tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20802118
24.11.2016
Nhiều tác giả
Tướng Trần Tử Bình & Vụ xử án tham nhũng Trần Dụ Châu



Trần Tử Bình (1907-1967) là một trong những vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ông là người lãnh đạo phong trào công nhân cao su Phú Riềng 1930 [1], một trong những cốt cán của Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội tại cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 [2]. Sau Cách mạng tháng Tám ông đã được bổ nhiệm vào nhiều chức vụ của quân đội và Nhà nước như Phó giám đốc chính ủy Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (1946), Phó Bí thư Quân Ủy Trung ương (1947), Chính ủy trường Lục quân tại Trung Quốc (1950-1956), Tổng Thanh tra Quân đội kiêm Phó Tổng thanh tra Chính phủ (1956-1958), Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1959-1967).


Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu, sinh năm 1907, trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Thiên chúa, tại xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Biệt danh khi hoạt động - Trần Tử Bình - của ông có nghĩa "sống phong trần, lãng tử, dám xả thân vì chính nghĩa, bình đẳng".


Phong trào Phú Riềng Đỏ 1930


Vì tham gia phong trào yêu nước, vận động giáo sinh ở Chủng viện Hoàng Nguyên (Hà Đông) để tang cụ Phan Chu Trinh nên cuối năm 1926 ông bị đuổi học. Năm 1927, được Tống Văn Trân giác ngộ, ông đã kí hợp đồng vào Nam Bộ làm phu đồn điền cao su Phú Riềng.


Tại Phú Riềng, ông được nhà cách mạng Ngô Gia Tự giác ngộ, kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Tháng 10 năm 1929, là đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng tại chi bộ Phú Riềng.


Cuối năm 1929, thay Nguyễn Xuân Cừ làm bí thư chi bộ. Đầu năm 1930, chi bộ lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi quyền sống của 5.000 công nhân Phú Riềng, làm nên phong trào "Phú Riềng Đỏ" lịch sử. Sau đó, ông bị bắt, bị kết án 10 năm tù, bị đày ra Côn Đảo.


Thời kì tù Côn Đảo 1931-1936


Thời kỳ bị Pháp giam cầm tại Côn Đảo ông vẫn tiếp tục học tập lý luận cách mạng, chủ nghĩa Marx-Lenin và đấu tranh đòi độc lập cho Việt Nam từ trong tù. Cũng trong quãng thời gian này ông đã kết thân với các nhà cách mạng cộng sản khác như: Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Hà Huy Giáp, Trần Xuân Độ, Nguyễn Văn Phát, v.v. đây là lứa cán bộ cốt cán đầu tiên của cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, chính quyền thực dân phải thả ông về đất liền và quản thúc ông ở quê nhà.


Thời kì hoạt động bí mật 1936-1945


Sau khi được trả tự do ông quay trở về Hà Nam và làm thầy ký ở phố huyện Bình Lục, nhưng vẫn tiếp tục bí mật hoạt động cách mạng. Thời kỳ này ông đã lần lựơt giữ các chức vụ khác nhau trong Đảng bộ tỉnh Hà Nam như Bí thư chi bộ, Bí thư Huyện ủy Bình Lục và Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam.


Năm 1940, ông được bầu vào Xứ uỷ Bắc Kỳ và trực tiếp phụ trách Liên tỉnh C (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) vào 1940, 1943; năm 1941 - Liên tỉnh D (Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang).


Ngày 24 tháng 12 năm 1943, ông bị bắt ở Thái Bình. Đầu năm 1944, sau khi vượt ngục ở nhà tù Hà Nam bất thành ông bị chính quyền Pháp chuyển về nhà tù Hoả Lò (Hà Nội), nơi được coi là nhà tù tuyệt đối an toàn của chế độ thực dân Pháp. Tại Hỏa Lò, ông được bầu làm Trưởng ban sinh hoạt, tổ chức hoạt động công khai của tù chính trị. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, lợi dụng tình hình phát-xít Nhật hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương, việc quản lý nhà tù Hỏa Lò bị lơi lỏng, Trần Tử Bình cùng một số tù chính trị cộng sản khác đã tổ chức cuộc vượt ngục nổi tiếng trong lịch sử theo đường cống ngầm giải thoát cho gần 100 tù chính trị.


