tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21047127
Lý luận phê bình văn học
24.09.2016
Vũ Bằng
Cô Kiều không hề lẫn chữ tội với chữ công

Hồi Đông Dương tạp chí còn xuất bản dưới quyền giám đốc của ông Schneider, ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu bình phẩm về Truyện Kiều có trích hai câu này:


 Xét mình công ít tội nhiều/ Sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi.


Và nhà thi sĩ đã bình phẩm: “Chữ công, trong câu này, nghe không được yên nghĩa: vì sự giết Từ Hải, tự Kiều không nên nói là công”.


Trong cuốn Vương Thuý Kiều chú giải tân truyện, cũng Nguyễn Khắc Hiếu viết, tủ sách Tao Đàn xuất bản năm 1940, ông Nguyễn Khắc Hiếu vẫn giữ cái luận điệu ấy.


Cùng đồng ý với ông, có nhiều người, mà trong số đó ta có thể kể ông Hoài Thanh là một. Vừa đây, ông Hoài Thanh diễn thuyết ở Huế về “Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du: Từ Hải”, lại nhắc lại ý kiến đó một lần nữa như sau này: “Bởi vì Nguyễn Du vẫn là một nhà nho, vẫn không quên cái nghĩa lớn nhất đối với một nhà nho, cái nghĩa tôn quân, Nguyễn Du không để Kiều thoá mạ Hồ Tôn Hiến, vì Hồ Tôn Hiến là đại biểu của triều đình, Nguyễn Du còn để Kiều nói cùng Hồ Tôn Hiến một câu rất khó nghe là câu Xét mình công ít tội nhiều. Kiều đã dại dột làm thiệt mạng một người ân nhân, một người tri kỷ, tưởng không còn có quyền kể công, dầu công ít cũng vậy”.


Ông Hoài Thanh lại còn viết: “Hơn nữa, Đoạn trường tân thanh đầy dẫy triết lý nhà Phật. Những người tu hành đạo Phật tất được cảm tình của Nguyễn Du. Thế mà Nguyễn Du đã để trong miệng một nhà sư, sư Tam Hợp, một câu rất chướng về chuyện Kiều khuyên Từ Hải ra hàng: Hại một người, cứu muôn người. Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng”(1)


Trở lên trên là ý kiến của ông Hoài Thanh về đoạn Kiều mắc mưu Hồ Tôn Hiến, giết oan Từ Hải. Tôi sẽ không nói rằng, khi phát biểu ý kiến ấy, ông Hoài Thanh đã quá nghiêm khắc với cô Kiều và Nguyễn Du biết bao nhiêu. Tôi cũng không dám có cái mong ước bào chữa cho Nguyễn Du về một điểm mà người ta có thể lầm về cụ. Không. Tôi chỉ muốn, trong phạm vi của cái bài nhỏ mọn này, giãi bày một ý kiến về Từ Hải trong Minh sửNgu sơ tân chí với Từ Hải của Nguyễn Du, và lạm bàn về cái “tình” của Thuý Kiều và Từ Hải. Có lẽ do đó, tôi sẽ nói được ra cái ý mọn của tôi về câu: “Xét mình công ít tội nhiều”, và nếu vì đó, mà tỏ được ra rằng câu nói của Kiều không khó nghe một chút nào, mà Nguyễn Du không chướng một chút nào, thiết tưởng cũng là một điều may cho tôi vậy.


Trước hết, ta hãy xem Từ Hải theo người Tàu là một người như thế nào, nhiên hậu ta mới có thể biết cái lòng của Kiều đối với Từ Hải ra sao. Theo thuyết bộ Ngu sơ tân chí, thì trong Vương Thuý Kiều chính truyện, Kiều không phải chỉ khuyên Từ Hải ra hàng mà thôi. Chính Kiều đã cố ý âm mưu với Hồ Tôn Hiến xui Từ Hải ra hàng, mà xui như thế không phải chỉ vì có mỗi một mục đích là mong “phu quý phụ vinh”. Nguyên Kiều vốn họ Mã, người ở Lâm Tri. Vì gia biến, nàng phải đem mình dấn vào làng ca kỹ ở Giang Nam. Người chủ nàng đổi nàng ra họ Vương và bắt tiếp khách vì ai cũng hâm mộ tài sắc của nàng. Nhưng vốn là một người thông minh mà phong nhã, Kiều rất chê những người giàu mà tục. Mụ chủ ca viện lấy thế làm bực lắm, năm lần bảy lượt đã định tâm kiếm chuyện. Thì vừa may lúc đó có một ông khách lái buôn nhà giàu nhưng hào nhã lắm tên là La Long Văn người huyện Hấp tìm đến Kiều; và La xem ra đã ý hợp tâm đầu lắm. Cái khó của La là lúc này La đã có một người nhân tình là Lục Châu. Biết làm thế nào để cho vẹn đôi đường được? Đương khó xử thì La Long Văn gặp Từ Hải. Đúng như lời ông Hoài Thanh, Từ Hải vốn là sư chùa Hổ Báo ở Hàng Châu, người ta thường gọi là Minh Sơn hoà thượng. Đó là một nhà sư mà cái đạo tâm hình như không vững lắm nên trai gái, cờ bạc hoang toàng, đến nỗi chủ nợ phải đến tận nhà để bắt. Từ Hải đâm liều chạy trốn vào nhà hát của Thuý Kiều và ở lỳ ở đấy, không dám trành mặt ra. Chính ở đấy, Từ Hải đã gặp La Long Văn vậy. La Long Văn đem Lục Châu biếu Từ Hải. Cái tình của Từ và La vì đó càng thêm khăng khít. Bởi vậy, trong một bữa tiệc kia, Từ đã ghé vào tai La mà bảo: “Cái đất Giang Nam này nhỏ lắm, không dung khách anh hùng được. Chúng ta cần phải mưu những việc lớn hơn”. Cách đó ít lâu, − vào năm Gia Tĩnh thứ 35 − Từ Hải, họp với bọn giặc Oa Oa (Nhật Bản) nổi lên đánh phá các nơi và vây dinh quan tuần phủ Nguyễn Ngạc ở Đông Hương và bắt được Vương Thuý Kiều. Hải yêu mến Kiều lắm, bảo Kiều đánh đàn và gọi là phu nhân. Vốn là người thông minh, khéo ăn ở, chẳng bao lâu Kiều được Hải tin dùng, có lẽ hơn hết cả tướng lĩnh ở dưới quyền. Bởi vì chỉ có một mình Thuý Kiều được dự vào quân cơ. Bao nhiêu công việc của Từ, Kiều biết hết. Giá cứ đằng thằng ra, Hải được một người giúp việc đắc lực như Kiều mà Kiều ăn ở ngay thẳng thực, thì vận hội của Từ không biết còn rộng đến đâu. Đáng tiếc thay, Kiều lại không thực lòng với Hải. Bởi vì nàng lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện về quê với bố mẹ và gặp chàng Kim Trọng! Chính Hồ Tôn Hiến đã lợi dụng chỗ yếu đó để mà ám hại Từ Hải vậy. Họ Hồ đã hại họ Từ như sau này: Hồ Tôn Hiến muốn gây sự bất hoà giữa Từ Hải và các tướng tá, có ý xui Từ Hải về hàng với triều đình. Muốn được thế, Từ Hải cần phải lấy đầu hai viên tướng về làm tin. Điều kiện là như thế. Nhưng giờ ai là người sang làm thuyết khách với họ Từ được bây giờ? Hồ Tôn Hiến sai Hoa lão nhân sang làm thuyết khách. Hoa vừa đến trại Từ Hải thì Từ Hải thét người đem chém. Vì lời xin của Thuý Kiều, Hoa lão nhân thoát chết và lại còn được Từ Hải cho thêm tiền để ra về. Hoa bèn chạy tuột về dinh Hồ Tôn Hiến báo cái tin không hay đó và bảo Hồ rằng: Cứ ý tôi thì khó mà ai dụ Từ Hải về hàng được. Trừ phi một người là Vương Thuý Kiều. Chính Kiều đã xin Từ tha chém cho tôi. Tôi lại xem tình ý, cách nói năng, dáng điệu và con mắt thì biết rằng ta có thể dụ Kiều giết Từ Hải được. Hồ Tôn Hiến, nghe kể, lấy làm mừng lắm, nhưng chưa tìm ra ai để nhờ sang thương thuyết với Kiều được. Thì tin ấy, vì một sự tình cờ, lọt ra ngoài và đến tai La Long Văn, La bèn nhờ một người là Từ Vỵ dắt vào ra mắt Hồ Tôn Hiến. La Long Văn hứa với Hồ Tôn Hiến sẽ lung lạc được Vương Thuý Kiều, người yêu cũ của mình. Hồ Tôn Hiến vốn là người đồng hương với La Long Văn, tin lắm, giao cho La cái “sứ mệnh” kia, và quả vậy, La được giáp mặt Thuý Kiều, bởi vì có phải La chỉ biết có Kiều mà thôi đâu, La lại là bạn thân thiết của Từ Hải nữa. Giữa hai ngụm rượu, Hải cười mà hỏi La rằng: − Túc hạ đến du thuyết ta đấy ư? La cũng cười: − Tôi đến làm trung thần cho cố nhân thì có. Hải hỏi tại sao thì La đáp rằng: − Cố nhân còn lạ gì. Vương Trực đã hàng rồi, còn cố nhân, cố nhân chẳng cũng nên giải giáp hay sao? Nghe câu chuyện, Hải lấy làm ngạc nhiên lắm lắm, nhưng hiện lúc đó đương là bữa rượu, Hải cứ xếp câu chuyện lại một chỗ uống đã. Hải lại cho vời Thuý Kiều và Lục Châu ra chào La Long Văn. Câu chuyện trao đi nói lại giữa bốn người này không có gì là quan trọng. Đến mãi tận khi Lục Châu đi vào, mà Từ Hải đã tàng tàng chén cúc, Từ Hải mới đem chuyện “về với triều đình” ra nói với Thuý Kiều. Như trên kia đã nói, bởi vì Thuý Kiều lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện về quê hương để hội ngộ với cha mẹ, hai em và chàng Kim Trọng nên nghe thấy Từ nói thế thì Kiều xui ngay Từ Hải nên nghe lời La Long Văn. La có hy vọng lắm, từ giã, về báo tin cho Hồ Tôn Hiến biết. Nắm lấy cơ hội, Hồ Tôn Hiến bèn mật đem vàng bạc sang lễ Thuý Kiều, và Hồ Tôn Hiến đã được hài lòng. Bởi vì tiền bạc đã làm tối mắt Kiều thêm một tầng: ngay đêm, Kiều gia sức xui Từ Hải: Làm chi để tiếng về sau, Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào. Sao bằng lộc trọng quyền cao, Công danh ai dứt lối nào cho qua. Từ Hải đã chuyển lòng vì những lời nói đó. Bởi thế, ta mới thấy Từ bắt trói Ma Diệp và Trần Công đem đến thành Đông Hương để hàng Hồ Tôn Hiến. Lúc Hải vào, có mặt những người này ở trong dinh họ Hồ: quan Tổng đốc Hồ Tôn Hiến, quan Tri phủ Nguyễn Ngạc và một hoạn quan tên là Triệu Văn Quan. Trước mặt ba người này, Từ Hải đã quỳ xuống xin chịu tội. Hồ Tôn Hiến xoa đầu vỗ về Từ Hải và đã có ý thương Hải không muốn giết. Nhưng viên tổng lĩnh Du Đạo Du cương quyết quá, hết sức phân trần và kết cục xin Hồ cho phép được phục binh đánh Hải. Quân Từ Hải vỡ. Giáp trụ đã cởi rồi, Hải đành phải nhảy xuống sông. Quân quan vớt được lên, chém đầu, và bắt Kiều đem về dinh Hồ Tôn Hiến. Trước sắc đẹp mê hồn của Kiều, họ Hồ cũng thấy ngất ngây, bởi vậy đã làm lắm trò xuồng sã. Đến khi tỉnh rượu, biết rằng mình làm mất thể diện của quốc gia, Hồ Tôn Hiến bèn đem Thuý Kiều gán cho Vĩnh Thuận tù trưởng. Thuý Kiều khóc lóc không biết bao nhiêu trong khi đi đường. Đến sông Tiền Đường Kiều than: “Giết một tù trưởng để lại lấy một tù trưởng khác, còn sống làm gì nữa!” rồi đâm đầu xuống nước. Ấy đó, Vương Thuý Kiều chính truyện là như thế.


Xem vậy, ta thấy Từ Hải không phải một vị anh hùng cái thế, một vị anh hùng hoàn toàn nếu không muốn nói là hèn, − hèn vì muốn hưởng lộc của triều đình, Hải đã không ngại bắt hai vị tướng giỏi của mình đem nộp Hồ Tôn Hiến. Vậy thì ta không nên lấy làm lạ rằng tại sao Kiều lại có thể nhẫn tâm ăn tiền của Hồ Tôn Hiến mà hại Hải, bởi vì cứ xét ra thì chính Kiều cũng không phục gì Hải, cũng chẳng yêu gì Hải lắm mà không bao giờ cho Hải là tri kỷ. Chẳng qua là bước phong trần đưa dắt lối đi, xui cho Kiều gặp Từ Hải cũng như một cô gái nhảy, một đào nương bây giờ gặp một khách làng chơi hơi “lạ”. Hơn thế, Kiều lại còn muốn lợi dụng Hải để làm một cái thang trèo lên đài vinh hoa phú quý, một cách tiến thân mà cũng là để có lối tìm về quê hương nữa. Một người đàn bà như thế rất có thể nói một câu như: “Xét mình công ít tội nhiều” lúc Hải bị Tôn Hiến âm mưu giết hại. Mà Từ Hải, vì nghe lời của Kiều, vốn không phải là tri kỷ của mình, cũng rất có thể bị gọi là “dại gái” như trong câu thơ trào phúng: “Bốn bể anh hùng còn dại gái, Thập thành con đĩ mắc mưu quan”.


Nhưng đó là Từ Hải và Kiều trong “Ngu sơ tân chí”.


Ở Nguyễn Du, Từ Hải và Kiều khác hẳn. Thật vậy, khác hẳn. Từ Hải, vào tay Nguyễn Du, đã từ một tên cướp bể ươn hèn, phản trắc và để cho Hồ Tôn Hiến… xoa đầu, hoá ra một vị anh hùng cái thế. Ở Ngu sơ tân chí, Hải là một tâm hồn đáng thương. Nguyễn Du, như một đấng tạo hoá thứ hai, đã làm Hải thành một đứa con tinh thần khả kính. Có người bảo rằng Nguyễn Du tạo ra Hải như vậy, ý cốt để gỡ tội cho nàng Kiều; có người bảo Từ Hải là một nhân vật lý tưởng của Nguyễn Du nên Nguyễn Du o bế; có người lại bảo sở dĩ Nguyễn Du làm cho Từ Hải anh hùng quắc thước như thế, chính bởi vì Nguyễn Du đã thiếu những đức tính của Từ Hải vậy. Lý nào phải? Lý nào trái? Chúng tôi sẽ không bàn về việc đó, bởi vì chúng tôi đã nói ở chính trong báo này một lần rồi, − bao nhiêu những lý thuyết kia chỉ là “đoán” mà thôi, mà đoán thì biết thế nào là đúng? Không đúng, có thể có hại lắm, nhất là khi những lời đoán ấy lại không có lợi cho người đã khuất.


Khoa học có một cái tự phụ là cái gì cũng biết. Sự thực khoa học biết ít lắm, mà có khi lại biết lầm. Bởi vậy trong bài này, một bài nói về văn trong một cuốn văn, ta chỉ nên đứng về phương diện văn chương mà nói, không cần xét xem vì những động lực gì mà Nguyễn Du đã tạo ra một nhân vật khác thường như Từ Hải. Người ta có thể nói rằng trong truyện Vương Thuý Kiều của Nguyễn Du, chỉ có một người làm cho ta yêu thương là Kiều và cũng chỉ có một người làm cho ta kính mến: đó là Từ Hải. Suốt trong cuốn truyện, Nguyễn Du không lúc nào không dùng một lời văn trang trọng, và mượn những danh từ tốt đẹp để nói về ông khách họ Từ. Bắt đầu giới thiệu, Nguyễn Du đã cho ta thấy Hải là một người xuất chúng: … Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi/ Râu hùm, hàm én, mày ngài/ Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao/ Đường đường một đấng anh hào/ Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài/ Đội trời đạp đất ở đời/ Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông/ Giang hồ quen thói vẫy vùng/ Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.


Một người có một vẻ uy nghi đường bệ như thế tất phải có một tâm hồn khác người, cho nên vừa trông thấy, vừa nghe thấy Một đời được mấy anh hung/ Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi; thì Kiều đã biết ngay: Thưa rằng: Lượng cả bao dong/ Tấn Dương được thấy mây rồng có phen. Nhất kiến vi kiến, Kiều và Từ Hải đã biết nhau và như đã hiểu nhau từ kiếp trước nào; Kiều thì muốn ngay chuyện gửi thân mình mà Từ Hải thì nhận ngay thấy Kiều là tri kỷ. Chính Kiều, Kiều cũng cho Hải là tri kỷ nữa. Hai bên ý hợp tâm đầu, Khi thân chẳng lọ la cầu mới thân. Kiều yêu Từ Hải và trọng Từ Hải, còn đối với Kim Trọng thì nàng chỉ có một tấm lòng yêu mà thôi vậy. Kiều tin tưởng ở sự thành công của Từ Hải nên trong khi Hải ra đi: Sân rêu chẳng vẽ dấu giầy, Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân. Mà niềm thương nhớ của nàng, có chăng chỉ quay về với cha mẹ, em Vân; và Từ Hải: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm. Đem hết cả một tấm lòng ra phụng sự tình yêu như thế, Kiều chỉ mong có một ngày Kéo cờ luỹ, phát súng thành/ Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài/ Rỡ mình lạ vẻ cân đai…


Cứ lấy tâm lý ra mà xét, thì Kiều mong có thể lại được thế, đời nào lại âm mưu với Hồ Tôn Hiến để cố ý giết chồng mình đi, hầu có hội ngộ với cha mẹ, anh em và chàng Kim Trọng? Không. Kiều chỉ bị lừa. Cái tội giết hai mạng người là Kiều và Từ Hải, Hồ Tôn Hiến sẽ mang lấy một cách xứng đáng và đau xót. Minh sử đã chép rõ ràng về cái chết của ông quan tổng đốc lừa người đàn bà đẹp một cách vô cùng tàn nhẫn đó. Phàm người ta ở đời mà đã có lòng với nhau thật, thì cường quyền, người ta chẳng coi ra trò gì cả. Người ta có sợ chỉ là sợ lẽ phải mà thôi, còn bất cứ bao giờ cũng vậy, đối với những tham quan ô lại, những bậc hôn quân, tà thần, người ta đều khinh ghét và nếu có dịp, người ta không ngại gì mà không tiết sự tức giận ra.


Có lẽ ông Hoài Thanh đã nghĩ lầm một chút khi viết câu này: “Bởi vì Nguyễn Du là một nhà nho vẫn không quên cái nghĩa lớn nhất đối với một nhà nho, cái nghĩa tôn quân, Nguyễn Du không để Kiều thoá mạ Hồ Tôn Hiến…”.


Tôi nghĩ hơi khác ông Hoài Thanh một chút. Bởi vì nhà nho vẫn không quên cái nghĩa tôn quân, nên lúc nào cũng muốn kẻ làm tôi cũng phải giữ lễ với vua quan, nhưng đó là chỉ nói về vua minh, quan chính. Nếu vua không minh, quan không chính thì chính nhà nho lại càng mạt sát nhiều bởi vì nhà nho luôn luôn muốn giữ cho cái nghĩa quân thần tốt đẹp, hoàn toàn, nên hồ thấy sự gì xấu xa, tồi bại ở trong phái đó thì muốn thẳng tay trừng trị ngay cho tiệt nọc. Đức Mạnh Tử khi nói: “quân hữu đại quá tắc gián, phản phúc chi nhi bất thính, tắc dịch vị”, chính là bảo ta rằng vua không phải lúc nào cũng là một vật bất khả xâm phạm đâu. Vua mà làm điều lỗi thì quan có thể đuổi đi được. Vua Thang giết vua Kiệt, Võ Vương giết vua Trụ, Tần vương Chính giết Lao Ái, Cao Cừ Di giết Vệ Tuyên công. Tống vương lấy tranh vợ của dân; Trịnh Trang Công đào hầm cho mẹ ở; Tống Trang Công không sang hội ở đất Hư Qui mà còn bị nhà nho mạt sát, thoá mạ thay, huống chi là Hồ Tôn Hiến chỉ mới là một quan tổng đốc quèn! Ông Hoài Thanh bảo Nguyễn Du không để Kiều thoá mạ Hồ Tôn Hiến là lầm. Theo tôi, thì trong suốt một cuộc đời phong nhã hào hoa của cô Kiều, tôi chỉ thấy cô mạt sát tận mặt có một người, mà người đó là Hồ Tôn Hiến. Rằng: Từ là đấng anh hung/ Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi/ Tin tôi nên quá nghe lời/ Đem thân bách chiến làm tôi triều đình/ Ngỡ là phu quý, phụ vinh/ Ai ngờ một phút tan tành thịt xương! Năm năm trời bể ngang tang/ Đem mình đi bỏ chiến tràng như không.


Tôi không rõ Vương Thúy Kiều ở Ngu sơ tân chí có dám nói với Hồ Tôn Hiến gì không, chứ cứ lối phu diễn tâm lý ở trên và những câu thơ của Nguyễn Du đã cho Kiều nói mà tôi vừa trích đó thì quả là Kiều đã không cần nhớ Hồ Tôn Hiến là đại biểu của triều đình mà thoá mạ Hồ Tôn Hiến đến tàn tệ vậy. Duy có Kiều là một người lịch sự, thông minh nên cách thoá mạ cũng thông minh, lịch sự. Hồ Tôn Hiến là người kinh luân gồm tài, và đã làm đến chức tổng đốc chắc phải hiểu câu “mắng” đó, nhưng chỉ vì Nguyễn Du đã làm cho Kiều mắng tài tình quá nên Hồ Tôn Hiến đành câm miệng đó mà thôi. Chính vậy, Từ Hải vừa chết thì Kiều được đem vào trước trung quân. Hồ Tôn Hiến hỏi nàng muốn xin gì. Thì, thưa các ngài, Kiều không lạy mà cũng chẳng cảm ơn họ Hồ, nhưng khóc mà ca tụng ngay Từ Hải, một kẻ thù của Hồ Tôn Hiến, mà Hồ Tôn Hiến đem quân đánh bao nhiêu trận không thắng nổi, mà còn thua là khác: Ngẫm từ gây việc binh đao/ Đống xương vô định đã cao bằng đầu. Chỉ một việc ca tụng Từ Hải ở trước mặt Hồ Tôn Hiến như thế cũng đã mắng tàn nhẫn Hồ rồi, làm nhục đến cùng cực Hồ rồi. Thế mà đã đủ đâu. Kiều còn giận, và nói tiếp: “Từ Hải là một người trí dũng có thừa, cứ đằng thằng ra thì khó mà có ai hạ nổi. Sở dĩ mà hôm nay xảy ra cơ sợ này, ấy chỉ là bởi vì các ngài thúc thủ, đã phải mượn đến một người đàn bà là tôi làm nội ứng. Tôi khuyên Từ Hải ra hàng là vì lòng thành thực, ngỡ là phu quý phụ vinh, không ngờ các ngài lại xử khốn nạn, đi lừa tôi và phục binh giết Từ Hải một cách man di, ám muội”.


Chính ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là người đã chê Kiều, cũng phải nhận rằng Kiều đã nói những câu cay đắng chua chát vô cùng. Phê bình hai câu: “Ngỡ là phu quý phụ vinh, Ai ngờ một phút tan tành thịt xương”, ông Tản Đà đã viết rằng: “Hai câu này lời lẽ tự nhiên, mà cũng đáng thẹn cho người khác”. Kiều thoá mạ Hồ Tôn Hiến như thế, thế đã là tàn tệ lắm, nhưng chưa đủ. Chính cái câu mà ông Tản Đà bảo là không yên nghĩa và ông Hoài Thanh bảo là rất khó nghe, tôi thấy là một câu mạt sát vô cùng chua chát, nghe được lắm. Xét mình công ít tội nhiều, Sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi. Không, Kiều không kể công đâu. Tưởng rằng chữ công đây là kể công, ông Hoài Thanh đã quên mất rằng trước khi nói như thế, Kiều đã nghe thấy Hồ Tôn Hiến nói những gì. Ta hãy trở lại đoạn Kiều ngất đi ở bên cạnh Từ Hải, được quan quân vực vào dinh tổng đốc Hồ Tôn Hiến. Hồ Tôn Hiến đã nói như thế này với Kiều: Rằng: “Nàng, chút phận hồng nhan, Gặp cơn binh cách, nhiều nàn cũng thương “Đã hay thành toán miếu đường, Giúp CÔNG cũng có lời nàng mới nên…”


Xem vậy thì ta biết rằng chữ công không phải tự Kiều dùng trước. Chính Hồ Tôn Hiến, một lão tổng đốc khôn ngoan quỷ quyệt, đã buộc chữ công vào cái tội giết chồng của nàng Kiều. Sau này, nếu Kiều trả lời rằng “Xét mình công ít tội nhiều” đó chẳng qua cũng chỉ là để trả lời lại câu nói của Hồ Tôn Hiến vậy. Hơn thế, câu trả lời đó, theo ý riêng tôi, lại còn ngụ một ý mỉa mai Hồ Tôn Hiến nữa: Kiều có ý muốn mắng Hồ Tôn Hiến đã dùng chữ “công” không phải chỗ. Đến đây, ta phải đánh một cái dấu ngoặc. Chữ “công” mà ông Tản Đà bảo là không đắt nghĩa, chính cụ Nguyễn Du dùng đã khéo vô cùng. Không cần phải dùng một chữ bất nhã, cụ Nguyễn Du chỉ cho Kiều nhắc lại chữ “công” của Hồ dùng cũng đủ cho ta thấy cái lòng khinh bỉ của Kiều đối với Hồ Tôn Hiến như thế nào. Nghĩ như một sự “chơi cái chữ công”, cụ Nguyễn Du đã sắc nhọn và tài tình lắm vậy. Hồ Tôn Hiến vừa bảo: “Giúp công cũng có lời nàng mới nên” thì Kiều bẻ lại Hồ ngay. “Khéo khuyên kể lấy làm CÔNG! Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu/ Xét mình công ít tội nhiều/ Sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi”.


Bẻ rằng câu “xét mình” rất khó nghe “vì Kiều dã dại dột làm thiệt mạng một người tri kỷ, tưởng không có quyền kể công”; bẻ rằng chữ “công” không đắt nghĩa, hai ông Tản Đà và Hoài Thanh đã quên mất hai câu trên câu đó. Thật là đáng tiếc. Kiều không hề bao giờ lại kể công mình giết Từ Hải. Nàng chỉ lấy làm lạ sao Hồ Tôn Hiến lại lấy việc nàng vô tình giết Từ Hải làm công. Và nàng nói: Quan lớn dùng chữ công là quan lớn lầm lắm. Quan lớn mỉa tôi. Tôi nghe thấy quan lớn nói mà đau lòng đứt ruột. Thưa, công tôi có gì đâu. Chỉ có tội đối với chồng. Tôi là người đàn bà đáng chết. Xin thương tôi mà cho một doi đất cho tôi chôn chồng. Xong rồi, tôi sẽ xin chết để tạ lòng tri kỷ”. Lời nói như vậy kể cũng đã là chí tình và xót xa lắm; bảo là câu “xét mình công ít tội nhiều” khó nghe lắm thì có lẽ quá nghiêm khắc vậy. Kể riêng chữ “công” ra, tôi thấy cũng đắt nghĩa lắm vì những lẽ vừa nói trên kia mà còn vì những lẽ sau này nữa: Chữ “công” trong câu “Xét mình công ít tội nhiều” không ai có thể lấy lý gì mà bảo là công giết Từ Hải được. Dùng chữ “công” đó, ý Kiều chỉ muốn nói về cái công của Kiều đối với Từ Hải mà thôi. Như chúng ta đã biết, Kiều được Từ Hải yêu chuộng lắm, thường cho dự bàn về quân cơ. Kiều cũng có giúp ít nhiều trong sự thành công, trong việc “Huyện thành đạp đổ năm toà cõi Nam” của Hải. Lại đến việc Từ Hải ra hàng, đó cũng là cái công của Kiều nữa bởi vì Kiều có cái ý muốn giúp Từ Hải trở nên một người lương thiện, một người nhân đức. Ngẫm từ gây việc binh đao! Đống xương vô định đã cao bằng đầu, Làm chi để tiếng về sau, Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào. Đó, cái công của Kiều đối với Từ Hải. Công đó thì ít, nhưng Từ Hải đã trả lại rất nhiều cho nàng Kiều. Thế mà Kiều vì vụng suy, vì quá tin người, đã giết oan Từ Hải. Bây giờ ngồi mà làm một cái bảng thống kê công và tội của đời mình (xét mình) Kiều thấy rằng công Kiều đối với Từ Hải không là gì cả, nhưng cái tội thì cao bằng núi, chỉ có một cái chết thì hoạ may mới tạ được lòng tri kỷ mà thôi. Cái công và tội mà Kiều nói đó chính là công, tội đối với Từ Hải. “Khéo khuyên kể lấy làm công” câu ấy, Kiều gạt cái công với triều đình ra. Xét mình tôi đã nên liều mình tôi, thì tỏ ý Kiều muốn chết. Nếu mà chữ công đó chỉ về công với triều đình, sao Kiều lại phải đợi đến lúc ấy mới chết? Hai lý lẽ trên có thể tỏ cho ta biết rằng Kiều không hề lẫn chữ tội với chữ công chăng? Có thể tỏ cho ta biết rằng Nguyễn Du đã không chướng và hạ một câu văn không khó nghe một chút nào chăng?


Cái lẽ khả, phủ chúng tôi xin trông ở tấm lòng rộng rãi của bạn đọc; nhưng trước khi chấm hết bài này, tưởng ta cũng nên nói thêm một vài câu về cái đoạn nhà sư Tam Hợp thuật về cái đời Kiều cho Kim Trọng nghe. Ông Hoài Thanh kể hai câu: Hại một người, cứu muôn người. Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng, Và cho câu đó là chướng, Nguyễn Du để trong miệng một nhà sư, không được. Có lẽ không được, vì mấy chữ “Hại một người”. Chúng ta đã biết rằng “Đoạn trường tân thanh đầy dẫy triết lý nhà Phật, những người tu hành đạo Phật tất được cảm tình của Nguyễn Du” nhưng xét một chữ hại của Nguyễn Du thực không có hại gì đến cái triết lý nhà Phật trong Đoạn trường tân thanh. Tam Hợp, từ trước đến sau, không hề được chứng kiến lúc Từ Hải bị chết và cũng không hề biết sự Kiều mắc mưu Hồ Tôn Hiến ra thế nào. Tam Hợp bất quá chỉ là nghe người ta nói chuyện lại mà thôi, mà ai còn lạ gì cái sự nói đi nói lại dễ làm cho câu chuyện sai lạc lắm. Vả chăng, cái oan khiên của Kiều chép vào sử xanh, hơn một trăm năm sau, còn có người đọc xong rồi suy nghĩ cẩn thận mà còn không hiểu thay, còn có người lầm mà kết tội nàng thay, huống chi là người ở ngay trong thời ấy, có lẽ không bao giờ suy nghĩ về việc ấy cả, vì người ấy đi tu không giới ý đến những việc trong cõi tục. Hại một người, cứu muôn người. Lúc nói câu này, sư Tam Hợp có lẽ chỉ trông thấy cái chết của Từ Hải chứ không suy xét xem Từ Hải vì sao mà chết. Sư chỉ biết rằng Từ Hải bị hại, thế thôi. Mà bị hại, như thế đã đành là đáng thương, nhưng biết làm thế nào? Một bên là một người chết, một bên là muôn người chết, (Đống xương vô định đã cao bằng đầu) người ta, dù là nhà sư, cũng phải thiên về một bên, mà thiên về bên nào, ta đã biết. Nếu Từ Hải mà còn sống thì quan quân của Triều đình còn phải đánh nhau, mà đã có đánh nhau thì còn nhiều người chết nữa. Âu là ta đành chịu chết một người mà cứu lấy trăm vạn sinh linh, để mà cứu nước. Cái lòng thương người như thế, thiết tưởng cũng chẳng có gì là chật hẹp. Đó là ý kiến của sư Tam Hợp, chứ tôi không nói rằng đó là ý kiến của Kiều.


Ông Hoài Thanh, nếu rộng rãi hơn một chút, sẽ không cho câu nói của sư Tam Hợp là chướng mà chỉ nên cho đó là ý kiến riêng của một người ngoài cuộc xét một việc hơi rắc rối. Đến như ông Tản Đà lại chê thêm một câu lúc Kiều đâm đầu xuống sông Tiền Đường thì lầm lắm. Rằng: Từ công hậu đãi ta Chút vì việc nước mà ra phụ lòng. Ông Tản Đà chua rằng: “Bốn chữ này cũng như chữ “công ít” ở câu “nghĩ mình công ít tội nhiều”. Bổn ý của Thuý Kiều khuyên Từ Hải ra hàng không phải là “vì việc nước”. Chỗ đó chẳng là tác giả “vẽ rắn thêm chân” mà đã làm cho người trong truyện mang thêm tội lỗi trong ân nghĩa vợ chồng ru?” Bổn ý của Thuý Kiều khuyên Từ Hải ra hàng không phải là vì việc nước? Tôi thì thấy chính là việc nước. Kiều đã nghĩ như nhà sư Tam Hợp vậy. Từ Hải mà còn làm giặc thì chiến tranh còn kéo dài, mà còn nhiều người chết, mà nước thì không yên được. Khuyên Từ Hải ra hàng, Kiều có ý muốn 1) làm Hải thành một người lương thiện; 2) cho Hải được tiếng là người trung, biết phục lẽ giời và phép nước (Bình thành công đức bấy lâu. Ai ai cũng đội trên đầu biết bao); 3) cho hết chiến tranh đi (Ngẫm từ gây việc binh đao. Đống xương vô định đã cao bằng đầu); 4) cho vợ chồng được hưởng lộc trọng quyền cao, để lấy tiếng tốt cho vua (Sao bằng lộc trọng quyền cao. Công danh ai dứt lối nào cho qua?). Có bốn cái ý định ấy để khuyên Từ Hải ra hàng mà bảo là bổn ý Kiều không phải vì việc nước thì thế nào mới là vì việc nước?


Nói rút lại một câu. Kiều không đáng nhận những lời nói nặng của ông Tản Đà rồi đến ông Hoài Thanh, mà Nguyễn Du, ở đoạn Hồ Tôn Hiến,[a] ở đoạn Kiều tự trầm, ở đoạn sư Tam Hợp, không chướng như người ta đã tưởng. Theo như tôi thấy, Nguyễn Du có cái ý định lấy Kiều và Từ Hải làm hai người lý tưởng. Kiều thì hiếu nghĩa, trung trinh và hiểu chữ quân thần một cách có lý chứ không sợ những đại biểu của triều đình một cách mù mắt; còn Từ Hải thì anh hùng, can đảm. Chính Nguyễn Du đã o bế Từ Hải vậy. Tôi không dám chắc, nhưng đoán rằng Nguyễn Du làm cho Từ Hải khác người như thế chỉ là vì Nguyễn Du muốn có ý khôi phục nhà Lê mà xét ra muốn khôi phục như thế, phải một người trí dũng biết lui mới được. Nguyễn Du phải chăng là cô Kiều? Kim Trọng phải chăng là nhà Lê? Muốn khôi phục nhà Lê, người ta không thể trông ở một thư sinh túi đàn cặp sách, nhưng cần phải có một vị anh hùng xuất chúng như Từ Hải. 


 VŨ BẰNG


Nguồn: Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 160 (6/6/1943); s. 161 (13/6/1943)


____


(1)   Thanh nghị số 36 ra ngày ler Mai 1943.(nguyên chú) [a] bản gốc chỗ này là “ở đoạn Hồ Tôn Hiến chết”; có lẽ có lỗi in, tạm sửa như trên.


 


FB Lại Nguyên Ân. 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »