên Xô… Bác Hồ vui lòng đón nhận Hồng Thủy về nước để chữa bệnh. Thủ tướng Chu Ân Lai đã cấp cho tướng Nguyễn Sơn 35 vạn Nhân dân tệ để ông về trị bệnh. Đây là số tiền quá lớn. Nguyễn Sơn không chịu nhận, nhưng Chu Ân Lai bắt buộc ông phải nhận. Khi về nước Nguyễn Sơn giao hết số tiền trên cho Nhà nước Việt Nam. Điều này chứng tỏ tướng Nguyễn Sơn đã hiến thân cho cách mạng Trung Hoa vô tư, không màng mảy may danh lợi.


Việc đưa Nguyễn Sơn lên đường về đất mẹ Việt Nam được chính Mao Trạch Đông đích thân sắp xếp chu đáo với nghi thức nhà nước. Ông ra lệnh cho sỹ quan cận vệ dành đặc biệt một toa tàu cấp lãnh đạo và giao cho Bác sỹ Hàn Thủ Văn lo đủ thuốc men để đi theo ông suốt hành trình về Việt Nam.


Sáng ngày 27/9/1956, trời còn mờ sương, Hồng Thủy – Nguyễn Sơn trong bộ quân phục bằng nỉ xanh đậm, ngực đầy huân chương, đã đến sân ga Tiền Môn. Tại đây ông thấy một số sỹ quan sắp hàng ngang đứng đối diện với toa xe. Xe của Nguyên soái Diệp Kiếm Anh chở theo Bành Đức Hoài, Chu Đức, Hoàng Khắc Thành cùng lúc đi tới. Diệp Kiếm Anh bước lại trước mặt Hồng Thủy giơ tay chào. Hồng Thủy chào lại theo nghi thức quân đội. Các tướng Bành Đức Hoài, Chu Đức và lần lượt mọi người đến bắt tay từ biệt ông. Một hồi còi rú lên, con tàu từ từ lăn bánh đưa ông về với đất mẹ Việt Nam, tạm biệt mảnh đất mà ông đã từng chiến đấu, vào sinh ra tử, chịu đựng gian khổ, khó khăn cho nhân dân Trung Quốc có độc lập, tự do như hôm nay!


Vào một ngày tháng 10 năm 1956, Đài tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt: Đồng chí Nguyễn Sơn, Thiếu tướng của quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và cũng là Thiếu tướng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về Việt Nam thăm gia đình, bị bệnh nặng nay đã từ trần vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 21 tháng 10 năm 1956. Linh cữu được quàn tại Lễ đường Quân đội, đường Hoàng Diệu, Thành phố Hà Nội.


Sáu giờ sáng ngày 22 tháng 10, Hồ Chủ tịch cùng một phái đoàn gồm Tổng Bí thư Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Phan Kế Toại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đại biểu cao cấp của quân dân chính Đảng đến viếng tướng Nguyễn Sơn. Trước đó, Đại sứ Trung Quốc La Qúy Ba là người đầu tiên đến viếng. Bác Hồ động viên, an ủi bà Lê Hoàng Huân vợ tướng Nguyễn Sơn và người thân, rồi thắp hương cắm lên bát hương để viếng tướng Nguyễn Sơn. Bác Hồ đứng lặng hồi lâu và rơm rớm nước mắt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhất, đồng thời chủ trì lễ truy điệu. Đồng chí Hoàng Anh thay mặt Quân ủy đọc điếu văn khen ngợi công trạng của tướng Nguyễn Sơn đã cống hiến vô tư cho hai nước Việt Nam – Trung Hoa. Thiếu tướng Lê Thiết Hùng bạn cùng học trường Hoàng Phố với tướng Nguyễn Sơn lên chia buồn cùng gia đình. Nhà thơ Hằng Phương, chị vợ của tướng Nguyễn Sơn bày tỏ sự thương tiếc một nhân tài còn trẻ đã ra đi. Nhà thơ Hữu Loan đã đọc bài thơ:


Hữu Loan khóc Nguyễn Sơn


Nguyễn Sơn như con tàu biển khổng lồ


Mang giông tố đại dương đi đến đâu


Không


cho


sóng


ngủ


Nguyễn Sơn như núi lửa mọc ở đâu


Là gây những đám cháy


vòng quanh


Từ Vạn Lý Trường Chinh


Nguyễn Sơn về Liên khu Tư


Những năm đầu kháng chiến


Liên khu Tư của Nghệ Tĩnh lầm lỳ


Và nước Liên khu Tư


Đã biết thế nào là giông bão


Và rừng Liên khu Tư


Đã biết thế nào là cháy rừng


Phải vì đất nhưng vì giường hẹp


Nằm thừa đầu


thừa


chân


Phải vì giường không đầu


Một bước đi vạn lý


Nguyễn Sơn ra đi


không


ai


ngờ


Những thằng đại xu nịnh ngày xưa


trở mặt


Nhưng lịch sử và thời gian


không


bao


giờ


phản trắc


Còn vang dội mãi rừng núi Nưa


tiếng Nguyễn Sơn


một


lần


truyền


hịch


Còn vang dội mãi những tâm hồn


Những o gái Liên khu Tư


Mắt xanh màu Trường Sơn


Mang trong mắt hình ảnh người


Râu hùm hàm én


Gần thì sợ ghê


Nhưng xa thì nói không bao giờ hết chuyện


Những gánh trống chèo


những kèn đồng gươm gỗ


Lỉnh kỉnh


gánh gồng khiêng vác


Những nghệ nhân toàn gia


dìu dắt bế bồng


Không chỗ nào là không tụng ca


Người mê xem văn nghệ


Nguyễn Sơn


Nhưng ngày 21 tháng 10 đọc báo


nhân dân thấy đăng cáo phó


…Thiếu tướng Nguyễn Sơn đã từ trần!


Thiếu tướng Nguyễn Sơn nào?


Làm gì có mấy Nguyễn Sơn


Đành rằng sống chết con người tại số


Nhưng hình như có bàn tay


định


mệnh


khốc


liệt


nào


Đặt lên cung kiếp Nguyễn Sơn


Một cuộc đời ngắn ngủi


Bao nhiêu là bất thường


Bất thường đến


Bất thường đi


Về bất thường


Chết lại càng


không đúng lúc!


Văn nghệ sĩ bao người đã khóc


Khi đọc báo Nhân dân thấy “Cáo phó Nguyễn Sơn”


Và ngày 22 tháng 10 trên khắp nẻo đường thủ đô


Một đám tang đã diễu hành


Một đám tang cờ đỏ liệm quan tài


Nấc lên màu huyết


Một đám tang đi


không


bao


giờ


tới


huyệt.


 2015.


Phạm Khang.


Bốn người vợ của Lưỡng quốc tướng quân


 “Lưỡng quốc tướng quân” Nguyễn Sơn, người thầy của nhiều vị tướng. Sau này, nhiều người khi gặp lại con gái ông vẫn thốt lên: “Bố Sơn là người dạy chú biết đạo làm tướng”. Lừng lẫy ở cả hai nước Việt Nam - Trung Quốc về tài trận mạc, nhưng về đời tư, ông bị đồn thổi rất nhiều điều bất lợi vào thời đó.


Tiếng đồn nói, ông có tới 13 người vợ và con thì không kể hết. Sự thật thì sao? Trung tá Nguyễn Thanh Hà, con gái đầu với người vợ thứ 4 của tướng Nguyễn Sơn trò chuyện với chúng tôi.


Dù thế nào cũng không bao giờ bỏ con


Thưa chị, cha chị là vị tướng tài nổi tiếng thì nhiều người đã biết, nhưng về đời sống của ông cũng có nhiều tin đồn hư thực lẫn lộn, chị có thể chia sẻ đôi điều về đời tư của ông?


Chị Nguyễn Thanh Hà (N.T.H): Con người có số phận, mà cha tôi lại sống đúng thời loạn lạc nhất của cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Cuộc đời cha tôi có gần 50 năm thì gần một nửa thời gian đó sống ở Trung Quốc. Tham gia quân đội ở cả hai nước và đều được phong tướng.


Nói vậy để thấy cuộc đời ông không chỉ thành công mà còn đầy gian nan thử thách với bao sinh ly và tử biệt. Phải đặt vào hoàn cảnh ấy mới hiểu được tại sao ông lại nhiều vợ và có con ở nhiều nơi như thế.


Đầu tiên, theo sắp đặt của gia đình, bố tôi lấy bà Hoàng Thị Diệm, bà lớn hơn ông 5 tuổi. Sau này, trước khi đi thoát ly hoạt động cách mạng ông đã có cuộc chia tay và “mở lối” để bà có thể đi bước nữa. Năm ông 16 tuổi, ông có với bà Hoàng Thị Diệm một người con gái, chị cả Vũ Thanh Các của chúng tôi (họ Vũ là họ gốc của bố tôi). Về sau, chị Các cũng vất vả, vì bên bố có một đàn em và bên mẹ cũng có một đàn em.


Bố tôi sang hoạt động ở Trung Quốc năm 1925. Đến năm1938, bố tôi lấy bà Trần Ngọc Anh (Trần Kiếm Qua là tên bố tôi đặt cho bà). Bà là người Sơn Tây, Trung Quốc. Ông bà có con gái tên là Phong Ba, nhưng chị Phong Ba chỉ sống được có 6 tháng. Thời đó, rất đói khổ, thiếu thốn.


Tôi được kể lại rằng, bố tôi đã đau buồn lâu lắm, bố tôi luôn đi vòng để tránh qua ngôi mộ con gái nhỏ của ông. Sau chị Phong Ba, bố tôi và mẹ Kiếm Qua đã sinh được hai người con trai là Trần Hàn Phong (tháng 1-1944) và khi bố tôi về nước thì mẹ Kiếm Qua đang mang thai anh Trần Tiểu Việt. Tháng 1-1946, anh Việt ra đời. Cả hai anh cùng mang họ Trần của mẹ Kiếm Qua.


Người phụ nữ thứ ba sinh con cho bố tôi là bà Ba Đổi (Nguyễn Thị Đổi). Bà sinh ra chị Mai Lâm. Sau này, hai người không hợp nhau nên đã chia tay. Cha tôi đã đón chị Lâm về cho mẹ tôi - người vợ thứ tư (cũng là người vợ cuối cùng của ông) nuôi.


Với mẹ tôi, bà Lê Hằng Huân, ông đã sinh ra bốn chị em tôi, tôi là con cả, sau đó đến Nguyễn Cương, Nguyễn Việt Hồng, Nguyễn Việt Hằng. Cả chị Mai Lâm khi về sống cùng chúng tôi, mẹ tôi cũng đặt tên cho chị là Nguyễn Mai Lâm. Như vậy, chúng tôi đều mang họ Nguyễn. Mẹ tôi bảo: Đã là con bố Nguyễn Sơn thì phải là họ Nguyễn.


Chị có nghe được những câu chuyện gì của những người cùng thời về người cha tài ba - tướng Nguyễn Sơn của mình?


Chị N.T.H: Khi lớn lên tôi được nghe nói nhiều về bố tôi. Mọi người nói, tướng Nguyễn Sơn là người có tài nhưng rất kiêu. Điểm thứ hai là ông nhiều vợ, nhiều con.


Tuy nhiên, bố tôi dù thế nào cũng không bao giờ bỏ con. Ông rất quý con. Có con nào là nhận và nuôi tất. Và nuôi dạy theo con đường cách mạng mà ông đã chọn.


Người ta quý nể bố tôi nên kể rất nhiều chuyện hay, thậm chí có phần thêu dệt như huyền thoại. Và trong những chuyện ấy có chuyện nhiều vợ. Họ bảo ông có tới 13 người vợ và con thì không kể hết. Nhưng sự thực ông chỉ có 8 chị em chúng tôi.


Mẹ tôi là người phụ nữ nhân hậu, nên khi chị Mai Lâm của tôi được đưa về cho mẹ, mẹ tôi đã chăm lo và nuôi chị còn chu tất hơn cả chúng tôi. Chị luôn được may quần áo mới. Tôi phải mặc thừa của chị.


Mẹ tôi luôn hiểu cho bố tôi. Dù là người vợ thứ tư, nhưng mẹ tôi biết rõ vì hoàn cảnh nên bố tôi mới có những ly tán, đổi thay. Mặt khác, bây giờ thì chúng ta cũng cùng biết rõ rằng với một người tài giỏi thì dễ có nhiều người yêu mến. Và chuyện đó cũng không có gì ghê gớm ở thời trước.


Khi bố tôi về Việt Nam thì có tin dữ là vợ ông - bà Trần Kiếm Qua cùng hai con đã bị bom chết ở Trung Quốc. Một thời gian dài, bố tôi đã sống trong đau buồn.


Sau này, bố tôi được những người bạn quý mai mối cho ông lấy mẹ tôi ở Việt Nam. Mẹ tôi là em gái của bà Lê Hằng Phương - vợ của nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Ngọc Phan. Đến chơi với gia đình Vũ Ngọc Phan nhiều, bố tôi khiến mọi người cảm mến, vun vào cho mối lương duyên của cha mẹ tôi.


Được biết, khi trở lại Trung Quốc học tập và công tác, gặp lại bà Trần Kiếm Qua, bố tôi đã rất buồn và khó xử. Nhưng mẹ Kiếm Qua là người tốt, mẹ hiểu những gì mà loạn ly có thể gây ra cho thân phận con người.


Sau khi cha chị qua đời, gánh lo cho con chồng, con mình trên vai mẹ chị hẳn là rất nặng?


Chị N.T.H: Sau tang lễ của cha, tôi trở thành người bạn nhỏ của mẹ, giúp mẹ đi chợ, giặt quần áo của cả nhà, trông các em.


Từ bé tôi đã là cô học sinh giỏi và ngoan, là niềm tự hào cũng như chỗ dựa nhỏ nhoi của người mẹ góa bụa mới bước vào tuổi 30.


Năm nào tôi cũng được giấy khen ở nhà trường và năm nào cũng được viết thư chúc mừng sinh nhật Bác vào dịp 19-5, thư viết vào mặt sau tờ giấy khen.


Hồi lớp vỡ lòng và lớp một, tôi cùng chị Mai Lâm, em Nguyễn Cương học ở trường mở trong thành (khu của Quân đội). Tan học tôi thường rủ chị Lâm, em Cương đi nhặt cành củi khô và quả phượng vĩ khô để về đun.


Hồi đó cả nước khó khăn. Nhớ mãi những tuần hết gạo, phải ăn ngô khoai não nề, đến ngày đong gạo được ăn cơm mà như một bữa tiệc của lũ trẻ mồ côi chúng tôi. Thế mới biết những đứa con mồ côi luôn biết thân biết phận. Chẳng dám đòi hỏi gì, vẫn cố chịu đựng, thương mẹ.


Những hôm thấy mẹ lầm bầm đi từ trên nhà xuống hành lang bên cạnh nhà lá của bọn tôi rồi lại lầm rầm đi lên là tôi biết mẹ hết tiền tiêu. Tôi bèn chia số tiền ít ỏi mà tôi dành dụm được cho mẹ.


Nhận tiền xong, mẹ cười hớn hở nói với tôi: “Bố thiêng thật con ạ, mẹ vừa khấn bố là mẹ hết sạch tiền mua thức ăn cho các em Hồng, em Hằng ăn thì con mang tiền lên cho mẹ vay”. Cụ chỉ vay thôi, không xin, có tiền là trả ngay cho tôi. Thật thương!


Mở trường quân sự và giúp dân... lấy vợ


Tướng Nguyễn Sơn cùng gia đình (Hàng trên từ trái sang: Tướng Nguyễn Sơn, con gái Nguyễn Thanh Hà, bà Lê Hằng Huân, hàng dưới: các con của ông bà Nguyễn Việt Hồng, Nguyễn Cương, Nguyễn Việt Hằng


Tướng Nguyễn Sơn cùng bà Lê Hằng Huân và con gái Nguyễn Thanh Hà (chụp tại Thọ Xuân- Thanh Hóa).


Chị có thể kể vài kỷ niệm mà đồng đội hoặc cấp dưới của cha chị đã chia sẻ với chị?


Chị N.T.H: Nhiều lắm, tôi đã tham gia làm cả chục cuốn sách về cha tôi và thời của ông, nên biết rất nhiều câu chuyện về ông cụ. Cụ được cả người giàu và người nghèo yêu quý. Bố tôi dạy người nghèo phải biết tiết kiệm và bố tôi cũng quý cái giỏi của người biết làm ra và giữ gìn của cải.


Có lần bố tôi gặp một người ngồi khóc vì nghèo quá không lấy được vợ. Bố tôi hỏi chuyện và bảo về thịt con chó (mà nhà đó có sẵn). Sau đó, bố tôi mời các ông nhà giàu quanh đó đến chơi bài. Tiền của người được bạc, bố tôi gợi ý ủng hộ cho bà cụ nghèo có con chưa cưới được vợ. Với nhà giàu, chỗ tiền ấy không đáng gì nên mọi người vui vẻ ngay. Thế là số tiền gom nhặt đã đem lại hạnh phúc cho anh chàng muộn vợ.


Chỉ về Việt Nam có 5 năm (1945-1950) mà bố tôi mở 4 trường: lục quân Quảng Ngãi, Thiếu sinh quân khu 4, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (khóa 2,3) và Trường Văn nghệ khu 4. Ông còn tham gia giảng bài tại nhiều trường...


Năm 1993, tôi gặp các cựu học sinh Lục quân Quảng Ngãi, có nhiều chú đã già yếu. Các chú đến nói:“Cho chú nắm tay cháu, vì chú nhớ bố cháu quá!”. Nhiều vị tướng gặp tôi đều nói: “Bố Sơn là người dạy chú biết đạo làm tướng”.


Trân trọng cảm ơn chị!


Trung Tá Nguyễn Thanh Hà: “Gia đình chị đặc biệt lắm, bố chị có tất cả 4 người vợ, 8 người con. Các con của ông mang ba họ và theo hai quốc tịch Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng bọn chị rất yêu thương nhau”.


Trung tá Nguyễn Thanh Hà


tienphong.vn


Con trai lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn tiếc thương Đại tướng Võ Nguyên Giáp


Trong suốt quá trình lịch sử dài, ở mọi lĩnh vực, cương vị khác nhau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều có những đóng góp quan trọng cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị Trung - Việt và người dân Trung Quốc nói chung đều coi Đại tướng là một người bạn lớn, người bạn tốt.


Đây là những nhận xét của ông Trương Đức Duy, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Trung - Việt, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, trong cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại Bắc Kinh về cảm xúc riêng cũng như tình cảm của nhân dân Trung Quốc đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau khi được tin Đại tướng qua đời.


Ông Trương Đức Duy cho biết khi nghe tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần ông vô cùng xúc động, cảm thấy đau xót và thương tiếc, muốn được thông qua TTXVN chuyển tới Phu nhân Đại tướng và toàn thể gia quyến lời chia buồn sâu sắc nhất.


Gia đình Lưỡng quốc Tướng quân Việt Nam - Trung Quốc Nguyễn Sơn


Theo Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Trung-Việt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà cách mạng kiên định, trước mỗi một trận đấu, một chiến dịch, ông đều có quyết tâm phải “quyết chiến, quyết thắng”, đồng thời ông còn là người nghiên cứu sâu mọi vấn đề và rất tỉ mỉ. Theo như cách nói của người Trung Quốc thì ông là một vị tướng “đảm đại, tâm tế”, có nghĩa là gan lớn, còn tâm tinh tế.


Ông cho biết rất nhiều người dân Trung Quốc biết đến tên tuổi, những cống hiến to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, họ thường gọi Đại tướng là “danh tướng” nhưng theo ông Trương Đức Duy, như vậy chưa đủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xứng đáng là một “Đại danh tướng”.


Cùng với cảm xúc đau buồn khi nghe tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, ông Tề Kiến Quốc, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, cho rằng Đại tướng là vị tướng kiệt xuất nổi tiếng trên thế giới và tên tuổi của ông sẽ mãi gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam.


Ông cho biết nhân dân Trung Quốc, nhất là những người thế hệ như ông đều biết đến những đóng góp to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho cách mạng cũng như công cuộc xây dựng phát triển đất nước của Việt Nam sau này, và hơn thế nữa, Đại tướng còn là người có đóng góp quan trọng cho quan hệ hai nước Trung Quốc-Việt Nam.


Ông Tề Kiến Quốc cũng chia sẻ những kỷ niệm không thể quên về ba lần tiếp xúc với Đại tướng. Lần đầu là từ trước khi hai nước bình thường hóa quan hệ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tư cách là khách mời của chính phủ sang dự lễ khai mạc Đại hội Thể thao châu Á tại Bắc Kinh, khi đó ông hân hạnh được giao nhiệm vụ phục vụ Đoàn Việt Nam.


Lần thứ hai vào đầu những năm 2000 khi ông đã là Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, được đến thăm Đại tướng tại nhà riêng và lần thứ ba vào dịp cùng Đoàn đại biểu cấp cao do đồng chí Lý Thiết Anh, Phó ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc dẫn đầu sang Việt Nam dự lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.


Chia sẻ với phóng viên TTXVN tại Bắc Kinh khi đến thăm ông Vương Đức Luân, nguyên cán bộ Đoàn cố vấn Trung Quốc, tại nhà riêng, ông cho biết: “Suốt bao nhiêu năm qua, tôi luôn dõi theo tin tức của Việt Nam, của Đại tướng, mỗi khi nhìn thấy Đại tướng xuất hiện trên màn hình, trên các trang báo điện tử thấy Đại tướng vẫn khỏe là tôi mừng lắm”.


Nhưng lần này khác hẳn, xem ti vi đưa tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từ trần, ông Luân cảm thấy thật đau lòng và cảm giác như mất đi chính người thân của mình. Ông nói: “Tôi ngỡ ngàng khi nghe tin truyền hình thông báo, cảm thấy vô cùng đau lòng giống như mất đi người thân ruột thịt của mình, Trung Quốc cũng đã mất đi người bạn tốt. Sự ra đi của Đại tướng là một tổn thất lớn. ”


Ông Luân nhớ lại lần gần đây nhất ông được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vào năm 2004, khi đó ông sang Việt Nam dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, “chuyến đi Việt Nam đó tôi được gặp Đại tướng tại buổi lễ và cả tại nhà riêng nữa, lúc đó ông còn khỏe, nhìn ông không hề mất đi dáng vẻ tài hoa xuất chúng năm xưa ở chiến dịch Điên Biên Phủ”.


Theo ông, có lẽ với những người chỉ cần may mắn được một lần tiếp xúc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng cảm nhận được con người vĩ đại, xuất chúng nhưng thật bình dị của Đại tướng. Còn thế hệ trẻ hôm nay qua những lời kể của các nhân chứng lịch sử sẽ càng hiểu rõ hơn về vị Đại tướng văn võ song toàn, nhà quân sự nổi tiếng, có một không hai trên thế giới đã dẫn dắt quân đội Việt Nam chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc và hòa bình thống nhất đất nước.


Tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từ trần cũng khiến con trai trưởng của Thiếu tướng Nguyễn Sơn – Hồng Thủy, ông Trần Hàn Phong, Ủy viên Chính hiệp Toàn quốc Trung Quốc khóa XI, XII không khỏi bàng hoàng, tiếc thương khi phải vĩnh biệt người bạn chiến đấu của cha mình.


Người cha mất sớm từ khi ông mới 12 tuổi và trong suốt bao nhiêu năm qua Đại tướng đã dành tình cảm cho ông như người cha người chú trong gia đình. Ông Phong chia sẻ: "Chú Giáp và cha tôi đã từng nhiều năm cùng nhau chống lại quân thực dân Pháp, họ vừa là đồng đội chiến đấu, vừa là bằng hữu. Hai lần sang thăm Việt Nam vào năm 1994 và 1998 tôi đều đến thăm chú tại nhà riêng, chú đánh giá cao mối tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc, cũng như những đóng góp của cha tôi trong cuộc cách mạng ở Việt Nam và Trung Quốc".


Theo ông Phong, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhiều cống hiến quan trọng trong cuộc cách mạng ở Việt Nam, và có đóng góp to lớn cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nước và hai quân đội Việt Nam- Trung Quốc, đồng thời có tầm ảnh hưởng lớn đối với nhân dân Trung Quốc.


Phóng viên TTXVN từ Trung Quốc.


Những huyền thoại về lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn


Có tượng đồng đặt tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Giải phóng quân Trung Quốc (Bắc Kinh). Tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có 2 con đường mang tên ông - Nguyễn Sơn - viên tướng duy nhất trên thế giới làm tướng của 2 quốc gia...


24 tuổi Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn


Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, sinh năm 1908 được cha mẹ nuôi ăn học trong những trường tiểu học, trung học danh tiếng ở Hà Nội (như Trường Đỗ Hữu Vị, Bưởi…). Khi đang học Trường Sư phạm nội trú Hà Nội, ông tham gia cách mạng và được kết nạp tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Năm 1925 được Nguyễn Công Thu - giao thông của đồng chí Nguyễn Ái Quốc - đưa ông đến Quảng Châu dự lớp học chính trị đặc biệt.


Từ năm 1927 đến 1945 Nguyễn Sơn tham gia cách mạng Trung Quốc lập nhiều thành tích xuất sắc, được bổ nhiệm nhiều chức vụ chỉ huy từ cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn và làm chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 34,Quân đoàn 12 Hồng quân lúc mới 24 tuổi.


Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần II nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa (tháng giêng-1934), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương.


Từ năm 1946 đến năm 1950 ông về nước lần lượt nhận các nhiệm vụ: Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến miền Nam Trung bộ, Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng, Hiệu trưởng Trường Lục quân Quảng Ngãi, Khu trưởng Chiến khu IV…


Từ giai thoại


Có ông tướng khi luyện tập đội ngũ, sau khi hô: “Đằng trước… thẳng!” là rút súng kê ngay tai người đứng hàng đầu bắn một phát để so hàng xem đã thẳng chưa? Ai phía sau còn chưa ngay hàng là…lãnh đủ (!).


Cũng có chuyện ông tướng này bắn bách phát, bách trúng, từng bắn văng điếu thuốc lá trên môi một đồng đội đang ngồi vừa hút thuốc, vừa câu cá…


Chuyện kể ở khu IV có bà đi chợ về, đường hẹp lại gặp một ông “râu én mày ngài” đi xe đạp cuốc ngược chiều, cái ghi-đông vểnh ra như sừng trâu, bà mắng: đi nghênh ngang như ông tướng. Ông nọ vội xuống xe đứng nép một bên nhường đường chờ bà ta đi qua mới cười vang: thì tướng chứ còn ai. Nhận ra là Tướng Nguyễn Sơn, bà há hốc miệng rơi cả quang gánh.


Chuyện kể sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, cấp trên có chỉ thị tẩy chay hàng hóa ngoại quốc, nhưng Nguyễn Sơn suốt đời chỉ nghiện hút một loại thuốc lá thơm Phillip Morris. Thèm thuốc, ông đi tận ra ngoài đê hút. Chẳng may có anh du kích đứng ngược chiều gió ngửi mùi thuốc lạ bèn tiến tới mắng mỏ đòi tịch thu gói thuốc lá. Người cận vệ của ông vội chạy tới quát: Anh có biết đây là Khu trưởng không? Chàng du kích giật mình rơi cả súng. Nguyễn Sơn nhặt súng trao lại rồi vui vẻ dập điếu thuốc hút dở và móc bao thuốc trong túi áo giao nộp rồi quay lại ôn tồn giải thích cho người cận vệ: Anh du kích này thực hiện đúng quy định, ta phải chấp hành…


Trong cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc nhằm giải vây, bảo toàn lực lượng, lập căn cứ mới thuận lợi hơn đã mất hơn một năm, trải dài hai vạn năm ngàn dặm. Có người nói: Lúc đi 72 vạn người, đến nơi còn 7 vạn 2, để diễn tả nỗi gian truân, vất vả đến cùng cực khi phải vượt qua núi tuyết, vượt qua đồng cỏ mênh mông hoang vắng. Vậy mà Nguyễn Sơn đi tới 3 lần trên con đường ấy để tiền trạm và giải quyết thương bệnh binh. Gần 2 năm trời hành quân có lúc đi môt mình, lạc đường đến vùng dân tộc thiểu số ông phải giả câm xin chăn dê để có cơm ăn, dưỡng sức tìm đường. Về tới Diên An gầy ốm như một bộ xương, quần áo rách te tua không ai còn nhận ra.


Những năm tháng gian khổ ấy ông còn bị khai trừ Đảng 3 lần vì đấu tranh với những điều sai trái và bị vu cáo là phản động, là gián điệp quốc tế, có lúc suýt bị chặt đầu. Nhưng cấp trên nhận ra sai trái lại khôi phục Đảng tịch cho ông.


Vị tướng mê Kiều


Trong lãnh vực văn hóa- nghệ thuật, chính Nguyễn Sơn là người bênh vực, bảo vệ, cho khôi phục các hình thức sân khấu tuồng, chèo vì sau Cách mạng tháng Tám bị những người hữu khuynh toan dẹp bỏ. Ông chi tiền để nhân dân Thanh Hóa dựng lại Hội Múa dân gian cổ truyền. Ông mời Đinh Ngọc Liên - Quản Liên vốn chỉ huy đội kèn Bảo an của Bảo Đại-trao nhiệm vụ khôi phục lại đội kèn, bây giờ là đoàn quân nhạc của quân đội ta.


Có chuyện mà nhiều người còn giữ ấn tượng sâu sắc: vô tình nghe Trương Tửu lên lớp giảng truyện Kiều cho học sinh với quan điểm phê phán Thúy Kiều là bị bệnh “ủy hoàng” (bệnh lý về sinh dục), Nguyễn Sơn cho tập trung tất cả học sinh lớp lớn, trong đó có lớp chuyên khoa Văn, rồi suốt một ngày hôm đó Nguyễn Sơn say sưa giảng lại Truyện Kiều, ông làm cho học sinh hiểu rõ Truyện Kiều là một áng văn chương tuyệt tác của dân tộc mà bất kỳ người dân Việt Nam nào khi đọc cũng thông cảm và rung động sâu sắc. Ông kịch liệt phê phán quan điểm của Trương Tửu.


Chuyện ông tướng quân sự mà giảng về kịch Lôi Vũ suốt mấy buổi liền vẫn hấp dẫn người nghe. Đến người dịch Lôi Vũ từ tiếng Trung qua Việt ngữ – Đặng Thai Mai – nghe xong cũng phải thốt lên lời khâm phục sự uyên thâm văn học của Nguyễn Sơn.


Chuyện có người lập miếu thờ Nguyễn Sơn trên núi Hồng Lĩnh –Nghệ An. Người hàng ngày trông nom là một sĩ quan đặc công đã nghỉ hưu.


Ngày 29-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong Nguyễn Sơn quân hàm Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.


Ngày 27-9-1955, Tổng lý Quốc vụ viện Chu Ân Lai ký lệnh phong quân hàm Thiếu tướng cho Hồng Thủy, khi ấy là xã trưởng kiêm Tổng biên tập Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu, thuộc Bộ Tổng Giám huấn luyện Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí phách, có chút ngang tàng, có khả năng về chính trị, về tuyên truyền, về văn nghệ. Anh lại có phong cách rất riêng - rất là Nguyễn Sơn. Anh coi trọng bạn bè, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.


Trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành, suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.


Vũ Hoài Minh


Sài Gòn Giải Phóng


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử - Drew Gilpin Faust 22.04.2017
22/04/1994: Richard Nixon qua đời - Tư liệu sưu tầm 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (8) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (7) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Thần thoại Hy Lạp (6) - Nguyễn Văn Khỏa 22.04.2017
Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (tiếp & hết) - Bành Thuật Chi 18.04.2017
Đánh giá cuộc đời chính trị Mao Trạch Đông (1) - Bành Thuật Chi 18.04.2017
Mao Trạch Đông và Biến cố Thiên An Môn 1976 - Lưu Á Châu 18.04.2017
18/04/1989: Sinh viên Trung Quốc biểu tình chống chính phủ - Tư liệu 18.04.2017
Trường phái Chicago với văn hóa của người nhập cư ở đô thị - Nguyễn Huỳnh Mai 18.04.2017
xem thêm »