Thiếu tướng Trần Tử Bình tại Việt Bắc


Sau khi thoát khỏi Hỏa Lò, ông trở về xây dựng Chiến khu Quang Trung hay Chiến khu Hòa Ninh Thanh nay là thôn Tâm Quy xã Hà Tân huyện Hà Trung tinh Thanh Hóa tại vùng giáp ranh các tỉnh (Hòa Bình - Ninh Bình - Thanh Hóa).


Ngày 19 tháng 8 năm 1945, với tư cách là Ủy viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trần Tử Bình đã trực tiếp tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Hà Nội và một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ.


Thời kì phục vụ quân đội 1945-1959


Tháng 9 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính trị uỷ viên Trường Quân chính Việt Nam (sau đổi tên là Trường Cán bộ Việt Nam).


Tháng 5 năm 1946, ông nhận nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính uỷ Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn.


Năm 1947, ông được đề bạt làm Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương, Trưởng phòng Kiểm tra cán bộ - Chính trị cục. Cuối 1947, ông cùng Lê Thiết Hùng chỉ huy mặt trận Sông Lô thắng lợi.


Tháng 1 năm 1948, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên (cùng đợt với các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Bình). Cùng thời gian đó đó ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng thanh tra Quân đội.Ông làm nhiệm vụ Công tố viên trong việc Tòa án quân sự tối cao xét xử vụ án Trần Dụ Châu tham nhũng mùa hè năm 1950.


Năm 1950-1956, ông nhận nhiệm vụ Chính uỷ Trường Lục quân Việt Nam tại Trung Quốc.


Tháng 2 năm 1951, ông được cử làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam II tại Việt Bắc.


Thời gian 1956-1958, ông nhận nhiệm vụ Tổng Thanh tra Quân đội, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Việt Nam tham gia củng cố và trong sạch hoá chính quyền thời hậu chiến.


Năm 1960, ông được bầu làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng III, và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá II và khoá III.


Thời kì công tác ngoại giao 1959-1967


Năm 1959, ông được chuyển sang công tác tại Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kiêm đại sứ tại Mông Cổ thay cho ông Nguyễn Khang.


Trong 8 năm công tác tại Bắc Kinh, ông được bầu làm Trưởng Ngoại giao Đoàn Bắc Kinh. Ở giai đoạn này, mâu thuẫn trong quan hệ giữa hai nước đồng minh Trung Quốc và Liên Xô diễn ra rất căng thẳng, thậm chí đã có lúc Trung Quốc gây sức ép để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ngả theo Trung Quốc. Tuy nhiên, đây là hai đồng minh lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nguồn viện trợ của cả hai bên là vô cùng cần thiết cho cuộc chiến nhằm thống nhất đất nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, việc ngả về một bên sẽ làm mất lòng bên kia và gây ra tác hại to lớn về nguồn viện trợ, phương diện chính trị cũng như sức mạnh quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Được nhiều đồng nghiệp và cấp trên đánh giá cao về sự khôn ngoan, khéo léo, mềm dẻo, đại sứ Trần Tử Bình đã góp phần giải quyết mâu thuẫn Trung-Việt trong "vấn đề Liên Xô" và vận động được Trung Quốc tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không để quan hệ Việt - Xô ảnh hưởng đến quan hệ Việt - Trung.


Trong lần về nước họp đầu năm 1967, ông bị cảm rồi đột ngột từ trần tại Bệnh viện Hữu nghị Việt-Xô, Hà Nội vào sáng sớm 11 tháng 2 năm 1967 (tức mùng ba Tết Đinh Mùi). Tranh thủ thời gian ngừng bắn, ngay chiều đó, tang lễ được cử hành tại Câu lạc bộ Quân nhân. Lễ tang của ông được tổ chức theo nghi thức dành cho sĩ quan cấp tướng. Ông qua đời khi vừa tròn 60 tuổi.


