tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18413098
Lý luận phê bình văn học
10.10.2016
Nhiều tác giả
2 bài viết về nhà thơ Lương An



Nghĩ tiếp về bài thơ “Cô lái đò”


Lương An là một trong số hơn mười nhà văn quê hương Quảng Trị mà bạn đọc cả nước thường nhắc tới. Ở tuổi “thất thập cổ lai hy” hiện đang sống và tiếp tục làm thơ, viết, nghiên cứu phê bình văn học cổ, kim ở thành phố Hồ Chí Minh, ông vẫn giữ được cốt cách của một nhà thơ có vốn Hán học khá vững. Một nhà thơ nho nhã, điềm đạm, nhân hậu trong cuộc sống đời thường hôm nay. Hồi sau giải phóng năm 1975, ông vào sống ở Huế, làm cán bộ phụ trách Hội văn nghệ Bình Trị Thiên đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp, đầm ấm đối với đồng nghiệp quen biết, đối với văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Nhà văn Trần Công Tấn mỗi lần gặp gỡ nhà thơ Lương An đều đùa ông: “Đò mệ lên xuống Ba Lòng hồi ni ra răng?” rồi cả hai cùng cười.


Nhắc đến Lương An, ai ai cũng biết ông là tác giả quen biết của bài thơ “Cô lái đò” nổi tiếng hay của thời chín năm kháng chiến ở mảnh đất Quảng Trị quê ông. Bài thơ này được sáng tác lúc Lương An chưa đầy ba mươi tuổi. Ai đã từng ở chiến khu Ba Lòng một thời đều nhớ đến bài thơ bởi vì nó như một kỷ niệm khó quên về con người và vùng đất của một thời khói lửa. “Cô lái đò” được tuyển chọn vào tập “Thơ kháng chiến 45-54” và “Thơ Việt Nam 1945- 1985”. Bài thơ được viết theo thể lục bát dịu dàng và mềm mại như một lời ru.


Đò em lên xuống Ba Lòng


Chở người cán bộ qua vùng chiến khu


Con đò bình yên xuôi ngược ngang dọc hôm nào bước vào cuộc kháng chiến thành con đò giao liên. Cô gái nơi thôn dã làm nghề nôốc nghề thành người liên lạc. Con đò và cô gái trở thành bến đợi nơi tiễn đưa, nối liền mạch máu giao thông từ chiến khu với đồng bằng. Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ lần thứ nhất, Lương An nhanh nhạy tinh tế cảm nhận được cái mới trong đời sống và trong mỗi con người gắn bó với kháng chiến. Giản dị, chất phác và trong sáng là phẩm chất của cô lái đò nói riêng và những con người mới công nông binh nói chung. Ba Lòng hồi ấy vừa là chiến khu của Quảng Trị vừa là chiếc nôi văn nghệ. Những con đò lên Ba Lòng, ngược xuôi sông Thạch Hãn, đêm đêm đưa cán bộ, vận chuyển hậu cần cho kháng chiến đã trở nên quen thuộc với những người lính, người dân Trị Thiên. Cô lái đò vô danh vừa rất gần gũi, thân quen. Cô kể chuyện mình, công việc lái đò như một lời tâm tình, thủ thỉ:


Tây lên mấy chuyến Ba Lòng


Đò em nhấn nước cũng chừng ấy phen


Tây về em lại kéo lên


Đêm đêm cứ ngược xuôi miền chiến khu


Ba Lòng như thế, giữa thế núi sông hiểm trở chiến khu như được bao học giữa thiên nhiên và lòng dân. “Chính đồi núi, cây ngàn và lòng kiên trinh giữ chặt đã bảo vệ cho Ba Lòng tồn tại thành một biệt khu tự do của một thời hào hùng”… “Thời hào hùng đã biến Ba Lòng thành một nơi hướng về,… một thứ quê hương” (Ba Lòng một khúc sử thi - Bút ký 1989 của Tấn Hoài).


Ba Lòng không chỉ là một địa danh, một chiến khu mà còn là bến đò của tâm hồn bao thế hệ của người lính kháng chiến và của lòng dân. Ba Lòng trở thành địa danh trong thi ca. Bài thơ “Cô lái đò” của Lương An đã giúp cho tình cảm của con người xa, gửi lại trên mảnh đất, dòng sông vốn nổi tiếng từ mấy chục năm nay. Cô lái đò hiện lên trong thơ vừa cụ thể vừa khái quát dân dã mà trong sáng, tham gia kháng chiến tình nguyện mà đầy ý thức trách nhiệm. Cô vừa phải lo kiếm sống, vừa phải tham gia đánh Tây bằng công việc bình dị của mình - lòng tin vào nhân dân vào cuộc kháng chiến giúp cô lạc quan yêu đời:


Em là con gái nôốc nghề


Chợ Mai bán cá sông khuya kéo chài


Lưới giằng Tây đốt mất rồi


Em trai mấy đứa ra ngoài tòng quân


“Cô lái đò” của Lương An được sáng tác kịp thời, lời thơ bình dị, dễ hiểu đối với quần chúng.


Giữa hoàn cảnh “Mặt trận Huế vỡ” thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, chiến khu Hòa Mỹ, Ba Lòng mới lập, văn nghệ sĩ Liên khu IV mới hội tụ lại trên đất Quảng Trị nóng bỏng khói lửa chiến tranh người dân mới chỉ kịp đi theo kháng chiến, bài “Cô lái đò” như tiếng thơ ấm áp, mộc mạc giản dị và chân chất, trong sáng, động viên đồng bào hướng về cách mạng. Thực tế ấy đã chứng minh một chân lý giản đơn, với một nhà thơ cách mạng - một chủ thể sáng tạo mới - Lương An đã kịp thời khám phá, sáng tạo nên chân dung con người mới: Cô lái đò trong kháng chiến. Chỉ một điểm ngời sáng ấy thôi, tên tuổi của nhà thơ cũng đáng được bạn đọc bao thế hệ nhắc nhở với lời biết ơn và cảm phục.


Lời nhắn nhủ của “cô lái đò” hay chính tấm lòng của nhà thơ cứ xốn xang trong lòng người đọc:


Ai về bến Trấm thì lên


Về cho sơm sớm, mưa đêm khó chèo


Vâng! Bến Trấm dù nay không còn nữa mà chỉ là Đập Trấm ngăn dòng nước mắt Thạch Hãn tưới cho những cánh đồng lúa trĩu bông Triệu Hải và các huyện khác của Quảng Trị, lời nhắn nhủ của cô lái đò năm xưa vẫn vang vọng trong tiềm thức, con tim chúng ta mỗi khi nhớ đến lời thơ tha thiết trên.


Lê Xuân Việt/ tapchicuaviet.com.vn 


Lương An không chỉ có "Cô lái đò"


Trong câu chuyện vui của giới văn nghệ sĩ trước những công việc có tính chất tổng kết, phân loại đội ngũ, một số người được anh em phong tặng danh hiệu “nhà-thơ-một-bài”, “nhạc-sĩ-một-bài”...


Danh hiệu không hàm ý khen chê, vì văn chương “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”; và như Bà Huyện Thanh Quan, chỉ cần 8 câu thơ viết về Đèo Ngang cũng đủ lưu danh hậu thế. Tất nhiên cũng có người tự ái khi bị xếp vào loại “độc đáo” này, không muốn bỏ rơi những đứa con tinh thần khác của mình và vẫn thích đứng vào hàng ngũ những người có nhiều tác phẩm.


Nhà thơ Lương An thì chỉ cười mỗi khi “bị” đàn em gọi là “nhà-thơ-một-bài”. Chính ông cũng tự thừa nhận: “Tôi thấy bề dày về sáng tác và nghiên cứu của mình chẳng là bao, nên: Hở môi ra cũng thẹn thùng/ Thôi thì xin phụ tấm lòng với ai.” (“Nhà văn Việt hiện đại”, NXB Hội Nhà văn, trang 36) Ở cùng ông gần chục năm trong cơ quan Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, tôi cũng tin thế vì các tập tuyển thơ chỉ thấy in bài thơ “Cô lái đò”:


Đò em lên xuống Ba Lòng


Chở người cán bộ qua vùng chiến khu...


...Ai về bến Trấm thì lên


Về cho sớm sớm, mưa đêm khó chèo.


Cho mãi đến nay, trong dịp gặp lại, khi ông từ T.P. Hồ Chí Minh mang bản thảo “Thơ Mai Am - Huệ Phố” ra làm việc với NXB Thuận Hoá, tôi mới biết mình (và có lẽ nhiều người nữa) đã nhầm. Ông sinh năm 1920, vị chi nay đã 83 tuổi. Thân hình ông vốn cao gầy, nay càng còm nhom, đôi mắt sâu hoắm và sức đã xuống trông thấy. Ông Nguyễn Khôn, em trai ông - một cán bộ ngoại giao về hưu, nay tham gia Hội Pháp ngữ ở Huế - vừa vào T.P. Hồ Chí Minh tháp tùng ông ra đây. Dư âm “Festival Huế 2002” tiếp nối với những hoạt động chuẩn bị bầu cử Quốc hội khiến thành phố náo nhiệt khác thường, nhưng căn nhà thấp bé của ông Khôn ẩn dưới bóng cây trong ngõ nhỏ phố Lý Thường Kiệt thì yên tĩnh và mát mẻ.


Thoạt đầu, chưa phải chuyện thơ. Nhân nhắc đến việc ông sẽ về quê lo “chuyện cuối đời”, nhà thơ say sưa nói về dòng sông Thạch Hãn, nơi có con kênh đưa nước ngọt vào làng Tài Lương quê ông (xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị), có “bến Trấm” cô lái đò năm xưa xuôi ngược, con sông “trong sạch” đến mức Bảng Nhãn Võ Duy Thanh thời Tự Đức đi ngang qua đã phong là “Liêm tuyền Nhượng thuỷ”. Còn Dương Văn An trong “Ô châu cận lục” đã có câu: “Trai dũng cảm Tài Lương”... Thân phụ của ông đỗ Tú tài thời vua Duy Tân, từng là hội viên “Hội Duy Tân”...Tuy vậy, ông tiếp xúc với cách mạng lần đầu thông qua người bạn đồng hương Hồng Chương. Cả hai, sau khi đậu “primaire” ở Quảng Trị, vào Huế học trung học, những ngày hè về quê gặp nhau, mang theo cả không khí báo chí sôi nổi ở Huế thời đó, cũng ra một “tờ báo” viết tay bài vở đả kích bọn nhà giàu cho vay nặng lãi, tổng lý bài bạc và cả những thanh niên mất chí hướng...Ra được 2 số thì tan, sau khi bị quan phủ Triệu Phong bắt giam. Quan lấy cớ dám tụ tập lập đội bóng không đăng ký, lại thắng đội Ngô Xá “chính danh” của phủ với tỷ số 2-0, rồi còn đăng tin công khai lên báo “Tràng An” ở Huế! Quan giam cho muỗi đốt một đêm, sáng ra phạt không biên lai mỗi đứa một số tiền gần bằng tiền ăn một tháng đủ để nhớ đời, rồi thả...


Ông Lương An thích thú kể “sự cố” đầu tiên trong đời học sinh, cười thoải mái, chẳng để ý đến cốc cà phê sữa mà người em đưa ra đã nguội, càng không quan tâm gì đến bộ mặt dài hốc hác của mình càng lộ xương xẩu ra khi cười. Phải! Trước mặt tôi là một ông già tám mươi hom hem, còn ông vẫn đương đuổi theo hình bóng những năm tháng thanh xuân đầy những kỷ niệm mộng mơ của mình trên đất thần kinh. Nhưng lúc bấy giờ, gặp khi kinh tế khủng hoảng, gia đình chàng trai Quảng Trị không còn sức trả học phí cao cho chàng và nuôi ba cậu em còn đi học nữa, khuyên con trai trưởng đi kiếm việc làm. Có được chút học vấn, nhưng người cao gầy không đạt số “pi-nhê” quy định của Tây, Lương An bèn dự cuộc thi tuyển công chức bên Nam triều và năm 1941, được bổ làm “Thừa phái” - một chân thư ký hàng ngày vào sổ sách công văn ở Bộ Lại. Chính là trong những năm này, nhờ được sống ở vùng đất hội tụ nhiều nhà thơ tài danh của đất nước, cũng do công việc rỗi rãi, Lương An đã công bố những bài thơ đầu tiên trên báo “Tràng An” là tờ báo ông thường xuyên cộng tác với chức danh là “phóng viên thể thao”! Còn thơ, thời ấy đương nhiên là thơ tình lãng mạn.


“Thuở trước đất trời cũng luyến nhau/ Uyên ương dồn tự mấy tinh cầu/ Ví không ngọn lửa ân tình ấy/ Thì như những vì sao tắt đã lâu...”


Bài thơ “Thuở trước” sau này đã được ông anh con bác của ông là nhạc sĩ Nguyễn Viêm phổ nhạc. Đã hơn sáu chục năm qua, ông không còn thuộc hết các tác phẩm của mình, chỉ nhớ từng đoạn, gần đây mới được giáo sư Trần Thanh Đạm tình cờ sao chép từ một người bạn cũ ở Huế, gởi cho một bài, thiếu tên đầu đề và đoạn cuối:


“Xin mời nương nương/ Cùng nâng cao chén/ Trời đã lên sương/ Vắng người trên bến/ Ngón đàn hôm nay/ Sao cho huyền ảo/ Ngày mai chia tay/ Trông vời dáng áo/ Say đi nương nương/ Đây làn gối dịu/ Gió thoảng mùi hương/ Bờ run lệ liễu/ Sao nhạt mây mờ/ Thuyền già ân ái/ Điệu hát ngày xưa? / Đâu còn nhớ mãi/ Say đi nương nương/ Để rồi quên tiếp/ Một phút uyên ương/ Ngàn năm chia biệt!”


Đó là bài thơ chàng thừa phái trẻ tuổi tặng những người đẹp sau đêm ca Huế trên sông Hương. Bài “Xuân ở quê nhà” ông viết tặng người em trai, mặc dù cả hai anh em cùng nhắc nhớ lại, vẫn không đầy đủ:


Xuân ở quê nhà như kết hoa/ Đường quê...rộn tiếng người qua/... mành sương mỏng vương chân ấm/ Cành lá điềm nhiên đợi nắng nhoà/ Có những chàng trai dáng rất quen/ Theo dăm cô gái lễ trên đền/ Ngày Xuân đò cũng qua mau chuyến/ Giữa đám đông người bước bước lên/ Cùng nhịp mùa lên chim say mê/ Bay theo hướng gió cũng tìm quê/ Hôm nay có lẽ nơi xa thẳm/ Bạn cũ...chim nhẹ gót về...”


Chàng thừa phái sính làm thơ lãng mạn có lẽ còn vì lúc đó tình cờ gặp được “người đẹp” quê làng Mai Động (Hà Nội) theo bố vào làm nhà in ở Huế. Chẳng biết là nàng yêu thơ tìm đến chàng, hay nhờ gặp nàng mà hồn thơ chàng thêm say đắm; chỉ biết là từ năm 1943 đến nay, đó là người bạn đời chung thuỷ duy nhất của ông.


Thời đó, Lương An còn viết vở kịch thơ “Huyền Trân Công chúa”:


“...Gió hiu hắt lọt ru mành mát lạnh/ Trăng thượng tuần mờ dãi mái hoàng cung...”


Nhà thơ lim dim ngân nga hai câu thơ đầy vẻ bi tráng rồi nói với giọng điệu tiếc nuối: “Những bài thơ sáng tác trước 1945, tìm báo “Trường An” là có thể thấy, nhưng bản thảo vở kịch thơ chưa in được thì đã bị cháy trong kháng chiến chống Pháp rồi!...”


Chỉ kể từng ấy đã thấy danh hiệu “nhà-thơ-một-bài” đặt cho ông là oan uổng. Ngoài tập thơ “Nắng Hiền Lương” (NXB Văn học - 1962), ông còn truyện thơ gần 2000 câu “Giọt máu chung” viết về Tây Nguyên chưa xuất bản. Ông thì chẳng cần “thanh minh”, kể cả khi một bạn văn tặng thêm cho ông danh hiệu “nhà-thơ-thừa-phái”, có ý nhắc rằng lý lịch của ông có đoạn không vẻ vang gì! Ông chỉ cười, vì chính nhờ công việc theo dõi ghi chép các công văn của Bộ Lại mà ông có thể cung cấp cho đồng chí Hồng Chương những tin tức có lợi cho phong trào cách mạng. Cho đến sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Hồng Chương ra tù, đêm về ở với ông tại Trại công chức (gần cửa Đông Ba), ngoài phần công tác do tổ Việt Minh Bộ Nội vụ giao, còn đề nghị ông kiếm cách chép lại bức “Thư gửi đồng bào”(*) của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, bản bằng chữ Hán để gởi đến một số gia đình thuộc tầng lớp trên, công chức cao, nhân sĩ. Rất may là vừa lúc thân sinh ông từ Quảng Trị vào thăm con đã sốt sắng giúp cho. Hai bố con đêm đêm hì hụi lồng giấy than với giấy pơ-luya, viết hết tệp này đến tệp khác. Những dòng chữ, khi như truyền nỗi uất ức vào tâm can: “Do thử ngô dân thân ngâm ư song trùng áp bức chi hạ, ký vi Pháp tặc chi mã ngưu, hựu vị Nhật khấu chi nô lệ”; lúc như rọi sáng con đường: “Như kim giải phóng cơ hội dĩ chí, Pháp quốc bản thân ký bất năng tự cứu, cánh bất năng viện trợ kỳ thống trị ngã quốc chi Pháp nhân...”(**) Đã hơn nửa thế kỷ qua, ông chẳng còn nhớ được chính xác, nhưng giọng “cụ đồ” trầm bổng vẫn gợi không khí thiêng liêng thời cả dân tộc theo lời nhà ái quốc vĩ đại cùng đứng lên lật trang lịch sử. Còn “nhà thơ thừa phái” Lương An, vì đã hoạt động cách mạng trước ngày Huế khởi nghĩa, nên ngay từ lúc chính quyền mới thành lập, ông đã được chuyển sang công tác tại Uỷ ban Nhân dân Trung Bộ và sau đó, liên tục hoạt động trong các tổ chức văn hóa văn nghệ kháng chiến ở Quảng Trị; từ năm 1954-1972, ông tập kết ra bắc làm báo chuyên nghiệp, Trưởng Ban văn hóa văn nghệ báo “Thống nhất”; năm 1973, Quảng Trị giải phóng, ông về quê đảm nhiệm chức vụ Phó Trưởng ty Thông tin văn hóa tỉnh, cho đến ngày đất nước thống nhất, ông mới có dịp gặp lại Huế trong cương vị lãnh đạo Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Có lẽ ông Lương An không phải là người ham chức quyền, nhưng từ hoàn cảnh xuất thân, ông đã quen với lối sống tuân thủ kỷ cương và như một đứa con ngoan “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, người cán bộ mẫn cán và luôn có uy tín với tổ chức luôn được chọn ngồi ghế lãnh đạo. Hình như đó không phải là môi trường thuận lợi cho hồn thơ bay lượn. (Tất nhiên là cũng có người vừa tài lãnh đạo, vừa sáng tác được nhiều.) Vì thế, sau bài thơ “Cô lái đò” sáng tác bên Khe Su tại chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị) năm 1948, ông ít có tác phẩm được người đọc ghi nhớ. Sự đời là vậy, biết làm sao được! Bên này tròn đầy thì bên kia phải vơi, như núi cao với sông sâu và cũng như là chiến công chỉ có thể gặt hái sau những hy sinh.


Trong cuộc đời cán bộ tận tuỵ của mình, ông còn phải chịu nhiều “hy sinh” khác. Năm 1951, thân mẫu của ông qua đời vì đau ốm mà thiếu thuốc men; năm 1952, trong một trận càn, cụ thân sinh của ông đã bị giặc Pháp bắn chết và người con gái duy nhất của cụ bị thương. Cả hai lần, ông đều đang ở chiến khu Ba Lòng, bận công tác nên chẳng về đỡ đần gì được cho gia đình. Còn “người đẹp” làng Mai Động, sau khi sinh hạ cho ông được một tiểu thư năm 1945, do vợ chồng chẳng mấy lúc gần nhau trong cuộc chiến trường kỳ gian khổ, nên ông sớm trở thành người gương mẫu hạn chế tăng dân số gia đình!


Cũng may, sau ngày về hưu, ông nhận ra mình có một “thế mạnh” chưa được khai thác đúng mức: khả năng nghiên cứu và dịch thuật. Đó cũng là niềm vui cuối đời ông. Chưa kể những bài đăng trên báo chí, ông đã cho xuất bản tập nghiên cứu văn học dân gian Bình Trị Thiên “Vè chống Pháp”, tập “Thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm” và hôm nay là bản thảo “Thơ Mai Am-Huệ Phố” . Nhìn cuốn sổ tay ghi gần một trăm bài thơ dịch từ chữ Hán của hai “bà chúa” thơ nổi danh ở Huế một thời với những dòng chữ lít nhít con kiến, với nhiều trang giấy nhầu nhĩ hẳn là do dịch giả vật vã nhiều lần tìm chữ, thay vần cho xứng với nguyên bản, rồi ngước nhìn “cụ” Lương An hom hem mắt đã mờ, tai đã lãng, tôi cứ thầm lo, nếu như... Biết là ông dự định đến Nhà Xuất bản Thuận Hoá, tôi liền gọi điện cho đồng chí giám đốc đề nghị giúp đỡ lão nhà thơ phô-tô rồi đánh vi tính tập bản thảo, chứ lỡ có “biến cố” gì thì công phu dịch cả trăm bài thơ tiêu vong vì mấy ai đọc được chính xác những trang chữ lít nhít kia. Tôi cũng dự tính, nếu có được bản thảo sạch sẽ, sẽ đề nghị Quỹ Văn hóa nơi ông Hữu Ngọc giúp tài trợ xuất bản. Vậy mà nửa tháng sau, người em trai của ông cho biết: ông không đến Nhà xuất bản và đã “ôm” bản thảo vào T.P. Hồ Chí Minh vì đôi bài thơ dịch chưa ưng ý, lời giới thiệu chưa hoàn chỉnh!


83 tuổi rồi mà cẩn thận, cầu toàn như ông quả là hiếm! Mà chưa hẳn ông đã già yếu, hoặc là ông “già không đều”. Nghe nói rằng, suốt tháng 6 vừa rồi, chàng “cua-rơ” bị quan phủ bắt giam hồi trẻ ở Triệu Phong sống lại mãnh liệt trong lão nhà thơ Lương An, khiến ông chỉ “ôm” ti-vi xem World Cup mà quên hẳn hai “bà chúa thơ” xứ Huế!


Cầu cho ông mạnh khoẻ để hoàn thành được những dự định của đời mình.


Trường An-Huế, Tháng 6-7/2002


Nguyễn Khắc Phê


Nguồn: Tạp chí Sông Hương, số 165 - 11 - 2002


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »