tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19730473
Tiểu thuyết
24.09.2016
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy

Thân mỉm cười nói:


       - Chưa kết luận gì cả?


       - Thôi, kết luận về chính trị thì để anh Hải nói và để toàn thể hội nghị rút ra thôi. –Lương nói.


       Thân biết tính đồng chí chỉ huy quân sự này. Anh bàn kế hoạch tác chiến cụ thể thì được, chỉ huy tác chiến thì sát và quyết định nhanh, nhưng anh không quen rút ra những nhận định chung. Không phải vì trình độ của anh không nhận định được, nhưng anh thường muốn nghe ý kiến của Thường vụ tỉnh ủy và của đồng chí Nguyễn Chí Thành nhiều hơn.


       Chính ủy trung đoàn Trần Thế Hải đứng lên nói:


       - Về những số liệu cụ thể thì anh Lương đã nói đủ. Tôi chỉ xin bổ sung về tinh thần bộ đội và việc đề bạt cán bộ. Anh Lương đã nói tinh thần bộ đội hiện nay nói chung là tốt. Đúng như vậy. Phải nói rằng không kể hồi vỡ mặt trận, anh em hoang mang dao động, tinh thần xuống rất thấp, ngay sau khi đưa về chấn chỉnh ở chiến khu, anh em cũng vẫn không yên tâm chiến đấu. Số đông lo lắng cho vợ con, bố mẹ, gia đình họ hàng, không rõ lúc vỡ mặt trận chạy đi đâu, làm ăn thế nào? Trận lụt lớn hồi đầu tháng 5 năm ngoái làm họ sống ở đây mà tâm trí để cả ở vùng quê, chỉ lo không có gạo ăn, lo gia đình chết đói hết. Thế rồi những trận càn lớn của giặc, việc chúng lập tề cũng làm anh em nôn nao, nóng ruột đứng ngồi không yên. Cộng vào đó, chiến khu mới lập, gạo không đủ cung cấp, suất ăn mỗi ngày không quá bốn lạng, gạo chôn bị thối, muối ăn không có, áo quần không đủ, chăn màn cũng không, bệnh sốt rét và ghẻ lở lan tràn, càng làm cho anh em thêm chán nản. Khoảng tháng 5, tháng 6, tháng 7 năm ngoái, nhất là trong và sau trận lụt có hiện tượng đào ngũ, tính ra toàn trung đoàn có gần hai mươi người. Đấy là những việc rất nghiêm trọng. Một người đào ngũ, ảnh hưởng đến cả tiểu đội, trung đội, thậm chí đến cả đại đội, tiểu đoàn. Hồi ấy, những ý kiến của cán bộ đưa ra ồn ào đòi xử bắn những người đào ngũ chỉ càng làm anh em thêm náo động, có người tán thành, nhưng số đông đều ngầm không phục. Thú thật là lúc ấy, tôi và phòng chính trị trung đoàn cũng không biết làm thế nào? Nhưng sau đợt tấn công một số vị trí địch để kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, sau vụ lúa tháng 10, thì tình hình có phần khá hơn. Cộng vào đó, công tác chính trị của chúng ta tương đối có kết quả, sau khi được học tập đã nâng cao được lòng yêu nước và chí khí chiến đấu. Từ đó đến nay, hoàn toàn không có hiện tượng đào ngũ. Trái lại, anh em thấy ta tuyển được nhiều tân binh, thì cho là tất nhiên, cho rằng ai bây giờ mà chẳng lên chiến khu. Thắc mắc của anh em bây giờ là súng đạn ít quá, trung bình hai người mới có một súng, còn thì chỉ được phát lựu đạn với giáo mác. Có người không hiểu kháng chiến đến bao giờ thì xong. Nhiều người vẫn còn lo cho việc làm ăn của gia đình. Tân binh thì nhớ nhà và sợ sốt rết. Còn về việc đề bạt cán bộ thì…


       Có tiếng đồng chí Thành ngắt lời Hải:


       - Khoan đã, đồng chí cho biết qua trình độ chính trị anh em hiện nay thế nào? Họ hiểu các chính sách của Đảng ta như thế nào? Họ hiểu sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc kháng chiến nói chung và đối xử với bộ đội nói riêng thế nào?


       Hải hơi lúng túng liếc nhìn Lương, suy nghĩ giây lâu rồi ngập ngừng nói:


       - Phải nhận rằng công tác tuyên truyền của chúng tôi về Đảng và các chiến sĩ của Đảng trong anh em còn ít. Chúng tôi lo giải quyết những thắc mắc về cơm, gạo, áo quần, thuốc men của anh em, giải quyết nỗi lo buồn của những anh em có gia đình bị khủng bố v.v… nhiều hơn là nâng cao trình độ chính trị, nhân thức về cách mạng cho anh em. Trong kỳ đề bạt cán bộ vừa rồi, trung đoàn ủy có nhận thấy khuyết điểm ấy. Số đông anh em bộ đội do đó mới hiểu đại khái là cần đánh Tây để giành độc lập nhưng còn nội dung giai cấp của cuộc đấu tranh cách mạng hiện nay thì nhiều người chưa rõ. Nhiều anh em cho rằng bây giờ đi lính cho Chính phủ thì sau chắc được phần công điền tốt hơn. Một số ít có điều kiện tìm hiểu về Đảng, họ nghe phong thanh về Đảng và có nguyện vọng được vào Đảng…


       Chừng như thấy câu trả lời của mình chưa được cụ thể, Hải liếc nhìn đồng chí Thành, chờ đợi một câu trách móc hay chất vấn nữa. Nhưng đồng chí chỉ Thành chỉ khẽ gật đầu: “Thôi đồng chí cứ tiếp tục báo cáo đi”.


       Hải thở phào một cái nhẹ nhõm rồi tiếp tục nói:


       - Còn về việc đề bạt cán bộ thì chúng tôi đã phổ biến cho toàn trung đoàn về tinh thần chủ yếu là đề bạt cán bộ công nông. Việc đề bạt này còn mới quá nên chúng tôi chưa rõ phản ứng gì trong anh em. Nhưng chắc chắn những người được đề bạt thì phấn khởi. Việc điều những chiến binh cũ sang những đơn vị mới thì có làm cho anh em luyến tiếc đơn vị cũ, nhưng nói chung không có thắc mắc gì lớn và công tác chính trị của trung đoàn đã chú ý giải quyết. Nói tóm lại, anh em bây giờ nói chung là phấn khởi, thấy rõ trung đoàn đã lớn mạnh. Nhiều người so sánh với khi vỡ mặt trận, thấy rõ từ chỗ tan rã, mất tinh thần, ngày nay trung đoàn lại lớn khỏe và như thế là địch không thể tiêu diệt được ta, ta có thể kháng chiến lâu dài được.


       Sau khi Lương báo cáo xong, Thân đề nghị hội nghị nghe Quỳ báo cáo về tình hình ba huyện miền nam và tiếp đó nghe báo cáo về tổ chức, tuyên huấn, dân quân, tình hình diệt tề trừ gian, tình hình chính quyền, đoàn thể quần chúng, tình hình kinh tế chung trong toàn tỉnh và công tác tiếp tế cho chiến khu. Rồi anh đề nghị hội nghị tạm nghỉ.


       Thân vừa ra khỏi phòng họp thì chú bé liên lạc của bệnh viện ở CK7 hồng hộc chạy tới đưa cho anh một bức thư dán kín của Thắng. Chú bé vừa thở vừa nói:


       - Bác sĩ bảo đưa tận tay cho anh đấy.


       - Bác sĩ có bảo cần trả lời ngay không?


       - Không ạ -  Rồi không để Thân kịp hỏi thêm, chú bé lại vụt chạy đi mất.


       Thân bóc thư ra xem và mỉm cười. Đấy là thư của Thắng viết cho anh đề nghị xin vào Đảng.


      


 


       Hội nghị tỉnh ủy vừa họp lại, Thân đã đứng lên nói:


       - Các đồng chí. Hôm nay chỉ còn đủ thì giờ để thông báo chương trình họp ngày mai. Trước khi hội nghị nghỉ, tôi xin đọc một bức thư của bác sĩ Thắng gửi cho tôi và cho tỉnh ủy. Thấy rằng đây cũng là một hiện tượng phản ánh tâm trạng của một số trí thức muốn đi theo cách mạng, tôi xin phép đọc để cả hội nghị cùng nghe, chắc các đồng chí đồng ý cả.


       Có tiếng nói trong phòng họp: “Hay lắm. Đề nghị đọc to lên”.


       Thân hắng giọng rồi cất tiếng đọc:


       CK7 ngày 20- 4- 1948.


       Kính gửi anh Thân và các đồng chí trong tỉnh ủy Thừa Thiên.


       Thưa các đồng chí.


       Trước hết xin các đồng chí tha lỗi cho về cái việc đường đột này của tôi. Tôi đã suy nghĩ kỹ và thấy rằng cái việc tôi muốn nói với các đồng chí mà tôi không thể trình bày bằng miệng được nên phải viết thư.


       Anh Thân, chắc anh hiểu rõ hoàn cảnh của tôi. Tôi xuất thân từ một gia đình không phải để đi làm cách mạng, cũng không phải là cách mạng vô sản. Chắc các anh đã biết, bố tôi làm quan, anh tôi theo Quốc dân Đảng, tôi thì từ bé đến lớn sống trong sự sung túc, giàu sang, có kẻ hầu người hạ. Chế độ cũ không bạc đãi tôi, phải nói ngược lại như thế mới đúng. Hơn nữa, từ khi cách mạng thành công rồi kháng chiến đến nay, phải nói thật rằng đời sống vật chất của tôi và gia đình tôi sút kém đi nhiều. Điều kiện làm việc của tôi từ hồi tản cư và nhất là ở chiến khu này thì chắc các anh đã biết, không thể so sánh với tôi khi còn làm quản đốc bệnh viện Huế.


       Vậy thì cái gì đã làm cho tôi hồi còn ở Huế thì tán thành cách mạng, ra Vinh thì xin sang quân y và do đó được vào đây cùng làm việc và chịu đựng gian khổ với các đồng chí ở mảnh rừng núi tự do này. Tôi đã suy nghĩ kỹ anh Thân ạ. Tôi có thể tự hào nói không thẹn thùng rằng tôi cũng có lòng yêu nước như tất cả những người Việt Nam chân chính. Và đó là động cơ chính khiến tôi tham gia kháng chiến. Nhưng tôi cũng thấy nói như thế chưa đủ. Bởi vì như anh tôi cũng luôn nói là yêu nước, sao lại không đi theo con đường như tôi (nhân đây xin ngoặc ra ngoặc vào một tí, tôi vẫn nghĩ anh tôi sở dĩ không đi theo kháng chiến cũng chỉ vì quá cố chấp về chính kiến chứ không phải là hạng người cố tình bán nước). Nói về chính kiến thì xin thú thật rằng trước cách mạng, tôi chưa hề biết chủ nghĩa Mác là gì. Trái lại, tuy nghề của tôi là cái bàn mổ với mũi kim tiêm, tôi cũng đã đọc nhiều và chịu ảnh hưởng của đủ thứ triết học. Tôi đã đọc Mông- test- ski- ơ, Vôn- te, Rút- xô v.v… rồi đến Béc- xô, Giăng- pôn, Xac- tơ- rơ (xin lỗi anh, tôi không hề có ý muốn khoe cái sự “hiểu biết” của tôi về những tác giả này, chắc anh và anh Lân đều hiểu rõ tư tưởng của họ). Tôi cũng có biết qua Chủ nghĩa tam dân của Tôn Dật Tiên qua sách Pháp. Tôi còn đọc qua triết học Phật giáo, Lão tử, Nho giáo và tư tưởng của Khang, Lương qua sách Việt. Gần cách mạng, tôi có đặt dài hạn tờ Thanh Nghị. Khi Nhật đảo chính, tôi đã nhìn vào những người như Trần Trọng Kim, Vũ Văn Hiển, Hoàng Xuân Hãn v.v… để tin một phần ở họ. Như vậy, không thể nói tôi đi theo cách mạng vì hiểu rõ và tán thành cách mạng, mà một phần chính là nhờ ở sức thu hút của anh đấy. Anh Thân anh hãy tha lỗi cho tôi, tôi phải nói thẳng ngay rằng, tôi không bao giờ đề cao riêng cá nhân anh đâu. Nhưng sự thật là như thế. Tôi nghĩ rằng nếu hồi ấy tôi không được gặp anh mà gặp người khác, một kẻ thù của chúng ta và của cách mạng chẳng hạn, thì chưa biết tôi sẽ đi theo hướng nào trong lúc có hàng trăm tiếng nói khác nhau nhằm lôi kéo những người trí thức trong lúc ấy.


       Thế rồi nhờ có sự thu hút ban đầu ấy, tôi đã tìm đọc chủ nghĩa Mác phổ thông của anh Hải Triều, tôi đọc báo Ánh sángCờ Giải phóng, rồi đọc một số sách của Nhà xuất bản Sự thật, tôi đọc cả P6- lit- de và cuốn Làm gì của Lê- nin. Ra Vinh, tôi được đọc thêm một số sách, báo, tài liệu của Đảng Cộng sản Pháp và được dự một số buổi thảo luận về triết học Mác. Và thế là dần dần tôi hiểu những mục tiêu sau này của cuộc Các mạng tháng Tám mà các anh là những người lãnh đạo. Làm sao mà không hiểu được hả anh, khi một người có ít nhiều quan tâm đến thời cuộc, mà lại không thấy được những đổi thay, dần dần nhưng có tính chất cách mạng, trong vị trí của những tầng lớp trong xã hội, những đổi thay đã làm cho một số không ít người thuộc hạng chúng tôi khó chịu, thậm chí muốn đi vào con đường chống lại, nhưng riêng tôi thì tán thành.


       Tôi đã tán thành chủ nghĩa Mác vì cái triết học duy vật biện chứng của nó rất đúng và có sức mạnh lật nhào tất cả những quan niệm triết học trước đây tôi được đọc và đã tin theo, nhưng chủ yếu là vì tôi tin ở cái chủ nghĩa nhân bản chân chính của nó, cái chủ nghĩa nhân bản nhằm giải phóng con người khỏi tất cả những ràng buộc của những tệ đoan tư tưởng của xã hội cũ. Và cũng chính hồi ở Vinh, tôi đã biết có Đảng Cộng sản vẫn tồn tại bí mật, mặc dù tôi chỉ được nghe anh em truyền nhau những tiếng kêu kín đáo như “Hội”, “Đoàn thể Đ” v.v… và ngay hồi ấy, đã nhiều lần tôi nảy ra ý muốn xin gia nhập hàng ngũ Đảng. Nhưng cái gì đã kìm hãm tôi lại? Tôi xin thành thật trình bày hết cùng các anh hôm nay:


1)   Thứ nhất là vì hồi đó tôi còn mang nặng một mối nghi ngờ sau khi tôi được điều ra Vinh công tác. Tôi đã cho rằng các anh đã muốn điều tôi ra khỏi Thừa Thiên để khỏi bị ảnh hưởng chính trị của anh tôi.


2)   Thứ hai nữa tôi còn có tư tưởng sợ vào Đảng rồi gò bó trong kỷ luật, không được “tự do”. Không biết có ai nói với tôi rằng ở Liên Xô có những người cộng sản không Đảng và tôi đã nghĩ rằng mình sẽ là một người như thế ở Việt Nam.


3)   Cuối cùng là vì đối với một bác sĩ cấp trên của tôi ở Khu 4 mà tôi biết chắc là đảng viên (tôi xin phép được khỏi kể tên đồng chí ấy ra đây), tôi đã không phục vì cho là một người không có thực tài lại hay kiêu hãnh. Cũng cái lòng tự ái của người trí thức đã làm cho tôi nghĩ rằng mình không thể vào Đảng một khi trong Đảng còn có những người như thế ở cấp trên của mình.


Nhưng điều nghi ngờ thứ nhất đã thật sự tiêu tan khi tôi được điều động vào đây. Trong một tháng trèo đèo lội suối theo dọc dãy Trường Sơn, tôi đã nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy cái vĩ đại của kháng chiến và nhất là vai trò của công nông. Nhưng phải nói rằng anh Thân ạ, một lần nữa, vào đến đây, tôi lại bị cái sức hút của anh lôi kéo mãnh liệt. Anh Thân, anh tin tôi chứ, tôi biết anh xuất thân là nông dân như có lần chính mắt tôi đã trông thấy khi về làng ăn cưới anh, nhưng nay thì anh đã là một người trí thức, một người trí thức Mác- xít, trí thức cách mạng nhưng thật sự là trí thức. Những lần tiếp xúc với anh đã cho tôi rút ra kết luận ấy. Với những người như anh, tôi thấy không có lý do gì để nghi ngờ sự thành thật của Đảng đối với tầng lớp trí thức. Hơn nữa, với những người như anh, riêng tôi thấy mình cần đứng hẳn vào cùng một hàng ngũ với các anh để chiến đấu cho lý tưởng cao cả của chúng ta. Anh Thân, nếu có thể được, anh sẽ trình bày với tỉnh ủy hộ tôi cái nguyện vọng chân thành của tôi muốn xin gia nhập Đảng. Với nguyện vọng tuân theo kỷ luật sắt đá của Đảng. Tôi nguyện từ bỏ cái vỏ ngoài hào nhoáng nhưng bên trong mục nát của tầng lớp xuất thân của tôi để làm một người chiến sĩ vô sản. Nếu tỉnh ủy thấy không được hoặc vì lý do gì đó không tiện, xin cứ xem như không có bức thư này.


Xiết tay anh thật chặt!


                                                                                                     Bạn cũ của anh


                                                                                                           Bác sĩ Thắng               


T.B. Thư đã dài những không thể nói hết ý. Mong được gặp anh để nói rõ thêm một số điều nữa. Tôi vừa gặp cô Phượng, cô ấy phàn nàn hai hôm nay không thấy mặt anh đâu cả,…              


Thật ra, trong lời tái bút còn có một câu nữa, đó là câu: “sao anh vô tình thế!”. Nhưng lỡ mồm đọc đến đấy, Thân đã đỏ mặt ngừng lại. Nhưng cũng đã đủ để trong hội nghị có tiếng cười rộ lên. Thân càng lúng túng, vì chính anh cũng biết rằng mấy lâu nay không hiểu từ đâu ở chiến khu có dư luận đồn ầm lên là anh sắp lấy cô giáo Phượng, tuy quan hệ giữa anh với Phượng vẫn chưa có gì sâu sắc hơn cái đêm họ nói chuyện với nhau trong phòng khách của tỉnh ủy. Thân vờ làm như không biết hội nghị cười về chuyện gì, anh nghiêm trọng hỏi:


- Các đồng chí thấy bức thư của bác sĩ Thắng như thế nào?


Việt Chân bỗng đứng lên trịnh trọng nói:


- Xin báo cáo để hội nghị rõ. Ngày hôm qua, có hai tên Việt gian được giải lên chiến khu. Trong đó có tên Hanh, ủy viên hội đồng chấp chánh lâm thời Thừa Thiên, đó là anh ruột của ông bác sĩ Thắng này. Cùng hôm qua, trung đoàn bộ đã giao cho bên chúng tôi thẩm tra bọn chúng.


Câu nói của Việt Chân có tác dụng làm cho hội nghị đang nghe bức thư của Thắng một cách thích thú bỗng thấy ngờ vực tất cả những lời lẽ của bức thư. Một không khí im lặng trùm lên mọi người. Giây lâu mới thấy Lân dè dặt nói:


- Kể ra thì cũng không thể vì chuyện anh bị bắt mà liên quan tới em ngay. Nhưng tôi xét thấy trong thư, bác sĩ Thắng có vẻ chủ yếu vì phục riêng cá nhân đồng chí Thân mà xin vào Đảng. Tôi thấy rằng một người muốn được kết nạp vào Đảng, trước hết và chủ yếu là phải giác ngộ quyền và lợi ích giai cấp. Người đó và nhất là nếu người đó là trí thức, thì cần phải được thử thách qua ngọn lửa đấu tranh cách mạng. Như ông Thắng đây thì không may là khi kháng chiến bùng nổ ông lại ở Vinh. Theo tôi, cái việc ông ta đi bộ một tháng vào đây chưa gọi là thử thách đủ để kết nạp vào Đảng. Ông ta nói đã thấy vai trò vĩ đại của công nông nhưng theo tôi thì ông ta chưa thể thấy sâu sắc được, bởi vì ông ta đã có dịp lẫn lộn trong quần chúng công nông, công tác trong các đơn vị cơ sở có quần chúng công nông đâu? Bây giờ lại kiêm cái việc anh ông ta bị bắt, thế nào cũng có ảnh hưởng tới tư tưởng của ông ta? Tôi thấy ta chỉ có thể hoan nghênh bức thư của ông ấy mà chưa thể kết nạp ông ấy được.


Thân đưa mắt nhìn mọi người. Anh thấy những điều Lân nói là đúng nhưng vẫn cảm thấy có đôi chút hẹp hòi. Thân thấy Lân đã không biết rằng chính Lân khi vào Đảng cũng chưa trải qua thử thách gì lớn và cũng chưa lăn lộn gì nhiều trong quần chúng công nông. Nhưng dù sao trong lúc có việc Hanh bị bắt mà không thấy việc đó sẽ có ảnh hưởng tới tư tưởng của Thắng thì cũng không được. Thân cũng đâm ra dè dặt, anh nói:


- Đồng chí Lân nói có chỗ đúng. Nhưng tôi cho rằng dù sao cái việc những người trí thức xuất thân từ những tầng lớp thượng lưu như thế mà tham gia kháng chiến, lại tỏ ý muốn gia nhập Đảng, là rất quý, rất đáng cho chúng ta chú ý. Đó là một việc có ý nghĩa vì Đảng ta có sức hút mạnh mẽ đối với cả những người trí thức lớp trên. Tôi đây ta chỉ cần kết nạp như thế. Việc kết nạp hay không không phải là công việc của hội nghị này mà là việc của thường vụ sẽ bàn sau. Các đồng chí đồng ý chứ? Thôi nghỉ nhé, mai họp tiếp.


Tan hội nghị. Thân cầm bức thư của Thắng nhét túi ra về, trong lòng không được vui vẻ cho lắm như khi anh vừa đọc bức thư của Thắng lần đầu tiên. Ăn cơm xong, anh vội chạy sang cơ quan của phân khu bộ để bàn với đồng chí Thành về công việc hội nghị ngày mai, và cũng là để tránh phải gặp mặt Phượng mà anh biết là hay tìm đến cơ quan tỉnh ủy vào giờ này.


*


Sáng hôm nay, Hội nghị tỉnh ủy mở rộng đi vào phần thảo luân. Quỳ và Minh không ngờ rằng cái kinh nghiệm diệt tề ở xã Phú Long mà họ đã tưởng là một kinh nghiệm tốt để giữ bí mật và do đó giữ được cơ sở lại bị hầu hết các tỉnh ủy viên phê bình, cho là một phương sách hai mặt có hại nhiều hơn có lợi. Nhưng thành tích gây dựng lại phong trào của ba huyện miền nam thì không ai phủ nhận cả. Và một nghị quyết quan trọng của hội nghị đã được đưa ra: điều thêm tiểu đoàn 16 vào tiếp sức với tiểu đoàn 18 để mở rộng vùng căn cứ địa ở ba huyện miền nam, ở Phú Lộc và chủ yếu là ở Hương Thủy. Phần hội nghị thảo luận sôi nổi về hình thái và giai đoạn của cuộc kháng chiến ở Thừa Thiên. Thấy các đồng chí ủy viên đã phát biểu hết ý kiến, Thân đứng lên kết luận phần thảo luận. Anh nói:


- Các đồng chí. Nhờ hội nghị, chúng ta đã thấy rõ thêm và nhất trí nhiều điểm. Tôi xin tổng kết lại để chúng ta có thể nhìn phong trào và âm mưu địch một cách có hệ thống hơn. Trước hết chúng ta thấy rằng về mặt chính trị mà nói, từ khi vỡ mặt trận, chúng ta đã thắng địch. Chúng đã không tiêu diệt nổi lực lượng kháng chiến và nhất là ảnh hưởng của kháng chiến trong nhân dân. Chắc các đồng chí còn nhớ, hồi đó chúng ta chỉ dám nêu ra một khẩu hiệu khiêm tốn: Làm cho đồng bào thấy rằng Chính phủ còn, cán bộ còn, bộ đội còn, kháng chiến còn bằng cách đưa ra một lời kêu gọi và một tờ báo, bằng cách để cán bộ ở lại đồng bằng cùng chạy lùng với dân. Những cuộc chạy lùng, những đêm ngủ sa trường – Thân chợt xúc động khi nhớ lại cái đêm anh suýt bị bắn chết ở gần làng Triều Dương ấy – của cán bộ chúng ta hồi ấy có người đã cho là không có tác dụng gì, nhưng cuối cùng đã đem lại kết quả ngày nay. Bởi vì tuy là chạy nhưng thực tế là chúng ta bám lấy đấy, lấy dân mà kháng chiến. Đồng bào trông thấy mặt chúng ta, nghe chúng ta tuyên truyền, thấy chúng ta đồng cam cộng khổ với họ, họ đã vững lòng tin mà chiến đấu, bọn tề ngụy đánh hơi thấy có ta thì không dám ngóc đầu dậy. Đó, có thể nói đó kinh nghiệm quý báu nhất của chúng ta, của kháng chiến Thừa Thiên. Ai mà không bảo rằng Thừa Thiên, cũng như Quảng Trị, Quảng Bình chỉ là một dải đất nhỏ hẹp, bị địch cắt ngang từng khúc như những khoanh bánh tét, bị địch dồn ép vào trong một cái túi nhỏ không lỗ thoát thì tất là mất hết không còn gì nữa. Nhưng chúng ta đã chứng minh cho những người bi quan ấy thấy rằng trong dải đất nhỏ hẹp ấy, trong địa thế vô củng bất lợi ấy, hễ còn có dân và còn có Đảng, là còn có kháng chiến. Vấn đề chỉ là ở chỗ Đảng phải bám lấy đất, lấy dân, dù trong nguy nan đến thế nào đi nữa cũng không thể bỏ dân mà chạy dài. Đến nay thì như các đồng chí đã rõ, địch đã chiếm đóng toàn tỉnh, nhưng trong bốn trăm năm mươi thôn, chúng ta đã lập được cơ sở ở hai mươi thôn. Nhưng nói như thế cũng có nghĩa là địch đã lập được tề ở hai trăm ba mươi thôn khác, tuy rằng trong số đó có một số thôn là tề hai mặt, và, như các đồng chí đã nói, cũng có một số tổ chức “Cứu quốc”. Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là trong thời gian tới, chúng ta còn phải ra sức mà giành lấy nhân dân trong các làng tề về với chúng ta, và đó là một cuộc chiến đấu dai dẳng, gian khổ, không kém phần hy sinh đổ máu trên mặt trận quân sự. Chúng ta càng mở rộng được cơ sở chính trị, cơ sở quần chúng được bao nhiêu thì kháng chiến càng chắc thắng bấy nhiêu, quân đội và các mặt khác cũng phát triển bấy nhiêu. Có thể nói vấn đề ấy là gốc của tất cả các vấn đề khác. Song nó cũng không tách khỏi những vấn đề quan trọng, ví dụ như vấn đề quân sự. Không có quân sự thì cũng không thể củng cố cơ sở chính trị của chúng ta. Về mặt này thì càng ngày chúng ta càng thấy rõ hơn, càng thấm thía hơn những sai lầm của chúng ta hồi còn vây địch ở Huế, nhất là hồi địch đổ bộ. Đấy là những sai lầm do ấu trĩ cũng có nhưng chủ yếu là do chúng ta không nắm vững quan điểm chiến tranh nhân dân mà Trung ương và Hồ Chủ tịch đã nhiều lần nhấn mạnh. Kinh nghiệm là trong hoàn cảnh địch mạnh ta yếu thì chiến thuật thích hợp nhất là du kích. Chính vì không nắm vững chiến thuật đó mà khi chúng ta còn đầy đủ ba tiểu đoàn và cả một tiểu đoàn do Khu tăng việ, chúng ta vẫn để xảy ra tình trạng vỡ mặt trận một cách hỗn loạn. Lại cũng chính vì đã áp dụng chiến thuật đó mà khi trung đoàn Cao Vân tan rã, chỉ còn những đơn  vị lẻ tẻ, chúng ta lại lập được nhiều chiến công như các trận Hồ Thành, Đất Đỏ v.v… chỉ vài ngày sau khi vỡ mặt trận. Như thế có nghĩa là thế nào, các đồng chí? Theo tôi, như thế có nghĩa là Đảng ta không những phải biết xây dựng quân đội mà còn phải biết cách dùng quân đội cho thích hợp với hoàn cảnh. Cán bộ, đảng viên phải học chiến thuật và kỹ thuật quân sự. Chắc các đồng chí đều có nghe một câu phổ biến trong cán bộ quân sự lúc vỡ mặt trận. Đấy là câu: Cha sinh mẹ đẻ ra có dạy cho đánh giặc bao giờ đâu mà biết? Đúng, ta sinh ra không hề được ai dạy cho về quân sự. Nhưng người cộng sản không được quyền nói như thế. Cách mạng cần việc, chúng ta phải học để làm cho được việc ấy. Mà chủ yếu là chúng ta vừa học vừa làm. Cách mạng là như thế. Hầu hết ý kiến phát biểu về vấn đề hình thái chiến trang và nhận định là hình thái cài răng lược. Tôi cũng đồng ý như thế. Tôi cũng đồng ý là hiện nay, chúng ta đã cùng chiến trường toàn quốc bước sang giai đoạn cầm cự. Lý do chủ yếu là vì chúng ta trải qua giai đoạn đã phòng ngự lúc còn ở Huế và lúc địch đổ bộ lên. Hiện nay là lúc địch đang phải lo nặng về công cuộc “bình định” của chúng. Trong những tháng tới, có thể chúng sẽ làm dữ, nhưng cũng không ngoài mấy việc chính mà chúng ta đã biết: tăng cường các vị trí, lập thêm những vị trí mới, mở ra những cuộc càn quét lớn để lập cho được hệ thống chính quyền bù nhìn. Chúng ta thấy trước sẽ có những trận vây lùng lớn, nhất là ở hai huyện Phong, Quảng. Ở ba huyện miền nam, địch cũng đã bắt đầu chú ý đối phó với du kích. Hội nghị chúng ta nhất trí về việc cần điều thêm một trung đoàn vào ba huyện miền nam. Chúng ta cũng cần chuẩn bị kịp để chống càn ở hai huyện Phong, Quảng. Trong khi ấy, dựa trên những thắng lợi về chính trị, về diệt tề trừ gian, chúng ta cần mở rộng chiến tranh du kích thọc sâu vào các nơi địch không ngờ nhất rồi rút nhanh. Kinh nghiệm phục kích xe địch ở An Hòa hoàn toàn làm được. Song chúng ta hoàn toàn không thể chủ quan đối với âm mưu địch có thể còn gây cho ta những khó khăn lớn. Nhưng chúng ta cũng thấy rõ những thuận lợi: cơ sở ngày càng mở rộng, quân đội được tăng cường, chiến khu ta ngày càng phát huy ảnh hưởng của nó ra toàn tỉnh. Người từ các huyện, người từ Huế nữa, lên chiến khu ngày càng đông, trong đó có cả những người trí thức, những nhân sĩ. Điều ấy chứng tỏ công tác mặt trận của chúng ta có kết quả. Nhưng về mặt này, phải nhận rằng nhiều đồng chí ta còn coi thường. Ngay ở Trụ sở liên Việt tỉnh đặt ở CK3, cho tới nay vẫn chỉ có cụ Tôn, sư Thích Năng và vài nhân viên ngày ngày không có việc gì làm cụ thể. Ở một số cơ quan tỉnh cũng có tình trạng tương tự, tuy không nghiêm trong bằng. Thật là một việc nghịch mắt trong lúc cả tỉnh đang ầm ầm kháng chiến. Tôi đề nghị tình trạng đó phải được chấm dứt. Từ nay, chiến khu cần phải bước vào một thời kỳ mới, có không khí làm việc và tác phong công tác mới. Chúng ta đã có thể và cần phải nghĩ tới việc dần dần chỉnh đống các cơ quan chính, dân, Đảng ở chiến khu, các cơ quan thông tin, tuyên truyề, công an, địch vận v.v… Chỉnh đốn không có nghĩa là thêm người để càng có đông người ngồi không. Cán bộ nhân viên nào ở chiến khu không có việc cần làm ngay thì cho về đồng bằng công tác quần chúng. Ngay trong tỉnh ủy chúng ta nữa., chúng ta cần chia nhau đều kỳ về đồng bằng, về ba huyện miền nam. Chúng ta không thể lãnh đạo tốt nếu cứ ở lì trên chiến khu. Chúng ta sẽ bị cắt đứt với thực tế với quần chúng, củng cố chiến khu vẫn là việc rất quan trọng, có chiến khu mới có cơ quan đầu não kháng chiến. Nhưng nếu ta để nhân dân ở đồng bằng slọt vào vòng kìm  kẹp của địch thì thu chiến khu không thể đứng vững được. Ý kiến này tôi đã phát biểu ngay khi mới vỡ mặt trận. Bây giờ lại thấy cần nhắc lại vì khá đông cán bộ hình như quen với lối làm việc an toàn ở đây mà rợi, vào khuynh hướng giấy tờ quan liêu. Tôi biết có cán bộ sợ sốt rét nhưng họ còn sợ Tây lùn hơn nhiêu. Nhưng cán bộ như thế không thể là cán bộ tết…


Thân ngừnng lại một lúc; cúi xuống lạt qua lật lai biên bản ghi chép buổi họp, cuối xuống lật qua lật lai biên bản ghi chép buổi họp, xem có còn bỏ sót vấn đề gì quan trọng nữa không rồi ngẩng đầu lên nói tiếp:


- Đấy là những vấn đề lớn nhất mà hội nghị chúng ta đã bàn. Trước khi sang một mục quan trọng khác là học tập liên hệ thư Hồ Chủ tịch, xin đề nghị đồng chí Nguyễn Chí Thành phải biểu ý kiến.


Tiếng vỗ tay nổi lên vang dội trong phòng họp. Nguyễn Chí Thanh đứng dậy. Anh là Ủy viên Trung ương nhưng còn rất trẻ. Tóc anh cắt ngắn, mặt vuông, nước da sậm đem, trông nét măt, mặt vuông, nước da sậm,đều, trong nét mặt với đôi mắt lộ ra một vẻ gì vừa chân thật, chất phác, vừa hiền lành nhưng vừa kiên quyết. Cũng như Thân. “Thành xuất thân từ một gia đình nông dân ở một làng quê nghèo thuộc huyện Quảng Điền, cái huyện đã sinh ra nhà thơ Cách  mạng nổi tiếng trong cả nước, nhất là sau Cách mạng tháng Tám. Anh tham gia cách mạng trước Thân và cũng như Thân, anh cũng lặn lội ở vùng đồng bằng Phong, Quảng sau khi mặt trận vỡ đến mấy tháng trời và cũng có lần anh cũng suýt bị Tây bắn chết trong một trận càn. Sau đó, theo quyết định của Trung ương, anh phụ trách cả phân khu Bình Trị Thiên. Anh thường ở chiến khu Hòa Mỹ nhưng vì nhiệm vụ, anh còn ra chiến khu Ba Lòng của Quảng Trị, ra Troóc, Lệ Thủy của Quảng Bình và ra Khu 4 hơp. Anh có uy tín lớn ở cả ba tỉnh này, không phải chỉ vì anh ta là Ủy viên Trung ương, cái đó cũng có một phần nhưng chủ yếu là vì anh rất sát với phong trào ở ba huyện miền nam, Anh có tác phong giải quyết cách vấn đề lãnh đạo bằng cách đi tới tận nơi và giải quyết tại chỗ. Kinh nghiệm đấu tranh cách mạng lâu năm giúp anh có thể nhìn ra những vấn đề mà nhưng đồng chỉ còn trẻ không nhìn thấy. Anh nói trước uần chúng rất hay, thường không phải là những bài diễn văn soạn trước để đọc một cách cứng nhắc, buồn tẻ mà là những bài nói xuất phát từ tình hình thực tế, phù hợp với các loại đối tượng nghe và phú hợp với không khí của buổi nói chuyện. Lần này cũng vậy, tuy về những vấn đề lớn anh đã trao đổi cả với Thân từ trước, nhưng khi nghe hội nghị thảo luận và nhất là khi nghe Thân tổng kết, anh đã nhìn thấy rất nhanh những điểm cần bổ sung. Đó là biệt tài của anh. Anh nói:


- Các đồng chí. Về nhưng điểm lớn mà họi nghị thảo luận, đồng chí Thân đã tổng kết đúng và đầy đủ. Những kinh nghiệm của các đồng chí, lớn cũng như nhỏ đều rất quý báu. Có thể nói nhưng kinh nghiệm đó có thể đóng góp cho kháng chiến của toàn quốc, nhất là vì Thừa Thiên cũng như Quảng Trị, Quảng Bình là vùng đất hẹp nhất trong toàn quốc, nằm ép giữa biển và núi,


kinh tế nghèo nàn, truyền thống cách mạng trước đây chưa bằng những nơi khác như Nghệ Tĩnh, Quảng Ngãi, Việc Bắc v.v… Thừa Thiên mà kháng chiến được thì đúng là ở đâu cũng kháng chiến lực. Đó là một bài học tin tưởng do kháng chiến Thừa Thiên mang lại. Nhưng tôi xin phép nêu lên một vài nhận xét qua bản tổng kết của các đồng chí, ta đánh du kích tất phải thế. Nhưng sao các đồng chí không nêu lên đặc điểm của Thừa Thiên: đó là những cái răng lược của địch cài vào ta thì rất lớn, rất khỏe, chúng đã chiếm đóng tràn lan tất cả, kiểm soát toàn bộ đồng bằng. Huế và các ta cài vào chúng còn yếu, chúng ta chỉ vẻn vẹn giữ được một vài chiến khu ở dọc theo triền núi Trường Sơn có thể gọi được là vùng giải phóng. Các đồng chí vẫn còn cơ sở ở hai trăm ba mươi thôn. Nhưng thành tích đó đáng biểu dương. Nhưng những thôn đó ở lẻ, không xen kẽ với các thôn có tể, chưa hình thành được những vùng, hay khu du kịch có chu vi rộng lớn ở ngay đồng bằng. Từ đó chúng ta rút ra một nghiệm vụ quan trọng: phải lập khu du kích ở ngay đồng bằng gồm hàng chục thôn có thể liên hoàn ứng chiến với nhau. Ở Quảng Trị, người ta đã lập được một khu như thế ở vùng Chợ Cạn. Ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi không có rừng núi, những khu du kích như thế chiến đấu ở hàng chục xã. Như thế cái răng lược của ta cài vào địch mới khỏe. Nhiệm vụ không phải là chỉ diệt tề trừ gian. Nhiệm vụ sau đó là gây dựng cơ sở, củng cố phong trào như các đồng chí đã nêu ra, nhưng còn phải tiến lên nữa, phải tổ chức các lực lượng ở cơ sở sao cho đạt hiệu quả tác chiến cao nhất. Các huyện ủy Phong Quảng khoan hãy tự phụ. Chừng nào các đồng chí hoặc còn phải nương tựa vào chiến khu của tỉnh hoặc còn phải chạy lùng mà chưa thấy an toàn, chừng nào các đồng chí chưa tạo được cho mình những vùng an toàn ngay ở đồng bằng thì chừng đó chưa thể nói là phong trào đã lên cao. Ý nghĩa của việc thảo luận về hình thái là như thế. Nếu thảo luận chỉ để mà thảo luận, dễ dàng gật đầu với một nhận xét đã nêu sẵn thì không rút ra được kết luận cần thiết đâu.


       Nguyễn Chí Thành ngừng lại một lúc, đưa mắt nhìn các đại biểu dự hội nghị đang lắng tai nghe anh một cách chăm chú. Anh biết rằng điều nhận xét của anh đã có tác dụng làm cho các đồng chí dự hội nghị thấy rõ được một điểm mới. Anh thấy có người chăm chú ghi chép khá nhiều. Riêng Thân thì im lặng nghe anh nói, đầu gật gù như tán thưởng, cuối cùng mới ghi một câu ngắn vào cuốn sổ tay. Nhưng anh biết Thân là một người có khả năng thu nhận nhanh chóng và sâu sắc những nhận định mới. Anh nói tiếp:


       - Bây giờ nói đến vấn đề chuyển giai đoạn. Trước hết, đứng về toàn quốc mà nói, các đồng chí có thể thấy rõ nhận định của Trung ương là rất đúng: Chúng ta đã chuyển sang giai đoạn cầm cự. Đứng về mặt chiến trường, Thừa Thiên nằm trong chiến trường toàn quốc mà xét thì nhận định như các đồng chí là đúng thôi. Nhưng, cũng như vấn đề trên, tại sao các đồng chí không xuất phát từ tình hình thực tế của Thừa Thiên. Chúng ta đã phòng ngự không tốt, đã mắc phải sai lầm phòng ngự bằng cách đánh trận địa chiến, do đó lực lượng ta bị tan rã, địch đã lan tràn khắp nơi, cơ sở bị phá vỡ nghiêm trọng. Các đồng chí nói bây giờ trung đoàn đã được lập lại, phong trào ở ba huyện miền nam cũng đã bước đầu trỗi dậy, cơ sở được khôi phục trên hai trăm thôn. Đúng, đó là một thành tích lớn, rất lớn. Nhưng phải thấy rằng địch còn mạnh gấp ba ta về quân số, gấp mấy chục lần ta về vũ khí, địch chiếm giữ được hầu hết các đường giao thông quan trọng và các vị trí xung yếu nhất, trừ một số vùng rừng núi ta còn giữ được làm chiến khu. Nhận thức cho sâu về tình hình ấy có ý nghĩa rất quan trọng. Nó có ảnh hưởng tới việc chúng ta nhận định về âm mưu địch trong những ngày sắp tới. Các đồng chí dự đoán địch sẽ càn quét hung dữ hơn nữa, đóng thêm nhiều đồn bốt nữa, tàn sát hơn nữa để lập tề, để phá cơ sở của ta. Rất đúng. Nhưng sao các đồng chí không thấy rằng địch sẽ không để yên cho ta xây dựng các chiến khu, chúng không thể bỏ mục tiêu tiêu diệt quân chủ lực ta vừa mới xây dựng lại. Tôi thấy chúng ta chưa cảnh giác đầy đủ. Địch có thể đánh lên chiến khu hay không, đó là vấn đề ta cần bàn. Tôi cho rằng không có lý do gì để ngăn chặng chúng thức hiện cuộc tấn công đó trong thời gian tới. Vì sao? Vì chúng không thể khoanh tay ngồi nhìn quân chủ lực ta ngày càng củng cố để tiến lên tiêu diệt chúng. Chúng có biết chiến khu ta ở đây không? Tôi cho rằng có thể chúng đã biết, cách Hòa Mỹ không bao xa các đồng Phong Thái của địch, có đồn Phò Trạch, Mỹ Chánh của địch. Nhân đây xin lưu ý các đồng chí về khuynh hướng chủ nghĩa hình thức đã lan tràn ở chiến khu. Tại sao cơ quan bộ đội và dân chính của tỉnh lại lập trụ sở công khai ở Hòa Mỹ. Tại sao lại để nhân dân lên mở hàng quán la liệt ở ngay khu vực đóng quân và đóng cơ quan? Phải thấy rằng địch đánh lên, số dân đông quá sẽ gây cho ta những trở ngại không nhỏ về việc bảo vệ, tiếp tế. Số đàn bà trẻ con không chạy kịp dễ bị địch tàn sát. Trong khi đó, việc bố phòng ở chiến khu lại chưa có. Cố nhiên, tôi tán thành việc điều thêm tiểu đoàn vào Hương Thủy. Không phải ta nói bố phòng chiến khu là giữ lực lượng ở cả nơi chiến khu đây để chờ địch tới. Cách phòng ngự hay nhất là đánh sang những hướng khác để buộc địch chia lựu lượng đối phó và ta thì giữa được chủ động. Nhưng công tác bố phòng chiến khu phải được đặt ra để chống quân bộ, chống máy bay và quân nhảy dù. Tôi thấy rằng đồng thời với việc điều quân vào Hương Thủy, cần chuẩn bị lập chiến khu mới, rộng lớn hơn ở ba huyện miền nam. Các cơ quan tỉnh hãy bớt người nằm ở Hòa Mỹ để về đồng bằng hoặc đến với Hương Thủy. Bệnh viện, cơ quan tiếp tế, cơ quan giao thông, công binh xưởng v.v… có thể và cần lập ngay chi nhánh ở trong ấy. Đối với Thừa Thiên, nếu địch đánh lên chiến khu này, tôi mong các đồng chí sẽ đón nó như Việt Bắc đã đón địch với chiến thắng Sông Lô, Đoan Hùng. Tôi mong trận Hòa Mỹ sẽ là trận Việt Bắc của Thừa Thiên. Lúc ấy, nếu Thừa Thiên tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, bảo toàn được chủ lực ta, mở rộng được cơ sở, mở rộng được chiến khu vào ba huyện miền nam thì có thể nói là Thừa Thiên đã qua giai đoạn phòng ngự cùng với toàn quốc và bước vào giao đoạn cầm cự một cách vẻ vang. Khi tôi được hân hạnh gặp Bác ở Thanh Hóa, Bác đã ngỏ lời khen những cố gắng của Thừa Thiên trong việc khôi phục phong trào. Nhưng Bác cũng tỏ ý mong mỏi chúng ta rút kinh nghiệm vỡ mặt trận để đừng gặp phải những thất bại như vậy. Các đồng chí thấy thế nào?


       Thân gập cuốn sổ lại, từ từ đứng lên cảm động nói:


       - Đồng chí Thành đã bổ sung cho hội nghị chúng ta những điểm quan trọng. Riêng tôi rút thêm một kinh nghiệm. Là trong mọi việc phải biết đem lý luận chung, nhận định chung của Trung ương liên hệ với tình hình cụ thể của địa phương, không thể chỉ gật đầu trước những câu xem chừng đã đúng mười mươi đi rồi. Không, những người cộng sản chúng ta phải bắt đầu óc ta suy nghĩ, phải sáng suốt, phải thấy trước. Có như vậy chúng ta mới lãnh đạo được. Về những nhận định lớn và những chủ trương lớn, hội nghị chúng ta nhất trí cả chứ. Có đồng chí nào còn ý kiến gì khác không? Không ạ? Chúng ta đã kết thúc thắng lợi phần thứ nhất của hội nghị. Còn nhiều thì giờ, nhưng tôi đề nghị chúng ta nghỉ họp để nghiên cứu cá nhân thư Hồ Chủ tịch, mai sẽ thảo luận.


       Thân bước ra khỏi phòng họp và đi ra bờ suối trong người thấy nhẹ nhõm như vừa làm được một công việc gì nặng nhọc. Quả là hai ngày hội nghị vừa qua đã làm cho đầu óc anh căng thẳng. Bây giờ đây, ngồi một mình trên một phiến đá to bên bờ suối, anh suy nghĩ về bức thư xin vào Đảng của Thắng. Bức thư đã làm anh phải suy nghĩ về vấn đề kết nạp những người trí thức vào Đảng và buộc anh phải nghĩ cách giải quyết. Nhận Thắng vào Đảng ư? Thì đúng như Lân đã nói, anh ruột Thắng vừa bị bắt, không thể không ảnh hưởng tới tư tưởng Thắng. Thắng sẽ có thái độ như thế nào trước việc anh mình làm Việt gian và bị bắt? Liệu Thắng đã có đủ dũng cảm và trí sáng suốt để phân biệt tình anh em máu mủ và dứt khoát coi anh mình là kẻ thù của cách mạng? Liệu Thắng có tin tưởng ở Đảng nếu xét về tội trạng của Hanh mà cần phải trừng trị Hanh cho xứng tội của Hanh. Hay Thắng sẽ dao động trước mọi biện pháp trừng phạt cần thiết cho cách mạng? Hay Thắng có thể tỏ ra vẫn vững vàng? Thân thấy chỉ với một bức thư của Thắng, anh chưa có đủ cơ sở để đoán xem phản ứng của Thắng trước việc Hanh bị bắt. Trong thư, Thắng có nói tới Hanh vào Quốc dân Đảng, nói một cách trong sáng, tự nhiên, không giấu giếm, có nghĩa là Thắng mặc nhiên coi con đường của Hanh đi là sai làm và Thắng không tán thành con đường ấy. Nhưng Thắng cũng lại bảo rằng Hanh chẳng qua chỉ vì cố chấp chính kiến. Chỉ cố chấp mà lại tham gia hội đồng chấp chánh bù nhìn ư? Không, không thể được, đây là hành động bán nước có tính toán. Ai mà không biết rằng ta đang đánh Tây. Theo Tây bây giờ là Việt gian, đấy là việc rõ mười mươi đi rồi. Những luận điệu “quốc gia” của bọn Việt gian ấy, chính chúng nó cũng không tin nói gì chúng ta. Càng không thể coi việc làm cho Pháp bây giờ như là đi làm cho Pháp hồi trước cách mạng được. Thân chợt lẩm bẩm: Còn gay lắm, anh bạn cũ của tôi ơi! Cái nếp cũ nặng nề trong con người anh chưa dễ một phút mà xóa sạch ngay đi được. Đúng là phải có thử thách lâu dài, phải có trải qua lửa mới thử được vàng, gian nan mới thử được sức. Nhưng anh đúng là một con người đáng mến. Chúng tôi sẵn sàng tin ở anh, tin rằng anh sẽ đi được với chúng tôi cho tới cái đích tối cao của cách mạng. Chỉ cần Đảng ta có chính sách đúng, cán bộ ta có thái độ đúng và chúng ta gần họ, thông cảm những khó khăn, bứt rứt của họ trên bước đường đi lên với cách mạng là chúng ta có thể thu hút họ. Phải tránh những thái độ hẹp hòi. Và trước hết đừng đòi hỏi người ta nhất nhất cái gì cũng nghĩ như mình ngay…


       Thân đang mải suy nghĩ nên không nghe tiếng Tâm “con” chạy tới ngay sau lưng. Chú bé òa lên một tiếng, rồi nũng nịu lăn và lòng Thân. Thân giật mình quay lại, anh vuốt tóc chú bé hỏi âu yếm:


       - Có việc gì đấy cháu. Đói rồi à?


       - Không, chú lúc nào cũng bảo cháu đói. Cháu mà đói là cháu chạy xuống bếp hay đi các cơ quan khác hoặc vào nhà đồng bào ngay. Hễ cháu kêu đói thì lập tức có cái ăn ngay. Đây là cháu tới báo cho chú một việc gấp.


       - Việc gấp mà lại sà vào lòng chú và nói dông dài thế à?


       - Vâng, việc gấp mà lại không gấp. Thế này chú ạ, chú Bình văn phòng bảo cháu đi tìm chú. Bác sĩ Thắng muốn gặp chú đấy. Chú Bình biết hội nghị còn đang họp, nhưng bảo cháu hỏi kỹ là chú có bằng lòng không đã? Ông bác sĩ nói nếu chú đang họp thì chỉ xin gặp năm phút, nói qua dăm câu, được thì được, không thì thôi.


       - Việc gì mà lại nói được thì được, không thì thôi.


       - Ấy, nào cháu có biết đâu. Thế chú bằng lòng gặp à? Ừ nhé! Để cháu chạy vào báo trước.


       Không để Thân kịp níu lại, Tâm “con” đã chạy vụt đi như con sóc. Thân lững thững bước theo nó, trong bụng hơi phân vân vì chưa hiểu rõ Thắng muốn gặp mình để làm gì và vì anh cũng chưa quyết định được dứt khoát về bức thư của Thắng.


       Anh gặp Thắng đang ngồi trong phòng khách của tỉnh ủy, giở xem tờ báo Giết giặc vừa mới xuất bản. Nhưng Thân chợt nhận thấy đôi lông mày Thắng nhíu lại, như có vẻ trầm ngâm suy nghĩ. Anh lại chợt thấy Thắng thở dài. Thân lấy điệu bộ vui vẻ, thân mật hỏi:


       - Có việc gì cần đấy, anh bạn cũ?


       - Kìa anh! Không, à vâng, có chút việc riêng muốn…


       - Cái việc anh viết trong thư cho tôi ấy à?


       Thắng lúng túng, ngượng ngập, tai anh chợt hơi đỏ lên rồi lại trở lại bình thường ngay, anh nói lúng túng:


       - Không anh ạ, việc ấy thì để hôm nào anh thật rỗi, muốn nói với anh thật lâu. Hôm nay, tôi biết anh bận, chỉ xin… đề nghị một việc, không biết các anh có thể… chấp nhận không?


       Thân nở một nụ cười cởi mở:


       - Sao thế? Cái gì mà anh lại dùng những chữ như chấp nhận với đề nghị?


       Thắng càng lúng túng hơn, nhưng cuối cùng anh lắc đầu khẽ rồi quả quyết nói:


       - Thế này anh ạ. Có một đồng chí bên công an lên nằm ở bệnh viện sáng nay cho tôi biết là anh tôi, anh ruột tôi ấy, đã bị bắt lên chiến khu. Theo công an nói thì anh tôi làm ủy viên hội đồng chấp chánh lâm thời Thừa Thiên. Tôi biết rằng như thế là anh tôi bị xếp vào loại… Việt gian nguy hiểm rồi đây, không phải là tôi không biết anh tôi, nhưng tôi lại nghe nói chỉ là phụ trách giáo dục, có chán cả trong chính quyền bù nhìn. Chắc anh cũng đã biết việc này.


       Thân thận trọng đáp:


       - Vâng, tôi cũng có biết.


       Thắng nói tiếp:


       - Tôi muốn… đề nghị như thế này. Mong các anh hiểu cho tâm trạng của tôi. Tôi muốn… được gặp mặt anh tôi, không biết các anh thấy có tiện không? Nguyên là vì… tôi nghĩ rằng… dù anh tôi có đi trái đường đi nữa thì tôi là em ruột ở đây, cũng nên tới gặp mặt thì… phải đạo hơn…


       Qua những câu ngập ngừng đầu tiên ấy, Thắng thấy như đã trút được một gánh nặng, anh nói tiếp với giọng nhiệt tình, sôi nổi mà anh vốn có:


       - Vả lại tôi nghĩ rằng anh tôi dù sao cũng chỉ là vì cố chấp chính kiến mà đi dần vào con đường tội lỗi. Tôi sống bên cạnh anh tôi từ bé đến lớn nên tôi biết. Anh tôi không phải là hạng người chỉ nghĩ đến những chuyện cơm áo, gạo tiền nhỏ nhặt như những bọn Việt gian khác đang tâm chống lại cách mạng chỉ vì quyền lợi vật chất của chúng và gia đình chúng. Không, đó là một người chỉ sống quanh quẩn trong phòng riêng của mình với chồng sách cũ, luôn mồm nói đạo lý, rất xa với thực tế chung quanh. Tôi tin rằng đối với những người như thế, ta có thể lấy đạo đức cách mạng của chính nghĩa ra thuyết phục được. Anh tin tôi chứ, anh Thân. Tôi muốn thế này. Nếu có thể được, nếu không có gì… bất tiện, thì các anh cho tôi gặp… Tôi sẽ đem những hiểu biết của tôi về cách mạng, về kháng chiến, đem lòng tin của tôi để nói cho anh tôi rõ đâu là chính nghĩa. Nếu anh tôi hiểu và tỏ ý hối hận, tỏ ý muốn cải tà quy chính, thì còn gì bằng nữa phải không anh? Tôi tin rằng chính sách của Đàng và Chính phủ ta là giáo dục và khoan hồng. Còn nếu ngược lại, anh tôi không chịu cải hối, cứ khăng khăng cố chấp, thì lúc ấy, tôi sẽ là người đầu tiên tán thành những biện pháp trừng trị của cách mạng mà không còn ân hận gì nữa vì tôi đã làm tròn tình nghĩa anh em. Nhưng tôi tin rằng tôi sẽ thuyết phục được anh tôi. Tôi tin rằng tôi mà nói thì anh tôi dễ tỉnh ngộ ra. Đấy tôi muốn như thế. Tôi đã suy nghĩ kỹ từ khi tin ở các anh, nhất là tôi tin rằng anh hiểu tôi nên tôi mạnh dạn nói, anh hiểu chứ?


       Thân cảm thấy giọng nói của Thắng toát lên một cách thành thật, một lòng tin ở việc làm của mình. Thắng đã tỏ ra có suy nghĩ về việc Hanh bị bắt nhưng không dao động, không để vấn đề đó ảnh hưởng đến lòng tin ở cách mạng của mình. Ngược lại, Thắng lại nghĩ ra cách thuyết phục. Có thể nói đó cũng là một biểu hiện tích cực, chủ động, cho Thắng gặp cũng là một việc hay. Phải, nếu Thắng có ý muốn gặp Hanh để thuyết phục Hanh thì cũng là một điều tốt thôi. Cố nhiên, anh thầm nghĩ, việc Thắng đánh giá Hanh đi làm Việt gian không phải vì quyền lợi nhỏ nhặt, không làm cho Thân đồng ý được. Anh vẫn nghĩ rằng đó chính là cái phản ứng có tính cách giai cấp của những người như Hanh, đã bị cách mạng động chạm đến địa vị xã hội và cả quyền lợi vật chất cụ thể nữa. Nhưng Thân thấy lúc này chưa tiện để tranh luận với Thắng về điểm ấy. Thân chỉ thấy rằng việc cho Thắng gặp không có gì là bất tiện, hơn nữa, còn tỏ ra cách mạng tôn trọng cả tình nghĩa anh em ruột thịt của người ta. Nếu Thắng thất bại, không thuyết phục được Hanh, thì đó sẽ là một bài học cho Thắng, mình sẽ phân tích cho anh ta thấy rõ vấn đề hơn. Vả lại Hanh cũng không phải là một tên nguy hiểm hạng nhất. Một anh phụ trách về giáo dục của chính quyền bù nhìn thì cũng chẳng phải là một tên đầu sỏ phản cách mạng ghê gớm lắm. Thân nhớ lại hồi Hanh mang danh là lãnh tụ Quốc dân đảng ở Huế nhưng theo điều tra của cơ quan công an thì chỉ là có danh mà không có thực, anh ta đã bị những tên đứng trong bóng tối giật dây. Bây giờ thì có thể khác đấy, có thể hắn ta dẫn đầu một tổ chức đảng phái phản động nào đó, nhưng dù sau cũng không phải như những tên tỉnh trưởng, huyện trưởng hay phòng nhì, hay như bọn sĩ quan hung ác vẫn đi tàn sát nhân dân. Được, có thể cho gặp được. Thân gật đầu nói một cách nhẹ nhàng:


       - Được, anh ạ, riêng tôi thấy không có gì là bất tiện. Tôi tin ở anh. Có thể nhân việc gặp này mà anh thấy thêm được những… tư tưởng mà định rõ dùng để… mê hoặc một số người tri thức Việt Nam. Vậy sáng mai anh sẽ gặp nhé. Để tôi báo cáo cho bên công an họ bố trí.


       - Anh không báo cáo Thường vụ tỉnh à?


       Thân hơi ngạc nhiên, anh không ngờ Thắng lại có thể nghĩ sâu sắc về cái nguyên tắc làm việc tập thể và ý thức như vậy. Anh thấy thêm mến Thắng và anh nói:


       - Được tôi sẽ báo. Nhưng chắc chắn anh em đồng ý cả thôi. Anh cứ yên trí.


       Bắt tay Thân ra về, Thắng còn nói tiếp:


       - Đây chẳng qua là việc nhỏ, cái việc mà tôi quan tâm hơn vẫn là chuyện… trong cái bức thư hôm qua. Thắng lại đỏ mặt, anh nói tiếp – Hôm nào rỗi, tôi muốn nói với anh thật nhiều đấy.


       Hai người bắt tay nhau thật chặt. Thân đi tìm Lân và Việt Chân. Lân tỏ ra đồng ý. Nhưng Việt Chân thì hơi nghi ngại nói:


       - Chỉ sợ anh ta lộ bí mật chiến khu thì nguy hiểm. Chúng ta có sợ mất cảnh giác chăng.


       Thân đáp:


       - Không sợ. Tôi đã nghĩ về việc ấy. Hắn ta đang ở trong tay mình kia mà. Có phải sau khi cho hai anh em gặp nhau, chúng ta thả cho hắn về Huế ngay đâu.


(còn tiếp)


 


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »