tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19346806
07.11.2016
Tư liệu
Sân bay quốc tế Narita Nhật bản



Tọa lạc tại Narita, Chiba, Nhật Bản, phía Đông của Vùng Đại Tokyo. Narita phục vụ phần lớn các chuyến bay vận chuyển hành khách đến và đi Nhật Bản và cũng là điểm kết nối hàng không chính giữa châu Á và châu Mỹ. Đây là sân bay tấp nập thứ 2 Nhật Bản, là sân bay vận chuyển hàng hóa lớn thứ 2 Nhật Bản, sân bay vận chuyển hàng hóa tấp nập thứ 3 thế giới. Đây là trung tâm hoạt động quốc tế của các hãng hàng không Japan Airlines và All Nippon Airways, và là một trung tâm khu vực châu Á của các hãng Northwest Airlines và United Airlines. Năm 2007, sân bay này phục vụ 35.530.035 khách, đứng thứ 24 trong bảng xếp hạng các sân bay bận rộn nhất thế giới.


Sân bay này được gọi là Sân bay quốc tế mới Tokyo (tiếng Anh: New Tokyo International Airport' (tiếng Nhật: 新東京国際空港 Shin-Tōkyō Kokusai Kūkō) cho đến năm 2004. Trong khi Tokyo là nguồn cung chính về khách và hàng hóa của sân bay này, sân bay này lại nằm xa trung tâm Tokyo (mất 1h bằng tàu Express) và nằm trong một tỉnh khác. Sân bay quốc tế Tokyo (Sân bay Haneda) nằm ở trong nội thành Tokyo là sân bay bận rộn nhất ở Nhật Bản và là sân bay tấp nập thứ tư thế giới dù nó phục vụ rất ít chuyến bay quốc tế.


Việc xây dựng và mở rộng sân bay này đã dấy lên tranh chấp bạo loạn giữa chính phủ và nhân dân Nhật Bản. Do những tranh chấp này, các sân bay mới khác như ở Osaka và Nagoya là các sân bay (Kansai và sân bay Chūbu đã được xây ở các đảo lấn biển thay vì xây trong khu dân cư đông đúc.


Năm 1962, chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu một phương án mới thay thế sân bay Haneda đang quá tải và đề xuất một "Sân bay quốc tế mới Tokyo" để thay thế Haneda tiếp nhận các chuyến bay quốc tế. Tokyo sau chiến tranh đã phát triển nhanh chóng đã khiến cho vùng Quan Đông thiếu đất bằng phẳng để xây sân bay, do đó nơi được lựa chọn là ở tỉnh Chiba. Đầu tiên, các nhà khảo sát đề xuất đặt sân bay ở làng Tomisato; tuy nhiên, địa điểm đã được dời 5 km phía Đông-Bắc của các làng Sanrizuka và Shibayama, nơi Hoàng Gia có một nông trại. Kế hoạch triển khai đã được công bố năm 1966.


Vào thời gian này, phong trào chủ nghĩa xã hội vẫn có sức mạnh đáng kể ở Nhật Bản, thể hiện qua các cuộc bạo loạn của sinh viên ở Tokyo năm 1960. Ngoài ra, những người dân số ở khu vực được lựa chọn xây sân bay này đã sinh sống ở đây đã lâu và không muốn rời bỏ quê cha đất tổ của mình nên nhiều người Nhật "cánh tả mới" phản đối việc xây dựng sân bay Narita với lý do là mục đích chính của việc xây sân bay này là cung cấp thêm phương tiện cho máy bay quân đội Hoa Kỳ trong trường hợp có chiến tranh với Liên Xô. Cuối thập niên 60 của thế kỷ 20, một nhóm các cư dân địa phương phối hợp với các nhà hoạt động sinh viên và các đảng chính trị cánh tả đã lập nên một nhóm mang tên "Liên hiệp Sanrizuka-Shibayama chống lại sân bay Sanrizuka-Shibayama Union to Oppose the Airport (三里塚・芝山連合空港反対同盟 Sanrizuka-Shibayama Rengo Kūkō Hantai Dōmei?), sử dụng sự phối hợp giữa kêu gọi dân chúng, kiện ra tòa và chiến thuật chiến tranh du kích để ngăn cản chính phủ phát triển dự án.


Theo quy hoạch ban đầu, Sân bay quốc tế Tokyo có 3 đường băng: hai đường băng Tây Bắc/Đông Nam song song dài 4000 m và một đường băng giao cắt Đông Bắc/Tây Nam dài 3200 m. Khi sân bay khánh thành năm 1978, chỉ một trong hai đường băng song song đã được hoàn thành, hai đường kia bị trì hoãn để tránh làm trầm trọng thêm tình hình vốn đang căng thẳng ở khu vực xung quanh. Quy hoạch ban đầu cũng có tuyến đường ray cao tốc Narita Shinkansen nối sân bay với trung tâm Tokyo nhưng dự án này bị hủy bỏ do không đền bù đủ đất. Ngày 26 tháng 11 năm 1986, cơ quan quản lý sân bay này bắt đầu thực hiện giai đoạn 2, một đường băng nằm về phía Bắc của đường băng chính ban đầu. Để tránh các vấn đề gặp phải như giai đoạn 1, Bộ Giao thông Vận tải Nhật Bản đã hứa năm 1991 rằng việc mở rộng này sẽ không liên quan tới việc tước đoạt đất đai. Những người dân ở khu vực xung quanh đã được đền bù do ô nhiễm tiếng ồn và âm thanh từ công trường dù một số nông dân từ chối đi bị cưỡng chế. Đường băng này được mở cửa ngày 18 tháng 4 năm 2002, kịp cho World Cup tổ chức tại Nhật Bản năm đó. Tuy nhiên, đường băng này chỉ dài 2180 m, chỉ hơn ½ độ dài theo quy hoạch ban đầu, quá ngắn cho tàu bay Boeing 747 cất hạ cánh. Giai đoạn 2 cũng bao gồm việc xây một nhà ga hành khách do Công ty Takenaka xây dựng xong ngày 6 tháng 12 năm 1992.


Suốt cuối thập niên 1980, nhà ga xe lửa chính củaq Sân bay Narita nằm khá xa nhà ga. Bộ trưởng Giao thông Nhật Shintaro Ishihara, người hiện nay là thống đốc Tokyo, đã yêu cầu công ty vận hành tuyến tàu hỏa sân bay là JR và Keisei Railway nối tuyến này trực tiếp vào các nhà ga sân bay và mở nhà ga ngầm để phục vụ tàu Shinkansen đến tận nhà ga. Dịch vụ tàu điện shinkansen trực tiếp đã đến nhà ga ngày 19 tháng 3 năm 1991 và Nhà ga tàu hỏa Narita cũ được đổi tên thành Ga Higashi-Narita.


Cuối thập niên 1980, Liên hiệp (của những người phản đối) xây hai tháp bằng thép cao 30,8 m và 62,3 m phong tỏa đầu phía Bắc của đường băng chính. Tháng 1 năm 1990, Tòa án quận Chiba đã ra lệnh tháo dỡ hai tháp thép này mà không bồi thường cho Liên hiệp; Tòa án Tối cao Nhật Bản đã tán thành phán quyết này là hợp hiến năm 1993.


Ngày 1 tháng 4 năm 2004, Sân bay quốc tế mới Tokyo đã được tư nhân hóa và chính thức đổi tên thành Sân bay quốc tế Narita, phản ánh mệnh danh nổi tiếng của nó kể từ khi mở cửa. Sau khi tư nhân hóa, sân bay này đã đạt được mức vận tải kỷ lục và nhiều dự án xây dựng được tiếp tục.


Ngoài những tranh chấp chính trị tiếp diễn giảm dần tích ác liệt theo thời gian, các tranh cãi về vị trí và phí hạ cánh đã ảnh hưởng xấu đến sân bay này. Do nhiều hãng hàng không muốn sử dụng nó còn Cục hàng không Nhật Bản lại hạn chế số chuyến bay của mỗi hãng hàng không hoạt động tại đây khiến cho sân bay này đắt đỏ đối với hãng hàng không và hành khách. Một trong những chỉ trích không ngớt về sân bay này là khoảng cách xa trung tâm Tokyo, đi bằng tàu cao tốc nhanh nhất cũng phải mất 1 tiếng và mất thời gian lâu hơn nếu đi bằng đường bộ do nạn kẹt xe. Khoảng cách này càng trở thành vấn đề hơn đối với vùng Tây Tokyo và Tỉnh Kanagawa, cả hai gần Sân bay Haneda hơn. Tuyến Đường sắt Nhanh Narita, dự kiến hoàn thành và mở của năm 2010 sẽ làm giảm thời gian đi bớt 20 phút. Nhiều cổng tại nhà ga Narita đang được lắp đặt cầu dẫn khách đôi để phục vụ tàu bay khổng lồ Airbus A380. Singapore Airlines dự định bay bằng tàu bay A380 đầu tiên đến Narita vào mùa Hè năm 2007. [1]


Dù Bộ Đất đai, Hạ tầng và Giao thông đã cho Sân bay Narita độc quyền phục vụ khách quốc tế đến vùng Tokyo, sự độc quyền này đang dần giảm đi. Sân bay Haneda có một số chuyến bay quốc tế hạn chế đi Đài Loan và sau đó được thay bằng các chuyến đi Sân bay Gimpo ở Seoul. Sau khi xây xong đường băng D ở Haneda năm 2009, chính phủ Nhật Bản có ý định chuyển các chuyến bay quốc tế khác đến Haneda để giảm tải cho Narita. Nhiều kế hoạch xây sân bay thứ 3 cho Tokyo đã được đề xuất, sân bay mới này có thể nằm ở Bãi biển Kujukuri ở Đông Chiba hoặc trên một hòn đảo nhân tạo ở Vịnh Tokyo.


Sân bay Narita có hai nhà ga riêng biệt với một nhà ga xe lửa ngầm. Giữa các nhà ga hàng không là xe bus và xe lửa, không có lối đi dành cho người đi bộ nối hai nhà ga.


Hãng hàng không          Điểm đến          Nhà ga/


Hành lang


Aeroflot            Moscow-Sheremetyevo 1 Bắc


Aeroflot


vận hành bởi Aurora      Vladivostok[2]


Thuê chuyến: Yuzhno-Sakhalinsk            1 Bắc


Aeroméxico1     Thành phố Mexico         1 Bắc


AirAsia X          Kuala Lumpur[3]            2


Air Busan          Busan   1 Nam


Air Canada        Calgary, Vancouver


Theo mùa: Toronto-Pearson       1 Nam


Air China           Bắc Kinh-Thủ đô, Đại Liên, Thượng Hải-Phố Đông          1 Nam


Air France         Paris-Charles de Gaulle  1 Bắc


Air India            Delhi     2


Air Macau         Macau  2


Air New Zealand            Auckland


Theo mùa: Christchurch 1 Nam


Air Niugini         Port Moresby    2


Air Tahiti Nui      Papeete            2


Aircalin Nouméa            1 Bắc


Alitalia  Milan-Malpensa, Rome-Fiumicino, Venice-Marco Polo (ngưng từ 29/3/2015)[4]     1 Bắc


All Nippon Airways        Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh-Thủ đô, Thành Đô, Chicago-O'Hare, Delhi, Düsseldorf, Fukuoka, Quảng Châu, Hàng Châu, Houston-Intercontinental (bắt đầu từ ngày 12 tháng 6 năm 2015),[5] Jakarta-Soekarno-Hatta, Kuala Lumpur (tiếp tục từ 1/9/2015),[6] Los Angeles, Manila, Mumbai, Naha, New York-JFK, Niigata, Osaka-Itami, Paris-Charles de Gaulle, Thanh Đảo, San Francisco, San Jose (CA), Sapporo-Chitose, Seattle/Tacoma, Thượng Hải-Phố Đông, Thẩm Dương, Singapore, Washington-Dulles, Hạ Môn, Yangon            1 Nam


All Nippon Airways


vận hành bởi ANA Wings           Nagoya-Centrair, Sendai            1 Nam


All Nippon Airways


vận hành bởi Air Japan  Đại Liên, Tp Hồ Chí Minh, Hong Kong, Honolulu, Đài Bắc-Đào Viên          1 Nam


ANA Connection


vận hành bởi Ibex Airlines          Hiroshima, Komatsu      1 Nam


Asia Atlantic Airlines      Bangkok-Suvarnabhumi 2


American Airlines           Chicago-O'Hare, Dallas/Fort Worth, Los Angeles            2


Asiana Airlines  Seoul-Incheon   1 Nam


Austrian Airlines            Vienna (resumes 1 Tháng 4 năm 2015)    1 Nam


Austrian Airlines


vận hành bởi Tyrolean Airways   Vienna (ngưng từ ngày 31 Tháng 3 năm 2015)    1 Nam


British Airways  London-Heathrow          2


Cathay Pacific   Hong Kong, Đài Bắc-Đào Viên   2


Cebu Pacific     Cebu (bắt đầu từ ngày 26 Tháng 3 năm 2015),[7] Manila  2


China Airlines    Honolulu, Cao Hùng, Đài Bắc-Đào Viên  2


China Eastern Airlines    Bắc Kinh-Thủ đô, Nam King, Thượng Hải-Phố Đông        2


China Southern Airlines  Trường Xuân, Đại Liên, Quảng Châu-Bạch Vân, Cáp Nhĩ Tân (tiếp tục từ 30 tháng 3 năm 2015),[8] Thẩm Dương    1 Bắc


Delta Air Lines   Atlanta, Bangkok-Suvarnabhumi, Detroit, Guam, Honolulu, Koror, Los Angeles, Manila, Minneapolis/Saint Paul, New York-JFK, Portland (OR), Saipan, Seattle/Tacoma, Thượng Hải-Phố Đông, Singapore, Đài Bắc-Đào Viên          1 Bắc


Eastar Jet         Seoul-Incheon   2


Emirates           Dubai-International         2


Ethiopian Airlines          Addis Ababa (bắt đầu từ ngày 20/4/2015)[9]       1 Nam


Etihad Airways  Abu Dhabi        1 Nam


EVA Air            Cao Hùng, Đài Bắc-Đào Viên     1 Nam


Finnair  Helsinki 2


Garuda Indonesia          Denpasar/Bali   1 Bắc


Hong Kong Express Airways     Hong Kong[10]  2


Japan Airlines   Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh-Thủ đô, Boston, Busan, Chicago-O'Hare, Đại Liên, Delhi, Frankfurt, Fukuoka, Guam, Quảng Châu-Bạch Vân, Hà Nội, Helsinki,[11] Tp Hồ Chí Minh, Hong Kong, Honolulu, Jakarta-Soekarno-Hatta, Cao Hùng, Kuala Lumpur, Los Angeles, Manila, Moscow-Domodedovo, Nagoya-Centrair, New York-JFK, Osaka-Itami, Paris-Charles de Gaulle, San Diego, Sapporo-Chitose, Seoul-Incheon, Thượng Hải-Phố Đông, Singapore, Sydney, Đài Bắc-Đào Viên, Vancouver            2


Japan Airlines


vận hành bởi Japan Transocean Air        Naha     2


Jeju Air Seoul-Incheon   2


Jet Asia Airways            Bangkok-Suvarnabhumi 2


Jetstar Airways  Cairns, Gold Coast, Melbourne, Sydney 2


Jetstar Japan    Fukuoka, Kagoshima, Kumamoto,[12] Matsuyama, Naha, Ōita, Osaka-Kansai, Sapporo-Chitose, Takamatsu            2


KLM     Amsterdam       1 Bắc


Korean Air         Busan, Honolulu, Jeju, Seoul-Incheon     1 Bắc


Lufthansa          Frankfurt           1 Nam


Malaysia Airlines           Kota Kinabalu, Kuala Lumpur     2


MIAT Mongolian Airlines            Ulaanbaatar       1 Nam


Pakistan International Airlines     Bắc Kinh-Thủ đô, Islamabad, Karachi, Lahore     2


Peach   Osaka-Kansai, Sapporo-Chitose (từ 29/3/2015),[13] Fukuoka (bắt đầu từ ngày 29 tháng 3 năm 2015)        1 Nam


Philippine Airlines          Cebu, Manila     2


Qantas  Brisbane (tiếp tục từ ngày 1 tháng 8 năm 2015),[14] Sydney (ngừng từ 31/7/2015)[15]      2


Qatar Airways    Doha    2


S7 Airlines        Khabarovsk, Vladivostok           2


Scandinavian Airlines     Copenhagen


Theo mùa: Bergen         1 Nam


Scoot   Singapore, Đài Bắc-Đào Viên     2


Singapore Airlines         Los Angeles, Singapore            1 Nam


Spring Airlines Japan     Hiroshima, Saga, Takamatsu[16]            2


SriLankan Airlines          Colombo-Bandaranaike 2


Swiss International Air Lines       Zürich   1 Nam


Thai AirAsia X   Bangkok-Don Mueang   2


Thai Airways      Bangkok-Suvarnabhumi 1 Nam


TransAsia Airways         Đài Bắc-Đào Viên          2


Turkish Airlines  IstanbulIstanbul-Atatürk  1 Nam


United Airlines   Chicago-O'Hare, Denver, Guam, Honolulu, Houston-Intercontinental, Los Angeles, Newark, San Francisco, Seoul-Incheon, Singapore, Washington-Dulles    1 Nam


Uzbekistan Airways       Tashkent[17]     1 Nam


Vanilla Air         Amami Oshima, Hong Kong,[18] Cao Hùng,[18] Naha, Sapporo-Chitose, Seoul-Incheon (ngừng từ 29/3/2015), Đài Bắc-Đào Viên          2


Vietnam Airlines            Đà Nẵng, Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh           1 Bắc


^1 Chuyến bay của Aeroméxico từ Thành phố Mexico đến Narita dừng ở Monterrey, nhưng chuyến bay từ Narita đến Thành phố Mexico là bay thẳng.


Hãng hàng không          Điểm đến


Air China Cargo Thượng Hải-Phố Đông


Air France Cargo           Paris-Charles de Gaulle


Air Hong Kong  Hong Kong


AirBridgeCargo Airlines  Amsterdam, Moscow-Sheremetyevo


ANA Cargo       Bangkok-Suvarnabhumi, Đại Liên, Hong Kong, Jakarta-Soekarno-Hatta,[19] Okinawa, Osaka-Kansai, Seoul-Incheon, Thượng Hải-Phố Đông, Singapore, Đài Bắc-Đào Viên, Hạ Môn


Cargo Garuda Indonesia            Jakarta-Soekarno-Hatta


Cathay Pacific   Hong Kong


China Airlines Cargo      Đài Bắc-Đào Viên


China Cargo Airlines      Thượng Hải-Phố Đông


Emirates SkyCargo       Dubai-Al Maktoum[20]


FedEx Express Anchorage, sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu, Memphis, Oakland


Hong Kong Airlines Cargo         Hong Kong


KLM Cargo       Amsterdam


Korean Air Cargo           Seoul-Incheon


Lufthansa Cargo            Frankfurt


MASkargo        Johor Bahru, Kuala Lumpur, Penang


Nippon Cargo Airlines    Amsterdam, Anchorage, Bangkok-Suvarnabhumi, Bắc Kinh-Thủ đô, Chicago-O'Hare, Dallas/Fort Worth, Hong Kong, Los Angeles, Milan-Malpensa, Nagoya-Centrair, New York-JFK, Osaka-Kansai, San Francisco, Seoul-Incheon, Thượng Hải-Phố Đông, Thiên Tân


Singapore Airlines Cargo           Bangkok-Suvarnabhumi,[21] Singapore


Southern Air      Anchorage, Chicago-O'Hare, Seoul-Incheon


Swiss WorldCargo         Zürich


Thai Cargo        Bangkok-Suvarnabhumi, Đài Bắc-Đào Viên


UPS Airlines      Clark, Louisville, Ontario, Thượng Hải-Phố Đông


Yanda Airlines   Bangkok-Suvarnabhumi


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]


^ a ă <NARITA AIRPORT TRAFFIC STATISTICS -2015(JAN-DEC)


^ http://airlineroute.net/2014/07/22/suhz-vvonrthkg-jul14/


^ “Yahoo”. Yahoo. Truy cập 14 tháng 10 năm 2015.


^ “Alitalia Closes Venice - Tokyo Reservations in S15”. Airline Route. 27 Tháng 10 năm 2014. Truy cập 30 Tháng 10 năm 2014.


^ “Japanese carrier to offer Houston-Tokyo flights”. Houston Chronicle. Ngày 11 tháng 12 năm 2014. Truy cập 11 tháng 12 năm 2014.


^ “ANA S15 International Operation Changes”. Airline Route. 21 Tháng 1 năm 2015. Truy cập 21 tháng 1 năm 2015.


^ “Cebu Pacific to launch direct Cebu-Tokyo flights”. www.cebupacificair.com. Cebu Pacific. 27 Tháng 10 năm 2014. Truy cập 27 Tháng 10 năm 2014.


^ “China Southern Resumes Harbin – Tokyo Service from late-Tháng 3 năm 2015”. airlineroute. 17 Tháng 2 năm 2015. Truy cập 17 Tháng 2 năm 2015.


^ “Ethiopian to Start flights to Tokyo” (Thông cáo báo chí). Ethiopian Airlines. 11 Tháng 1 năm 2015. Truy cập 11 Tháng 1 năm 2015.


^ “Hong Kong Express to Start Tokyo Narita Service from Dec 2014”. Airline Route. 9 Tháng 10 năm 2014. Truy cập 10 Tháng 10 năm 2014.


^ “Japan Airlines to offer easier access to Europe with new services to Helsinki”. Japan Airlines. 30 Tháng 4 năm 2013. Truy cập 1 Tháng 5 năm 2013.


^ “Jetstar Japan to Start Kumamoto Service from late-Oct 2014”. Airlineroute.net. 21 Tháng 8 năm 2014. Truy cập 21 Tháng 8 năm 2014.


^ “Japanese LCC Peach unveils Tokyo Narita base plans”. ch-aviation. Truy cập 14 tháng 10 năm 2015.


^ http://www.qantasnewsroom.com.au/media-releases/qantas-to-launch-non-stop-services-from-brisbane-to-tokyo


^ “Qantas to start daily Brisbane-Tokyo flights from August”. Australian Business Traveller. Truy cập 14 tháng 10 năm 2015.


^ “Spring Airlines Japan delays launch until August 1”. ch-aviation. Truy cập 14 tháng 10 năm 2015.


^ “Uzbekistan Airways Revises Tokyo Narita Suspension in W13”. Airline Route. 1 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013.


^ a ă http://airlineroute.net/2014/09/11/jw-hkgkhh-w14/


^ “Expand Freighter Network from May 14th, 2014”. ANA Cargo. 30 Tháng 4 năm 2014. Truy cập 20 Tháng 5 năm 2014.


^ “Emirates SkyCargo Freighter Operations get ready for DWC move”. Emirates SkyCargo. 2 Tháng 4 năm 2014.


^ SIA Cargo Starts Freighter Services to Tokyo Narita via Bangkok and Taipei | The Manila Bulletin Newspaper Online


wikipedia


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Từ Hồ Biểu Chánh đến Khái Hưng - Thụy Khuê 26.05.2017
Việt Nam vay lớn từ 3 chủ nợ chính - Tư liệu 25.05.2017
Trung Quốc mộng thực sự của ông Tập: Một Trung Quốc đế quốc? - Trương Phong (Feng Zhang) 25.05.2017
Trung Quốc và thách thức từ các “Con đường tơ lụa” - Xue Li (Lý Tuyết) 25.05.2017
Mổ xẻ siêu quyền lực của Tập Cận Bình - RODERICK Macfarquhar 25.05.2017
Nhân tố Dalai Lama trong quan hệ Trung – Ấn - Tư liệu 25.05.2017
Nam man tây nam liệt truyện - Trương Thái Du 24.05.2017
Lịch sử thực dân các bộ tộc Ai Lao của nhà Hán - Trương Thái Du 24.05.2017
Biểu tượng Rồng – Tiên trong sử Việt - Trương Thái Du 24.05.2017
“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”? - Trương Thái Du 24.05.2017
xem thêm »