tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18950681
Những bài báo
22.10.2016
Nhiều tác giả
Những bài báo về nhà văn, nhà báo, Dịch giả nữ, người Mỹ: Lady Borton



Lady Borton: Tôi là người Mỹ trung thực


“Đất nước Mỹ chúng tôi cũng có rất nhiều những thanh niên bị Mỹ ép, bắt đi lính hoặc có một số ít họ đi lính tự nguyện. Nhưng nhiều người trong số đó họ đã không trở về, hoặc họ bị thương, bị tàn tật hoặc họ bị mất tích... Là một người phụ nữ Mỹ trung thực, tôi cũng rất đau xót. Chiến tranh đã kết thúc ở Việt Nam 35 năm nay nhưng nỗi đau của người Mỹ vẫn chưa nguôi” - bà Lady Borton tâm sự.


Bà Lady Borton là nhà văn, nhà báo, nhà từ thiện người Mỹ, đã có nhiều lần đến với Việt Nam. Vừa qua, bà đã dịch một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng nước ngoài. Trong đó có tác phẩm "Vừa đi đường vừa kể chuyện”. Bà còn là tác giả của cuốn sách "Tiếp sau nỗi buồn" và cuốn "Cảm nhận kẻ thù". Bà đã cùng với nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc biên soạn một số đầu sách tham khảo bằng hai thứ tiếng và dịch cuốn "Điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cuốn "Tây Nguyên ngày ấy" ra tiếng Anh.


Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2010), và sắp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21-6, cộng tác viên Chuyên đề ANTG có cuộc trò chuyện với bà Lady Borton.


- Nhân dịp Hà Nội chuẩn bị kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, đến với Thăng Long lần này bà có cảm nhận gì?


- Tôi cũng không nhớ rõ, lần này là lần thứ bao nhiêu tôi đến với Hà Nội và đến với Việt Nam. Chỉ biết rằng lần đầu tiên tôi đặt chân đến Việt Nam đó là năm 1969. Sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất đất nước (1975), tôi cũng vinh dự được có mặt trong những ngày lịch sử ấy. Khi thì là thành viên đại diện cho một tổ chức Mỹ vì hòa bình, khi thì với tư cách là một thành viên trong phái đoàn giáo dục của Mỹ. Có lúc tôi lại đến Việt Nam với tư cách của một nhà văn, một nhà báo tự do, một nhà dịch thuật...


Như vậy, tôi đã biết Hà Nội từ khi đất nước Việt Nam đang có chiến tranh (ở miền Nam). Hồi đó, Hà Nội đã có hòa bình rồi, nhưng đường phố rất hiếm xe ôtô. Khi nào xuất hiện trên đường có chiếc xe ôtô thì đó là xe của một ông bộ trưởng nào đó hoặc xe của khách nước ngoài. Tôi còn nhớ như in, lúc đó mọi ngả đường của Hà Nội hoàn toàn chỉ có xe đạp và xe xích lô, thậm chí có cả xe bò, đường phố Hà Nội cũng rất ít đèn xanh đèn đỏ. Những người dân lúc đó cũng không ai có điện thoại, đời sống của họ còn rất nghèo. Trong con mắt của người nước ngoài, tôi thấy Hà Nội lúc đó còn quá thiếu thốn.


Bây giờ, đến Hà Nội, tôi không khỏi ngạc nhiên trước sự đổi thay nhanh chóng. Hà Nội rất hiện đại, nhất là hệ thống thông tin. Có thể nói, so với các nước đang phát triển, Hà Nội không thiếu một thứ gì. Hồi đó, giao lưu văn hóa với người nước ngoài cũng còn có những khoảng cách nhất định. Bây giờ, sự giao tiếp với người nước ngoài trở thành mối quan hệ rất thân thiện và hào hiệp. Người dân Hà Nội vừa giữ được truyền thống văn hóa lâu đời, vừa có cuộc sống phát triển phong phú và đa dạng.


Lần nào đến Việt Nam, tôi cũng đến Văn Miếu, đó là nơi lưu giữ chiếc nôi văn hóa cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Nền văn hóa của Việt Nam rất lâu đời, độc đáo và đặc sắc. Những gương mặt của người Hà Nội hôm nay, mặc dù còn bị "hút" vào dòng chảy lo toan của đời thường nhưng đã toát lên vẻ tươi vui rạng rỡ. Tuy nhiên vì bận rộn, mọi người lao vào dòng chảy của đời sống công nghiệp, nhưng có lẽ cũng ít nhiều mất đi mối quan hệ láng giềng thân thiện giữa con người với con người.


- Vì sao bà không chọn các nước khác mà lại chọn Việt Nam làm điểm đến của mình?


- Có thể nói, lý do thứ nhất là thời chiến tranh, tôi cũng là một thành viên trong ban tổ chức phụ trách dự án "Vì hòa bình" ở Việt Nam. Chúng tôi cung cấp các thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh cho Bệnh viện Việt - Đức, Bệnh viện Bạch Mai và một số trang bị y tế cho người dân. (Thông qua con đường ở Campuchia). Hồi đó chúng tôi cũng có một trung tâm đào tạo chỉnh hình ở Quảng Ngãi. Dự án đó đến nay vẫn còn. Nhưng trung tâm đó đã chuyển vào Quy Nhơn từ khá lâu rồi. Khi đó, với tư cách là một người quản lý, tôi thường xuyên tiếp xúc với người dân Việt Nam để hiểu được nỗi đau khổ của người dân trong chiến tranh. Tôi cũng thấu hiểu sự mất mát đau thương của cả người Mỹ khi họ tham gia cuộc chiến tranh này.


Hai là, có những cuộc tiếp xúc với người Việt, được người Việt mời, được tổ chức mời. Điều đó đã mở ra một cơ hội mới cho sự quan hệ. Được gặp nhiều bạn bè như nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà báo Hữu Ngọc (tôi gặp ông ấy từ năm 1975), nguyên là Giám đốc của Nhà xuất bản Thế giới. (Năm nay ông Hữu Ngọc đã 92 tuổi và vẫn thường xuyên cộng tác với tôi). Đặc biệt khi được gặp các bạn ở Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Việt Mỹ thuộc Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị ở Việt Nam, tôi thấy rất thân thiện và quý trọng họ.


Vì yêu quý Việt Nam, tôi đã tự học tiếng Việt từ năm 1969. Tiếng Việt vừa hay vừa phong phú và cũng rất khó nhưng để hiểu người Việt tôi đã nói, viết được tiếng Việt (cười). Cũng rất may do viết và nói được bằng tiếng Việt mà tôi đang giới thiệu với Nhà xuất bản Thế giới một nhân vật lịch sử của Việt Nam, đó là ông Nguyễn Hữu Thái. Ông Thái hiện nay là chuyên gia ở Đà Nẵng. Ngày 30/4/1975, ông đã có mặt tại Dinh Độc Lập.


- Ngoài cương vị là một nhà văn, nhà báo nữ, bà còn là một người mẹ. Khát vọng lớn nhất của phụ nữ là khát vọng về hạnh phúc và khát vọng về hòa bình. Song, thực chất đôi khi khát vọng đó lại mâu thuẫn với thực tế. Bà có suy nghĩ gì về vấn đề này?


- Có thể nói, tôi là một người phụ nữ Mỹ trung thực. Nỗi kinh hoàng nhất của tôi là sợ chiến tranh. Dù rằng ở bất kỳ gia đình nào, dân tộc nào, quốc gia nào thì chúng ta cũng đều rất căm ghét chiến tranh. Sự tàn phá của chiến tranh thật man rợ,  khủng khiếp. Chiến tranh là: vợ mất chồng, mẹ mất con, người thân mất người thân... Đặc biệt sự tàn phá về chất độc da cam đối với hàng triệu con người thật là khủng khiếp. Vấn đề bom mìn còn sót lại trong lòng đất cũng còn gây biết bao nhiêu nguy hiểm đối với tính mạng của con người.


Bản thân tôi là một thành viên trong tổ chức phi chính phủ chống lại chiến tranh, dù rằng chiến tranh đó xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào. Vì một chiến tranh này sẽ sinh ra một chiến tranh khác. Chẳng hạn, chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã kết thúc vào năm 1975, nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh đó vẫn chưa kết thúc. Thực chất, nước Mỹ chúng tôi đã đi một con đường khác để ép Việt Nam, lý do cấm vận, việc Mỹ ủng hộ Khơme Đỏ để xâm lược vào miền Nam Việt Nam. Vấn đề chất độc da cam ở Việt Nam, theo tôi Chính phủ Mỹ nên thừa nhận lỗi lầm này...


Đất nước Mỹ chúng tôi cũng có rất nhiều những thanh niên bị Mỹ ép, bắt đi lính hoặc có một số ít họ đi lính tự nguyện. Nhưng nhiều người trong số đó họ đã không trở về, hoặc họ bị thương, bị tàn tật hoặc họ bị mất tích... Là một người phụ nữ Mỹ trung thực, tôi cũng rất đau xót. Chiến tranh đã kết thúc ở Việt Nam 35 năm nay nhưng nỗi đau của người Mỹ vẫn chưa nguôi.


- Vậy đến với Việt Nam lần này, thông điệp lớn nhất của bà là gì?


- Một là: tôi rất buồn vì vấn đề tham nhũng hiện nay dù nó diễn ra ở bất kỳ quốc gia nào. Tôi cho là những người dân lương thiện thì họ rất tốt còn vấn đề tham nhũng lại rơi vào những người có chức, có quyền. Nếu không giải quyết tận gốc vấn đề này thì mất nước vẫn là một nguy cơ không nhỏ... Hai là, tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em cũng còn là một vấn đề nhức nhối. Vấn đề đi lao động nước ngoài cũng cần phải nghiên cứu cẩn thận. Trong việc cải cách hệ thống giáo dục cũng còn nhiều bức xúc như vấn đề dạy thêm, học thêm. Vấn đề thu tiền của học sinh chưa hẳn đã hợp lệ...


- Là một nhà báo nhưng còn là một dịch giả, điều gì đã thôi thúc bà dịch một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng nước ngoài?


- Qua nhiều lần được đến Việt Nam tôi đã có dịp đọc 12 cuốn sách giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi thấy Hồ Chí Minh vừa là nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà văn hóa, nhà thơ. Ở nước Mỹ, chính phủ chúng tôi thời chiến tranh cũng đã đào tạo và giáo dục người Mỹ ghét những người đi theo Cộng sản. Nhưng khi tôi có mặt ở Việt Nam (năm 1969, khi Hồ Chí Minh mất). Tôi rất lấy làm lạ khi Hồ Chí Minh mất thì kể cả những người đi theo chế độ cũ họ cũng khóc, họ cũng rất buồn... Tại sao như thế? Đó là điều tôi rất ngạc nhiên. Ở Việt Nam, vẫn còn những người có thời kỳ họ đã làm việc cùng thời với Hồ Chí Minh, họ kể chuyện về Hồ Chí Minh. Tôi vỡ lẽ ra Hồ Chí Minh là người cha, người thầy vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới...


Không có một quốc gia nào trên trái đất này, Chủ tịch nước lại được gọi bằng tiếng thân mật "Bác". Nếu Việt Nam không có Hồ Chí Minh thì cách mạng rất khó thành công. Tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chí Minh là "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công"; "Không có gì quý hơn độc lập tự do!". Suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh vì độc lập tự do của một đất nước là hoàn toàn đúng. Việt Nam là một nước thuộc địa đầu tiên ở Đông Nam Á đứng lên giành quyền độc lập dân tộc, điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Và ảnh hưởng của Hồ Chí Minh như vậy thì lãnh đạo của các nước Mỹ, Pháp, Anh... Hà Lan (nước mẹ đẻ của Indonesia) học cũng rất nể trọng.


Hồ Chí Minh cũng đã có nhiều tác phẩm có tính tư tưởng sâu sắc mà tôi muốn giới thiệu để thế giới hiểu về Hồ Chí Minh và hiểu về dân tộc Việt Nam. Đó là một số tác phẩm: "Nhật ký trong tù"; "Bản án chế độ thực dân Pháp"; "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến"; "Thư gửi cho đồng bào trong việc hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc"; "Thư chào mừng năm mới gửi nhân dân Mỹ" (1966); "Bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh"...


Lúc nào, ở đâu, bao giờ Hồ Chí Minh cũng đặt tình hữu nghị đoàn kết giữa nhân dân các nước lên trên hết, Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân Việt Nam sẽ trường kỳ kháng chiến để bảo vệ nền độc lập dân tộc.


- Xin cảm ơn bà Lady Borton đã có cuộc trò chuyện thân mật này!


Trần Thị Nương thực hiện


antg.cand.com.vn


Nhà văn Mỹ Lady Borton kể về Tướng Giáp


Bà Lady Borton, nhà văn Mỹ từng dịch nhiều cuốn sách về đại tướng Võ Nguyên Giáp, nói rằng các bạn Việt Nam "thật tự hào vì có một vị tướng huyền thoại".


Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong mắt các học giả quốc tế/  Tướng Giáp - Bậc thầy nghệ thuật quân sự


Lady Borton, Nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, nhà từ thiện, Dịch giả người Mỹ là một người gắn bó với Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1969, bà là nhà văn Mỹ duy nhất có mặt ở cả hai miền Nam - Bắc thời chiến tranh.


Năm 2004, bà hoàn tất bản dịch tiếng Anh cuốn hồi ức "Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 2008, bà dịch xong cuốn "Võ Nguyên Giáp thời trẻ" của Trung tướng Phạm Hồng Cư và hiện tại, bà vừa dịch xong cuốn "Từ nhân dân mà ra" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. "Các bạn thật tự hào vì có một vị tướng huyền thoại như Tướng Giáp", bà Borton nói.


Hơn 20 năm có mặt thường xuyên ở Việt Nam với rất nhiều công việc như viết báo, viết sách, dịch giả, làm từ thiện, bà Borton không có mong muốn gì hơn là giúp thế giới hiểu rõ về lịch sử, văn hoá và con người Việt Nam.


Trong hành trình thiện tâm ấy, bà Borton dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu về hai nhân vật lịch sử mà tiếng tăm từ lâu đã vượt ra khỏi biên giới Việt Nam, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Với Tướng Giáp, theo bà, người nước ngoài rất quan tâm vì ông đã sống hơn 100 tuổi. Sách bà dịch đến đâu, bán chạy đến đó. Về bản dịch cuốn hồi ức "Điện Biên Phủ- điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bà nói: "Tôi mất rất nhiều năm để hoàn thiện cuốn sách này. Lịch sử của các bạn có một bề dày truyền thống, để hiểu được nó, tôi phải đọc và nghiên cứu rất kỹ. Tôi khâm phục tinh thần, ý chí cũng như sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Khi đọc cuốn sách đó và dịch nó ra tiếng Anh, tôi hiểu cặn kẽ hơn về nguyên nhân dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Nó cũng khiến tôi hiểu được rằng vì sao người Mỹ không bao giờ thành công trong cuộc chiến tại Việt Nam".


Khi cuốn sách "Võ Nguyên Giáp thời trẻ" của Trung tướng Phạm Hồng Cư xuất bản năm 2004, bà cho biết "dù chỉ hơn 100 trang nhưng là người trong nghề nên biết ngay đây là cuốn sách rất đặc biệt, cụ thể và tỉ mỉ. Người viết ra nó lại là người rất thân thiết và gắn bó với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và gia đình ông".


Điều bà thú vị nhất khi dịch cuốn sách này là muốn trả lời cho bạn đọc thế giới câu hỏi vì sao một người từ quê nghèo Quảng Bình, không có dịp được đào tạo trong một trường quân đội chính thống lại trở thành Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, lại lãnh đạo quân đội chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.


Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét: "Từ nhân dân mà ra, những năm tháng không thể nào quên, chiến đấu giữa vòng vây, Điểm hẹn Điện Biên Phủ... cho đến Tổng hành dinh trong mùa xuân Đại thắng là gần trọn vẹn cả đời ông.... cộng với những tác phẩm mang tính tổng kết về Chiến thắng Điện Biên Phủ và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tác giả kiệt xuất đã để lại một di sản thật đồ sộ về TK 20 hào hùng và đầy thử thách. (trích cuốn sách ảnh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp)


Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tác giả kiệt xuất đã để lại một di sản đồ sộ về thế kỷ 20 hào hùng và đầy thử thách. Trích cuốn sách ảnh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp


"Điều đó có vẻ lạ nhưng cũng thật dễ hiểu vì Tướng Giáp là một người rất am hiểu về các vấn đề kinh tế, chính trị trên thế giới. Ông đã đọc rất nhiều lịch sử các nước thuộc địa Đông Dương và thế giới, nhất là lịch sử Pháp, nhân vật lịch sử Napoleon. Ông Giáp cũng có một quyển sách giới thiệu tất cả các tướng của Napoleon. Và có lẽ người Pháp lúc đó không ngờ một người ở nước thuộc địa lại có thể hiểu về nước Pháp như thế. Ông ấy hiểu người Pháp, lịch sử, tâm lý, cách quản lý, tổ chức của người Pháp rất sâu sắc. Nên chiến thắng của Việt Nam là chiến thắng của trí tuệ và toàn dân", bà nói.


Nghiên cứu về thời trai trẻ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng như trận chiến Điện Biên Phủ, bà Borton kết luận: "Vị Đại tướng của Việt Nam là một con người từ nhân dân mà ra. Ông ấy luôn suy nghĩ vì nhân dân với chân lý "có dân là có tất cả". Những chiến công lịch sử gắn liền với tên tuổi của ông ấy không thể có được nếu không có nhân dân, những đồng bào, đồng đội của ông".


Trả lời câu hỏi: "Từng tiếp xúc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, dịch các cuốn sách của ông, vậy bà đã khi nào đến nhà hoặc dự lễ sinh nhật của Đại tướng hay chưa?", bà Borton hào hứng trả lời: "Tất nhiên là có rồi. Tôi đã từng đến nhà Đại tướng vài lần để lấy thêm tư liệu hoàn thiện các bản dịch của mình. Tôi cũng có mặt trong đoàn nhà báo đến chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp sinh nhật của ông. Từ sáng sớm đến chiều, có rất nhiều đoàn đến chúc mừng, từ đoàn Cao Bằng, Thái Nguyên đến những phái đoàn nước ngoài. Ông giỏi lắm, nói được cả tiếng Tày, tiếng Mông, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga…. Đến 18h, tôi mệt lắm dù tôi chỉ ngồi hoặc đứng để nói chuyện hay quan sát thôi. Còn ông Giáp thì ai vào cũng nói chuyện cũng bắt tay. Ông ấy giỏi quá!".


Năm 2011, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi, bà Borton đã có mặt ở nhiều sự kiện mừng sinh nhật ông. Vẫn chiếc áo hoa cũ, khoắc thêm một chiếc khăn lụa, người phụ nữ Mỹ đã ở cái tuổi 70 này luôn nhắc đi nhắc lại: "Mong Đại tướng sống lâu hơn nữa".


Theo VOV


Nhà văn Mỹ Lady Borton: Vì dân là Tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Mấy chục năm nay, Lady Borton  đã trở thành quen thuộc trong giới nghiên cứu quốc tế về Việt Nam và cũng khá thân quen với nhiều người Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, bà dành nhiều năm tháng sống cùng bà con nông dân ở các làng quê Việt Nam, đi đi về về giữa Mỹ và Việt Nam không biết bao nhiêu lần với tư cách là một nhà báo, nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu và hoạt động từ thiện.


Đã được đọc Tiếp sau nỗi buồn – tác phẩm viết về cuộc sống nông thôn Việt Nam thời kỳ hậu chiến của Lady Borton, nghe nhiều chuyện kể về bà từ lâu, gặp bà, tôi không ngờ bà giản dị như vậy. Trở lại Việt Nam lần này, bà là một trong những đại biểu quốc tế tham dự Hội thảo “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” với tư cách của một nhà khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã từng viết sách “Hồ Chí Minh – một hành trình”, đã từng dịch tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” sang tiếng Anh và nhiều tác phẩm khác về Việt Nam, về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp…


Thưa bà Lady Borton, nhiều người Việt Nam muốn biết vì sao bà  gắn bó với Việt Nam và bỏ nhiều công sức để nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy?


Lần đầu tiên tôi nghe nói đến tên Hồ Chí Minh là vào năm 1954, khi đang học lớp 6 tại một ngôi trường ở ngoại ô thủ đô Washington D.C. Bấy giờ người ta bàn tán xôn xao về thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Thầy giáo chỉ định nhóm của tôi viết một bài để đăng trên một tờ báo dành cho học sinh khắp nước Mỹ.


Tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, hoạt động thiện nguyện nhân đạo tại Quảng Ngãi. Tại vùng chiến sự ác liệt miền Trung đó tôi đã giúp đỡ nạn nhân chiến tranh ở cả hai phía. Và vào tháng chín năm đó, tôi ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam tuy ở hai chiến tuyến nhưng đều tỏ lòng tiếc thương khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Thú thật bản thân tôi lúc ấy không biết nhiều về Hồ Chí Minh và cũng không hiểu nổi hiện tượng lạ lùng này.


Năm 1975, lần đầu tiên tôi đến Hà Nội và từ đó, tôi có rất nhiều người bạn Việt Nam; trở thành một người bạn của Việt Nam từ khi 2 nước Việt Nam và Mỹ còn chưa bình thường hoá quan hệ. Vậy nên khi mà 2 nước đã bình thường hoá thì tôi càng là bạn bè thân thiết của những người bạn Việt Nam của tôi. Tôi đến Việt Nam như trở lại nhà của mình.


– Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thậm chí ngay tại Mỹ cũng đã có nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vậy vì sao bà vẫn viết tác phẩm “Hồ Chí Minh – một hành trình”? Tác phẩm này có gì mới và khác so với các tác phẩm xuất bản trước đó về Chủ tịch Hồ Chí Minh?


Khi cuốn sách này được xuất bản (bằng tiếng Anh – nv) tôi đã viết trong lời tựa của cuốn sách là: “Một cuốn sách mà đáng ra bản thân tôi đã phải được đọc vào thời còn rất trẻ, nhiều năm về trước”. Tôi có những người bạn rất thân thiết ở Việt Nam và họ kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Bác Hồ. Nhưng khi tôi đọc những cuốn sách xuất bản ở Mỹ thì tôi ngạc nhiên vì có nhiều chi tiết sai quá. Ở đây không bàn đến chuyện quan điểm mà chỉ riêng số liệu, thời điểm, tính xác thực của thông tin đã sai rồi. Vì thế, tôi bỏ rất nhiều công đi khắp thế giới, thu thập các tư liệu về Hồ Chí Minh. Nhất là gần đây khi hồ sơ lưu trữ quốc tế về Việt Nam được công bố tại nhiều nước thì tôi được tiếp cận với nhiều dữ liệu mới. Tôi cũng đến tận những nơi Hồ Chí Minh đã đặt chân đến, đã sống và hoạt động… để tìm hiểu. Đó là lý do tôi viết Hồ Chí Minh – Một hành trình, tác phẩm giản dị nhưng chính xác. Tôi muốn giải mã và trình bày thật đơn giản hiện tượng Hồ Chí Minh cho người đọc phương Tây.


Cuốn sách không dừng lại ở thời điểm Hồ Chí Minh mất năm 1969 mà kết thúc với ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Cuộc hành trình của Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong suốt thế kỷ 20.


Là người nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, có trong tay những tư liệu quý, tình cảm của cá nhân bà với danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh?


Tôi cho rằng nếu không có Hồ Chí Minh thì Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam chắc không thành công. Tôi vô cùng khâm phục Hồ Chí Minh. Đó là một lãnh tụ tài giỏi. Trên thế giới có nhiều người giỏi, nhưng thường mỗi người chỉ giỏi một lĩnh vực còn Hồ Chí Minh giỏi cả về thơ ca, ngoại giao, quân sự… Lãnh tụ giỏi thì có nhiều trên thế giới, nhưng Hồ Chí Minh khác người khác ở chỗ biết tập hợp những người giỏi quanh mình. Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam lúc ấy gồm toàn những người giỏi được mời tham gia không phân biệt thành phần, giai cấp… Hơn nữa, ảnh hưởng của Hồ Chí Minh không chỉ ở Việt Nam mà còn phải xét trên bình diện đóng góp với phong trào Cộng sản thế giới.


Chắc bà cũng biết là ở Việt Nam đang có cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đứng ở góc độ một nhà nghiên cứu, theo bà đạo đức Hồ Chí Minh mà mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phải học tập và làm theo nhất hiện nay là gì?


Tư tưởng Vì dân là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Không chỉ ở Việt Nam mà cả một số nước khác trên thế giới, tôi thấy nghiêm trọng nhất bây giờ là nạn tham nhũng. Đúng là nạn tham nhũng thì ở xã hội nào cũng có, ở quốc gia nào cũng tồn tại nhưng nó có mức độ thôi. Phải hạn chế ở mức thấp thôi. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thì phải chú trọng nhất vào vấn đề tham nhũng. Hồ Chí Minh đã phấn đấu suốt đời vì dân tộc, vì nhân dân, các thế hệ người Việt Nam phải học tập và làm theo tấm gương đó.


Trân trọng cảm ơn bà!


Cẩm Thúy thực hiện


daidoanket.vn


Nhà văn Lady Borton chuyển ngữ cuốn “Hồi ký Nguyễn Thị Bình”


Cuốn hồi ký của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình mang tên "Hồi ký Nguyễn Thị Bình" vừa được nhà văn Lady Borton chuyển ngữ tiếng Anh và ra mắt bạn đọc.


Đáng chú ý, ngoài phần chuyển ngữ của dịch giả, nhà văn, nhà nghiên cứu người Mỹ am hiểu tiếng Việt kể trên, bản tiếng Anh còn được nhà văn hóa Nguyên Ngọc hiệu đính công phu; có bổ sung nhiều hình ảnh gắn liền với những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của nữ chính khách Việt Nam nổi tiếng thế giới - Nguyễn Thị Bình. Bản tiếng Anh "Hồi ký Nguyễn Thị Bình" do NXB Tri thức, Công ty Văn hóa Phương Nam xuất bản với tựa đề "Nguyen Thi Binh - Memoir - Family, Friends and Country" sẽ được giới thiệu tại Hội sách Frankfurt Đức vào tháng 10-2015.


Thi Thi


hanoimoi.com.vn




Lady Borton, người Mỹ thầm lặng thúc đẩy Mỹ, VN bình thường hóa


Bà Lady Borton, một nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử, hiện vẫn tiếp tục các hoạt động nhằm giúp Mỹ và Việt Nam xây dựng một mối quan hệ nồng ấm hơn.


Bà Lady Borton, một nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử, hiện vẫn tiếp tục các hoạt động nhằm giúp Mỹ và Việt Nam xây dựng một mối quan hệ nồng ấm hơn.


Trong quá trình Mỹ và Việt Nam tiến tới bình thường hóa quan hệ, từ sau chiến tranh cho tới năm 1995, có một số những cá nhân và tổ chức dân sự của Mỹ đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc bắc những nhịp cầu nối và tạo những mối liên hệ đầu tiên giữa hai nước cựu thù. Có người gọi họ là những “người Mỹ thầm lặng”, vì thời đó họ hầu như không được báo chí nhắc đến. Trong số họ có bà Lady Borton, người đã có nhiều năm tháng sống cùng những người nông dân nghèo khó ở các làng quê Việt Nam, bà đã đi đi về về giữa Mỹ và Việt Nam nhiều lần để thực hiện các hoạt động từ thiện. Minh Anh đã có dịp trò chuyện bằng tiếng Việt với bà Lady Borton nhân dịp kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt.


VOA: Được biết lần đầu tiên bà đặt chân tới Việt Nam là vào năm 1969, khi đó Việt Nam đang chìm trong chiến tranh, tại sao bà lại chọn điểm đến là một nơi bom đạn nguy hiểm như vậy?


Bà Lady Borton: Tại vì hồi chiến tranh tôi làm việc với một tổ chức giúp đỡ dân ở cả ba miền. Tôi cũng là người tham dự phong trào hòa bình, nhưng tôi là một người hay làm việc trực tiếp chứ không phải một người đi ra đường biểu tình hay viết thư v..v. Vì thế tôi muốn có mặt tại đó, muốn làm cái gì đó để giúp đỡ người dân Việt Nam. Lúc mà sang Việt Nam thì ở Quảng Ngãi, ở miền Trung, tôi thấy người dân bình thường ở Việt Nam rất là nghèo, quá nghèo, và tôi rất thông cảm và biết là chiến tranh là không phân biệt, dân miền bắc hay miền nam thì cả hai đều bị chiến tranh rất ác liệt, rất đau khổ. Từ đó đến bây giờ tôi vẫn tiếp tục giúp đỡ người nghèo. Tôi cũng từng làm ở một trại định cư ở Malaysia hồi những người Việt vượt biển sang Mỹ, sang Canada, v.v.


VOA: Sau đó bà có trở lại Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc, và rồi trong thời gian Mỹ áp đặt lệnh cấm vận Việt Nam, bà đã trở thành một trong những “người Mỹ thầm lặng”, những người đã đóng góp rất nhiều vào quá trình thúc đẩy cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, chắc hẳn bà còn nhớ những khó khăn của giai đoạn ấy?


Bà Lady Borton: Có, tôi còn nhớ. Ví dụ lúc chiến tranh gần kết thúc, tháng 3, tháng 4 năm 1975, tôi cũng được mời đi ra miền bắc, như thế tôi biết cả miền bắc và miền nam hồi chiến tranh. Từ năm 1975 đến 1990, hoặc cuối những năm 1980 ít có người Mỹ làm việc cùng với Việt Nam. Tôi cũng có dịp trở lại Việt Nam thời đó vào cuối những năm 80 để nghiên cứu một cuốn sách kể về người dân bình thường tại Việt Nam, lý do là tôi đã xuất bản một cuốn sách về những người gốc Việt vượt biển sang nước ngoài.


Thời đó, phía Việt Nam vẫn chưa mở cửa vì vẫn còn chiến tranh, chiến tranh ở Campuchia rồi chiến tranh với Trung Quốc. Chính phủ Mỹ thì không tham dự hai cuộc chiến đó, nhưng họ ủng hộ Khmer Đỏ và ủng hộ việc Trung Quốc xâm lược vào Việt Nam. Vì thế mà quan hệ giữa chính phủ hai nước rất khó khăn, nhưng mà về phía người dân Việt Nam thì họ rất muốn có quan hệ bình thường và phía Mỹ cũng có những người cố gắng để làm việc trực tiếp với nhau. Tại vì để hai chính phủ gặp nhau thì phải có dân đi trước.


Lúc chiến tranh kết thúc, chính phủ Mỹ không có quan hệ gì với những người của chính phủ Việt Nam, vì thế để lập lại quan hệ thì phải có những người liên lạc, trong đó thì theo tôi có hai người rất đặc biệt, đó là ông Dave Elder và một người nữa là ông John McAuliff. Họ đã đi lại giữa Washington và New York, lúc mà mới chỉ có đại diện của Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc chứ chưa có tại Washington, và hai chính phủ thì chưa gặp nhau. Có vài người Mỹ đã đi cả hai bên để liên lạc và sau đó mọi liên hệ mới bắt đầu mở ra.


VOA: Theo bà những yếu tố nào là quan trọng nhất trên con đường đưa Mỹ và Việt nam tới mốc bình thường hóa vào năm 1995?


Bà Lady Borton: Theo tôi thời gian quan trọng nhất là từ lúc Việt Nam có đại diện ở Liên Hiệp Quốc, đó là năm 77. Thời đó thì chính phủ Mỹ, nghĩa là bộ ngoại giao Mỹ, không cho phép đại diện chính phủ Việt Nam được đi ra ngoài khu vực Manhattan mà họ phải ở khu vực của Liên Hiệp Quốc. Mùa hè nào chúng tôi cũng xin phép Bộ Ngoại giao Mỹ để mời họ đi vào Philadelphia dự picnic vào cuối tuần cùng với những người Mỹ trong phong trào (hòa bình) và cũng có một số người Việt tại Mỹ để gặp gỡ nhau. Đó không phải là những cuộc hội thảo hay họp hành mà chỉ là những cuộc họp mặt vui vẻ để mở ra quan hệ. Bắt đầu chỉ có vài người thôi, sau đó mới mở rộng ra. Theo tôi thời gian đó rất quan trọng, nếu mà không có thời đó và không có những người tổ chức những sự kiện đó, nhất là ông Dave Elder và ông John McAuliff thì bây giờ để kỷ niệm 15 năm chắc là chưa có.


VOA: Qua 15 năm, hai nước đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong các mối quan hệ như kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục và kể cả quốc phòng và trong buổi họp báo tại Hà Nội nhân dịp năm mới 2010, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Michalak có nhận định là bức tranh hợp tác song phương khá tươi sáng, tuy nhiên ông cũng nói rằng Mỹ vẫn còn quan ngại trước một số diễn biến về nhân quyền. Ông Đại sứ đã nhắc đến các vụ xét xử các nhà bất đồng chính kiến và ông cho rằng “những vụ này ảnh hưởng tới quan hệ hai bên và nó ảnh hưởng tới cách thức người dân Mỹ nhìn nhận người dân Việt Nam, cách Quốc hội và chính phủ Mỹ nhìn nhận Việt Nam”. Còn ý kiến của bà thì sao thưa bà, với tư cách là một người dân Mỹ?


Bà Lady Borton: Về vấn đề nhân quyền, theo ý kiến riêng của tôi nếu so sánh với năm 1990, thì ví dụ như tôi, nếu mà đi đường, hay đi tập thể dục ở công viên mà gặp ai mà muốn nói cái gì thì có thể dừng lại và nói được, nhưng trước đó thì chưa được. Lý do là tại vì trước đó Việt Nam bị chiến tranh, như vậy, theo tôi từ năm 1990 đến bây giờ Việt Nam cởi mở rất nhanh nhưng mà chưa mở ra tất cả, tại vì chính phủ Việt Nam cũng phải lo đối phó với một số nhóm những người bây giờ đang chống Việt Nam. Tại vì họ lo việc đó thì họ chưa mở ra hoàn toàn được. Cái đó rất khó, muốn mở ra thì cả hai bên vẫn phải tiếp tục đối thoại với nhau, nếu hai bên có dịp gặp nhau, không cần đông người mà chỉ cần vài người gặp gỡ và bắt đầu tìm hiểu về nhau.


Nếu những người Việt ở nước ngoài mà họ trở lại Việt Nam thì họ sẽ thấy là Việt Nam không giống như những gì mà họ nhớ trước kia. Ví dụ tôi có gặp những người rời khỏi Việt Nam từ những năm 1980 và tị nạn ở Bidong, thì khi trở lại Việt Nam họ nhận thấy là Việt Nam bây giờ không phải giống năm 1980 đâu.


Còn một vấn đề quan trọng nữa là những vấn đề gì mà muốn viết trên báo thì còn bị hạn chế, nếu muốn nói về tham nhũng thì cũng bị hạn chế.


VOA: Hiện tại được biết là bà thường xuyên đi lại giữa hai nước để thực hiện các hoạt động từ thiện, vậy theo bà ở Việt Nam vấn đề gì là nổi cộm nhất mà nó có thể ảnh hưởng đến hình ảnh của Việt Nam trên thế giới?


Bà Lady Borton: Theo ý kiến riêng của tôi và những người bạn Việt Nam của tôi thì vấn đề khó nhất là tham nhũng, vấn đề đó thì ở nước nào cũng có, bên Mỹ cũng có, nhưng mà ở Việt Nam thì tham nhũng xảy ra ở cả nước. Vấn đề quan trọng nhất và khó nhất để xử lý là nạn tham nhũng trong hệ thống giáo dục, vì trẻ con bé tí ti mà đi học cũng phải học thêm, phải trả thêm tiền, có nghĩa là trẻ con lúc bé mà đã học về tham nhũng rồi. Theo mình vấn đề đó không liên quan đến chiến tranh, vấn đề đó không phải là nỗi buồn của chiến tranh, cái đó là vấn đề trong nước chứ không phải vấn đề (du nhập) ở nước ngoài vào.


VOA: Xin cảm ơn bà rất nhiều.


Bà Lady Borton là một nhà báo, nhà văn, dịch giả và nhà nghiên cứu lịch sử. Bà đã nhận được 3 tấm bằng danh dự vì những đóng góp của bà trong suốt 40 năm qua cho cả hai phía, trong và sau chiến tranh Việt Nam. Hiện tại bà vẫn tiếp tục các hoạt động giúp hai bên xây dựng một mối quan hệ nồng ấm hơn.


Bà là tác giả của nhiều cuốn sách về Việt Nam như: ‘Sensing The Enemy: An American Among The Boat People of Viet Nam (1984)’; ‘After Sorrow: An American Among The Vietnamese (1995, 1996)’, bà cũng đã dịch một số cuốn sách tiếng Việt sang tiếng Anh.


Minh Anh


Nhà văn Lady Borton và hành trình kiểm chứng những ký ức lịch sử




Những gì tôi đọc về hoạt động của bà ở Việt Nam thật tổng quát và thấm đẫm lịch sử Việt Nam hiện đại: là một nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động từ thiện, đã sống và làm việc ở Việt Nam từ năm 1978; biết tiếng Việt và đã viết 3 cuốn sách về Việt Nam: Những người thuyền nhân (1894), Tiếp sau nỗi buồn (1995), Hồ Chí Minh một hành trình (2007); bà cũng dịch nhiều cuốn sách chứa những nhân vật và sự kiện lịch sử của Việt Nam sang tiếng Anh như Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm; Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử, Võ Nguyên Giáp thời trẻ… nên tôi đã nghĩ rằng bà sẽ là nhân vật phù hợp cho số báo kỷ niệm ngày Quốc khánh.


Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp trong những kí ức được kiểm chứng


Thực vậy, khi tôi nói đến ngày Quốc khánh của Việt Nam thì bà nhắc ngay đến ngày sinh nhật ông Giáp (25/8/1911) và những kỷ niệm trong quá trình tiếp cận và nghiên cứu cũng như dịch sách về “cụ Hồ” và “ông Giáp” (theo cách nói của bà). “Đây là bộ sách Võ Nguyên Giáp thời trẻ của trung tướng Phạm Hồng Cư, bản tiếng Anh là tôi dịch, sách tiếng Anh thì bán hết ngay rồi. Những sách này với người nước ngoài là quý lắm”. Nói về nhân duyên gặp ông Hồng Cư, bà kể: Năm 2004, khi bà dịch cuốn sách Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử của ông Giáp, có nhiều điểm bà không thể hiểu được vì “Tôi thì là một người phụ nữ chưa bao giờ vào quân đội, lại là người nước ngoài và còn rất trẻ”. Nhờ một người bạn thân từng là bác sĩ trong quân đội tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ giới thiệu ông Hồng Cư, lúc đó đang viết cuốn sách này.


Khi cuốn sách Võ Nguyên Giáp thời trẻ xuất bản, bà biết ngay đây là một cuốn sách quan trọng, viết về một nhân vật đặc biệt. “Người nước ngoài mà biết tên một người Việt Nam còn sống thì đó chính là Võ Nguyên Giáp” – bà khẳng định. Song, điều quan trọng là tác giả cuốn sách là một người rất thân thiết với gia đình cũng như với ông Giáp lâu năm và viết rất công phu, tỉ mỉ. Một cuốn sách nhỏ (hơn 100 trang), nhiều hình ảnh, “nhưng tôi là người trong nghề nên biết ngay đây là cuốn sách rất đặc biệt. Viết dài thì rất đơn giản, nhưng ngắn và tỉ mỉ chi tiết mà tất cả mọi người đọc mà hiểu ngay là rất khó. Quả thực, với người nước ngoài, người Việt Nam đầu tiên mà họ biết là Hồ Chí Minh, sau là đến Võ nguyên Giáp. Và vì sao một người từ Quảng Bình, không có dịp được đào tạo trong một trường quân đội chính thống lại trở thành Tổng Tư lệnh quân đội Việt Nam, lại lãnh đạo quân đội Việt Nam chiến thắng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Rất là lạ nhé. Vậy hãy đọc cuốn sách này”. Cho dù cuốn sách Võ Nguyên Giáp thời trẻ bằng tiếng Anh do bà dịch đã xuất bản và phát hành, nhưng dường như những dữ kiện cùng nhân vật trong cuốn sách còn choáng ngợp trong tâm trí một người dịch rất cẩn trọng như bà.


 


Và bà say sưa kể về những chi tiết trong cuốn sách cũng như cách đọc, dịch và kiểm chứng tư liệu của bà: “Khi còn nhỏ, ông Giáp học chữ Nho với bố. Đến giờ, ông vẫn nhớ những câu thơ trong bộ sách Tam tự kinh và Ấu học tân thư (xuất bản dưới thời vua Duy Tân). Năm mười hai, mười ba tuổi, ông học trung học ở Quốc học Huế. Khi cụ Phan Bội Châu về nước, học trò thường đến, trong đó có ông Giáp. Ông Giáp đã tham dự Đảng Tân Việt, đảng này đã không đến được cuộc họp ở Hương Cảng năm 1930 do Hồ Chí Minh thay mặt Quốc tế cộng sản Đảng triệu tập để hợp nhất ba Đảng. Khi mình dịch cuốn sách về Hồ Chí Minh cũng nói đến một đảng không đến được và người ta đã đặt ra bao nhiêu là giả thuyết, bao nhiêu chuyện. Nhưng đọc quyển này mình đã biết được cụ thể đó là chuyện gì! Vì sao Đảng này không thể đến được cuộc họp hôm ấy. Nhiều chi tiết rất rõ. Nhiều sách nước ngoài viết rất khác về lãnh đạo, về kháng chiến Việt Nam. Họ cho rằng ông Giáp chưa bao giờ bị bắt, nhưng họ đã sai. Ông Giáp đã bị bắt ở Huế. Cuốn sách này cũng kể về hai vợ chồng biết nhau như thế nào, rồi con cái gặp nhau như thế nào. Thú vị và cảm động lắm. Ông Hồng Cư là học trò của Đặng Thai Mai, nếu không có chiến tranh thì sẽ là nhà văn, còn ông Giáp thì có lẽ trước hết sẽ là nhà báo. Ông có bao nhiêu bài viết và biên tập bài viết in bằng tiếng Pháp khi giữ chuyên mục Thế giới thời đàm của tờ báo Tiếng Dân (là tờ báo mà Trường Chinh gọi là “Thét Tiếng Dân giữa kinh thành Huế”). Ông đọc và nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, chính trị khắp thế giới, viết bài. Lúc học đại học ở Hà Nội, ông học Luật, sau đó là nhà giáo dạy lịch sử. Ông đã đọc rất nhiều lịch sử các nước thuộc địa Đông Dương và thế giới. Nhất là lịch sử Pháp, nhân vật lịch sử Napoleon. Tôi đã sang thư viện Bộ Quốc phòng Pháp và thư viện Bộ Quốc phòng thuộc địa của Pháp một tháng. Đọc nhiều tài liệu và cũng sao chụp được nhiều thông tin hoạt động này của ông Giáp. Ông Giáp có một quyển sách thống kê giới thiệu tất cả các tướng của Napoleon đấy. Và có lẽ người Pháp lúc đó không ngờ một người nước thuộc địa lại có thể hiểu về nước Pháp. Chính vì thế đã thất bại trong trận chiến với ông Giáp. Ông ấy hiểu người Pháp, lịch sử, tâm lý, cách quản lý, tổ chức của người Pháp rất sâu sắc. Nên chiến thắng của Việt Nam là chiến thắng của trí tuệ và toàn dân.


 


Nhưng ông Giáp không phải là không có thất bại đâu nhé. Ai nghĩ đến ông Giáp cũng chỉ nghĩ đến những thắng lợi mà thôi. Nhưng có đấy, năm 12 tuổi, ông đã mơ ước học Quốc học Huế và tin rằng việc thi vào đó cũng đơn giản. Vì ông là học trò đứng đầu lớp, đầu huyện, đầu tỉnh Quảng Bình lúc đó. Nhưng ông đã thất bại năm thi đầu tiên. Ông không biết vì sao. Ôi mất mặt quá. Cụ thân sinh ông chắc là người mất mặt và buồn nhiều nhất. Ông Giáp đã mất một năm để học và thi lại. Có lẽ ông ấy đã rút một bài học là lúc nào cũng nghĩ mình giỏi quá thì thất bại. Chi tiết này rất nhỏ bé nhưng rất xúc động. Ông Giáp là người như thế, dễ thay đổi và nhìn vào hoàn cảnh để thay đổi. Chính vì thế, trong những trận chiến, ông đã biến hoá rất nhanh.


 


Những năm gần đây, mỗi dịp sinh nhật ông Giáp, tôi được đến dự cùng với đoàn nhà báo. Từ sáng sớm đã có bao nhiêu đoàn đến chúc mừng, từ đoàn Cao Bằng đến những phái đoàn nước ngoài. Ông giỏi lắm, nói được cả tiếng Tày, Mông, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga… Ông đã hơn 90 tuổi rồi mà đoàn Cao Bằng tới, ông vẫn nhớ tên, nhớ người dân tộc nào… Đến 6 giờ chiều thì tôi mệt lắm rồi, mặc dù tôi chỉ ngồi/ đứng mà nói chuyện hay quan sát thôi. Còn ông Giáp thì ai vào cũng nói chuyện, cũng bắt tay… Ông giỏi quá! ”.


Bà Lady Borton là con ông John Carter Borton, một cán bộ phòng Thương mại Hoa Kỳ và nữ nhà văn Newlin Borton. Bà sinh vào ngày 8 tháng 9 năm 1942 tại thủ đô Washington. Bà học rất nhiều trường Đại học: Hawaii (1962); Mount Holyoke (1964); Pennylvania (1964-1965); Temple (1967); Ohio (1972,1975,1979); Goddard (1979). Và trong suốt thời gian học tập này, bà cũng đã hoạt động và có đời sống làm việc vô cùng phong phú: dạy toán tại thành phố Westtown, 1964-1967; dạy sử tại Philadelphia, 1967-1968; làm trợ lý giám đốc tại Chương trình tị nạn đường biển – Ủy ban Những người bạn Mỹ, 1968-1969; hoạt động tại Tổ chức Quaker (trung tâm tái định cư ) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, 1969-1971; là nhà văn tự do và phóng viên ảnh 1972. Trước giải phóng Sài Gòn- đầu năm 1975, bà đã đưa phái đoàn giáo dục Mỹ đầu tiên đến Hà Nội; làm giám đốc điều hành tổ chức Careline 1975-1977; đóng vai trò điều phối viên y tế cho Tổ chức Chữ thập đỏ tại trại tị nạn Pulau Bidong - Tây Malaysia, 1980; lái xe cho trường thiểu năng trí tuệ Beacon năm 1972; làm việc cho chương trình phục hồi tổ ấm 1972; làm thư ký nhà sách B. Dalton – bang Ohio ba năm từ 1985-1988; làm giám đốc lâm thời Tổ chức Quaker tại Hà Nội trong hai năm 1990-1991, giám đốc lĩnh vực năm 1993; sản xuất chương trình rađio độc lập 1987; giữ mục bình luận tạp chí Akron Beacon - bang Ohio năm 1989; bình luận viên bản cuối tuần, đài công cộng Ohio năm 1990; hợp tác với trại viết văn về chiến tranh và hậu quả xã hội cho Trung tâm Joiner - Đại học Massachusetts, từ năm 1884 đến nay. Tất cả những công việc này đã từng ngày xây dựng lên bề dày đời sống kiến thức cũng như nội tâm phong phú của bà.


Hoạt động xã hội đã giúp bà có được những chi tiết cuộc sống cho những trang viết của một nhà văn. Đầy thương cảm và sự hiểu biết là những gì người đọc có thể nhận thấy trong từng trang viết của cuốn sách Những người thuyền nhân (1984) – viết về những người di tản Việt Nam qua đường biển và Tiếp sau nỗi buồn(1995) – viết về những phụ nữ Việt Nam trong và sau hai cuộc chiến tranh. Bà đã rất nổi tiếng trên diễn đàn văn học thế giới với hai quyển sách này. Công việc viết và dịch khiến bà càng gần gụi với nhiều nhân vật và sự kiện lịch sử Việt nam hiện đại. Khi tôi hỏi bà vì sao lại có sự lựa chọn tiếp cận, nghiên cứu, viết và dịch sách nhân vật lịch sử Việt Nam hiện đại, nhà văn từng có hơn bốn mươi năm gắn bó với Việt Nam tâm sự:


“Tôi hoàn toàn không có mơ ước hay dự định trở thành nhà nghiên cứu lịch sử. Nhưng tôi rất yêu thích lịch sử. Cách mạng Mỹ thì lâu rồi và những người sống từ thời đó thì không còn nữa. Cách mạng Việt Nam rất mới và những nhân vật lịch sử thì vẫn còn sống nhiều. Tôi rất quý những người như thế. Không cần đọc sách, chỉ cần nghe họ kể. Và qua người bạn thân, tôi đã hiểu nhiều hơn về những ngày Cách mạng tháng 8. Chị ấy kể cho tôi những kỉ niệm kí ức được gặp Cụ Hồ từ năm chị 10 tuổi. Đó là ngày Quốc khánh 2/9/1945, Cụ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Chị kể cho tôi là chị và bố đi lấy nước rửa đường. Tôi mới băn khoăn hỏi, tại sao mẹ đâu mà lại là bố. Thì chị nói thêm là mẹ ở nhà để thắp hương. Và thế là tôi biết thêm chi tiết: Ngày đó, mỗi gia đình đều có người ở nhà dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ, treo đèn và thắp hương cúng ông bà, thông báo nước nhà độc lập. Rồi mấy ngày sau đó là đến Trung thu, Hồ Chủ tịch mời các cháu thanh - thiếu nhi đến phủ dự tiệc. Và chị ấy được đến. Nghe Cụ nói: “Các cháu là những người dân mới của một nước độc lập tự do”. Cuộc đời chị ấy thay đổi từ đấy. Lần đầu tiên, chị ấy thấy mình có vai trò. Từ trước đến giờ, con gái có được công nhận đâu. Sau đó, chị đã tham gia Đội cảm tử thành phố. Mình nghe câu chuyện thấy hay lắm và tiếp tục hỏi. Nhưng một câu chuyện bao giờ cũng ít nhất có hai phía. Để biết được sự thật, mình phải suy nghĩ và tìm hiểu thêm. Cũng một câu chuyện từ chị bạn tôi kể. Lúc đó, chị được tới dự một Hội nghị có Cụ Hồ tới dự. Chị ấy lúc đó còn trẻ lắm, nên chỉ ngồi ở hàng cuối cùng thôi. Cụ đến, đọc diễn văn, rồi bỏ kính ra nói chuyện. Rồi Cụ đi xuống dưới, gần hàng ghế của chị ấy và ngồi vào một cái ghế trống. Chị ấy là một người khoa học, rất tỉ mỉ nên tôi rất tin tưởng chị ấy. Cụ Hồ luôn muốn gần dân nên việc Cụ xuống ngồi thì chắc chắn không sai rồi. Nhưng tôi cũng nghĩ là, một cuộc gặp gỡ với Cụ Chủ tịch thì không thể có một ghế trống. Song chắc chắn, không bao giờ Cụ xuống dưới ngồi và chịu để một người ở dưới đứng lên nhường ghế. Vậy chắc là đã có người đã chuẩn bị ghế ấy cho Cụ, chắc là một cán bộ phụ trách việc đó. Tôi nói


điều ấy với chị ấy và chị ấy công nhận rằng: Đúng, không bao giờ có cuộc gặp Hồ Chí Minh mà lại trống chỗ ngồi cả. Nhưng việc chuẩn bị ấy, chị ấy không biết. Và thế là tôi biết thêm một phần nữa của câu chuyện.”


Lady Borton – một dịch giả, một nhà văn hoá Việt Nam


Bà Lady Borton cũng không có kế hoạch hay dự định trở thành một dịch giả, một nhà văn hoá Việt Nam, nhưng với những tác phẩm và kết quả công việc bà làm đã mang danh hiệu đó tới cho bà.


Khác với những tác phẩm nghệ thuật như âm nhạc hay hội hoạ, người xem có thể thẩm định ngay vẻ đẹp hay chất lượng kỹ thuật, tác phẩm văn học không trực tiếp đến với một độc giả ngôn ngữ khác như thế. Những cuốn sách văn học, văn hoá dịch có một vai trò quan trọng trong quá trình giới thiệu, giao lưu văn hoá Việt Nam sang thế giới. Nó là cầu nối cho việc giới thiệu tác phẩm gốc ra nước ngoài cũng như tiếp cận nhanh của độc giả ngôn ngữ khác. Song, khi dịch một cuốn sách, điều tốt nhất cho đối tượng đọc là người dịch bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Nhưng ở Việt Nam chủ yếu là việc dịch từ tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt sang tiếng Anh – nên văn phong không sáng sủa, rõ ràng là một thực tế. Hiện trạng này càng khiến cho những cuốn sách dịch của Lady được độc giả tiếng Anh thích thú và đánh giá cao bản gốc hơn.


Cho đến nay, bà đã dịch rất nhiều sách lịch sử Việt Nam có giá trị như Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Hồ Chí Minh một hành trình, Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử, Nhật ký trong tù, Thơ nữ Việt Nam từ xưa tới nay, Võ Nguyên Giáp thời trẻ, Từ nhân dân mà ra (chưa công bố)… Sự sâu sắc và tỉ mỉ cũng như tư duy logic tuyệt vời trong nghiên cứu, tìm hiểu và điều tra tư liệu đã khiến những chú thích trong những cuốn sách dịch của bà trở thành một phần giá trị cho cuốn sách và đầy hữu ích cho bạn đọc tiếng Anh. Song thật khiêm nhường, bà nói về bản thảo dịch Từ nhân dân mà ra của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Bản thảo tôi đã dịch xong lượt một rồi. Nhưng còn phải kiểm tra nhiều lắm. Đây không phải là cuốn sách mình viết nên mình phải tôn trọng tuyệt đối với người viết. Mình chỉ là người dịch. Làm sao để người đọc cho là đó là quyển sách của một người Việt rất giỏi tiếng Anh”, và bà cũng tâm sự, điều tỉ mỉ nhất đối với việc dịch những cuốn sách Việt Nam là việc viết những chú thích, từ Truyện Kiều, phở, 36 phố phường… đến các nhân vật và chi tiết phong tục lịch sử, văn hoá cụ thể.


Một tuần một hai buổi bà tới tạp chí Cửa sổ văn hoá của NXB Thế Giới làm công việc của một người biên tập tiếng Anh chính. Còn lại phần lớn thời gian, bà dành cho việc dịch cuốn sách Vừa đi đường vừa kể chuyện của chủ tịch Hồ Chí Minh, cuốn Từ nhân dân mà ra ­của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tây nguyên ngày ấy của bác sĩ Lê Cao Đài - một nhà nghiên cứu chất độc hoá học dioxin. Bà nói: Đây là những tác phẩm vừa là hay vừa là viết rất chi tiết thời điểm lịch sử mà người nước ngoài không biết. Mà họ hay nói sai về Cụ Hồ, ông Giáp. Tôi chưa nói đến những quan điểm, chỉ nói đến những chi tiết cụ thể, tư liệu cụ thể. Tôi cũng cố gắng tìm nhiều nguồn tài liệu ở Pháp, Mỹ, Anh… Còn cuốn Tây Nguyên ngày ấy viết rất chi tiết về quân đội Việt Nam cũng như hoạt động của họ trong cuộc chiến ở Tây Nguyên. Viết văn rất cần điều này. Sự chi tiết cho thấy tác giả như đang sống ở hoàn cảnh ấy, tình huống ấy.


Người ta vẫn thường nói, một người không có thể làm tốt được nhiều việc cùng một lúc, nhưng nghiệm điều này với bà Lady Borton có lẽ không phù hợp. Con người nhà văn, nhà hoạt động xã hội, nghiên cứu lịch sử, văn hoá Việt Nam và dịch giả, biên tập viên không mệt mỏi và nhiều thành công - Lady Borton. Chúc nhà văn Lady Borton thật nhiều sức khoẻ để thực hiện những kế hoạch luôn mới mẻ và hữu ích cho cộng đồng của bà!


Trần Nga – VNT


thvl.vn/?p=11756



 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Khi tờ báo gia đình đối đầu các ông lớn - James Warren 25.04.2017
Tranh cãi về 'tượng Đức Ông' ở đền Quán Thánh - Tư liệu 24.04.2017
Ngáo đá, lộ hàng, chảnh chó... sáng tạo hay méo mó tiếng Việt? - Vũ Viết Tuân 23.04.2017
Về thị trường sách và việc xuất bản - Hà Thủy Nguyên 18.04.2017
Cảm nhận của một bạn trẻ Ba Lan lần đầu đến Sài Gòn - Szymon Siudak 14.04.2017
Hậu 60 năm Hội Nhà văn VN: Nhật Tuấn, con sói già đơn độc - Nguyễn Văn Thọ 09.04.2017
Khiêm tốn một Nguyễn Hải Tùng, sống và viết - Nguyễn Thanh 08.04.2017
Quyển sách trên mộ ba tôi - Trịnh Bích Ngân 08.04.2017
Nhân kỷ niệm 5 năm ngày mất của nhà báo - Nghệ sỹ Nguyễn Hải Tùng (Út Nghệ) - Nhiều tác giả 07.04.2017
Nhớ ngày xuân gặp nhà văn Xuân Thiều - Nguyễn Hữu Sơn 05.04.2017
xem thêm »