Gia đình


Trong cuộc đời hoạt động cách mạng và chính trị của mình, Trần Tử Bình luôn nhận được sự động viên mạnh mẽ và nhiệt thành từ Nguyễn Thị Hưng - người vợ, người đồng chí của ông. Nguyễn Thị Hưng cũng đã tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng tại Hưng Yên và là người trực tiếp lãnh đạo cướp kho thóc Đồng Long, đây là một sự kiện lịch sử quan trọng (đã từng được đưa lên phim truyện). Bà cũng có đóng góp vào công cuộc phát triển phong trào phụ nữ tại nhiều tỉnh phía bắc. Sau năm 1957 bà đã đảm đương nhiều cương vị tại Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Công thương), một trong những bộ lớn thời bao cấp, trong đó có chức vụ Chánh Thanh tra của bộ.


Đã quen sử dụng cái tên Trần Tử Bình nên tám người con của ông bà (6 trai, 2 gái) đều lấy họ Trần: Trần Yên Hồng, Kháng chiến, Thắng Lợi, Kiến Quốc, Thành Công, Hữu Nghị, Hạnh Phúc, Việt Trung. Mỗi tên đều gắn với sự kiện của đất nước. Tuy nhiên họ không quên họ Phạm gốc của mình.


wikipedia


Tướng Trần Tử Bình xử án tham nhũng Trần Dụ Châu


Thiếu tướng Trần Tử Bình, khi đó đang là Phó Tổng thanh tra quân đội, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, đã được Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ điều tra vụ tham nhũng của Trần Dụ Châu. Ngày 5/9/1950, Trần Dụ Châu đã bị tuyên án tử hình.


Thiếu tướng Trần Tử Bình, mất ngày 11/2/1967, tức mồng 3 Tết Đinh Mùi 1967, là một trong 12 vị tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam.  


Bức thư tố cáo của nhà thơ Đoàn Phú Tứ


Một đêm hè 1950, tại Chiến khu Việt Bắc, Thiếu tướng Trần Tử Bình được triệu lên gặp Bác. Bác trao cho ông lá thư của đại biểu Quốc hội Đoàn Phú Tứ: “Đây là bức thư của một nhà thơ gửi lên cho Bác. Bác đã đọc kỹ lá thư này và rất đau lòng!”.


Rồi Bác giao cho Thiếu tướng khẩn trương điều tra vụ việc. Khi đó ông là Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra quân đội.


Tại Đại hội Đảng II tại Chiêm Hoá, Tuyên Quang, tháng 2/1951: Từ trái qua, hàng đứng: Trần Tử Bình, Nguyễn Văn Vịnh, Phan Trọng Tuệ, Bùi Lâm.Hàng ngồi: Đinh Đức Thiện, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng TùngTại Đại hội Đảng II tại Chiêm Hoá, Tuyên Quang, tháng 2/1951: Từ trái qua, hàng đứng: Trần Tử Bình, Nguyễn Văn Vịnh, Phan Trọng Tuệ, Bùi Lâm. Hàng ngồi: Đinh Đức Thiện, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Tùng


Thư có ghi: “Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu gần đây đã gây nhiều dư luận bất bình trong anh em binh sĩ quân đội. Châu đã dùng quyền lực "ban phát" ăn mặc, nên Châu đã giở trò ăn cắp. Cứ mỗi cái màn lính, Châu ăn cắp mất hai tấc vải nên hãy ngồi lên là đầu chạm đỉnh màn. Còn áo trấn thủ, Châu ăn cắp bông lót rồi độn bao tải vào. Nhiều người biết đấy nhưng không ai dám ho he...


Cháu cùng với một đoàn nhà văn đi thăm và úy lạo các đơn vị bộ đội vừa đi đánh giặc trở về. Cháu đã khóc nấc lên khi thấy các chiến sĩ bị thương thiếu thuốc men, bông băng và hầu hết các chiến sĩ đều rách rưới "võ vàng đói rét", chỉ còn mắt với răng mà mùa đông tiết thời chiến khu lạnh lắm, lạnh tới mức nước đóng băng...”.


Sau đó, nhà thơ kể đã được Châu mời dự tiệc cưới của Lê Sĩ Cửu tổ chức ngay chiến khu: “... Trên những dãy bàn dài tít tắp, xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, nấm hương, giò chả, thịt bò thui, rượu tây, cốc thủy tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng. Hoa Ngọc Hà dưới Hà Nội cũng kịp đưa lên. Ban nhạc Cảnh Thân được mời từ Khu Ba lên tấu nhạc réo rắt. Trần Dụ Châu mặc quân phục đại tá choáng lộn, cưỡi ngựa đến dự cưới...”.


Ngạo mạn hơn, Châu mời nhà thơ đọc thơ mừng hôn lễ. Đoàn Phú Tứ với lòng tự trọng của mình đã dũng cảm xuất khẩu: “Bữa tiệc cưới của chúng ta sắp chén đẫy hôm nay được dọn bằng xương máu của các chiến sĩ”.


Tổng Thanh tra quân đội vào cuộc


Ngay hôm sau, Tổng Thanh tra quân đội Lê Thiết Hùng triệu tập cuộc họp “Điều tra vụ tham ô của Đại tá Cục trưởng Quân nhu Trần Dụ Châu”. Tới dự có ông Xuân Thủy và nhà báo Hồng Hà.


Thiếu tướng đọc lại bức thư. Cả hội nghị im lặng. Ông nói tiếp: “Trong hoàn cảnh hiện nay, cách mạng đang đứng trước những thử thách gay go. Địch tập trung phá hoại kinh tế... Trong thời điểm nóng bỏng này, Trần Dụ Châu và đồng bọn lại mặc sức sống phè phỡn, trác táng... Đọc thư này, Bác yêu cầu chúng ta phải điều tra gấp, làm rõ từng vụ việc”.


Ngay hôm sau, cán bộ trong Thanh tra quân đội tỏa về các liên khu.


Trực tiếp Thiếu tướng khoác ba lô xuống đơn vị. Ông gặp gỡ từng cán bộ, chiến sĩ để trò chuyện về đời sống của bộ đội, về cấp phát quân nhu của Châu. Chưa rõ ông thuộc cán bộ cấp nào, nhưng cũng là dịp được bộc bạch nỗi niềm bức xúc bấy lâu…


Tài liệu từ Khu Bốn gửi ra, từ Khu Ba gửi lên, rồi Chiến khu Việt Bắc... Trần Dụ Châu hiện nguyên hình một kẻ gian hùng, trác táng, phản bội lại lòng tin của Đảng, lợi ích Quốc gia.


"Một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ"


Trước vụ việc này, Bác Hồ dứt khoát: "Một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ, không để nó lây lan nguy hiểm".


Ngày 5/9/1950, tại thị xã Thái Nguyên, Tòa án Binh tối cao mở phiên tòa đặc biệt xử Trần Dụ Châu. Chưa đến giờ khai mạc nhưng trong, ngoài đã chật ních người. Tại cửa có căng khẩu hiệu "Nêu cao ánh sáng công lý trong quân đội". Trong phòng xử án treo 2 khẩu hiệu "Quân pháp vô thân!" và "Trừng trị để giáo huấn!".


Đúng 8 giờ, đại diện Chính phủ, quân đội, Tòa án Binh tối cao có mặt. Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế Chánh án cùng 2 Hội thẩm viên: Phạm Học Hải - Giám đốc Tư pháp Liên khu Việt Bắc và Trần Tấn - Cục phó Cục Quân nhu.


Thiếu tướng Trần Tử Bình, đại diện Chính phủ, ngồi ghế Công cáo ủy viên. Tới dự còn có ông Nguyễn Khang - Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu Việt Bắc, Võ Dương - Liên khu hội trưởng Liên khu Việt Bắc; Đỗ Xuân Dung - Giám đốc Công chính Liên khu Việt Bắc; bác sĩ Vũ Văn Cẩn cùng đại biểu quân đội, đại diện các đoàn thể nhân dân và các nhà báo.


Tiếng gọi các bị cáo vang trong phòng họp. Bị cáo Lê Sĩ Cửu vắng mặt vì ốm nặng.


Thiếu tướng Chánh án hỏi các bị cáo. Trần Dụ Châu bước ra trước vành móng ngựa, nói nhiều về công lao với cách mạng và đổ cho lính làm bậy, còn mình không kiểm soát được.


Trước chứng cứ rành rành, Công cáo ủy viên Trần Tử Bình đứng lên đọc bản cáo trạng:


“Thưa Toà, thưa các vị,


Trong tình thế gấp rút chuẩn bị Tổng phản công, mọi người đang nai lưng buộc bụng, tích cực phục vụ kháng chiến. Trước tiền tuyến, quân đội ta đang hy sinh để đánh trận căn bản mở màn cho chiến dịch mới, thì tôi thiết tưởng (mà cũng là lời yêu cầu) Toà dùng những luật hình sẵn có để xử Trần Dụ Châu, và theo chỉ thị căn bản của vị cha già dân tộc là cán bộ cần phải “Cần - Kiệm - Liêm – Chính”. Việc phạm pháp của Trần Dụ Châu xảy ra trong không gian là Việt Bắc, nơi thai nghén nền Độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã làm vẩn đục thủ đô kháng chiến. Để đền nợ cho quân đội, để làm tấm gương cho cán bộ và nhân dân, để cảnh tỉnh những kẻ đang miệt mài nghĩ những phương kế xoay tiền của Chính phủ, những lũ bày ra mưu nọ kế kia, lừa trên bịp dưới, để trừ hết bọn mọt quỹ tham ô, dâm đãng, để làm bài học cho những ai đang trục lợi kháng chiến, đang cậy quyền, cậy thế để loè bịp nhân dân. Bản án mà Toà sắp tuyên bố đây phải là một bài học đạo đức cách mạng cho mọi người, nó sẽ làm cho lòng công phẫn của nhân dân được thoả mãn, làm cho nhân dân thêm tin tưởng nỗ lực hy sinh cho cuộc toàn thắng của nước nhà. Tôi đề nghị...”. Trần Dụ Châu tái mặt, cất giọng yếu ớt xin tha tội. Thiếu tướng Chánh án tuyên bố: “Toà nghỉ 15 phút để nghị án”. Khi Toà trở ra tiếp tục làm việc, Thiếu tướng Trần Tử Bình đọc công lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh: Tước quân hàm đại tá của Trần Dụ Châu. Sau đó, Thiếu tướng Chánh án đứng lên tuyên án: - Trần Dụ Châu can tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến: Tử hình, tịch thu ba phần tư tài sản. Lê Sĩ Cửu, can tội biển thủ công quỹ, thông đồng với bọn buôn bán lậu giả mạo giấy tờ: Tử hình vắng mặt. Hai chiến sĩ công an dẫn Châu rời nơi xử án trở về nhà giam.


 ...


Hồ Chủ tịch bác đơn xin giảm tội của Châu. 6 giờ chiều hôm sau, Trần Dụ Châu được đưa ra trường bắn trước sự có mặt của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan… 


Nhân vụ án Trần Dụ Châu


Xã luận báo Cứu quốc ngày 27/9/1950


Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ làm nhiều điều bỉ ổi đã bị đưa ra trước Tòa án binh tối cao. Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn để đền tội của y.


Trong tình thế kháng chiến và trong giai đoạn quyết liệt hiện nay, vụ án Trần Dụ Châu có một ý nghĩa lớn lao. Nó làm toàn thể nhân dân bằng lòng và thêm tin tưởng ở chính quyền và đoàn thể nhân dân. Nhân dân đã thấy rõ: Chính quyền và đoàn thể không bao giờ dung túng một cán bộ nào làm bậy, dù cán bộ cao cấp đến đâu đi nữa. Vụ án này còn làm vui lòng tất cả những cán bộ Quân nhu ngay thẳng, chí công vô tư, đã không để Trần Dụ Châu lôi cuốn.


Nó đã cho chính quyền và đoàn thể ta nhiều kinh nghiệm trong việc dùng cán bộ, giáo dục và kiểm soát cán bộ.


Có người e ngại: Chúng ta mở toang vụ án này, công khai vạch rõ nhưng tội lỗi nhơ bẩn của Trần Dụ Châu và bè lũ có thể làm một số dân chúng chê trách, hay kẻ địch bám vào đấy để nói xấu chính quyền, đoàn thể ta. Không! Chúng ta không sợ phê bình và tự phê bình những khuyết điểm của ta. Chúng ta khác bọn phản động và hơn hẳn chúng ở chỗ đó. Đấy là một sự khuyến khích nhân dân thẳng thắn, phê bình những sai lầm của cán bộ, của Chính quyền, đoàn thể vì họ đã hiểu chính quyền, đoàn thể ta là chính quyền, đoàn thể của họ và họ nhất định không tha thứ những kẻ nào đi ngược quyền lợi của họ.


Cái chết nhục nhã của Trần Dụ Châu còn là một lời cảnh cáo những kẻ lén lút đang tính chuyện đục khoét công quỹ của Chính phủ, trục lợi của nhân dân. Tất cả những bọn ấy hãy coi chừng dư luận sắc bén của quần chúng và luật pháp nghiêm khắc của Nhà nước nhân dân!


Chúng ta phải thẳng tay vạch mặt và trừng trị những bọn ấy, những kẻ tham ô, hoang phí, những kẻ mưu sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt người khác, để tiến tới xây dựng một nền tảng chính quyền nhân dân thật vững vàng.


Đây không phải là việc riêng của Chính phủ, của đoàn thể mà đấy là bổn phận của tầng lớp đông đảo quần chúng nhân dân chúng ta”.


Cứu Quốc - Báo Công an Nhân dân ngày 24/08/2005.


Lược trích “Trọn đời vì nghĩa cả” - Hoàng Giang Phú


Nguồn: Trần Kháng Chiến, bee.net.vn


Con tướng Trần Tử Bình viết về con cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt


Bạn tôi liệt sĩ Võ Dũng


  - " Năm ngoái bác Sáu Dân cũng đã quy tiên vậy là Võ Dũng cùng ba má và hai em đã mãi mãi yên nghỉ nơi vĩnh hằng..." - anh Trần Kiến Quốc (cựu học sinh trường  thiếu sinh quân Nguyễn VănTrỗi) con trai tướng Trần Tử Bình) kể về liệt sĩ Võ Dũng (con trai cố thủ tướng Võ Văn Kiệt) nhân dịp 27/7.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bảo vệ Tổ quốc Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (thuộc Tổng cục Chính trị QĐNDVN) có 2 thầy giáo và 29 học sinh đã anh dũng hy sinh. Khi sưu tầm tư liệu về nhà trường tôi gặp được Võ Hiếu Dân (em gái liệt sỹ con cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) và ghi được nhiều điều về bạn mà khi cùng học chưa biết.


Võ Dũng tên thật là Phan Chí Dũng sinh 1951 tại Rạch Giá. Cuối những năm 50 thế kỷ trước vì chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man cơ quan Trung ương cục phải tạm lánh sang Phnôm-pênh. Bác Sáu Dân đưa Dũng và Dân theo cùng. Năm 1960 khi vừa 9 tuổi từ Cămpuchia Dũng được tổ chức đưa ra Bắc. Ba má và hai em vẫn ở lại trong Nam (So với chúng bạn thì đây cũng là một thiệt thòi). Ra Bắc Dũng được gửi vào học tại các trường Học sinh miền Nam số 19 21 ở Cầu Rào (Hải Phòng).


Đến năm 1963 Bộ Giáo dục có chủ trương cho những học sinh miền Nam có ba mẹ hoặc người thân ở miền Bắc về sống với gia đình tạo điều kiện cho học sinh được chăm sóc. Dũng được cô Bảy Huệ (vợ bác Nguyễn Văn Linh) nhận về nuôi. Hiếu Dân nhớ lại: "Trong gia đình anh Dũng luôn là người anh hết mực thương yêu và nhường nhịn các em. Em cùng Hòa Bình con cô thường được nghe anh Dũng kể những chuyện trinh thám đầy bí hiểm và hấp dẫn. Anh vừa kể vừa hóa thân thành các hiệp sĩ oai hùng luôn đấu tranh bảo vệ chính nghĩa. Đến năm lớp 4 anh vào học ở trường Nguyễn Trãi Hà Nội".


Võ Dũng là một thanh niên ngang bướng làm lính cơ quan "Khu Bộ" thì rất "ngứa ngáy chân tay". Dũng nói: "Con đâu phải vào đây để đào hầm cho ba". Bác sỹ Nam tâm tình: "Dũng em về đây làm gì? "Dũng trả lời: "Chiến đấu". "Em không thấy bọn anh cũng đang chiến đấu sao?". "Có nhưng cứ toàn chiến đấu trong xó không à". Bác sỹ Nam đành phải nói lại với ông Kiệt. Ông đồng ý. Về đơn vị chiến đấu Võ Dũng nhất quyết đòi phải được bổ vào bộ phận trinh sát. Sáu tháng sau, trong một lần trinh sát một đồn địch nằm trong vùng quê mẹ Rạch Giá Võ Dũng hy sinh. Năm ấy anh chỉ mới vừa tròn 20 tuổi. - Báo Tuổi Trẻ TP.HCM ngày 16/6/2008.


Tháng 5 năm 1965 Dũng nhập trường Thiếu sinh quân tại Hiệp Hòa Hà Bắc. Những năm tháng ở trường Dũng tỏ ra rất hiếu động và nghịch ngợm hay cầm đầu các cuộc vui chơi pha chút mạo hiểm.


Cuối năm 1966 Trung ương cục cử dì Tư - liên lạc viên - về Sài Gòn đón má và hai em lên chiến khu thăm bác Sáu. Để đảm bảo bí mật dì Tư chọn đi chuyến tầu Thuận Phong dành chở vợ con sĩ quan binh lính ngụy lên thăm chồng ở đồn Dầu Tiếng. Thời gian này đang diễn ra trận càn lớn. Đúng ngày 17 tháng 12 địch có lệnh thiết quân luật cấm mọi tàu bè chạy trên tuyến đường sông này.


Thật không may ông chủ tàu Thuận Phong đêm ấy say rượu không hay biết tin. Sáng sau vẫn cho tàu chạy. Rời Sài Gòn được hơn tiếng đồng hồ thì bị đoàn trực thăng yểm trợ bắn xối xả. Trúng đạn tàu chìm dần. Toàn bộ hành khách trên tàu không còn ai sống sót. Ba và các chú đã giấu không cho Dũng và em Dân biết tin này.


Đầu năm 1967 do giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc nên nhà trường được sơ tán sang Quế Lâm Trung Quốc. Lúc bấy giờ Dũng mới láng máng hay tin. Không còn an tâm học hành Dũng nằng nặc xin nhà trường cho về nước. Tháng 3 năm 1968 lên tầu liên vận rời Quế Lâm về nước Dũng được vào rèn luyện tại Trường Quân chính Quân khu Tả ngạn ở Hải Dương.


Cuối năm 1968 Bác Hồ cho đón các cháu học sinh đạt danh hiệu "Cháu ngoan Bác Hồ: Hà Nội - Huế - Sài Gòn" về Dinh Chủ tịch chơi. Là con em miền Nam hai anh em Dũng cũng vinh dự được gặp Bác. Các bạn thiếu nhi phấn khởi quây quần bên Bác. Bác lần lượt chia kẹo cho từng cháu và ân cần hỏi thăm xem học tập ra sao có ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ thầy cô.


Đến lượt Võ Dũng Bác hỏi : "Cháu có ngoan không?"


Dũng khoanh tay lễ phép: "Dạ cháu còn nghịch chưa ngoan ạ!". Bác xoa đầu Dũng: "Giỏi cháu thật thà như vậy là tốt nhưng phải cố gắng lên để bằng các bạn nhé!". Nói rồi Bác chia phần kẹo cho Dũng.


Tháng 8 năm 1969 Dũng tập trung ở Hoà Bình chuẩn bị đi "B". Cô Bảy Huệ cô Tư Duy Liên và em Hiếu Dân lên thăm. Ai cũng lo không hiểu Dũng sẽ ra sao khi vào Nam vì hồi đi học Dũng nghịch ngợm quá. Võ Dũng cười và đã hứa với: "Các cô yên tâm đi con quyết sẽ trả thù cho má và hai em. Các cô sẽ thấy lần này con đi "một - xanh cỏ hai - đỏ ngực"!".


Dũng hồ hởi nhập đoàn quân "xẻ dọc Trường Sơn" về Nam chiến đấu. Trong đoàn còn có vợ chồng anh Long chị Phương. Sau này nghe anh Long kể lại dọc đường hành quân tuy rất vất vả nhưng Dũng rất vui vẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Khi thì đeo hộ ba lô lúc lại đeo thêm khẩu súng tới đâu cũng kể chuyện vui để quên đi vất vả. Tới Đặc khu Sài Gòn - Gia Định Dũng được biên chế vào đơn vị bộ đội thông tin. Do căm thù giặc cộng thêm bản tính hiếu động không muốn ngồi một chỗ Dũng một mực xin về đơn vị chiến đấu.


Đến tháng 6 năm 1971 Dũng được điều về Mặt trận T3 thuộc Khu 9. Tháng 10 năm đó Dũng giấu ba và xin bằng được về trung đội 2 trinh sát (thuộc tiểu đoàn 3). Thấy con trai thủ trưởng quyết tâm quá các chú đành chấp nhận.


Ngày 21 tháng 4 năm 1972 trong một chuyến trinh sát cùng hai đồng đội không may cả nhóm rơi vào ổ phục kích. Địch bất ngờ xả súng. Không kịp phản ứng ba anh em hy sinh trên kênh Tây Ký xã Vĩnh Lộc huyện Hồng Vân tỉnh Rạch Giá. Võ Dũng được chôn cất đúng nơi quê mẹ.


Sau ngày giải phóng tháng 11 năm 1975 Dũng được gia đình và đơn vị cải táng đưa về nghĩa trang An Nhơn Tây huyện Củ Chi. Thật cảm động khi lấy thi hài Dũng lên trong túi quần vẫn còn bịch ni-lông đựng thuốc rê. Nghe Hiếu Dân kể đến đây nhớ lại những ngày học ở trường Dũng là một trong những số ít "tay nghiện" thuốc lá của lớp.


Sau này Dũng đã được đưa về Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh. Tại một điểm không xa cánh trái bức phù điêu lớn ở trung tâm là nơi yên nghỉ của Dũng cùng bia mộ tượng trưng của má Trần Kim Anh và hai em nhỏ. Nấm mộ các liệt sĩ được bố trí chụm lại như những cánh của một bông hoa và mỗi bông hoa là đội hình chiến đấu của một tiểu đội.


Những lần lên thăm chúng tôi luôn đến thắp hương cho Võ Dũng. Năm ngoái bác Sáu Dân cũng đã quy tiên. Vậy là Võ Dũng cùng ba má và hai em đã mãi mãi yên nghỉ nơi vĩnh hằng.


Trần Kiến Quốc


Nguồn: bee.net.vn


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà Triệu - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Triệu Đà - Người lập quốc gia Nam Việt - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Không thể chối bỏ Triệu Đà và nước Nam Việt! - Hà Văn Thùy 21.10.2017
Việt Nam khai quốc: Triệu Đà (chương 1, phần 3) - Keith Weller Taylor 21.10.2017
An Dương Vương và Triệu Vũ Đế, nên thờ ai? - Vũ Bình Lục 21.10.2017
Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.1) - Đặng Hoàng Xa 21.10.2017
Thanh Phương - Cô gái Việt kể lại giây phút rợn người khi chứng kiến tục thiên táng của người Tạng - Tư liệu sưu tầm 20.10.2017
Ải Chi Lăng - Nhiều tác giả 20.10.2017
Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc: Tầm nhìn 30 năm - Tư liệu 18.10.2017
Thác 7 tầng - địa danh kỳ thú còn hoang sơ ở Nghệ An - Nhiều tác giả 18.10.2017
xem thêm »